Thứ Ba, 22 tháng 8, 2023

Nỗ lực của Việt Nam trong tiến trình hiện thực hóa nhân quyền

 

Những cố gắng cao nhất của Việt Nam trong thực hiện quyền con người không phải để đối phó với các thế lực thù địch khi họ cố tình chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Bản chất của vấn đề quyền con người mà Việt Nam đang phấn đấu là vì giá trị tiến bộ của nhân loại, vì quyền lợi chính đáng của dân tộc, của mỗi người dân đất Việt.

Quyền con người và trách nhiệm công dân

Đối với các quốc gia, các tổ chức quốc tế về quyền con người của Liên hợp quốc (LHQ) được luật pháp quốc tế thừa nhận, không phải tất cả đã hiểu về tình hình thực tế thực hiện quyền con người ở Việt Nam. Có nhiều người trong số này chưa từng được mắt thấy tai nghe, họ đã nhìn và đánh giá về nhân quyền ở Việt Nam qua chiếc lăng kính méo mó.

Với những quốc gia, tổ chức đó, chúng ta luôn chủ trương đối thoại, trao đổi, giải thích trên quan điểm hướng đến sự đồng thuận. Cách giải quyết đó để các bên hiểu biết về nhau hơn, cùng nhận thức, thống nhất về cách tiếp cận để đạt đến chân lý và hướng đến giải quyết được một vấn đề nhất định, đồng thời bác bỏ các thông tin sai lệch.

Việt Nam luôn xuất phát từ sự chân thành trên cơ sở tôn trọng, thiện chí trong hợp tác, bình đẳng, trên cơ sở pháp lý. Đối thoại nhân quyền giữa Việt Nam với châu Âu, Mỹ hằng năm vẫn diễn ra trên cơ sở hướng tới sự hiểu biết, tin cậy.

Tại phiên đối thoại với Cao ủy nhân quyền LHQ, Khóa họp lần thứ 47 của Hội đồng Nhân quyền LHQ vừa qua, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam Lê Thị Tuyết Mai, Trưởng phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh LHQ, Tổ chức Thương mại thế giới và các tổ chức quốc tế khác tại Geneva (Thụy Sĩ) đã khẳng định, chủ trương nhất quán của Việt Nam là thúc đẩy và bảo vệ quyền con người; bày tỏ ủng hộ đối với công việc của Cao ủy Nhân quyền LHQ và các cơ chế nhân quyền LHQ, ủng hộ tiến hành đối thoại thực chất, mang tính xây dựng về các vấn đề nhân quyền.

Chính sách của Nhà nước Việt Nam là nhất quán. Đối với hoạt động của các cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí, thù địch, lợi dụng dân chủ, nhân quyền để xuyên tạc, phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc, mưu đồ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ chính trị của Việt Nam thì đó không phải là đối tác của đối thoại mà là đối tượng của đấu tranh không khoan nhượng.

Những người này là ai? Không khó điểm mặt, chỉ tên. Họ là những cá nhân, tổ chức thuộc một số thế lực cực hữu, một số phần tử cực đoan trong chính phủ, quốc hội ở một số nước; các tổ chức, cá nhân là người Việt phản động sống lưu vong ở nước ngoài như Tổ chức Việt Tân, “Quỹ người Thượng” của Ksor Kok, “Hội gia đình tù nhân chính trị Việt Nam”...

Trong một diễn biến mới nhất, khi Việt Nam ứng cử vào vị trí thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2 (2023-2025) thì các thế lực chống đối này liên tục chống phá, công kích. Họ không muốn Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền...

Không biết do không hiểu hay cố tình xuyên tạc luật quốc tế về nhân quyền, những đối tượng chống đối, vu khống về nhân quyền luôn hô hào đòi quyền lợi nhưng lại lờ đi nghĩa vụ. Họ chỉ xem quyền con người là quyền của cá nhân, trong khi luật quốc tế về quyền con người quy định rõ ràng quyền và lợi ích của cá nhân, quyền và lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Không bao giờ tồn tại quyền lợi mà không đi kèm nghĩa vụ, hay có nghĩa vụ mà không có quyền. Lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lê nin với mục tiêu vĩ đại nhất là giải phóng giai cấp, giải phóng con người, tất cả vì con người thì khi bàn về quyền con người C.Mác đã khẳng định: “Không có quyền lợi nào mà không có nghĩa vụ, không có nghĩa vụ nào mà không có quyền lợi”.

Ở bất cứ quốc gia nào, người dân cũng phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định, theo quy định của pháp luật. Chính Điều 29, Tuyên ngôn Quốc tế về quyền con người cũng ghi nhận: “Mỗi người đều có những nghĩa vụ đối với cộng đồng mà chính trong đó nhân cách của bản thân có thể phát triển tự do và đầy đủ”.

Lời nói đầu trong hai công ước quyền con người năm 1966 cũng đều nhấn mạnh: “Mỗi cá nhân trong khi được hưởng thụ các quyền cần tôn trọng tự do của người khác và tôn trọng trật tự xã hội, lợi ích của cộng đồng”. Như vậy, việc các thế lực thù địch chỉ nhấn mạnh quyền con người mà không đề cập đến trách nhiệm của công dân khi phải chấp hành pháp luật nhà nước là rất phiến diện.

Từ Báo cáo phát triển con người toàn cầu năm 2020, bà Caitlin Wiesen, Trưởng đại diện thường trú Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam cho rằng: “Với chủ trương phát triển lấy con người làm trung tâm, ưu tiên phát triển con người và thúc đẩy bình đẳng trong các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, Việt Nam đạt được mức phát triển con người cao. Đây là một thành tựu đáng ghi nhận và cũng tạo cơ hội cho sự phát triển tốt hơn, nhanh hơn trong giai đoạn tới”. 

Việt Nam tích cực đóng góp cho nhân loại tiến bộ

Không ai có thể phủ nhận những nỗ lực trong thực hiện quyền con người cùng những đóng góp quan trọng của Việt Nam cho sự nghiệp quyền con người của nhân loại. Ngay từ khi trở thành thành viên của LHQ từ năm 1977, Việt Nam đã tham gia tích cực vào quá trình xây dựng và phát triển của tổ chức này, trong đó có Ủy ban Nhân quyền của LHQ.

Từ đó đến nay, Việt Nam đã tham gia hầu hết các văn kiện quyền con người cơ bản, bao gồm các công ước quốc tế và nghị định thư liên quan về quyền con người. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của LHQ về quyền con người, 25 công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO).

Khi Hội đồng Nhân quyền LHQ thành lập vào năm 2006, nhận thức được tầm quan trọng đó, Việt Nam đã tích cực đóng góp cho tổ chức này. Năm 2013, Việt Nam lần đầu tiên trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2014-2016.

Một điều khá đặc biệt trong lần ứng cử đầu tiên này là sự tín nhiệm, đánh giá cao của cộng đồng quốc tế khi Việt Nam trúng cử với số phiếu 184/192, cao nhất trong số các nước thành viên mới.

Theo đánh giá của nhiều tổ chức quốc tế và các cá nhân có tiếng nói trên cộng đồng quốc tế, sở dĩ Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền LHQ với sự tín nhiệm cao là vì những thành tựu to lớn trên lĩnh vực bảo đảm quyền con người mà Việt Nam đã đạt được, đặc biệt trên lĩnh vực bảo đảm các quyền dân sự, chính trị; kinh tế, xã hội và văn hóa.

Điều này thể hiện rất sinh động, thuyết phục trong các thành tựu về thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ. Đặc biệt, từ đại dịch Covid-19 trên toàn thế giới cho thấy, Việt Nam đã nỗ lực ở mức cao nhất nhằm bảo đảm chăm sóc sức khỏe người dân, chăm lo thúc đẩy quyền con người trên các lĩnh vực.

Trong nhiệm kỳ 2014-2016, Việt Nam được đánh giá cao về sự tích cực và chủ động, đồng thời cũng chính là điều phối viên của ASEAN tại Hội đồng Nhân quyền LHQ. Những sáng kiến mà Việt Nam đã chủ động cùng các nước đưa ra như: Nghị quyết về tác động của biến đổi khí hậu với quyền trẻ em; vấn đề về bảo đảm quyền lao động của người khuyết tật; về bảo đảm môi trường làm việc an toàn cho người lao động trên biển; về nâng cao giáo dục trong phòng, chống buôn bán phụ nữ và trẻ em gái...

Chính các nước phương Tây cũng đánh giá cao vai trò của Việt Nam tại Hội đồng Nhân quyền LHQ; trong nhiều trường hợp, Việt Nam làm trung gian trong các cuộc thương lượng.

Tại Hội nghị cung cấp thông tin về công tác nhân quyền cho báo chí do Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức ngày 28-9-2016, bà Hoàng Thị Thanh Nga, Phó vụ trưởng Vụ Các tổ chức quốc tế, Bộ Ngoại giao cho biết: “Sự nghiêm túc và có trách nhiệm của Việt Nam được thể hiện trong việc tham gia phát biểu, thảo luận tại hàng trăm cuộc họp, xây dựng và thương lượng các nghị quyết, quyết định của Hội đồng Nhân quyền LHQ, đóng góp vào việc bảo đảm các giá trị chung về quyền con người”.

Ngày 22-2-2021, Việt Nam tuyên bố tiếp tục ứng cử là thành viên của Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025. ASEAN cũng đã chính thức công nhận Việt Nam là ứng cử viên duy nhất của khối. Điều đó cho thấy, Việt Nam thực sự có trách nhiệm và luôn nỗ lực trong việc thực hiện quyền con người cả về chính sách cũng như thực tiễn.

Để chuẩn bị cho nhiệm kỳ mới, Việt Nam đã có quá trình chuẩn bị kỹ lưỡng, có trách nhiệm và đã thể hiện cam kết với cộng đồng quốc tế qua phát biểu tại Phiên họp cấp cao Khóa họp thường kỳ lần thứ 46 Hội đồng Nhân quyền LHQ ngày 22-2-2021 của Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh: "Là một thành viên tích cực của LHQ cũng như cộng đồng quốc tế, Việt Nam khẳng định thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về quyền con người, và luôn nỗ lực thúc đẩy phát triển quyền con người cả ở trong nước cũng như trên thế giới".

Quá trình Việt Nam hội nhập sâu rộng trong đời sống quốc tế cũng là quá trình Việt Nam cụ thể hóa đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Những việc làm thiết thực của Việt Nam trong thực hiện nhân quyền cũng là cơ hội để Việt Nam tăng cường vị thế, uy tín đất nước.

NGUYỄN ANH TUẤN và ĐỖ XUÂN ĐOÀI (Báo Quân đội Nhân dân)

Lộ chân tướng những kẻ rút gạch chân tường

 

Trong khi Việt Nam luôn nỗ lực để thực hiện tốt nhất những quyền chính đáng của con người, đồng thời ngày càng khẳng định là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế bởi những đề xuất, sáng kiến và thành tựu về nhân quyền được cộng đồng quốc tế tôn trọng và thừa nhận thì các thế lực thù địch, phản động lại thường xuyên sử dụng vấn đề nhân quyền để chống phá Việt Nam. Vậy mục đích của sự chống phá này là gì?

Sự thật đằng sau những lời kêu gọi

Sử dụng nhân quyền làm công cụ để chống phá chế độ chính trị ở Việt Nam đã được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng, nhất là từ sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ. Mục tiêu của sự chống phá này không khó nhận diện, đó là xuyên tạc, phủ nhận các giá trị lý luận, thực tiễn và kết quả về quyền con người mà Việt Nam đã đạt được trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, tôn giáo, dân tộc, thông tin, tư pháp, quốc phòng, an ninh... nhằm thúc đẩy sự chệch hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam và xác lập cơ chế đa nguyên, đa đảng. Có thể dẫn chứng:

Như thường lệ, năm 2021, tổ chức nhân quyền Freedom House (một tổ chức phi chính phủ có trụ sở tại Hoa Kỳ) đã đăng tải bảng chấm điểm chỉ số tự do của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Freedom House là một trong số vài tổ chức phi chính phủ thường đưa ra cái nhìn thiếu thiện cảm về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Qua phân tích của nhiều học giả thì những thông tin mà Freedom House tiếp cận được về tình hình Việt Nam là thông qua các tổ chức, cá nhân đang chống phá Việt Nam. Năm 2021, tổ chức này chấm điểm tự do của Việt Nam là 19/100 điểm, trong đó họ liên tục cố tình hạ thấp điểm tự do về quyền dân sự, chính trị. Freedom House luôn cho rằng Việt Nam "không có tự do internet, người dân Việt Nam gần như bị cấm truy cập vào mạng xã hội, không có quyền bầu cử, không có tự do tôn giáo...". Hùa theo cách nhìn nhận ấy, trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch cũng liên tục đăng tin trên những trang thuộc các cơ quan truyền thông vốn thiếu thân thiện với Việt Nam, như: BBC, RFI, RFA, VOA... cho rằng Việt Nam vi phạm quyền con người hòng tạo dư luận quốc tế.

Cũng với mục đích và cách thức hoạt động như Freedom House, một số tổ chức được hỗ trợ bởi tiền của nhiều thế lực, như: Tổ chức ân xá quốc tế, Tổ chức theo dõi nhân quyền, Tổ chức phóng viên không biên giới... cũng thường xuyên đưa ra những đánh giá về nhân quyền ở Việt Nam rất thiếu cơ sở, mang thái độ hằn học. Một số tổ chức phản động, lưu vong đội lốt dân chủ, nhân quyền như Việt Tân, Triều đại Việt, Mạng lưới nhân quyền Việt Nam... cũng liên tục xuyên tạc. Điển hình là mỗi khi có công dân Việt Nam có hành động, hành vi chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và bị cơ quan chức năng xử lý theo quy định của pháp luật thì các thế lực chống đối lại vu khống, xuyên tạc rằng Việt Nam "ngăn cản tự do ngôn luận, không cho công dân tự do bày tỏ chính kiến...", khiến cho một số người thiếu thông tin đã có những nhận thức sai lệch về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Vậy thực chất việc đưa ra các con số báo cáo, lên lớp về vấn đề nhân quyền của các tổ chức, cá nhân này có phải vì muốn Việt Nam tốt đẹp hơn không? Câu trả lời là: Không. Bản chất của những kẻ lợi dụng vấn đề nhân quyền để xuyên tạc, chống phá Việt Nam để nhằm phá rối trong nước, khiến quốc tế có cái nhìn sai lệch về Việt Nam, từ đó hạ thấp uy tín, vị thế, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đã phải đánh đổi bằng xương máu để gây dựng.

Những tiến bộ về luật pháp và thực tiễn không thể xuyên tạc

Trong khi một số tổ chức, cá nhân luôn tìm cách xuyên tạc về tình hình nhân quyền của Việt Nam thì ở chiều ngược lại, Liên hợp quốc-tổ chức đa phương lớn nhất hành tinh lại luôn coi Việt Nam như một điểm sáng về phát triển con người và thực hiện các quyền con người trong thực hiện các Mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói, giảm nghèo, về công bằng và tiến bộ xã hội. Thực tế ở Việt Nam cũng chứng minh, đánh giá của Liên hợp quốc về Việt Nam là xác đáng.

Một trong những thành tựu không thể phủ nhận là Việt Nam đã luôn quan tâm để hoàn thiện hệ thống luật pháp về lĩnh vực quyền con người. Điều này được thể hiện toàn diện, đầy đủ trong Hiến pháp-đạo luật gốc, quan trọng nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp đã quy định rất rõ các quyền dân sự, chính trị; các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; các quyền của nhóm dễ bị tổn thương; hiến định rõ ràng địa vị pháp lý của cá nhân, của công dân trong mối quan hệ với nhà nước. Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 và đặc biệt là Hiến pháp năm 2013, chế định quyền con người, quyền nghĩa vụ của công dân giữ vị trí quan trọng. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 được dư luận đánh giá là đỉnh cao trong hoạt động lập hiến bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nó phù hợp với thực tiễn Việt Nam và với chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia.

Cùng với Hiến pháp, Việt Nam tham gia một loạt công ước quốc tế về quyền con người, như: Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước về các quyền dân sự, chính trị; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ; Công ước về quyền trẻ em; Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người; Công ước về quyền của người khuyết tật... Sau 35 năm đổi mới, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội, trong đó chú trọng xây dựng pháp luật về quyền con người, quyền công dân tương đối toàn diện, phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước và từng bước tương thích với các quy định quốc tế về quyền con người. Một điểm sáng của Việt Nam luôn được quốc tế ghi nhận đó là, trong chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, Quốc hội Việt Nam luôn dành ưu tiên, tập trung cho việc ban hành các đạo luật về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trên các lĩnh vực.

Ngày 22-2-2021, tại Phiên họp cấp cao của Khóa họp thường kỳ lần thứ 46 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh trong bài phát biểu thông báo về việc Việt Nam tham gia ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 đã nhấn mạnh: "Việt Nam tin tưởng mạnh mẽ rằng, bảo đảm cho xã hội an toàn trước các dịch bệnh như Covid-19 là cách tốt nhất để bảo đảm cho mỗi thành viên trong xã hội được thụ hưởng đầy đủ các quyền con người. Chúng tôi tiếp tục ưu tiên thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, các quyền tự do cơ bản của người dân, kể cả trong thời điểm khó khăn nhất hiện nay”. Dịch bệnh đã gây ra những thiệt hại to lớn cho toàn thế giới, dù vậy, Nhà nước Việt Nam đã chấp nhận hy sinh về tăng trưởng kinh tế để nỗ lực cao nhất nhằm bảo đảm quyền lợi của người dân, bảo đảm an sinh xã hội. Điều này, cộng đồng quốc tế đã ghi nhận và luôn coi Việt Nam là hình mẫu. Đây chỉ là một trong rất nhiều việc làm đã chứng minh cho lời nói và hành động của Việt Nam trong nỗ lực bảo đảm quyền con người. Nó cũng đủ sức nặng để đập tan những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Theo đánh giá của Liên hợp quốc, Việt Nam đã giảm được một nửa tỷ lệ đói nghèo trong hơn một thập kỷ qua và nằm trong số những quốc gia đạt tốc độ giảm đói nghèo nhanh nhất thế giới. Khác với một số quốc gia chỉ chú trọng phát triển kinh tế ở thành thị dẫn tới chênh lệch giàu nghèo rất nghiêm trọng, Việt Nam quan tâm xây dựng nông thôn mới, chăm lo đời sống người nông dân. Song song với phát triển kinh tế đất nước, hầu hết các chỉ tiêu về văn hóa, xã hội, chỉ số phát triển con người... ở Việt Nam đều có sự tiến bộ qua từng năm. Quyền của các nhóm yếu thế như quyền của phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi... có những bước tiến rõ rệt. Theo Báo cáo các chỉ số phát triển con người do Chương trình Phát triển Liên hợp quốc thực hiện và công bố năm 2019 cho thấy: Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng chỉ số HDI cao nhất thế giới. 

Về bình đẳng giới, các tổ chức quốc tế đánh giá Việt Nam là quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua, hiện xếp thứ 68/162 nước về chỉ số phát triển giới. Sự cải thiện, chăm sóc sức khỏe của người dân thể hiện ở các tiêu chí như cơ sở khám, chữa bệnh công lập và ngoài công lập, số giường bệnh, số bác sĩ/10.000 dân đều tăng. So với chuẩn quốc tế thì Việt Nam có mức độ phân hóa giàu nghèo thấp hơn nhiều nước trong khu vực cũng như trên thế giới.

Thực tiễn sinh động ở Việt Nam khác xa những báo cáo khô cứng, cũ kỹ mà các thế lực thù địch luôn xào xáo qua các năm. Ở Việt Nam, các quyền công dân về bầu cử, ứng cử, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do ngôn luận... luôn được bảo đảm. Mặc dù các thế lực thù địch luôn xuyên tạc rằng Việt Nam không có tự do internet nhưng thực tế đã bác bỏ hoàn toàn điều đó. Theo con số thống kê, Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng và sử dụng internet cao nhất trên thế giới. Khoảng 70% dân số Việt Nam sử dụng internet và điện thoại di động. Năm 2020, số người dùng Facebook ở Việt Nam là gần 70 triệu người. Trên thực tế, Đảng, Nhà nước ta luôn tạo điều kiện tốt nhất cho các tôn giáo hoạt động, luật pháp cũng quy định rất rõ để tôn giáo được bảo vệ. Điều 24 Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam khẳng định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo luôn được coi trọng và thường xuyên được tổ chức. Trong các năm 2008, 2014, 2019, Liên hợp quốc đã chọn Việt Nam làm địa điểm và đã tổ chức thành công Đại lễ Phật đản. Những minh chứng này đã bác bỏ hoàn toàn các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam.

Trong Báo cáo hạnh phúc thế giới thường niên năm 2021 do Mạng lưới giải pháp phát triển bền vững của Liên hợp quốc công bố: Năm 2021, Việt Nam tăng 4 bậc so với năm 2020, từ vị trí thứ 83 lên 79. Báo cáo này xếp hạng các quốc gia và vùng lãnh thổ dựa trên 6 tiêu chí: GDP trên đầu người, tuổi thọ, quyền tự do, sự hào phóng, phúc lợi xã hội và tình trạng tham nhũng.

(còn nữa)

 NGUYỄN ANH TUẤN và ĐỖ XUÂN ĐOÀI (Báo Quân đội Nhân dân)

Sự áp đặt khiên cưỡng và xa lạ

 

Tuyên ngôn Quốc tế về quyền con người (UDHR) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1948 khẳng định: “Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi".

Là một đất nước đã phải trải qua những năm dài bị đô hộ, chiến tranh tàn phá, dân tộc Việt Nam hiểu hơn ai hết giá trị, khát vọng để giành lại những quyền cơ bản vốn có của con người. Bởi thế, mọi sự xuyên tạc, vu khống, chống phá Việt Nam về vấn đề nhân quyền đều trở nên lạc lõng. Không thế lực bên ngoài nào có quyền ban phát, hay từ chối thành tựu lớn lao về quyền con người của dân tộc Việt Nam.

Quyền con người là thành tựu chung của nhân loại và luôn là khát vọng cháy bỏng của con người dù bất kể chế độ chính trị nào. Dù vậy, đã từ lâu, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch lại sử dụng quyền con người như một vũ khí lợi hại để chống phá Việt Nam, mà thực chất là muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phá bỏ con đường mà nhân dân Việt Nam đã lựa chọn.

Thành tựu không phải của riêng phương Tây

“Lập lờ đánh lận con đen”, các thế lực thù địch chống phá, xuyên tạc sự thật về tự do, dân chủ ở Việt Nam tự cho rằng: “Quyền con người là thành tựu riêng có của phương Tây”... Từ sự nhận xằng đó, họ áp đặt “các giá trị phổ quát”, lấy nhân quyền cao hơn chủ quyền để ra điều kiện với Việt Nam với ý đồ chống phá chứ không phải vì mục tiêu là sự tiến bộ.

Điều đương nhiên, không phải chỉ đến cách mạng tư sản với sự ra đời của nhà nước tư sản mới có quyền con người. Thực chất, quyền con người xuất hiện từ khi con người ý thức về sự tồn tại của mình và ý thức về nhu cầu, lợi ích cá nhân trong các quan hệ xã hội.

Tư tưởng và nội hàm về quyền con người đã xuất hiện từ sớm và tồn tại trong mọi nền văn hóa. Về bản chất, quyền con người là các quyền bẩm sinh thuộc sở hữu vốn có của mọi người, nó gắn liền với hành động công nhận, thừa nhận chứ không phải là ban phát, từ chối hay tước đoạt vô cớ. Nó bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người, đó là các quyền và tự do cơ bản của con người trên lĩnh vực quyền dân sự, chính trị; quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Lịch sử phát triển của xã hội, xét đến cùng đều là lịch sử đấu tranh vì quyền con người. Điều đó càng khẳng định chân lý, quyền con người là giá trị chung của nhân loại.

Khẳng định như vậy có ý nghĩa hết sức quan trọng vì nó chỉ ra nguồn gốc của quyền con người. Tuy vậy, thuật ngữ “quyền con người” ra đời khá muộn, gắn liền với cuộc cách mạng tư sản nên nó thường bị lợi dụng để gây hiểu lầm rằng nó là thành tựu của riêng phương Tây.

Chúng ta có đầy đủ cơ sở để bác bỏ quan điểm sai trái, coi quyền con người là phát kiến, là giá trị riêng có của các nước phương Tây. Đây cũng là cơ sở để góp phần khắc phục các biểu hiện phiến diện, cực đoan, quay lưng, khước từ những giá trị tiến bộ, văn minh hoặc chấp nhận sự áp đặt mô hình của nước này cho nước khác.

Lịch sử đã chứng minh, những tư tưởng về quyền con người cũng như những quy định trong luật pháp và kết quả đạt được về quyền con người là thành quả đấu tranh lâu dài, gian khổ của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức, qua mọi thời kỳ phát triển.

Đó cũng là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên; qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại. Vì là giá trị chung của nhân loại nên tất cả các quốc gia, dân tộc không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển đều có quyền thụ hưởng và có nghĩa vụ bảo vệ, phát triển giá trị xã hội cao quý này.

Áp đặt là vô nghĩa

Áp đặt tiêu chuẩn dân chủ, nhân quyền phương Tây trên phạm vi toàn cầu nói chung và với Việt Nam nói riêng là cách thức rất vô lý và hoàn toàn không phù hợp với thực tiễn. Ngay trong Hiến chương Liên hợp quốc cũng nhấn mạnh: Không quốc gia nào, kể cả Liên hợp quốc, có quyền can thiệp vào công việc thực chất thuộc thẩm quyền quốc gia. Vậy mà, một số nước phương Tây lại tự cho mình có quyền áp đặt các “giá trị phương Tây” nhằm tác động vào việc xây dựng pháp luật, hoàn thiện thể chế, thúc đẩy phát triển xã hội dân sự, nhằm tạo ra lực lượng đối trọng với Chính phủ Việt Nam thì thật khó chấp nhận.

Một số nước này luôn sử dụng “tiêu chuẩn kép” về quyền con người. Họ áp đặt quan điểm “quyền con người phổ quát” nhưng theo kiểu “nhân quyền cao hơn chủ quyền”. Trong các chiêu bài áp đặt, họ luôn kêu gọi, khuyến khích các đòi hỏi cực đoan, hành vi vi phạm pháp luật, chống đối chính quyền thông qua các hình thức “bất tuân dân sự”, “kiến nghị tập thể”, “đấu tranh bất bạo động”... nhằm phá hoại sự ổn định và phát triển của Việt Nam.

Thực tiễn đang chứng minh một nghịch lý, trong khi không ngừng thúc ép các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam cải thiện nhân quyền, nhưng ở chính nội tại một số nước đó vẫn áp dụng chính sách phân biệt đối xử. Có những nước lớn luôn tỏ ra quan tâm quá mức đến nhân quyền ở các nước khác thì sự bất công về phân biệt đối xử giữa người da trắng và người da đen chưa bao giờ chấm dứt. Hố sâu phân hóa giàu nghèo đang ngày càng xa hơn.

Trong khi những tỷ phú đô la ở nước đó có quyền năng rất lớn thì rất nhiều người sống trong nghèo khổ; nhiều con người vẫn bị tước đoạt mạng sống bởi tình trạng súng đạn mất kiểm soát. Thậm chí có những nước lớn đến nay vẫn chưa phê chuẩn một số công ước quốc tế quan trọng về quyền con người, trong đó có Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 (CRC).

Một số nước phương Tây hiện nay vẫn đang sử dụng hình thức viện trợ, hợp tác để công khai lôi kéo và hỗ trợ cho hoạt động đối lập, bất đồng chính kiến ở Việt Nam, thậm chí đưa các yêu sách cải thiện nhân quyền thành điều kiện cho hợp tác song phương và đa phương là vô lý. Các nước trên thế giới ở những trình độ phát triển khác nhau nên không thể lấy giá trị, tiêu chuẩn của nước này áp đặt cho nước khác.

Trong xã hội còn giai cấp, còn nhà nước thì một vấn đề tất yếu là quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc. Chỉ thị số 12/CT/TW của Ban Bí thư ngày 12-7-1992 “về vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta” khẳng định: “Trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, khái niệm nhân quyền mang tính giai cấp sâu sắc”.

Bởi vậy, việc áp đặt tiêu chuẩn của một nước này cho một nước khác về các tiêu chí nhân quyền là hoàn toàn vô lý. Trên phạm vi quốc tế, tính giai cấp của khái niệm quyền con người được thể hiện trong cuộc đấu tranh giữa lực lượng cách mạng, tiến bộ với các lực lượng phản động, phản tiến bộ. Ngày nay nó được biểu hiện chính là dưới hình thức thúc đẩy chiến lược “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn, lật đổ...

Bảo đảm quyền con người trước hết và chủ yếu thuộc trách nhiệm của mỗi quốc gia. Trách nhiệm pháp lý này đã được Liên hợp quốc quy định trong các văn kiện quyền con người quốc tế. Dù đã được quốc tế hóa nhiều mặt, nhưng việc bảo đảm quyền con người chủ yếu vẫn thuộc thẩm quyền của các quốc gia. Sự hợp tác trên lĩnh vực quốc tế về quyền con người là rất quan trọng, vì có thể bổ sung thêm nguồn lực và kinh nghiệm trong việc bảo đảm quyền con người. Tuy nhiên, các cơ chế quyền con người quốc tế chỉ nhằm bổ sung chứ không thể thay thế các cơ chế đang vận hành tại các quốc gia.

Đối với việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, trách nhiệm của quốc gia càng rõ ràng, không bất cứ một quốc gia hay tổ chức quốc tế nào có thể đảm đương được công việc bảo đảm các quyền này thay cho mỗi nhà nước. Đây là những nguyên tắc cần được nhận thức rõ ràng, đầy đủ. Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là đòi hỏi hàng đầu trong việc bảo đảm và thực thi quyền con người.

Một yếu tố quan trọng khác trong xem xét vấn đề quyền con người, đó là phải đặt nó trong bối cảnh lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của đất nước đó. Chính điều này đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận thông qua Tuyên bố Vienna và Chương trình Hành động tại Hội nghị thế giới về nhân quyền năm 1993 tại Vienna (Áo).

Tuyên bố đã khẳng định khi xem xét vấn đề nhân quyền phải luôn ghi nhớ tính đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa và tôn giáo... Như vậy, không thể áp đặt hay sao chép máy móc các tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho nước khác.

Việc một số nước nào đó tự cho mình quyền áp đặt chuẩn mực cho quốc gia khác, rồi lại tự cho phép mình bảo vệ quyền con người ở mọi nơi theo ý đồ của họ, bất chấp chủ quyền của các quốc gia đó là điều không thể chấp nhận. Quyền con người là giá trị được kết tinh từ những thành tựu, kinh nghiệm đặc sắc trong lịch sử, truyền thống, văn hóa của mỗi quốc gia.

Tính phụ thuộc của quyền con người còn bắt nguồn từ sự phát triển không đều về mọi mặt của thế giới, nên quyền con người cũng không thể được đáp ứng như nhau giữa các quốc gia, mà phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi nước. Việt Nam đã tiệm cận rất rõ quan điểm này từ sớm, thể hiện trong Chỉ thị số 12/CT/TW của Ban Bí thư ngày 12-7-1992: “Nhân quyền luôn luôn gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước. Do vậy, không thể áp đặt hoặc sao chép máy móc các tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho nước khác”. 

Chính trong hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người cũng cho phép một quốc gia bảo lưu những điều khoản cụ thể khi tham gia một công ước, hoặc có các nghị định thư bổ sung cho một công ước nào đó, thể hiện việc chưa ngang bằng giữa các quốc gia.

Mỗi quốc gia có quyền lựa chọn các giải pháp tối ưu cho việc cân bằng giữa ổn định xã hội với việc bảo đảm đầy đủ quyền con người, có quyền xây dựng lộ trình trong việc thực hiện cam kết đối với các điều ước quốc tế về quyền con người. Như vậy mọi sự sao chép, áp đặt các mô hình dân chủ, quyền con người là không thể chấp nhận.

Mục 7, Điều 1 Hiến chương Liên hợp quốc khẳng định: “... Hoàn toàn không cho phép Liên hợp quốc được can thiệp vào những công việc thực chất thuộc thẩm quyền nội bộ của bất cứ quốc gia nào, và không đòi hỏi các thành viên của Liên hợp quốc phải đưa những công việc loại này ra giải quyết theo quy định của Hiến chương”.

(còn nữa)

NGUYỄN ANH TUẤN - ĐỖ XUÂN ĐOÀI (Báo Quân đội Nhân dân)

Đồng tiền, quyền lực và sự thoái hóa

 

Phát biểu trước đội ngũ cán bộ, đảng viên, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng đặt câu hỏi: “Tiền bạc lắm làm gì, chết có mang đi được đâu. Danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất”. Câu hỏi đặt ra là tại sao khi đã lên đến những đỉnh cao về chức vụ, quyền lực và tiền bạc thì không thiếu, mà không ít cán bộ vẫn liều lĩnh thực hiện các hành vi phạm pháp? Ma lực nào đã thúc đẩy họ?

Nền kinh tế thị trường và xã hội thị trường

Các vị từng là Ủy viên Trung ương Đảng, bộ trưởng, bí thư, chủ tịch UBND thành phố, một số người từng là anh hùng... vì dính vào tham nhũng, tiêu cực mà phải ngồi tù sẽ sống những năm tháng còn lại của cuộc đời trong dằn vặt, tủi hổ. Vậy, tại sao họ đánh đổi hoặc có thể nói là bán những thứ quý giá mà mình đang có, trong đó quan trọng nhất là danh dự, sự tôn trọng của xã hội đối với mình để lấy tiền?        

Trong nền kinh tế thị trường, đồng tiền có sự chi phối rất lớn. Nền kinh tế càng phát triển thì vai trò của đồng tiền, giá trị của đồng tiền và sức hút của đồng tiền cũng ngày càng lớn hơn. Dân gian ta lan truyền câu cửa miệng: “Cái gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng rất nhiều tiền”. Nhưng có thật tiền sẽ mua được mọi thứ? Và một xã hội tốt đẹp có nên để xảy ra tình trạng tiền mua được mọi thứ?

Giáo sư người Mỹ Michael J.Sandel đã đặt ra câu hỏi này trong cuốn: “Tiền không mua được gì?” (What money can’t buy?). Trong xã hội Mỹ-điển hình của một xã hội tư bản đề cao giá trị đồng tiền, Michael J. Sandel vẫn nhìn thấy những thứ mà không thể và không nên dùng tiền để mua. Ông viết: “Có những điều tốt đẹp trong cuộc sống sẽ bị xói mòn, bị hư hỏng nếu chúng bị coi là hàng hóa. Vì vậy, để xác định xem thị trường có thể tồn tại ở đâu, cái gì nên tránh xa thị trường thì chúng ta phải tìm ra cách thức đánh giá giá trị một số thứ, như: Sức khỏe, giáo dục, cuộc sống gia đình, tự nhiên, nghệ thuật, trách nhiệm công dân... Chúng đều là những vấn đề mang tính đạo đức và chính trị chứ không chỉ đơn thuần là kinh tế”.

Michael J.Sandel đã đề cập đến vấn đề đạo đức của đồng tiền, hay chính xác là đạo đức khi sử dụng đồng tiền. Bởi theo ông: “Cuộc tranh luận này (cuộc tranh luận về khía cạnh đạo đức của đồng tiền-PV) không hề tồn tại trong kỷ nguyên tôn vinh thị trường. Hậu quả là khi không nhận biết được vấn đề, không bao giờ nghĩ đến chuyện tranh luận về chúng, từ chỗ có một nền kinh tế thị trường, chúng ta đã trượt sang trạng thái trở thành một xã hội thị trường”. Cũng theo tác giả người Mỹ: “Nền kinh tế thị trường là một công cụ đáng giá và hiệu quả, giúp chúng ta tổ chức được hoạt động sản xuất. Còn xã hội thị trường là một phương thức sống mà trong đó, các giá trị thị trường thâm nhập vào mọi ngóc ngách của cuộc sống con người. Chúng ta muốn một nền kinh tế thị trường hay một xã hội thị trường? Làm sao chúng ta xác định được hàng hóa nào được phép mua bán, còn hàng hóa nào phải chịu sự chi phối của các giá trị phi thị trường? Chỗ nào không nên có vai trò của đồng tiền?”.

Như thế, đồng tiền chi phối xã hội, ảnh hưởng tới cách nghĩ, cách ứng xử và đạo đức xã hội là câu chuyện mà con người ở mọi quốc gia đều có thể cảm nhận được. Thế nhưng, tùy vào văn hóa xã hội và thể chế chính trị mà cách giải quyết vấn đề này rất khác nhau.

Chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và đang áp dụng ngày càng đầy đủ hơn các quy luật, nguyên tắc của kinh tế thị trường. Nếu không có “định hướng XHCN”, thì các đặc điểm kinh tế thị trường của chúng ta cũng giống như nền kinh tế thị trường của các quốc gia trên thế giới. Phần “định hướng XHCN” vì thế rất quan trọng để hạn chế mặt trái của đồng tiền. Nhưng định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường là thứ mà chúng ta phải tốn nhiều công sức để thiết kế, định hình, nó bao gồm cả yếu tố thể chế và đạo đức.

Trong khi đó, mặt trái của kinh tế thị trường vẫn đang tác động hằng ngày, hằng giờ tới mỗi con người. Nền kinh tế càng phát triển thì lưu lượng tiền tệ trong nền kinh tế càng lớn và ý muốn dùng tiền để mua mọi thứ nếu không được phân tích, chỉ ra mặt trái, nếu không được kiểm soát thì có thể dần trở thành điều hiển nhiên của cuộc sống. Hệ lụy của nó là xã hội sẽ dần biến chất, đến mức những giá trị chuẩn mực đạo đức, nhân văn mang tính truyền thống của dân tộc, mang bản chất của xã hội XHCN sẽ bị thách thức. Ví như gần đây, chúng ta thấy có những ý kiến đòi phải công nhận mại dâm như một nghề chính thức trong xã hội, phải đóng thuế. Để giải quyết vấn đề này, chúng ta cần phải xác định rõ xem nhân phẩm của người phụ nữ có phải là thứ có thể mang ra mua bán, trao đổi hay không? Truyền thống văn hóa của chúng ta, bản chất xã hội XHCN của chúng ta có chấp nhận được việc mua bán đó không?...     

Nếu ta để đồng tiền quyết định mọi vấn đề thì sẽ dẫn tới hệ lụy là người làm chính sách, nhà quản lý có thể hy sinh mọi thứ vì phát triển kinh tế. Vì phát triển kinh tế, chúng ta có thể hy sinh môi trường sống, vì kinh tế ta có thể hủy hoại cả nền văn hóa truyền thống của dân tộc, vì đồng tiền ta có thể hy sinh sức khỏe, vì đồng tiền ta có thể hy sinh các mối quan hệ trong gia đình... Để rồi cuối cùng, chúng ta sẽ không biết rõ mình là ai! Phát triển kinh tế, làm giàu kiểu như vậy thì thể hiện sự tàn phá hạnh phúc hơn là kiến thiết hạnh phúc.

Ngăn chặn lạm quyền và làm giàu bất chính

Bản thân đồng tiền không có lỗi, mà vấn đề là người sử dụng, mục đích sử dụng tiền. Dân gian có câu: “Tiền dùng đúng, tiền hiền như Phật. Bạc xài lầm, bạc ác hơn ma”. Nhu cầu kiếm tiền và làm giàu đúng pháp luật là nhu cầu chính đáng của công dân và được Đảng, Nhà nước khuyến khích. Tiếp nối tinh thần của các đại hội trước, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nêu mục tiêu phấn đấu xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Cho nên việc người dân giàu có là mục tiêu của Đảng ta, xã hội ta. Dân giàu bằng công sức, lao động chính đáng, đúng pháp luật là cái phúc; nhưng cán bộ giàu có thể là cái họa. Bởi vì, cán bộ có thể sử dụng vị trí công việc của mình, lạm dụng quyền lực của Đảng, Nhà nước trao cho mình để kiếm tiền, làm giàu bất chính cho bản thân.

Khi nền kinh tế phát triển nhanh, cùng với đó là các quy định của pháp luật chưa được hoàn thiện, sự phất lên quá nhanh, quá dễ dàng của một số quan chức tham nhũng và các doanh nghiệp thân tín đã thách thức các giá trị truyền thống, trong đó có các giá trị đạo đức và cả niềm tin. Không ít cán bộ, công chức coi đồng tiền là thước đo số 1 cho thành công, đẳng cấp, uy tín và hạnh phúc, là thứ bảo đảm cuộc sống sung túc dài lâu cho họ và con cháu họ.

Cách nghĩ này khiến cho khi có cơ hội, họ cố vơ vét thật nhiều tiền cho đầy túi tham. Để nói về loại tham quan này, nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đã nhận xét: “Ăn của dân không từ cái gì”. Chẳng thế mà khi nói đến nhiều vị cán bộ to, người ta không nhắc tới tài năng, trí tuệ, những đóng góp cho công việc, cho đất nước, cho nhân dân, mà chỉ thấy khen giàu: Ông/bà ấy có biệt phủ lớn lắm, có nhiều nhà lắm, đi nước ngoài tiêu tiền khủng khiếp...

Khi dân “khen” cán bộ giàu là phải hết sức suy nghĩ... vì nguồn tiền làm giàu đó từ đâu? Những “quan cách mạng” đó là một mối họa lớn cho sự tồn vong của Đảng, Nhà nước XHCN. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” năm 1947 đã yêu cầu phải “lôi cổ những ông quan cách mạng này xuống”. Nếu không lôi họ xuống, để họ tiếp tục đục khoét, làm giàu bất chính một cách dễ dàng thì nhiều người trong xã hội sẽ học theo, cố chen chân để làm “quan cách mạng”, học thói làm giàu bất chính.

Theo nguyên tắc của kinh tế thị trường, người ta sẽ coi vị trí “quan cách mạng” như một khoản đầu tư sinh lợi lớn. Nạn mua quan, bán chức vì thế sẽ ngày càng trầm trọng. Sau khi mua được chức rồi, những vị “quan cách mạng”-sẽ phải thu hồi lại vốn bằng cách bòn rút công quỹ, bòn rút cấp dưới, bòn rút nhân dân. Quyền lực của cơ quan công quyền nếu rơi vào tay của quan tham sẽ trở thành công cụ để hắn ta kiếm lợi cho bản thân.

Những năm gần đây, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng (PCTN) được đẩy lên cao trào, hàng loạt quan tham dù ở cấp nào cũng bị sa lưới, những khối tài sản tham nhũng khổng lồ được thu hồi. Kể cả những “quan cách mạng” đã nghỉ hưu vẫn bị lôi ra kỷ luật Đảng, xét xử, bỏ tù nếu bị phát hiện hành vi tham nhũng, vi phạm pháp luật. Hành động quyết liệt ấy đã cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và toàn xã hội thấy trong PCTN không có vùng cấm, không có hạ cánh an toàn. Vì thế, những người đang có chức vụ phải thận trọng, giữ mình, còn kẻ có dã tâm muốn mua quan, bán chức sẽ phải chùn bước.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đặt mục tiêu đến năm 2045 nước ta sẽ thành nước phát triển, thu nhập cao. Khoảng cách 24 năm để từ một nước đang phát triển, thu nhập trung bình thấp thành nước phát triển, thu nhập cao, đòi hỏi sự nỗ lực tăng tốc phát triển kinh tế. Cùng với những đột phá về cơ chế, chính sách để phục vụ yêu cầu tăng tốc phát triển kinh tế, cũng cần hết sức quan tâm bồi đắp, gìn giữ đạo đức, nhân cách, văn hóa con người. Bởi khi tăng tốc phát triển kinh tế thì tiền của, vật chất sẽ sản sinh nhanh hơn, nhiều hơn, sự chi phối của đồng tiền đối với các mối quan hệ xã hội sẽ lớn hơn. Để có CNXH, chúng ta không chỉ cần xây dựng cơ sở vật chất, không chỉ là quan hệ sản xuất, mà còn cần con người. Do vậy, làm thế nào để ngăn chặn tiền của, vật chất, mặt trái của kinh tế thị trường làm thoái hóa con người; làm thế nào để xây dựng được con người không chỉ giàu có về tiền bạc, vật chất mà giàu có cả về trí lực, tâm lực và thể lực để tạo nên xã hội văn minh là vấn đề có tính chiến lược cần có giải pháp căn cơ.

(còn nữa)

HỒ QUANG PHƯƠNG (Báo Quân đội Nhân dân)

Việt Nam hiện thực hóa quyền con người bằng nhiều chính sách thiết thực

 

Trong những năm qua, Việt Nam đã triển khai các biện pháp đồng bộ, ưu tiên dành nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của người dân. Các thành tựu về phát triển kinh tế, xã hội và việc tăng cường hội nhập quốc tế đã tạo ra các điều kiện vật chất và nguồn lực để Việt Nam bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền và tự do cơ bản của người dân.

Nghiêm túc với các cam kết quốc tế

Cho đến nay, với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam đã và đang tích cực tham gia vào tiến trình hợp tác quốc tế, khu vực, đa phương và song phương trên nhiều lĩnh vực, trong đó có việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Đặc biệt, Việt Nam đã hoàn thành trước hầu hết các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) và đang tích cực triển khai thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG).

Trước những diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19, Việt Nam cũng nhanh chóng đưa ra các chính sách, biện pháp đồng bộ, hiệu quả, trong đó, kiểm soát dịch bệnh là ưu tiên hàng đầu nhằm bảo vệ sức khỏe, bảo đảm quyền tối thượng là quyền được sống của người dân; đồng thời thực hiện hiệu quả, đồng bộ các giải pháp giảm thiểu tác động của dịch đối với nền kinh tế, duy trì và phục hồi sản xuất kinh doanh, bảo đảm việc làm, an sinh xã hội và đời sống của người dân, nhất là những người dễ bị tổn thương.

Từ năm 2019 đến nay, Việt Nam đã thông qua 36 luật, trong đó có nhiều văn bản luật quan trọng liên quan đến quyền con người, quyền công dân, góp phần cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 2013, phù hợp với các Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như Bộ luật Lao động, Luật Thanh niên, Luật Cư trú, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án, Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Luật Thư viện... Các luật này đã góp phần kiến tạo thể chế, khung pháp lý điều chỉnh trên lĩnh vực kinh tế-xã hội có liên quan trực tiếp đến việc thụ hưởng quyền của người dân.

Thực hiện một số khuyến nghị theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền, Việt Nam cũng đang xem xét sửa đổi, bổ sung một số Luật phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam như việc sửa đổi Luật Trẻ em, cụ thể là định nghĩa trẻ em là người dưới 18 tuổi, nghiên cứu xây dựng dự thảo Luật Phòng, chống mại dâm, quy định cụ thể định nghĩa quấy rối tình dục trong Bộ luật Lao động 2019...

Nhiều Chương trình hành động cấp quốc gia được ban hành như Chương trình hỗ trợ người khuyết tật giai đoạn 2021-2030, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030, Chương trình bảo vệ trẻ em trên không gian mạng và Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2021-2030, Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030, Chương trình phát triển xã hội giai đoạn 2021-2030…, góp phần bảo đảm tốt hơn quyền của các nhóm dễ bị tổn thương. Việt Nam đang tiếp tục triển khai Luật Bình đẳng giới, Luật Người khuyết tật và tích cực nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật về các vấn đề này.

Việc bảo đảm các quyền con người của Việt Nam được thực hiện phù hợp với các chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việt Nam hiện là thành viên của 7/9 Công ước quốc tế quan trọng về quyền con người. Việt Nam cũng là thành viên của 25 Công ước của Tổ chức Lao động quốc tế, trong đó có 7/8 Công ước cơ bản; đang nghiên cứu phê chuẩn Công ước cơ bản còn lại là Công ước 87 về Quyền tự do hiệp hội và về việc bảo vệ quyền được tổ chức. Việt Nam luôn thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các cam kết nghĩa vụ theo các công ước này, trong đó có nghĩa vụ báo cáo tình hình thực thi các Công ước tại Việt Nam.

Những thành tựu nổi bật

Nỗ lực trong phát triển kinh tế và bảo đảm sinh kế, tạo nền tảng cho việc thụ hưởng các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cho người dân, Việt Nam đã tiếp tục thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững, hạn chế tái nghèo và phát sinh nghèo; hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo vượt lên mức sống tối thiểu, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 đã có những kết quả tích cực như tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn khoảng 2,75%, bình quân trong 5 năm giai đoạn giảm khoảng 1,43%/năm; tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện nghèo còn khoảng 24%, bình quân trong 5 năm giảm 5,65%. Trong thời kỳ đại dịch COVID-19, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động; chủ trương bảo đảm tiêm vaccine phòng COVID-19 miễn phí cho người dân theo các đối tượng ưu tiên mà WHO khuyến nghị.

Về giáo dục, tại Việt Nam, người dân được tạo điều kiện để học liên tục mọi nơi, học suốt đời theo nhiều hình thức khác nhau. Vì thế, trong giai đoạn 2012-2020 đã xóa mù chữ cho 295.308 người trong độ tuổi 15-60, nâng tỷ lệ biết chữ độ tuổi từ 15-60 là 97,85% và tỷ lệ biết chữ độ tuổi từ 15-35 là 99,3%. Việt Nam cũng đã ban hành nhiều chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập cho các nhóm yếu thế, trong đó tập trung hỗ trợ học sinh vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Đồng thời, việc tiếp cận thông tin của người dân ngày càng được phát triển, rộng mở, đặc biệt là người dân tại vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo.

Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng Internet cao thứ 12 trên toàn thế giới và đứng thứ 6 trong tổng số 35 quốc gia/vùng lãnh thổ khu vực châu Á. Mạng lưới viễn thông tiếp tục được hiện đại hóa và phát triển rộng khắp với mức phủ sóng đạt 99,7% dân số, trong đó mạng 3G và 4G phục vụ 98% dân số. Theo báo cáo xếp hạng An toàn an ninh mạng toàn cầu (GCI) năm 2020 do ITU công bố mới đây, Việt Nam đã tăng 25 bậc trong 2 năm, vươn lên vị trí thứ 25 trong tổng số 194 quốc gia, vùng lãnh thổ và đứng thứ 7 trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương và thứ 4 trong khu vực ASEAN.

Trong lĩnh vực tự do tôn giáo, tín ngưỡng, Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và có hàng ngàn nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung độc lập được đăng ký sinh hoạt tôn giáo (trong đó có các nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam).

Tính đến ngày 31/12/2020, cả nước hiện có 50.703 cơ sở tín ngưỡng; có 29.801 cơ sở tôn giáo, 53.390 chức sắc, 95.360 chức việc; 40.075 người vừa là chức sắc, vừa là chức việc tại 62/63 tỉnh, thành phố và 26.548.509 tín đồ. Việt Nam hiện có 63 cơ sở giáo dục, đào tạo tôn giáo gồm Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo với hơn 18.000 học viên đăng ký theo học các khóa đào tạo tôn giáo mỗi năm. Năm 2020 có khoảng 230 cơ sở thờ tự được xây mới, 308 cơ sở thờ tự được nâng cấp, sửa chữa...

Những chính sách thiết thực, hiệu quả nêu trên đã khẳng định quyền con người ở Việt Nam hiện được bảo đảm và không ngừng nâng cao.

Huyền Chi (Báo Công an Nhân dân)

VÌ SAO NGƯỜI DÂN NGA MANG THEO CỜ ĐỎ SAO VÀNG TRONG CÁC CUỘC DUYỆT BINH KỶ NIỆM?

 

Năm 1926, theo sáng kiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc gửi tới Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, một số thanh niên Việt Nam yêu nước đã được gửi sang Liên Xô để học tập. Khi Chiến tranh thế giới thứ 2 nổ ra, một số thanh niên trong nhóm này đã quyết định tham gia quân đội Xô Viết chống lại sự xâm lược của Phát-xít Đức. Nhiều người đã anh dũng chiến đấu và ngã xuống trong cuộc chiến bảo vệ Moscow năm 1941.

Đến nay, nhờ những nỗ lực của Đại sứ quán Việt Nam tại Liên bang Nga, các cơ quan chức năng và bạn bè Nga, đã xác định được tên, tuổi của bảy chiến sĩ Việt Nam đã từng tham gia chiến đấu chống phát-xít trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại; đó là các ông:

- Lê Phan Chăn (bí danh Lý Phú San), sinh ngày 01-6-1900 tại Tân Ước, Thanh Oai, Hà Đông (nay là TP Hà Nội);

- Đinh Trường Long (bí danh Lý Văn Minh), sinh năm 1910, tại xã Hải Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa;

- Vương Thúc Thoại (bí danh Lý Thúc Chất), sinh năm 1910, tại Làng Sen, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An;

- Vương Thúc Liên (bí danh Vương Thúc Tình), sinh năm 1903, tại Làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An;

- Hoàng Thế Tư (bí danh Lý Anh Tạo), sinh năm 1910, tại Làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An;

- Nguyễn Sinh Thân (bí danh Lý Nam Thanh), sinh năm 1908, tại Làng Sen, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An;

- Ngô Chí Thông (bí danh Lý Chí Thông), sinh năm 1910 tại xã Thạch Minh, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

Trong đó, ba chiến sĩ: Lý Nam Thanh, Lý Anh Tạo và Lý Thúc Chất đã gan dạ chiến đấu, hi sinh trong các trận giao tranh ác liệt ở ngoại ô thủ đô Moscow.

Trong cuốn hồi ký của OMSBON, có đoạn:

"Tôi đã nhiều lần gặp những chiến sĩ người Việt khi đang hành quân hay ở trận địa tiền tiêu. Tôi được chứng kiến họ nhắm bắn chính xác vào quân thù. Các đồng ngũ cùng trung đoàn đều nói rằng đó là những con người dũng cảm. Đôi lần tôi chuyện trò cùng họ và tin chắc rằng các chiến sĩ người Việt này nói tiếng Nga thạo, thích hát những bài ca Nga. Những chiến sĩ tình nguyện người Việt này đã cùng đồng đội Nga chia sẻ mọi khó khăn gian khổ ngoài mặt trận. Nhiệm vụ chung của chúng tôi là đuổi phát-xít Đức khỏi Moscow và sau đó đánh bại hoàn toàn quân Hitler tàn ác.

Ngày 5 tháng 12 năm 1941, các đơn vị khác của Hồng quân ở ngoại ô Moscow chuyển sang thế phản công. Bọn Đức quốc xã hứng chịu thất bại nặng nề đầu tiên trên mặt trận Xô-viết. Hơn nửa triệu tên phát-xít bị tiêu diệt. Nhưng chiến thắng cũng là đắt giá với Hồng quân. Trung đoàn chúng tôi tổn thất nhiều đồng chí. Vào đầu năm 1942, khi chúng tôi đuổi hết bọn phát-xít Đức ra khỏi địa phận Moscow, ba chiến sĩ người Việt dũng cảm đã hy sinh.

Tôi nhớ về các bạn chiến đấu người Việt này khi chúng tôi chiếm được Berlin tháng 5 năm 1945, và khi nghe tin những người yêu nước Việt Nam giải phóng Sài Gòn vào tháng 5 năm 1975, rồi khi các phi công Liên Xô và Việt Nam cùng cất cánh bay lên không gian vũ trụ tháng 7 năm 1980. Khi đó tôi nghĩ rằng những đồng ngũ người Việt năm xưa của tôi hẳn sẽ rất vui mừng về điều này!".

Đó là lý do trong các cuộc duyệt binh kỷ niệm ngày chiến thắng, người dân Nga mang theo cờ đỏ sao vàng để tưởng nhớ đến những người hùng mang dòng máu Việt Nam./.