Thứ Hai, 28 tháng 8, 2023

CẦN LOẠI BỎ TỔ CHỨC PHẢN ĐỘNG HỘI ĐỒNG LIÊN TÔN VIỆT NAM - NHÓM PHẢN ĐỘNG

 

            Kẻ cẩm đầu cái gọi là Hội đồng liên tôn Việt Nam là Thích Không Tánh, tên thật là Phan Ngọc Ấn, sinh năm 1943, nguyên quán Phước Thuận, Tuy Phước, Bình Định; thường trú tại chùa Liên Trì, số 153 đường Lương Định Của, quận 2, thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, Thích Không Tánh đảm nhiệm công tác liên lạc, tổ chức các hoạt động nhằm khuếch trương thanh thế của Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất (một tổ chức tôn giáo không được thừa nhận ở nước ta) và làm cầu nối thông tin với các tổ chức Phật giáo Việt Nam lưu vong. Từ năm 1978 đến 1986, Thích Không Tánh bị đưa đi cải tạo, do tham gia các hoạt động của những phần tử đội lốt tu hành chống phá Nhà nước và vi phạm pháp luật. Đến năm 1987, Thích Không Tánh được trả tự do. Song, với bản chất của kẻ phản động, ngày 02/10/1992, Thích Không Tánh bị các lực lượng chức năng bắt quả tang khi đang lưu hành nhiều tài liệu có nội dung chống lại Nhà nước và bị án phạt 5 năm tù giam và quản chế 5 năm sau khi mãn hạn tù. Sau thời gian này, Thích Không Tánh cùng với số tu sỹ bất mãn trong Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài,.. lập ra tổ chức Hội đồng liên tôn Việt Nam với ý đồ liên tôn, liên kết số tu sĩ bất mãn trong các tôn giáo để chống phá Nhà nước Việt Nam.

          Hoạt động của cái gọi là Hội đồng liên tôn Việt Nam chủ yếu hướng vào các vụ việc phức tạp về tôn giáo để chống phá Đảng và Nhà nước ta. Chúng đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phá hoại tư tưởng thông qua việc lợi dụng các vụ việc phức tạp, nhạy cảm trong nước sau đó, thêm tình tiết, thổi phồng, bịa đặt nhằm tác động gây chia rẽ nội bộ, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, gây tâm lý hoài nghi trong nhân dân… thông qua đó để từng bước làm xói mòn lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, kích động tâm lý bức xúc, “bất tuân dân sự”, sử dụng bạo lực để phản kháng lại chính quyền.

          Bên cạnh đó, chúng móc nối, phát triển lực lượng cho tổ chức thông qua mạng internet và các trang mạng xã hội đưa thông tin xuyên tạc tình hình trong nước, tác động móc nối, lôi kéo thanh niên, sinh viên, trí thức, chức sắc, tín đồ tôn giáo cực đoan, người dân tộc thiểu số có tư tưởng ly khai, hẹp hòi, số cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất… Các hoạt động của tổ chức phản động này với thủ đoạn lừa đảo, mị dân để móc nối, lôi kéo người tham gia tổ chức. Trên thực tế, một bộ phận quần chúng nhân dân do hoàn cảnh khó khăn, hám lợi và nhận thức còn hạn chế nên đã đăng ký tham gia; trong đó, một số cán bộ, đảng viên do nhận thức chưa đầy đủ, chưa thấy tính chất nguy hiểm trong luận điệu tuyên truyền của Hội đồng liên tôn Việt Nam nên đã bị chúng chuyển hóa, lợi dụng, lôi kéo, công khai ủng hộ các hoạt động chống phá Việt Nam…

          Thời gian qua, Bộ Công an đã phối hợp với các Bộ, Ban, ngành và cấp ủy chính quyền các cấp đấu tranh làm thất bại âm mưu, ý đồ chống phá của các thế lực thù địch nói chung và bọn tổ chức phản động lưu vong nói riêng; trong đó, ngăn chặn, vô hiệu hóa nhiều kế hoạch khủng bố, phá hoại của tổ chức phản động Hội đồng liên tôn Việt Nam. Căn cứ vào hoạt động của Hội đồng liên tôn Việt Nam và theo quy định của pháp luật Việt Nam, Bộ Công an đã công bố công khai đưa Hội đồng liên tôn Việt Nam vào danh sách các tổ chức phản động chống Nhà nước Việt Nam; bắt, xử lý 17 đối tượng về tội chống chính quyền nhân dân theo Điều 84 và Điều 230a Bộ luật Hình sự 1999; đồng thời, tổ chức tuyên truyền, tấn công chính trị toàn diện tổ chức Hội đồng liên tôn Việt Nam.

          Thời gian tới, để công tác đấu tranh với các tổ chức các tổ chức phản động lưu vong nói chung, tổ chức phản động Hội đồng liên tôn Việt Nam nói riêng đạt hiệu quả, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị, chính quyền địa các phương cần:

Một là, tổ chức tuyên truyền với hình thức, nội dung hợp lý, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân hiểu rõ âm mưu, ý đồ, phương thức, thủ đoạn tuyền truyền phá hoại tư tưởng, phát triển lực lượng, khủng bố, phá hoại của Hội đồng liên tôn Việt Nam, trên cơ sở đó nâng cao tinh thần cảnh giác, không ủng hộ, tham gia các tổ chức phản động lưu vong nói chung, Hội đồng liên tôn Việt Nam nói riêng; không truy cập, tìm hiểu thông tin, bình luận trên các trang web, tài khoản mạng xã hội do tổ chức Hội đồng liên tôn Việt Nam và số đối tượng liên quan lập ra.

          Hai là, tích cực, chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trước những âm mưu, ý đồ, phương thức, thủ đoạn hoạt động hoạt động tuyên truyền, phát triển lực lượng của bọn phản động lưu vong nói chung, Hội đồng liên tôn Việt Nam nói riêng; kịp thời xử lý các tình huống xảy ra, không để bị động, bất ngờ; giải quyết tốt những vấn đề bất cập, bức xúc xã hội, không để chúng lợi dụng kích động khiếu kiện, biểu tình gây mất ổn định chính trị. Thực hiện phương châm: lấy tuyên truyền, vận động, thuyết phục là chính, nhưng kiên quyết đấu tranh với những phần tử chống đối cực đoan.

Ba là, tiếp tục quán triệt, nâng cao nhận thức trong các cấp ủy đảng và cán bộ, đảng viên về vai trò, tầm quan trọng của công tác đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa; tích cực đấu tranh, phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch và phòng, chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; xác định đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của cấp ủy.

          Bốn là, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ và quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; ngăn chặn tác hại của hoạt động phá hoại tư tưởng; xử lý nghiêm những trường hợp trong nội bộ tham gia hoặc ủng hộ các đối tượng phản động lưu vong nói chung, Hội đồng liên tôn Việt Nam nói riêng./.

CẦN CHẤM DỨT BÁO CÁO VÔ CĂN CỨ VỀ TỰ DO INTERNET Ở VIỆT NAM

 

Theo thống kê, tỷ lệ người sử dụng Internet tại Việt Nam đạt khoảng 70%, trong khi tỷ lệ trung bình thế giới là hơn 51% và Việt Nam thuộc nhóm 20 nước có số người sử dụng Internet cao nhất thế giới.

Freedom House lại vừa ra báo cáo năm 2022 với những đánh giá định kiến, thiếu khách quan về tình hình tự do Internet ở Việt Nam.

Những đánh giá của Freedom House là sự bịa đặt, được đưa ra một cách vô căn cứ và cố tình phớt lờ thực tế sinh động ở Việt Nam về tự do Internet cũng như những thành tựu đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận về các quyền con người mà Việt Nam đạt được trong nhiều năm qua.

Thực tế cho thấy những nỗ lực thúc đẩy và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam đã được các nước, tổ chức quốc tế đánh giá cao tại Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc qua các chu kỳ.

Việt Nam cũng là một trong số những quốc gia đã về đích sớm trong việc thực hiện nhiều Mục tiêu thiê0n niên kỷ của Liên hợp quốc và đang nỗ lực thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững.

Những thành tích của Việt Nam về Internet cũng hết sức ấn tượng. Theo thống kê, tỷ lệ người sử dụng Internet tại Việt Nam đạt khoảng 70%, trong khi tỷ lệ trung bình của thế giới là hơn 51%. Việt Nam thuộc nhóm 20 nước có số người sử dụng Internet cao nhất thế giới. Tại Việt Nam, hàng chục triệu người dân đang sử dụng Internet để phục vụ cho việc học tập, làm việc, giải trí,…

Ở Việt Nam, hiện có hàng trăm mạng xã hội khác nhau đăng ký hoạt động, trong đó một số mạng xã hội được sử dụng phổ biến như Facebook, Zalo, Twitter, Instagram, Tiktok,… trong đó, Facebook là mạng xã hội phổ biến nhất với hơn 65 triệu người sử dụng.

Người dân có thể tự do chia sẻ, bày tỏ thông tin, quan điểm cá nhân thông qua Internet, nhất là qua các trang web, mạng xã hội. Nhiều cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương đã và đang sử dụng Internet, mạng xã hội để làm việc, giải quyết các thủ tục hành chính và liên hệ trực tiếp với người dân,…

Đó là những minh chứng sinh động của việc Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo vệ quyền phát triển của mỗi người dân, quyền được tự do thông tin, tự do Internet. Vì thế, việc Freedom House chỉ trích Luật An ninh mạng của Việt Nam nhằm kiểm soát người dân sử dụng Internet là hết sức phi lý.

Cần khẳng định rằng Luật An ninh mạng của Việt Nam ra đời nhằm làm lành mạnh hóa không gian mạng xã hội và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên không gian mạng, xuất phát từ thực tế rằng việc có số lượng người sử dụng mạng xã hội quá lớn kéo theo nhiều hành vi vi phạm như bán hàng lừa đảo, đưa những video clip trái với thuần phong mỹ tục lên không gian mạng, lợi dụng mạng xã hội để đưa thông tin sai sự thật, thông tin xấu độc vì động cơ cá nhân, kích động, gây rối trật tự xã hội,…

Việc thực hiện quyền tự do Internet và mạng xã hội tại Việt Nam luôn được đặt trong khung khổ pháp luật, qua đó mới bảo đảm an ninh mạng, phòng ngừa, ngăn chặn các hoạt động lợi dụng mạng xã hội để vi phạm pháp luật Việt Nam nhằm kích động, chia rẽ xã hội, tạo cớ để các thế lực bên ngoài can thiệp vào Việt Nam.

Cũng cần phải nói rõ rằng Luật An ninh mạng của Việt Nam hoàn toàn phù hợp với quy định của luật pháp quốc tế, cụ thể ở đây là Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR).Hiện có hàng trăm mạng xã hội khác nhau đăng ký hoạt động tại Việt Nam, trong đó một số mạng xã hội được sử dụng phổ biến như Facebook, Zalo, Twitter, Instagram…

Internet là không gian truyền thông lớn nhất trên thế giới hiện nay, là nơi các tầng lớp, cộng đồng và cá nhân trên thế giới có quyền bày tỏ chính kiến, quan điểm. Quyền tự do này đã được Liên hợp quốc quy định rõ ràng tại Khoản 2 và Khoản 3, Điều 19 của ICCPR.

Tuy nhiên, Khoản 3 cũng nêu rõ: “Việc thực hiện những quyền quy định tại Khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định. Tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và cần thiết để: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác, b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức công chúng.”

Rõ ràng, khi đưa ra các đánh giá về tự do Internet tại Việt Nam, Freedom House đã cố tình phớt lờ những quy định trên của ICCPR, đồng thời bỏ qua môt thực tế hiển nhiên là không chỉ Việt Nam ban hành Luật An ninh mạng mà trên thế giới đã có hơn 180 quốc gia đã ban hành luật này hoặc quy định các điều luật về an ninh mạng trong bộ luật bảo đảm an ninh quốc gia. Nhiều quốc gia như Mỹ, Đức, Pháp, Hàn Quốc, Singapore,… đã có luật và điều khoản luật xử lý nghiêm khắc những hành vi vi phạm trên không gian mạng.

Những đánh giá thiếu khách quan, thiên lệch của Freedom House về tự do Internet của Việt Nam được lặp đi lặp lại kể từ khi Việt Nam ban hành Luật An ninh mạng là nhằm kích động, gây rối xã hội. Những thông tin mà Freedom House tiếp cận được về tình hình Việt Nam chủ yếu thông qua các tổ chức phản động, các đối tượng hoạt động chống phá Việt Nam.

Rõ ràng, những thông tin đó phản ánh không đúng thực tiễn. Mục đích là nhằm tạo ra nhận thức lệch lạc về vấn đề tự do Internet và nhân quyền tại Việt Nam nhằm bôi xấu hình ảnh, hạ thấp uy tín, vị thế và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế.

Giáo sư, Tiến sỹ khoa học Vladimir Kolotov – Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh tại Saint-Peterburg (Liên bang Nga), khẳng định: “Năm nào, Freedom House cũng công bố bảng danh sách mang tính chủ quan, không có gì thay đổi, không phản ánh tình hình thực tiễn về các khía cạnh nhân quyền của các nước trên thế giới. Họ không dựa trên cơ sở trên thực tế. Họ tự cho mình quyền cáo buộc nước khác vi phạm nhân quyền, quyền tự do tín ngưỡng… và dựa vào đó để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác.” 

Rõ ràng, Freedom House không có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác và càng không thể gây sức ép với Việt Nam bằng những nhận xét thiếu khách quan, thiên lệch về tình hình tự do Internet và nhân quyền ở Việt Nam. Freedom House cần chấm dứt ngay những báo cáo vô giá trị như vậy./.

ÂM MƯU, HOẠT ĐỘNG ''DIỄN BIẾN HÒA BÌNH'' CHỐNG PHÁ VIỆT NAM BÌNH MỚI RƯỢU CŨ

 

Bản chất, âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, xúc tiến thực hiện “cách mạng màu” và đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động cấu kết với nhau diễn trò “kẻ tung người hứng” để cố tình chống phá cách mạng Việt Nam thật lố bịch; dù có che đậy, giấu kỹ đến đâu thì bản chất “phi nhân tính”, “dã thúc ác độc” của nó vẫn lộ ra, mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng là không bao giờ thay đổi. Các chiêu trò, thủ đoạn chống phá mới chỉ là cái “điệp khúc” nhai lại với việc “thay hình, đổi dạng”, làm cho mới, tinh vi hơn, sảo quyệt hơn các thủ đoạn chống phá Việt Nam cũ thành mới, “mốt hơn”, phù hợp với tình hình mới và diễn biến của thời cuộc: chúng chĩu mũi nhọn vào chống phá việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội III của Đảng, xuyên tạc bản chất cuộc chiến “chống dịch như chống giặc” của Đảng, Nhà nước với sự tham gia tích cực, hiệu quả của Quân đội, Công an và nhân dân cả nước…

Với đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, hơn 35 năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta đã vượt qua tình trạng đói nghèo, kém phát triển, trở thành một nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội và quốc phòng – an ninh tiếp tục ổn định, phát triển, tiến bộ; uy tín, vị thế của nước ta không ngừng nâng cao trên trường quốc tế.

Thế nhưng, một số người thiếu thiện chí, có quan điểm đối lập với Đảng ta, vì lợi ích cá nhân mà nuôi dã tâm cấu kết với các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động tiếp tục lợi dụng quá trình đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế của Việt Nam, nhất là việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội III của Đảng và chống đại dịch Covid-19 để thực hiện âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” nhằm “chuyển hóa” Việt Nam, với nhiều thủ đoạn thâm độc, chống phá Đảng. Nếu những năm trước đây, chúng thường sử dụng một số biện pháp “cứng rắn” để “nắn gân”, chống phá Việt Nam, thì hiện nay, chúng đã thay đổi chiến thuật, chuyển từ “cứng rắn” sang “mềm dẻo”, vừa “cứng rắn” vừa “mềm dẻo” để thúc đẩy mở rộng quan hệ, hợp tác để mua chuộc, lôi kéo, củng cố lực lượng có lợi cho chúng; vừa áp đặt, răn đe, gây sức ép để tác động, “chuyển hóa” chế độ chính trị ở Việt Nam theo hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là chính để “nắn chỉnh” đường lối chính trị Việt Nam.

Chiêu bài tác động, biến đổi kinh tế để chuyển hóa, thay đổi dần dần “chế độ chính trị” của Việt Nam đã và đang được thúc đẩy rất tinh vi, thông qua việc đầu tư phát triển kinh tế của các doanh nghiệp tư nhân, nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, bằng nhiều cách “giương đông, kích tây”, “ném đá giấu tay”, “chọc gậy bánh xe”, họ đang từng bước phá vỡ quan hệ của Việt Nam với các nước láng giềng, đặc biệt chống phá, xuyên tạc mối quan hệ, hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam với Trung Quốc, Việt Nam với Lào, Việt Nam với Campuchia và ngược lại.

Với âm mưu và mục tiêu chiến lược này, phương Tây đang nới rộng các chính sách nhằm đẩy mạnh hợp tác toàn diện với Việt Nam, thực hiện “ba bước tiến” trên lộ trình “chuyển hóa” Việt Nam.

Thứ nhất, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới, từ đó phát triển kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, đẩy nhanh hơn quá trình tư nhân hóa nền kinh tế Việt Nam, làm cho thành phần kinh tế nhà nước mất dần vai trò chủ đạo, dẫn đến chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là phương cách hữu hiệu nhất để làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước xã hội chủ nghĩa và làm xói mòn các yếu tố xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đã xây dựng.

Thứ hai, hình thành “xã hội dân sự” ở Việt Nam với các tổ chức “phi đảng”, tạo môi trường và cơ hội để các tổ chức chính trị đối lập xuất hiện và hoạt động công khai, gây rối loạn trật tự, an ninh, an toàn xã hội Việt Nam; làm cho Đảng, Nhà nước ta không thể kiểm soát được tình hình, buộc phải chấp nhận “dân chủ chính hiệu” hoặc suy thoái, dẫn đến tan vỡ do đột biến chính trị – xã hội từ bên trong, với sự hỗ trợ đắc lực của các thế lực phản động “ngầm’ từ bên trong cấu kết với các thế lực phản động từ bên ngoài. Đây là “chìa khóa” để “châm ngòi nổ” chính trị xúc tiến việc “chuyển hóa” Việt Nam sau khi đã thực hiện xong “phi chính trị hóa” quân đội và công an.

Thứ ba, thực hiện “dân chủ hóa” vô hạn độ chính quyền các cấp, từ Trung ương đến địa phương, cơ sở; từng bước cô lập, tách các tổ chức đảng, đảng viên ra khỏi quần chúng, kêu gọi “tẩy chay Đảng”; đồng thời, đẩy mạnh thực hiện “phi chính trị hóa” Quân đội và Công an, từng bước gây áp lực phát triển kinh tế, chống đại dịch Covid-19, làm cho Đảng, Nhà nước ta mất chỗ dựa tin cậy, mất lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đánh sập chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Hiện nay, một số người coi “bước một” của “lộ trình” nêu trên cơ bản đã hoàn thành; và cho rằng, chỉ có đi vào Việt Nam bằng còn đường “ngoại giao thân thiện”, hợp tác toàn diện, nhất là hợp tác, đầu tư về kinh tế, cho “đồng Đô-la nhảy múa ở Việt Nam” thì mới đáp ứng nhanh, kịp thời các nhu cầu mà xã hội Việt Nam đang đặt ra, người Việt Nam đang mong muốn, cần đến, thì phương Tây mới có điều kiện, môi trường và cơ hội để thực hiện “diễn biến hòa bình”, kéo “con tim, khối óc” của nười dân Việt Nam ra xa Đảng Cộng sản, về gần với phương Tây. Đây là một trong những chiêu trò, thủ đoạn mới hết sức tinh vi, thâm độc, chúng ta không thể xem thường.

Gần đây, nhân việc lợi dụng “hỗ trợ vaccine” phòng, chống đại dịch Covid-19 cho Việt Nam, phương Tây đã thay đổi hướng tiếp cận thông qua một số tổ chức phi chính phủ để thực hiện mục tiêu chiến lược và ý đồ thâm độc chống phá Việt Nam. Họ đã tung tiền, hỗ trợ vaccine hoặc tiếp tay cho các cuộc “cách mạng màu” tại một số nước trên thế giới và đưa các tổ chức nay vào Việt Nam. Với kinh nghiệm và thành công trong việc tung tiền hỗ trợ hoặc tiếp tay cho các cuộc “cách mạng màu” tại một số nước trên thế giới, họ đang tìm cách đưa các tổ chức này vào Việt Nam hoạt động để tránh sự chú ý của các cơ quan chức năng.

Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động đặc biệt coi trọng sử dụng phương tiện truyền thông phản động như BBC, RFA, RFI, YOUTUBE, ZALO, VIBER…và Tổ chức khủng bố Việt Tân để tuyên truyền, tác động, thúc đẩy nhanh tiến trình “dân chủ hóa” ở Việt Nam. Vì vậy, phương Tây đã chi những khoản tiền lớn cho đài “Á Châu tự do” (RFA) để nâng cấp hệ thống phát thanh, truyền hình vệ tinh.

Cổ súy cho cái gọi là “dân chủ, nhân quyền”, “dân tộc, tôn giáo” được phương Tây sử dụng làm chiêu bài để xuyên tạc tình hình, vu cáo Việt Nam thiếu dân chủ, vi phạm nhân quyền, không có tự do tôn giáo… Họ cho rằng: Đảng, Nhà nước ta đối xử không công bằng với đồng bào các dân tộc thiểu số; không quan tâm đến đời sống và không tiêm vaccine cho đồng bào sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Qua đó, họ tìm cách đưa người vào Việt Nam với các danh nghĩa khác nhau để xúc tiến tìm hiểu tình hình, thu nhập thông tin, lôi kéo, hỗ trợ các lực lượng “ngầm” gây rối trên một số địa phương; đồng thời, triệt để lợi dụng vấn đề “tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền”, “đa nguyên chính trị” để chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Dù có che đậy tinh vi, xảo trá đến đâu, bản chất của các thủ đoạn trên là không thay đổi; vẫn chỉ là “bình mới, rượu cũ”. Mục tiêu cơ bản, xuyên suốt và lâu dài của các thế lực thù địch đối với nước ta là thực hiện “diễn biến hòa bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ, cách mạng màu nhằm xóa vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng, đưa Việt Nam theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa.

Hơn ai hết, Đảng, Nhà nước, quân và dân ta hiểu rõ điều đó. Vì vậy, tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng trên cơ sở nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, xây dựng Đảng ta thật sự là đạo đức, là văn minh, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, chiến thắng đại dịch Civid-19 là giải pháp có ý nghĩa quyết định để chúng ta làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Trên cơ sở đó, Đảng và Nhà nước cần bổ sung, hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật, nâng cao chất lượng hệ thống truyền thông, thông tin đại chúng, đặc biệt là báo điện tử, nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin tích cực cho các tầng lớp nhân dân, vô hiệu hóa các thông tin bịa đặt, xuyên tạc mà các thế lực thù địch đang sử dụng để chống phá ta.

Cùng với đó, cần tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, ngoại giao và quân sự…, tạo ra nội lực bền vững để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế; giữ môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động. Quyền quyết định đánh bại chúng thuộc về chúng ta, là của chúng ta./.

PHÓNG SINH THEO PHONG TRÀO: NGHĨ LÀ TỪ BI NHƯNG THỰC RA LÀ TỘI ÁC!

     Hiện nay, tại nhiều thành phố xuất hiện nhiều người tự xưng là Phật tử thuần thành, tự cho mình là giàu lòng từ bi… vào các dịp lễ Vu Lan, Rằm tháng Giêng, những ngày mồng Một, ngày Rằm thường vung tiền đặt hàng tấn cá, ốc, cua, tôm… mời thầy làm lễ phóng sinh rùm beng.

Cũng có người, khi đến các chùa thường mua ngay tại cửa chùa cả lồng chim, chậu cá… để phóng sinh. Có người, vì điều kiện kinh tế eo hẹp hơn lại được dạy dỗ không đầy đủ là phóng sinh được nhiều con vật thì công đức càng nhiều, nên cố công mua cho thật nhiều ốc, cua “thiếu niên”… để phóng sinh.

Bên cạnh đó, ở nhiều chùa chiền, vào các dịp lễ sư sãi thường tổ chức kèm theo lễ phóng sinh để cầu "quốc thái dân an", chim chóc, ốc ếch, cá tôm bị thu gom rất nhiều để các thầy đem đi thả. 

Họ đều coi đó là làm việc thiện, thu được nhiều công đức và ra sức làm mỗi khi có dịp.

Phóng sinh mang ý nghĩa tốt đẹp nhưng nó đang bị biến tướng khi tình trạng săn bắt, hành hạ động vật diễn ra ở nhiều nơi, làm ảnh hưởng môi trường sống. 

Vì thế, ở chợ vào những dịp lễ hay mồng Một, hôm Rằm bỗng tăng vọt số lượng chim, cá, ốc, cua, tôm… và có hàng còn ghi rõ: Bán giá rẻ phục vụ phóng sinh! Người mua đâu ngờ vào trước những dịp như thế, hoặc khi có đơn đặt hàng thì người bán đã đặt hàng cho người săn bắt.

Thật buồn cười khi những con chim vốn đang tự do bay lượn nay bị bắt để nhiều người đem đi thả nhằm... biểu thị lòng từ bi?! 

Những loài dưới nước còn có nhiều khả năng được sống, nhưng các chú chim thường bị bỏ đói nên chẳng bay được xa, bị bắt lại và lại tiếp tục vào vòng quay bị bắt, bị nhốt, được mua, phóng sinh như thế…

Sau mỗi lễ phóng sinh, nhiều khúc sông có tình trạng cá nổi chết vì không hợp môi trường, chim bay chết đầy các gốc cây vì kiệt sức, thậm chí có nơi phóng sinh cả những loài thuộc danh mục nguy hại bị cấm ra môi trường... còn những kẻ đang niệm "Nam mô A Di Đà Phật" thì cứ chắc mẩm tin rằng mình có thêm nhiều phước sau khi gián tiếp sát sinh! 

Thêm vào đó, những nghi lễ rình rang, hành động khoa trương kẻ cả của những người đi làm lễ phóng sinh khiến nhiều cuộc phóng sinh mất đi ý nghĩa từ bi, buông xả của Đạo Phật mà chỉ tăng thêm sự bức xúc của người đời, khiến cho Phật giáo bị méo mó, hình ảnh tăng sĩ trở nên phù phiếm, rất đáng quan ngại! 

Bản chất của phóng sinh là khi thấy con vật khác sắp bị giết hại thì người phóng sinh phát lòng từ bi mà tìm cách cứu rồi thả đi. Chứ không phải đi đặt hành cho người khác bắt rồi mình đem đi thả. Trong kinh Phạm Võng có ghi: “Người con Phật vì lòng từ bi mà làm việc phóng sinh và khuyên bảo người khác làm. Nếu thấy người đời sát sinh thì nên tìm cách cứu cho chúng được thoát khỏi nạn khổ”. 

Phóng sinh mà làm theo kiểu biến tướng thì khác gì tội ác?
Yêu nước ST.

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TÊN NGƯỜI SỐNG MÃI VỚI NON SÔNG

 

            Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người hội tụ, kết tinh trí tuệ và tư tưởng, tình cảm và đạo đức, nhân cách và lối sống của con người và dân tộc Việt Nam. Người tiêu biểu cho cốt cách và bản lĩnh, lương tâm và khí phách của thời đại.

Nhà báo người Liên Xô Ô. Man-đen-xtam từng nói: “Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu Châu, mà có lẽ là một nền văn hóa của tương lai”. Đó là nền văn hóa độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam và nhân loại! Vì vậy, khi Người đi vào cõi vĩnh hằng, trong Điếu văn, Tổng Bí thư Lê Duẫn đã đọc trước nhân dân: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch - Người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta”. Tên Người sống mãi với non sông Việt Nam, trường tồn cùng dân tộc.

Người tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, thành lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam - nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Tận mắt chứng kiến dân tộc Việt Nam chìm đắm trong “đêm trường nô lệ”  các phong trào đấu tranh yêu nước đều lần lượt thất bại, vì thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn, với lòng yêu nước nồng nàn, nhãn quan chính trị thiên tài, ngày 5-6-1911, với tên gọi Văn Ba, người thanh niên Nguyễn Ái Quốc nhận làm phụ bếp trên con tàu A-mi-ran La-tu-sơ Tơ-rê-vin, rời Cảng Nhà Rồng với quyết tâm phải tìm bằng được con đường cứu nước, giải phóng dân tộc.

Quá trình bôn ba tìm đường cứu nướcNguyễn Ái Quốc đã hoà mình vào quần chúng cần lao, đến các vùng nông thôn hẻo lánh ở Niu Oóc, Luân-đôn, Pa-ri, Thái Lan, Trung Quốc... để tìm hiểu các phong trào cách mạng thế giới như: cách mạng Mỹ năm 1776, cách mạng Pháp năm 1789 và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, phụ thuộc. Người sớm nhận thấy rằng: “Kách mệnh Mỹ cũng như kách mệnh Pháp nghĩa là kách mệnh tư bản, kách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực thì nó tước đoạt công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”. Tháng 11-1917, cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra và giành thắng lợi, phá vỡ mắt xích yếu nhất trong sợi dây chuyền đế quốc chủ nghĩa, lập ra Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới. Cuộc cách mạng vĩ đại năm 1917 đã đưa học thuyết cách mạng của Mác-Lênin trở thành hiện thực đầu tiên ở nước Nga Xô-viết, đưa cách mạng thế giới bước vào thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH.

Năm 1920, tại Pa-ri, Pháp đã diễn ra cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Nguyễn Ái Quốc và Chủ nghĩa Mác-Lênin qua Bản Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lê-nin, đăng trên Báo Nhân đạo của Đảng Xã hội Pháp. Luận cương của V.I. Lê-nin đã chỉ ra con đường giải phóng dân tộc, nên Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc: “Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”. Người nói: Đề cương của Lê-nin làm tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng đến phát khóc lên; ngồi một mình trong buồng mà tôi muốn nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”.

Với lập trường yêu nước đúng đắn, Người vạch ra chân lí:“Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Và “Chỉ có CNXH, chủ nghĩa Cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức”. Kết luận này khẳng định sự chuyển biến sâu sắc trong tư duy của Nguyễn Ái Quốc, từ người yêu nước chân chính trở thành người cộng sản - người đảng viên cộng sản đầu tiên của Việt Nam; Người đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế III và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp; hình thành con đường cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam.

Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc bí mật trở về Quảng Châu (Trung Quốc). Trên cương vị mới, Người vừa làm phiên dịch cho đồng chí Bô-rô-din - cố vấn Liên Xô bên cạnh Chính phủ cách mạng Quốc dân đảng - vừa phụ trách mục tuyên truyền trong tờ báo Canon Gazette - Báo viết bằng tiếng Anh của Trung ương Quốc dân đảng. Đây là điều kiện thuận lợi nhất để Người truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam. Người tiếp xúc với những thanh niên yêu nước hăng hái nhất trong nhóm Tâm Tâm Xã như Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong... Tháng 5-1925, Người lập ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên - tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với sự giúp đỡ tận tình của các đồng chí Trung Quốc, Hội bí mật đưa một số thanh niên trong nước sang Quảng Châu tham gia các lớp học chính trị. Hội ra tờ Báo Thanh Niên, bí mật truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào đấu tranh của công nhân và quần chúng nhân dân. Qua đó, Người tích cực chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập một đảng mác-xít ở Việt Nam.

Khi Chủ nghĩa Mác-Lênin đã thật sự thâm nhập sâu vào phong trào công nhân và chiếm ưu thế trong phong trào yêu nước Việt Nam, ba tổ chức cộng sản lần lượt ra đời, khẳng định bước phát triển quan trọng của phong trào cách mạng Việt Nam. Trước yêu cầu lịch sử, với tư cách là phái viên của Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất: Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3-2-1930 tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc). Hội nghị thông qua Cương lĩnh đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, chỉ rõ nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi chủ nghĩa thực dân Pháp và phong kiến tay sai, giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày… đã thể hiện rõ mục tiêu duy nhất của cách mạng Việt Nam “làm tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để tiến tới xã hội cộng sản”(7). Lần đầu tiên, cách mạng Việt Nam có một cương lĩnh chính trị phản ánh đúng tình hình và quy luật khách quan của xã hội Việt Nam, phù hợp với xu thế thời đại: “Cương lĩnh ấy rất phù hợp với nguyện vọng thiết tha của đại đa số nhân dân ta là nông dân. Vì vậy, Đảng đã đoàn kết được lực lượng cách mạng to lớn chung quanh giai cấp mình”.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách, liên tiếp giành thắng lợi trong các giai đoạn 1930-1931, 1936-1939, tạo ra thế và lực mới, giành thắng lợi khi có thời cơ. Nguyễn Ái Quốc luôn theo sát từng bước phát triển của cách mạng Việt Nam, tìm mọi cách đề nghị với Quốc tế cộng sản bố trí công tác phù hợp để tham gia trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước. Được sự nhất trí của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc rời Mát-xcơ-va với nhiệm vụ “đến Trung Quốc để công tác trong Đảng Cộng sản Đông Dương”. Đây là điều kiện vô cùng quan trọng, thời điểm khảo sát, tiếp cận và chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho cuộc “đột nội”, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc về tới cột mốc 108, biên giới Việt - Trung thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, Người đứng lặng hồi lâu bồi hồi, xúc động trào dâng “Bao nhiêu năm thương nhớ, đợi chờ, hôm nay mới bước chân về nơi non sông gấm vóc của mình”… Sự kiện lịch sử này đã được thực tiễn cách mạng minh chứng, Cao Bằng, nơi có suối Lê-nin, núi Các Mác đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là trung tâm đầu não của phong trào cách mạng cả nước, mở ra một tương lai sán lạn của cách mạng nước nhà. Người quyết định chọn Cao Bằng là điểm đặt chân đầu tiên và làm trung tâm “cơ quan đầu não” chỉ đạo cách mạng Việt Nam sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước.

Người trực tiếp tổ chức, lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành thắng lợi

Sau khi khảo sát, nghiên cứu, đánh giá tình hình, ngày 19-5-1941, tại Khuổi Nậm, Pác Pó, Cao Bằng, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8. Trên cơ sở đường lối chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng trong Hội nghị Trung ương 6 và 7, Hội nghị Trung ương 8 phát triển và hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đặt nhiệm vụ chống đế quốc giải phóng dân tộc lên hàng đầu, nhiệm vụ chống phong kiến và các nhiệm vụ dân chủ khác phải rải ra thực hiện từng bước. Người chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng”. Vì vậy, “bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng độc lập”. Đây là sự chuyển hướng quan trọng nhất về chỉ đạo chiến lược. Đảng ta khẳng định: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.

Hội nghị Trung ương 8 của Đảng là sự gặp gỡ giữa tư tưởng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc với chủ trương giải phóng dân tộc của Trung ương Đảng. Đường lối này không những khắc phục quan điểm về đấu tranh giai cấp, mà còn tạo điều kiện cho tư tưởng giải phóng dân tộc của Bác Hồ tiếp tục phát triển, đưa lại thắng lợi cho cách mạng Việt Nam. Cũng từ đây, Mặt trận Việt Minh ra đời - một chủ trương mang tính chiến lược, sáng tạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, nhằm đoàn kết hết thảy các lực lượng yêu nước không phân biệt dân tộc, giai cấp, đảng phái, giai cấp, là người Việt Nam đoàn kết trong một mặt trận để cứu nước, giải phóng dân tộc. Thể hiện rõ chính sách “dân tộc tự quyết”, hợp với nguyện vọng của toàn thể nhân dân, giai cấp, các dân tộc Đông Dương, hợp với cuộc đấu tranh chung của toàn thế giới chống phát xít xâm lược, bảo đảm cho cách mạng Đông Dương thành công.

Trước sự biến đổi sâu sắc của tình hình, Đảng và Bác Hồ đã đưa ra một vấn đề hết sức cần kíp lúc này là chuẩn bị các lực lượng cách mạng. Trong đó, hướng phát triển lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng và đưa Đảng vào hoạt động bí mật, các đội Cứu quốc quân I, II, III lần lượt ra đời, khẩn trương triển khai xây dựng các đội tự vệ, du kích, huy động nhân dân quyên góp tiền của để mua sắm vũ khí. Ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ra đời đã liên tiếp đánh thắng hai trận Phai Khắt, Nà Ngần. Chiến thắng đầu tiên của Đội cùng với những thắng lợi của Cứu quốc quân, các đội du kích, tự vệ ở các địa phương đã góp phần củng cố, mở rộng khu căn cứ cách mạng Cao - Bắc - Lạng, Thái - Hà - Tuyên, cổ vũ, động viên toàn dân đẩy mạnh phong trào đấu tranh, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang.

Ngày 9-5-1945, Đức đầu hàng Đồng minh. Ngày 15-8-1945, Nhật đầu hàng Đồng minh. Trong nước, Chính phủ tay sai Trần Trọng Kim tê liệt, phong trào đấu tranh của quần chúng phát triển mạnh mẽ. Đêm 13-8-1945, khi Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1 - hiệu triệu toàn dân đứng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Lúc Bác ốm nặng ở lán Nà Lừa và đã căn dặn đồng chí Võ Nguyên Giáp: Dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, cả dân tộc muôn người như một vùng lên “chớp thời cơ ngàn năm có một” giành chính quyền về tay mình.

Từ ngày 19-8-1945 đến ngày 28-8-1945, chính quyền trên cả nước đã hoàn toàn về tay nhân dân. Ngày 2-9-1945, tại vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, mở ra thời đại mới - Thời đại Hồ Chí Minh!

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ mới ra đời, vận mệnh nước ta lại rơi vào tình thế “như ngàn cân treo sợi tóc”. Trước tình thế đó, với nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng đã bình tĩnh, sáng suốt phân tích tình hình, đề ra đường lối đúng đắn và những cách thức hành động khôn khéo, mềm dẻo, từng bước giải quyết giặc đói, thanh toán giặc dốt, nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân. Lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, Người trực tiếp ký Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946 và Tạm ước Việt - Pháp 14-9-1946, đuổi nhanh quân Tưởng về nước, buộc Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một nước tự do, có chủ quyền, tạo thời gian hòa hoãn cần thiết để xây dựng và phát triển lực lượng, chuẩn bị mọi mặt cho toàn quốc kháng chiến. Những quyết định lịch sử sáng suốt, vừa có tính nguyên tắc, vừa mềm dẻo và linh hoạt của Hồ Chí Minh giúp dân tộc vượt qua thời đoạn hiểm nghèo đã bước đầu phản ánh tầm ảnh hưởng cũng như vai trò dẫn đường của Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam.

Trong hai cuộc kháng chiến, Người đã xác định đúng kẻ thù cơ bản, đánh giá đúng so sánh lưc lượng giữa ta và địch. Trong tầng tầng, lớp lớp kẻ thù núp dưới danh nghĩa Đồng minh kéo vào nước ta sau Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh đã nhanh chóng nhận ra kẻ thù cơ bản, chủ yếu của cách mạng Việt Nam. Người đề nghị quốc dân đồng bào: “Nhân dân Việt Nam hoan nghênh quân Đồng minh kéo vào Việt Nam để tước khí giới quân Nhật, nhưng cương quyết phản đối quân Pháp kéo vào Việt Nam, vì mục đích của họ chỉ là hãm dân tộc Việt Nam vào vòng nô lệ một lần nữa”. Cũng vì thế Người đã sớm kêu gọi “Đồng bào hãy sẵn sàng đợi lệnh Chính phủ để chiến đấu!”.

Hồ Chí Minh và Đảng ta đã hoạch định đường lối kháng chiến đúng đắn, phát huy sức mạnh tổng hợp, duy trì và dẫn dắt hai cuộc kháng chiến phát triển tới thắng lợi hoàn toàn. Đó là đường lối “kháng chiến, kiến quốc” không chỉ soi đường, dẫn lối cho cách mạng nước ta từng bước xây dựng mọi tiềm lực, đẩy lùi “giặc đói”, chống “giặc dốt”, mà còn làm nên một Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động đại cầu”, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng do Hồ Chí Minh khởi xướng tại Đại hội III, sau đó cũng đóng vai trò quyết định, dẫn dắt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tới thắng lợi hoàn toàn. Thực hiện chiến lược cách mạng XHCN giúp xây dựng được hậu phương miền Bắc XHCN vững chắc, đóng vai trò quyết định nhất đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến. Tiến hành chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã trực tiếp quyết định thắng lợi của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Chủ trương thắng từng bước với việc “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” là phương hướng kết thúc chiến tranh trong quan điểm chủ đạo của Người. Quan điểm của Người đã dẫn đường cho cách mạng Việt Nam từng bước giành được những thắng lợi vững chắc nhất, làm cho quá trình đi tới thắng lợi hoàn toàn của dân tộc trong mùa Xuân năm 1975 như một tất yếu lịch sử không thể đảo ngược.

Thắng lợi vĩ đại của các cuộc kháng chiến, với việc hiện thực hóa mục tiêu độc lập, tự do và CNXH, một lần nữa khẳng định vai trò dẫn đường cùng sức sống mãnh liệt và giá trị trường tồn của Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam.

QUÁN TRIỆT VÀ NHẬN THỨC TOÀN DIỆN NỘI DUNG XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ ĐẠO ĐỨC THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Để xây dựng Đảng về đạo đức theo Tư tưởng Hồ Chí Minh cần nhận thức một cách toàn diện về nội dung xây dựng. Bên cạnh xây dựng những quy tắc, chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên còn phải chú trọng đến xây dựng những quy tắc, chuẩn mực đạo đức của tổ chức đảng...

Xây dựng Đảng về đạo đức đã được Đảng ta quan tâm từ nhiều kỳ đại hội và chính thức được đặt ra tại Đại hội lần thứ XII của Đảng. Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, tích cực tổ chức thực hiện, tạo được những chuyển biến về đạo đức của cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng. Tuy nhiên, số lượng tổ chức đảng và đảng viên vi phạm đạo đức vẫn còn nhiều, hành vi suy thoái đạo đức ngày càng đa dạng, tinh vi, phức tạp; phạm vi và mức độ suy thoái ngày càng nghiêm trọng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định một trong những quan điểm chỉ đạo của Đảng là kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh một cách toàn diện, trong đó có tăng cường và nâng cao hiệu quả xây dựng Đảng về đạo đức. Quan điểm đó là sự tiếp nối Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng nói chung và xây dựng Đảng về đạo đức nói riêng. Tuy nhiên, khi vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng về đạo đức hiện nay, cần nhận thức rõ xây dựng Đảng về đạo đức bao gồm những nội dung gì? Chỉ có nhận thức được đầy đủ chúng ta mới có cơ sở xác định các chủ thể và các giải pháp xây dựng Đảng về đạo đức một cách hiệu quả.

Trước đây, khi nói đến đạo đức trong Đảng, chúng ta mới chỉ quan tâm đến việc xây dựng, củng cố những phẩm chất, chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên như: Trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; thương yêu con người, tinh thần quốc tế trong sáng. Đó là một nội dung rất quan trọng nhưng chưa đầy đủ. Nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh có thể thấy, Người không chỉ đề cập đến đạo đức của cán bộ, đảng viên với tư cách là thành viên của tổ chức mà Người còn quan tâm đến đạo đức của tổ chức đảng, nơi mà mỗi cá nhân in đậm dấu ấn của mình, thể hiện tư duy, đạo đức và hành động của mình. Do đó, vận dụng tư tưởng của Người, bên cạnh việc xây dựng đạo đức của cán bộ, đảng viên còn cần phải chú trọng đến xây dựng đạo đức của tổ chức đảng. Có thể lý giải điều này như sau:

Về quan niệm

Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội bao gồm hệ thống các quy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh nhận thức, hành vi và đánh giá cách ứng xử của cá nhân và của tập thể, tổ chức trong quan hệ với nhau, quan hệ với xã hội và quan hệ với giới tự nhiên để bảo vệ lợi ích của cá nhân và của cộng đồng, đảm bảo sự phát triển hài hòa, bền vững.

Đạo đức dưới khía cạnh là hành vi đạo đức, là hành động của cá nhân thể hiện quan niệm của cá nhân về nghĩa vụ đối với xã hội và đối với người khác, thể hiện lương tâm hoặc bổn phận của cá nhân trong những hoàn cảnh khác nhau. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh không chỉ nói đến đạo đức cá nhân, mà Người còn nói đạo đức của cộng đồng, đạo đức của tổ chức. Người nhắc đến đạo đức của dân tộc: “Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái” hay “Một dân tộc đã tự cường, tự lập, dân chủ cộng hoà thì không làm những việc nhỏ nhen, báo thù báo oán” và “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ”. Nói về đạo đức của Đảng Cộng sản Việt Nam, người nói đến “tư cách của đảng chân chính cách mạng” và chỉ ra những tiêu chỉ cụ thể để đánh giá tính chân chính của tổ chức đảng. Đây là nét sáng tạo độc đáo của Hồ Chí Minh trong quan niệm về đạo đức.

Như vậy, về mặt nhận thức, Hồ Chí Minh không chỉ quan niệm xây dựng Đảng về đạo đức là xây dựng các chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên, Người còn quan tâm đến các chuẩn mực đạo đức của tổ chức đảng. Hay nói cách khác, xây dựng Đảng về đạo đức là xây dựng các quy tắc, chuẩn mực đạo đức của người đảng viên cộng sản và của tổ chức đảng chân chính cách mạng trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa đạo đức nhân loại. Đạo đức cách mạng là một nền đạo đức mang tính nhân văn và tiến bộ. Do đó, nếu xây dựng Đảng mà chỉ quan tâm đến đạo đức của cá nhân cán bộ, đảng viên, bỏ qua đạo đức của tổ chức đảng sẽ là chưa toàn diện.

Về nội dung

Thứ nhất, Hồ Chí Minh đã chỉ ra mối quan hệ giữa đạo đức của tổ chức đảng và đảng viên. Người nêu câu hỏi: “Đảng là ai” và Người trả lời: “Đảng là mỗi chúng ta", “Lãnh đạo là làm đầy tớ nhân dân và phải làm cho tốt”. Cán bộ, đảng viên cấu thành nên tổ chức đảng, mỗi đảng viên đều phải tham gia sinh hoạt chính trị trong tổ chức đảng. Do đó vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng phụ thuộc rất lớn vào chất lượng đội ngũ đảng viên. Đạo đức của Đảng thể hiện trực tiếp và sinh động thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Nhân dân cũng hoàn toàn có lý khi đánh giá đạo đức của Đảng thông qua đạo đức của những cá nhân đảng viên cụ thể, nhất là những đảng viên mà họ biết đến hay tiếp xúc nhiều nhất.

Tuy nhiên, Đảng là một tổ chức, một khối đoàn kết và thống nhất để lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo nhân dân. Một tổ chức đảng chân chính cách mạng là môi trường thuận lợi cho những cái tốt, cái đẹp, cái đạo đức sinh sôi, nảy nở và lan tỏa trong mỗi người cũng như trong cộng đồng. Đó cũng là nơi tổ chức việc tuyên truyền, giáo dục rèn luyện đạo đức cách mạng, là nơi kiểm điểm, phê bình, góp ý đảng viên, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên về đạo đức. Công tác xây dựng Đảng về đạo đức vì thế có vai trò không thể thiếu của tổ chức đảng và cấp ủy các cấp. Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi chi bộ, mỗi cấp ủy đảng phải luôn tăng cường công tác tư tưởng của Đảng, nâng cao đạo đức cách mạng, bảo đảm chặt chẽ kỷ luật và tổ chức của Đảng. Tổ chức đảng và cấp ủy phải chịu trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục đạo đức của cán bộ, đảng viên. Người khẳng định: “Các cấp ủy phải quan tâm hơn nữa đến việc giáo dục đảng viên. Từ nay trở đi công tác giáo dục đảng viên phải là một điều quan trọng trong chương trình công tác của cấp ủy”. Tổ chức đảng các cấp cũng phải chịu trách nhiệm về việc suy thoái, vi phạm đạo đức của cán bộ, đảng viên trong tổ chức của mình. Nếu trong tổ chức đảng có đảng viên vi phạm thì trách nhiệm trước hết thuộc về cấp ủy của tổ chức. Khi nói với tội tham ô, lãng phí của cán bộ, đảng viên trong tổ chức đảng, Hồ Chí Minh khẳng định: “Các cấp ủy cùng với cán bộ cần tìm cho ra gốc rễ tham ô, lãng phí và xử trí đúng mức”.

Rõ ràng, xây dựng đạo đức của tổ chức đảng và đạo đức của đảng viên có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại với nhau, không thể bỏ qua mặt nào.

Thứ hai, Hồ Chí Minh không những đã chỉ ra những quy tắc, chuẩn mực đạo đức để cán bộ, đảng viên của Đảng phải tu dưỡng, rèn luyện mà Người còn chỉ ra những quy tắc, chuẩn mực đạo đức của tổ chức đảng cần phải xây dựng với cách tiếp cận về tiêu chí của “một đảng chân chính cách mạng”, gồm 12 điều trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947). 12 điều cần phải xây dựng ấy có thể tóm gọn lại thành những tiêu chí đạo đức cụ thể như sau:

Xây dựng đạo đức trong tôn chỉ, mục đích hoạt động của Đảng: Đảng phải làm tròn sứ mệnh giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng. Đó là chuẩn mực đạo đức cao nhất.

Xây dựng đạo đức trong nghiên cứu, vận dụng nền tảng lý luận của Đảng: Sự giác ngộ về cách mạng, về Chủ nghĩa Mác - Lênin, về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là sự khởi đầu cho sự hình thành tư cách người cán bộ cách mạng. Lý luận đúng đắn sẽ giúp mỗi cá nhân nhận ra sai lệch trong tư tưởng, nhận thức và hành động; khắc phục những biểu hiện như: phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi nền tảng tư tưởng của Đảng...

Xây dựng đạo đức trong đường lối của Đảng: Đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội để đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đó là điểm căn cốt, là vấn đề then chốt. Nắm vấn đề then chốt, giữ vững vấn đề then chốt, dựa trên cái then chốt để giải quyết linh hoạt, thiết thực, phù hợp với tình hình thực tế là yêu cầu đối với xây dựng đường lối của Đảng đó chính là đạo đức.

Xây dựng đạo đức trong mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với Nhân dân: Đảng phải phát huy vai trò của Nhân dân, “phải luôn luôn do nơi quần chúng mà kiểm soát những khẩu hiệu và chỉ thị”. Đảng phải chăm lo lợi ích của nhân dân, “luôn luôn xem xét lại tất cả công tác của Đảng. Mọi công tác của Đảng luôn luôn phải đứng về phía quần chúng”.

Xây dựng đạo đức trong tổ chức và kỷ luật của Đảng: Đảng phải chọn lựa những người rất trung thành và rất hăng hái, đoàn kết họ thành nhóm trung kiên lãnh đạo”, đồng thời phải tẩy bỏ những phần tử hủ hoá ra ngoài Đảng, phải giữ kỷ luật nghiêm minh từ trên xuống dưới.

Xây dựng bản lĩnh trước những sai lầm, khuyết điểm của Đảng: Sai lầm, khuyết điểm của Đảng, nhất là đảng cầm quyền là điều không thể tránh khỏi. Thái độ đúng đắn, khách quan, khoa học của Đảng trước những sai lầm, khuyết điểm đó là: công khai thừa nhận, “Đảng không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình” và kiên quyết sữa chữa.

Thứ ba, vì quan tâm đến nội dung xây dựng đạo đức của tổ chức đảng, cho nên trong quan niệm của Hồ Chí Minh chủ thể tiến hành xây dựng Đảng về đạo đức không chỉ là cán bộ, đảng viên mà còn từ phía tổ chức đảng và các cấp ủy. Đồng thời, Người đưa ra những chỉ dẫn quan trọng để tổ chức đảng và các cấp ủy phát huy vai trò của mình trong xây dựng Đảng về đạo đức. Nhìn lại toàn bộ di sản của Người, có thể thấy vai trò của cấp ủy và tổ chức đảng trong xây dựng và tổ chức thực hiện đường lối, trong công tác nghiên cứu và vận dụng lý luận, trong việc thường xuyên tuyên truyền, giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, trong phát huy dân chủ, tự phê bình và phê bình, trong công tác cán bộ, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên… Đây đều là những giải pháp quan trọng để tổ chức đảng xây dựng những chuẩn mực đạo đức.

Thực trạng hiện nay

Những năm gần đây, bên cạnh việc suy thoái đạo đức của cán bộ, đảng viên ngày một gia tăng và mức độ ngày càng nghiêm trọng, còn có không ít các tổ chức đảng vi phạm đạo đức. Những vi phạm của tổ chức đảng diễn ra khá đa dạng, phức tạp, trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; dưới nhiều hình thức và được che giấu tinh vi, diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây ra những hậu quả nghiêm trọng.

Theo báo cáo, trong năm 2017, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy các cấp sau khi kiểm tra các tổ chức đảng và đảng viên đã kết luận: 708 tổ chức đảng và 1.482 đảng viên có khuyết điểm vi phạm, phải thi hành kỷ luật 22 tổ chức đảng và 350 đảng viên, trong đó có nhiều đảng viên bị khai trừ khỏi Đảng. Ủy ban Kiểm tra Trung ương qua kiểm tra có dấu hiệu vi phạm 12 tổ chức đảng và 16 đảng viên, trong đó có 3 ủy viên Trung ương Đảng (nhiệm kỳ XI, XII); đã thi hành kỷ luật theo thẩm quyền đối với 18 đảng viên, đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thi hành kỳ luật 3 tổ chức đảng bằng hình thức cảnh cáo và 10 đảng viên từ cảnh cáo đến cách chức; đề nghị tổ chức đảng cấp dưới thi hành ký luật 2 tổ chức đảng. Ủy ban kiểm tra các cấp kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm 3.589 tổ chức đảng và 10.363 đảng viên, kết luận 2,398 tổ chức đảng và 8.453 đảng viên có vi phạm, phải thi hành kỷ luật 173 tổ chức và 3.761 đảng viên.

Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 11 (khóa XII), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội khóa XII đến giữa năm 2019, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật hơn 70 cán bộ cao cấp thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 1 ủy viên Bộ Chính trị và 4 ủy viên Trung ương Đảng khóa XII, 14 ủy viên Trung ương Đảng. Bộ Chính trị, Ban Bí thư cũng đã kỷ luật 7 tổ chức đảng (Ban Cán sự đảng Bộ Công thương, Ban Cán sự đảng Bộ Tài Nguyên và Môi trường, Ban cán sự đảng Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Cán sự đảng bộ Giao thông vận tải, Ban Thường vụ Đảng ủy Ngoài nước, Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng và Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc).

Hơn thế nữa, vi phạm đạo đức của tổ chức đảng mang tính tập thể, có sự điều hành của người đứng đầu, có tổ chức chặt chẽ, có sự thỏa hiệp, do đó sẽ để lại những hậu quả nghiêm trọng. Những vụ án điển hình thời gian vừa qua phản ánh phần nào thực trạng trên như: Vụ án Vinalines do Dương Chí Dũng, nguyên Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam Vinalines thực hiện với tội danh tham ô tài sản, cố ý làm trái quy định của Nhà nước và quản lý kinh tế, gây thiệt hại tài sản nhà nước 240.000 USD; vụ án Đinh La Thăng, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên PVN giai đoạn 2009-2015, lạm dụng quyền lực, thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, buông lỏng công tác kiểm tra, giám sát, quản lý tổ chức đảng và đảng viên dẫn đến nhiều khoản đầu tư bị tổn thất, khó thu hồi với tổng số tiền lớn; vụ án đánh bạc công nghệ cao liên quan đến Phan Văn Vĩnh, Nguyễn Thanh Hóa. Một số vụ án nghiêm trọng, phức tạp khác như: vụ án “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí”, của Dự án 15 Thi Sách, Thành phố Hồ Chí Minh; vụ án “Vi phạm quy định về quản lý đất đai; vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí” xảy ra tại thành phố Đà Nẵng; vụ án “Vi phạm quy định về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Tổng Công ty Viễn thông Mobifone, Bộ Thông tin và Truyền thông và các đơn vị có liên quan; vụ án “Giả mạo trong công tác; Sản xuất, buôn bán hàng giả” xảy ra tại Công ty Lũng Lô và một số công ty, tổ chức liên quan; vụ án “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” xảy ra tại Bộ Thông tin và Truyền thông...

Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên đây có thể thấy, để xây dựng Đảng về đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay, chúng ta cần nhận thức một cách toàn diện về nội dung xây dựng, cụ thể là bên cạnh xây dựng những quy tắc, chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên còn phải chú trọng đến xây dựng những quy tắc, chuẩn mực đạo đức của tổ chức đảng.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta luôn thống nhất quan điểm coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nhờ đó, thời gian qua, giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng nhưng vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục. Do đó, thời gian tới cần tích cực thực hiện đồng bộ một số giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trên cơ sở tiếp tục thực hiện có hiệu quả Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước trong tình hình mới. 

Một là, tăng cường học tập và làm theo Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, coi đó là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Gắn kết, phát triển Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục trong việc ban hành các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về giáo dục và đào tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, Nhân dân và toàn xã hội về vị trí, vai trò, mục tiêu của giáo dục và đào tạo như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây/ Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Người nhấn mạnh giáo dục và đào tạo có vai trò vô cùng quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, là động lực của sự phát triển. Do đó, đầu tư phát triển giáo dục sẽ đem lại lợi ích bền vững cho dân tộc, góp phần đưa đất nước sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới. Với quan niệm: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến một trong những nhiệm vụ cấp bách của nước ta lúc bấy giờ là diệt giặc dốt bởi khi đó hơn 90% đồng bào ta mù chữ. Trong Thư gửi các học sinh trong năm học đầu tiên khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời (tháng 9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ mục tiêu của nền giáo dục Việt Nam là “một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em”. Đó là một nền giáo dục mang tính nhân dân sâu sắc, thực học, không chạy theo bằng cấp, không chạy theo khối lượng kiến thức mà cần chú trọng nâng cao chất lượng, là nền giáo dục độc lập, tiến bộ, dân tộc, thực hiện mục tiêu phát triển con người toàn diện, một nền giáo dục vì con người, cho con người phụng sự Tổ quốc và Nhân dân, làm rạng danh non sông. Người từng khẳng định: “Học để làm việc, để làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự Đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”. Chính vì mục tiêu cao cả và vai trò to lớn của giáo dục mà Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra yêu cầu cần có tầm nhìn dài hạn trong chiến lược phát triển giáo dục của quốc gia, phải coi giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân.

Hai là, đổi mới tư duy và cơ chế quản lý giáo dục, nội dung chương trình, mô hình đào tạo và phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá ở các cơ sở đào tạo theo hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ. Nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với từng đối tượng học sinh. Tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân, phát huy giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại. Cần có tầm nhìn dài hạn trong quản lý giáo dục, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp, bảo đảm tính hệ thống trên cơ sở thực hiện Tư tưởng Hồ Chí Minh. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh cần xác định nội dung và phương pháp giáo dục phù hợp với từng đối tượng học sinh và phù hợp với thực tiễn đất nước. Nội dung giáo dục phải toàn diện nhằm phát triển con người cả tài và đức, cụ thể gồm: “Thể dục: Để làm thân thể mạnh khỏe, đồng thời cần giữ vệ sinh riêng và vệ sinh chung. Trí dục: Ôn lại những điều đã học, học thêm những tri thức mới. Mỹ dục: Để phân biệt cái gì là đẹp, cái gì là không đẹp. Đức dục: Là yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu trọng của công”. Nội dung của giáo dục cần phù hợp với mỗi lứa tuổi, mỗi cấp học, bậc học. Trong thư gửi giáo viên, học sinh, cán bộ và thanh niên ngày 31-10-1955, Người căn dặn: “Đại học thì cần kết hợp lý luận khoa học với thực hành, ra sức học tập lý luận và khoa học tiên tiến của các nước bạn, kết hợp với thực tiễn của nước ta, để thiết thực giúp ích cho công cuộc xây dựng nước nhà. Trung học thì cần bảo đảm cho học trò những tri thức phổ thông chắc chắn, thiết thực, thích hợp với nhu cầu và tiền đồ xây dựng nước nhà, bỏ những phần nào không cần thiết cho đời sống thực tế. Tiểu học thì cần giáo dục các cháu thiếu nhi: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh phương pháp giáo dục đúng đắn, hiệu quả là học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn, việc học tập phải xuất phát từ yêu cầu thực tế thiết thực, không phô trương, hình thức, phải học cặn kẽ, thấu đáo, cụ thể và sâu sắc đến bản chất vấn đề. Người chỉ rõ: “Học phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành. Học với hành phải kết hợp với nhau” … “Lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành phải nhằm theo lý luận. Lý luận như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên. Lý luận cốt để áp dụng vào thực tế”. Người từng khẳng định, học tập Chủ nghĩa Mác - Lênin nhằm trang bị cho mỗi người thế giới quan, phương pháp luận cách mạng và khoa học để nhận thức và hành động đúng đắn, kiên quyết, sáng tạo và hiệu quả, nhất là không học một cách giáo điều theo câu chữ mà là học tập tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của Chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự học không có trang sách cuối cùng, học trên ghế nhà trường, học trong cuộc sống, học tập là công việc suốt đời, do vậy giáo dục là sự nghiệp lâu dài, bền bỉ. Người nhấn mạnh: “Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ, càng thấy càng phải học thêm”.

Ba là, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước về giáo dục và đào tạo. Thống nhất giữa hệ thống các chủ trương, chính sách và tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục. Tăng cường phối hợp đồng bộ, chặt chẽ và có hệ thống giữa các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan, đoàn thể, sự phối hợp gia đình - nhà trường - xã hội trong hoạt động đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Hoàn thiện và triển khai cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương trong quản lý Nhà nước về giáo dục theo hướng phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền gắn với trách nhiệm. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội: “Bởi vì giáo dục trong nhà trường, chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” … “Các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, các cơ quan chính quyền và các cấp ủy đảng phải thật sự quan tâm đến nhà trường, đến việc học tập của con em mình hơn nữa”. Hoạt động quản lý giáo dục luôn rất cần có sự phối hợp của các cấp, ngành và toàn xã hội. Người chỉ rõ, để có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cần phát huy dân chủ, xây dựng mối quan hệ đoàn kết giữa thầy với thầy, giữa thầy và trò, giữa học trò với nhau, giữa nhà trường với Nhân dân, chú trọng các phong trào thi đua để tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh. Người nhấn mạnh cần phải đi sâu vào điều tra nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn trong công tác quản lý giáo dục. Việc ban hành các chủ trương, chính sách về giáo dục phải cụ thể, thiết thực, đúng đắn, kết hợp chặt chẽ chủ trương, chính sách của Trung ương với tình hình thực tế và kinh nghiệm quý báu, phong phú của quần chúng, của cán bộ và của địa phương để nâng cao hiệu quả công tác quản lý giáo dục. Cần nâng cao trách nhiệm, tạo động lực và tính chủ động, sáng tạo của các cơ sở giáo dục và đào tạo. Xây dựng và hoàn thiện chiến lược quản lý chất lượng giáo dục, chất lượng nguồn nhân lực, cơ chế, chính sách tuyển dụng, quy trình tuyển chọn, bố trí, phân công nhiệm vụ, đánh giá và đãi ngộ lực lượng làm công tác giáo dục và quản lý giáo dục. Nâng cao hiệu quả việc quản lý tài chính, phân bổ nguồn lực, bảo đảm dân chủ, khách quan trong giáo dục và đào tạo. Đổi mới cơ chế tiếp nhận và xử lý thông tin trong quản lý giáo dục và đào tạo. Thực hiện quản lý theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục và quy hoạch phát triển nhân lực của từng ngành, địa phương trong từng giai đoạn phù hợp tình hình phát triển kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông nhằm nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục ở các cấp.

Bốn là, chú trọng công tác xây dựng, bồi dưỡng và sử dụng hợp lý đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục - lực lượng cơ bản tham gia xây dựng và phát triển giáo dục, có vai trò quyết định đến chất lượng giáo dục và đào tạo. Xây dựng đội ngũ nhà giáo có phẩm chất đạo đức tốt, có sức khỏe, bản lĩnh chính trị vững vàng, đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ mới. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Việc tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phải trên cơ sở đánh giá năng lực, đạo đức nghề nghiệp và hiệu quả công tác. Bởi theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì vấn đề then chốt quyết định chất lượng giáo dục chính là xây dựng đội ngũ những người thầy giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Họ, người mang sứ mệnh cao cả là đào tạo lớp người kế cận cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, truyền bá cho thế hệ trẻ lý tưởng đạo đức chân chính, hệ thống các giá trị, tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại, bồi dưỡng những phẩm chất cao quý và năng lực sáng tạo phù hợp với sự phát triển và tiến bộ của xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Có gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản? Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất... những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh... nghề thầy giáo rất là quan trọng, rất là vẻ vang”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để làm tròn sứ mệnh vẻ vang ấy, người thầy giáo cần phải có đạo đức, trí tuệ, tài năng, phải không ngừng trau dồi kiến thức, là tấm gương tốt cho các thế hệ học sinh noi theo: “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức, tài là văn hóa, chuyên môn, đức là chính trị. Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đức... Cho nên thầy giáo, cô giáo phải gương mẫu, nhất là đối với trẻ con”.

Năm là, đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và đào tạo, tăng cường các nguồn lực đầu tư phát triển giáo dục, đa dạng hóa các loại hình giáo dục và đào tạo trên cơ sở quản lý thống nhất của Nhà nước, tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá, giám sát hoạt động giáo dục, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch. Chuẩn hóa các điều kiện bảo đảm chất lượng và quản lý quá trình đào tạo. Xây dựng hệ thống kiểm định độc lập về chất lượng giáo dục và đào tạo. Thực hiện cơ chế người học tham gia đánh giá hoạt động giáo dục; nhà giáo tham gia đánh giá cán bộ quản lý; cơ sở giáo dục, đào tạo tham gia đánh giá cơ quan quản lý Nhà nước. Tổ chức tốt, thực chất công tác thi đua khen thưởng, tạo động lực cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, học sinh thi đua dạy tốt, học tốt. Nhân rộng những mô hình giáo dục và đào tạo hiệu quả trong nước, nghiên cứu chọn lọc áp dụng một số mô hình giáo dục và đào tạo của thế giới vào nhà trường, góp phần thúc đẩy sự phát triển của giáo dục và đào tạo nước ta trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.