Thứ Hai, 28 tháng 8, 2023

ĐẢNG VIÊN ĐI TRƯỚC LÀNG NƯỚC THEO SAU

 Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên chính là sự “kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân."

Trong mỗi giai đoạn, do yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng, do đòi hỏi thực tế lãnh đạo của Đảng và đòi hỏi của cuộc sống mà tính tiên phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên có nội dung, yêu cầu và biểu hiện cụ thể khác nhau.
Song nội dung cốt lõi nhất của tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên là có nhận thức đúng đắn, hành động dũng cảm trước những khó khăn, dám chịu trách nhiệm công việc mình làm, suốt đời phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng của Đảng, luôn luôn đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết.
Đã là cán bộ Đảng viên, thì phải tiên phong gương mẫu
Theo Từ điển tiếng Việt, “gương mẫu” được dùng để chỉ những điều, những việc có tính chất tốt đẹp, điển hình, làm khuôn mẫu cho người khác noi theo; còn “tiên phong” nghĩa là đi đầu, dẫn đầu trong phong trào. Như vậy, có thể hiểu, người tiên phong, gương mẫu là người có nhận thức, thái độ, hành động đúng đắn và đi đầu, mở đường trong các phong trào, các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội nhằm đem lại nhiều điều tốt đẹp cho cộng đồng, cho cuộc sống của nhân dân.
Là người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nội dung “đảng viên đi trước, làng nước theo sau” đã được Người nhiều lần đề cập đến trong các bài viết, bài nói của mình.
Theo Người, tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên chính là sự “kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân." Đối với Người, tính tiên phong, gương mẫu là một yêu cầu khách quan, là thuộc tính cơ bản của cán bộ, đảng viên. Đã là cán bộ, đảng viên thì phải tiên phong, gương mẫu.
Trong mỗi giai đoạn, do yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng, do đòi hỏi thực tế lãnh đạo của Đảng và đòi hỏi của cuộc sống mà tính tiên phong gương mẫu của đảng viên có nội dung, yêu cầu và biểu hiện cụ thể khác nhau.
Song nội dung cốt lõi nhất của tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên là: có nhận thức đúng đắn, hành động dũng cảm trước những khó khăn, dám chịu trách nhiệm công việc mình làm, suốt đời phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng của Đảng, luôn luôn đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh tính tiên phong, gương mẫu của người cán bộ, đảng viên phải được thể hiện trên mọi phương diện (về phẩm chất chính trị, về ý thức tổ chức kỷ luật, về đạo đức, lối sống, về trí tuệ, và đặc biệt là trong hành động), ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: “Người đảng viên, dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp, ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng...”; “phải làm gương mẫu trong lao động sản xuất và trong học tập”; “phải xung phong gương mẫu trong mọi công việc, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”; “phải gương mẫu, phải thiết thực, miệng nói tay làm để làm gương cho nhân dân."
Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ 'cộng sản' mà ta được họ yêu mến... Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước." Và bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là tấm gương mẫu mực về đạo đức và nhân cách người đảng viên cộng sản, luôn tiên phong, gương mẫu trong lời nói, việc làm và hành động.
Khẳng định tính tiên phong, gương mẫu
Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn đề cao vai trò tiên phong, gương mẫu của người đảng viên Đảng Cộng sản, xem đây là một trong những phương thức lãnh đạo quan trọng và là truyền thống quý báu của Đảng.
Ngay từ khi thành lập, Đảng ta đã khẳng định tính chất tiên phong của Đảng và điều này đã được khẳng định trong Điều lệ Đảng: Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sỹ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng. Từ đó cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam thường xuyên quan tâm, chăm lo giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng, phát huy vai trò, trách nhiệm, tính tiền phong, gương mẫu cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Điều này đã được thể hiện có hệ thống, thông qua các văn kiện của Đảng, qua các kỳ Đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.
“Cán bộ, đảng viên từ ủy viên Trung ương Đảng đến mọi đảng viên ở cơ sở phải là những chiến sỹ tiên phong, gương mẫu về mọi mặt để tập hợp được quần chúng thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước” (Báo cáo chính trị Đại hội V); “Cán bộ lãnh đạo phải gương mẫu trong lối sống. Người có chức vụ càng cao thì yêu cầu về sự gương mẫu càng lớn” (Báo cáo chính trị, Đại hội VI); “Đảng lãnh đạo bằng công tác tư tưởng, tổ chức, vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên và tổ chức đảng” (Báo cáo xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng, Đại hội VII); “Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu tự rèn luyện, tự phấn đấu nâng cao đạo đức cách mạng “cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư”, khắc phục chủ nghĩa cá nhân” (Báo cáo chính trị, Đại hội VIII).
Tại Đại hội IX của Đảng, trong Báo cáo Chính trị, Đảng tiếp tục đề ra yêu cầu cán bộ, đảng viên phải thực sự tiên phong, gương mẫu trong học tập, công tác và trong rèn luyện đạo đức, lối sống, trong thực hiện pháp luật. Đại hội X của Đảng đề ra mục tiêu: “Tăng cường giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống, nâng cao tính tiên phong gương mẫu, phẩm chất và năng lực đội ngũ cán bộ, đảng viên…”
Đến Đại hội XI, Đảng ta tiếp tục đề ra nhiều giải pháp, trong đó có giải pháp: “phát huy tính tiền phong gương mẫu, chủ động, sáng tạo của đội ngũ đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ được giao." Đại hội XII của Đảng xác định phương hướng, nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ là: “Giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên” và “xây dựng đội ngũ đảng viên thật sự tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm cao trong công việc..."
Ðại hội XIII của Ðảng đã khẳng định: “Thực hiện nghiêm các quy định của Ðảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Ðảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan toả, thúc đẩy các phong trào cách mạng. Nêu gương là trách nhiệm, bổn phận và là đạo lý của người đảng viên của Ðảng trước nhân dân; trách nhiệm nêu gương đó phải được thể hiện từ trong tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tự phê bình, phê bình đến trong quan hệ với quần chúng, trách nhiệm trong công tác, ý thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết nội bộ."
Những chiến thắng vĩ đại từ khi có Đảng lãnh đạo và những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong phát triển kinh tế-xã hội của đất nước sau hơn 35 năm đổi mới đã khẳng định những đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên, khẳng định tính tiên phong, gương mẫu của đa số đảng viên của Đảng ta. Vì lý tưởng, mục tiêu cao cả của sự nghiệp đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, đại đa số các cán bộ, đảng viên luôn nêu cao tính tiên phong, gương mẫu trong công tác và đời sống, anh dũng vượt qua khó khăn, thách thức, chấp nhận sự hy sinh lợi ích cá nhân, kể cả hy sinh tính mạng vì lợi ích chung của dân tộc.
Tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên vững vàng trước những biến động của tình hình trong nước và thế giới, kiên định mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội do Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, hăng hái đi đầu trong công cuộc đổi mới, hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Ở các địa phương, các ngành, các lĩnh vực công tác ngày càng có nhiều cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, vượt qua khó khăn, thách thức, góp phần phát triển quê hương, đất nước. Đồng thời qua đó đã huy động được sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái, "tự diễn biến," "tự chuyển hóa."
Phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của Đảng viên
Bên cạnh đại đa số các cán bộ, đảng viên luôn gương mẫu, tiên phong trong cả công việc và cuộc sống, hiện nay vẫn còn “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống." Những hạn chế, khuyết điểm trên đã gây ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, phần nào làm giảm sút lòng tin của nhân dân. Do đó, tăng cường công tác cán bộ được coi là một nhiệm vụ then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Đặc biệt phải phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.
Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên về phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Xây dựng các quy định cụ thể về tính tiên phong, gương mẫu sao cho sát hợp với chức năng, chức trách, nhiệm vụ của từng tổ chức, lực lượng và mỗi cán bộ, đảng viên trên từng cương vị công tác.
Cùng với đó, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII. Cán bộ, đảng viên cần cụ thể hóa việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm cụ thể hằng ngày, gắn với nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị.
Mỗi cán bộ, đảng viên cần tự giác tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao tính tiên phong, gương mẫu, bởi “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố." Mọi cán bộ, đảng viên ra sức học tập lý luận chính trị, nâng cao trình độ lý luận, nâng cao năng lực phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng.
Cán bộ, đảng viên phải thật sự nêu gương trong thực hiện nhiệm vụ, đề cao trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước, trước nhân dân và đất nước; chú trọng nêu gương về đạo đức, lối sống, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, quyết loại trừ chủ nghĩa cá nhân, nói không với tham nhũng, lãng phí và những tiêu cực khác.
Đồng thời, nêu gương về phong cách công tác đoàn kết, gắn bó với thực tiễn và quần chúng nhân dân, tác phong khoa học, chính quy, chuyên nghiệp và thiết thực, kiên quyết khắc phục bệnh quan liêu, bệnh thành tích và bệnh hình thức. Mỗi đảng viên cần thực sự sâu sát với quần chúng, quý trọng nhân dân, tuyên truyền và tổ chức hiệu quả cho quần chúng thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, hòa mình vào thực tiễn cách mạng./.
St

ĐẠI TƯỚNG TỔNG TƯ LỆNH VÕ NGUYÊN GIÁP VỚI TRẬN "HÀ NỘI - ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG"

 

Trong chiến dịch “12 ngày đêm”, Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh, nguyên Phó cục trưởng Cục Tác chiến – Bộ Tổng Tham mưu (BTTM) là trợ lý tên lửa Cục Tác chiến, làm nhiệm vụ trực ban tác chiến phòng không tại Sở chỉ huy - BTTM, kể lại chuyện Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp trong những ngày lịch sử ấy.
Tôi còn nhớ như in sáng ngày 28-6-1972, tại Tổng hành dinh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã làm việc với Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân (PKKQ) Lê Văn Tri. Tôi được phép tham dự. Sau khi nghe đầy đủ tình hình, Đại tướng nói rõ ý định tác chiến của ta sắp tới là phải tổ chức những trận đánh lớn. Đồng chí chỉ thị: "Sắp tới, không quân Mỹ sẽ đánh ác liệt hơn, kể cả B-52. Ta phải kiên quyết tổ chức những trận hiệp đồng nhiều binh chủng, đánh địch đau hơn nữa, nhất là vào những thời gian cao điểm…".
Sáu tháng sau, Quân ủy Trung ương ra Chỉ thị số 155/QU-TƯ ngày 25-11-1972 về tăng cường sẵn sàng chiến đấu:
"… Chúng sẽ liều lĩnh dùng máy bay B-52 đánh phá các trọng điểm Hà Nội, Hải Phòng, các chân hàng, các đầu mối giao thông, các vùng đông dân… Các đơn vị phải hết sức đề cao cảnh giác, nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm đánh địch đạt hiệu quả cao nhất và giảm thiệt hại của ta đến mức thấp nhất, trong bất cứ tình huống nào". Sau này Đại tướng có viết: "Mặc dù vậy, do quán triệt quyết tâm chưa tốt, suy nghĩ lúc này vẫn nặng về khả năng địch dùng B-52 đánh phá vùng "cán soong", nên đầu tháng 12 đã có lệnh điều một trung đoàn tên lửa vào Khu 4, tiếp đó là điều thêm hàng trăm quả đạn tên lửa của phòng không Hà Nội theo!"(1). Trước tình hình diễn biến hết sức khẩn trương, ngày 15-12-1972, BTTM đồng ý với đề nghị của Bộ tư lệnh PK-KQ để trung đoàn tên lửa này ở lại bảo vệ Hà Nội.
Ngày 4-12-1972, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng báo cáo lên Bí thư Quân ủy Trung ương: "Quân chủng không để bị bất ngờ, sẽ đánh liên tục, đánh rơi tại chỗ máy bay địch, bắt sống nhiều giặc lái, kể cả máy bay B-52".
Tháng 12-1972, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp và cơ quan Tổng hành dinh làm việc suốt ngày đêm ở trong Thành cổ. Hai ngày trước khi Mỹ giội bom, Bộ Tổng tư lệnh đã chuyển lực lượng vũ trang 3 thứ quân vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Bộ đội ra-đa phòng không và đơn vị trinh sát kỹ thuật Cục Quân báo - BTTM đã sớm phát hiện chính xác cuộc tập kích đường không chiến lược của địch.
19 giờ 10 phút ngày 18-12-1972, tôi gọi điện thoại (có chế độ ưu tiên số 1) báo cáo Đại tướng: "Thưa Thủ trưởng, B-52 đã cất cánh từ Gu-am và U-ta-pao… nhiều tốp bay dọc Mê-công lên phía bắc". Tôi nghe tiếng Đại tướng cao trong điềm tĩnh như mọi ngày: "Kiểm tra lại. Thông báo ngay cho Bộ tư lệnh PK-KQ. Cho Hà Nội, Hải Phòng báo động!". Tôi nói: "Xin tuân lệnh!".
Sau khi truyền lệnh cho người trực chỉ huy Quân chủng PK-KQ Nguyễn Quang Bích, tôi đến bên tường ấn nút kéo còi báo động liên hồi, lâu và gấp. Tiếng còi trên nóc nhà Quốc hội réo lên từng hồi dài. Một loạt còi khác do Sở chỉ huy Bộ tư lệnh Hà Nội phụ trách cũng vang rền khẩn cấp.
Cuộc chiến đấu xảy ra quyết liệt. 20 giờ 20 phút, Phó tư lệnh PK-KQ Nguyễn Quang Bích báo cáo qua điện thoại lên Đại tướng: "Tiểu đoàn tên lửa 59, Trung đoàn 261, Sư đoàn Phòng không Hà Nội đã bắn rơi một B-52 tại Phủ Lỗ, Đông Anh". Tin chiến thắng xé toang bầu không khí căng thẳng. Đại tướng nhẹ nhàng bước ra khỏi phòng chỉ huy. Trời mưa bụi, rét đậm, lòng người lại ấm áp lạ thường! Trở vào, Đại tướng gọi điện thoại cho Chính ủy Sư đoàn Phòng không Hà Nội Trần Văn Giang: "Bộ đội vừa qua đánh tốt, xứng đáng với lòng tin của Đảng, của nhân dân. Cần phát huy thành tích tiếp tục bắn rơi nhiều B-52 hơn nữa. Cả nước đang hướng về Hà Nội! Toàn thế giới đang hướng về Hà Nội! Từng giờ từng phút Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương theo dõi cuộc chiến đấu của Hà Nội. Vận mệnh của Tổ quốc đang nằm trong tay các đồng chí phòng không bảo vệ Hà Nội"(2).
Liền sau đó, Đại tướng chủ trì cuộc họp bất thường của Thường trực Quân ủy Trung ương, nhận định tình hình và xác định nhiệm vụ lãnh đạo tiếp theo: "Nhiệm vụ của lực lượng vũ trang ta, đặc biệt là bộ đội phòng không và không quân phải cùng toàn dân quyết tâm đánh bại bước leo thang rất nghiêm trọng này của địch; chỉ đạo trước mắt là kiên quyết đánh địch, triệt để sơ tán phòng tránh và tích cực bảo đảm giao thông vận tải"(3).
Sáng sớm hôm sau, tại Tổng hành dinh, Bộ Chính trị họp dưới sự chủ trì của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Bộ Chính trị nhất trí hoàn toàn với nhận định tình hình và nhiệm vụ mà Quân ủy Trung ương đề ra, chuẩn y đề nghị về cuộc họp báo chiều nay. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói rõ thêm: "Cần đem số giặc lái đã bắt được và khuân ngay xác máy bay B-52 về cho các nhà báo xem".
Đại tướng Tổng tư lệnh thống nhất với Tổng Tham mưu trưởng chủ trương: "Từ nay bộ đội tên lửa hoàn toàn dành cho nhiệm vụ đánh B-52. Rút một số đơn vị cao xạ ở Đường số 1 (phía Nam) về để bảo vệ các tiểu đoàn tên lửa".
Trong những ngày tiếp theo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp lần lượt đến các trận địa tên lửa, thăm và động viên cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 77, Tiểu đoàn 79, Trung đoàn 257…, giao nhiệm vụ tiếp tục chiến đấu đạt hiệu suất chiến đấu thật cao, góp phần tạo nên những trận then chốt quyết định.
Buổi chiều ngày 22-12, ngày kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam đến hầm chỉ huy thu thanh bài diễn văn của Đại tướng nhân dịp kỷ niệm trọng đại này, đồng thời cũng để gián tiếp cải chính tin đồn của một hãng thông tấn phương Tây rằng Đại tướng bị tử thương vì bom B-52.
Sáng sớm ngày 23, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã cùng Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng đến trận địa Vân Đồn (bãi cát sông Hồng) thăm, khen ngợi, chụp ảnh với Đại đội tự vệ súng máy phòng không (14,5mm) vừa bắn rơi một chiếc máy bay F111A cánh cụp cánh xòe rất hiện đại của Mỹ.
Được biết Không quân ta đang gặp khó khăn trong cách đánh B-52, Đại tướng đã đến dự hội nghị rút kinh nghiệm của Quân chủng, góp ý kiến chỉ đạo và động viên: "Không quân anh hùng của chúng ta nhất định phải có tên trong danh sách những đơn vị đã bắn rơi B-52!". Đại tướng đã xúc động sâu sắc khi được tin đồng chí Vũ Xuân Thiều, phi công cảm tử lái Mic-21 vừa phóng tên lửa vừa lao vào một B-52 cháy rực trên bầu trời Sơn La giữa đêm 28-12.
Cả khu phố Khâm Thiên bị trúng bom B-52, thiệt hại nặng nề, Đại tướng đã đến hiện trường, căm giận quân xâm lược dã man, xót xa đồng cảm với nhân dân. Đại tướng đến thẳng Sở chỉ huy Quân chủng PK-KQ chỉ thị cho bộ đội đánh rơi thật nhiều B-52 để trả thù cho đồng bào! Bộ tư lệnh Quân chủng hứa với Đại tướng: Bộ đội Phòng không và Không quân quyết tâm sắt đá thực hiện những lời căn dặn sâu sắc, tâm huyết, trí tuệ của Đại tướng.
7 giờ ngày 30-12-1972, do thua đau trên bầu trời Hà Nội, Tổng thống Mỹ Ních-xơn phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra.
Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã duyệt và cho công bố bản thông cáo chiến thắng; ca ngợi chiến công oanh liệt của quân dân ta, tuyên dương công trạng các quân chủng, binh chủng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, công an nhân dân, dân quân tự vệ và đồng bào các địa phương, đặc biệt Thủ đô Hà Nội đã đoàn kết hiệp đồng chặt chẽ, đánh rất giỏi, thắng rất to!
Ngày 22-2-1989, Thống chế Mehra, Tư lệnh các lực lượng phòng không, không quân nước Cộng hòa Ấn Độ, dẫn đầu đoàn cán bộ quân sự cấp cao sang thăm Việt Nam, đến thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đã nói: "Khi Việt Nam đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng không quân, bắn rơi nhiều pháo đài bay B-52, bắt sống nhiều phi công của đối phương, làm nên một "Điện Biên Phủ trên không" trên bầu trời Thủ đô của ngài, tôi thực sự kinh ngạc và vô cùng khâm phục. Tôi cho đây là một kỳ tích có một không hai của cuộc chiến tranh trên không trong thế kỷ XX. Ngài là một vị tướng của huyền thoại… Ngài sẽ mãi mãi là một vị tướng của huyền thoại"./. St

NỬA NHIỆM KỲ KHẲNG ĐỊNH VAI TRÒ, VỊ THẾ VĂN HÓA

 Qua nửa nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XIII của Đảng, việc xây dựng, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người càng được khẳng định rõ là phương hướng chiến lược cơ bản của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới. Đó là dấu ấn quan trọng trong đời sống đất nước những năm gần đây, có thể nhìn khái quát từ các khía cạnh văn hóa-lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội.

Hội nghị Văn hóa toàn quốc tháng 11/2021 đã định hướng việc khẳng định vai trò, vị thế của văn hóa trong công cuộc phát triển đất nước, xây dựng con người Việt Nam. Nhiều sự kiện tiếp theo với những hội thảo lớn và dịp kỷ niệm 80 năm Đề cương về văn hóa Việt Nam tiếp tục là những cuộc sinh hoạt văn hóa, chính trị sâu rộng để nhìn lại, đề cao sức mạnh văn hóa trong tiến trình lịch sử, trong bối cảnh đất nước hiện tại; đưa ra nhiều gợi mở, giải pháp tích cực phát triển chính sách về văn hóa, văn nghệ, thúc đẩy phát triển văn hóa ngang hàng với kinh tế, chính trị, xây dựng nền tảng văn hóa và vận dụng các giải pháp văn hóa nhằm củng cố, phát triển, khắc phục những khó khăn, bất cập trong nền kinh tế-xã hội.
Hàng loạt chương trình, hoạt động, hành động cụ thể trong các lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, trong đời sống văn hóa, xã hội là sự hưởng ứng tích cực tinh thần này. Cả hệ thống chính trị cảm nhận rõ hơn về giá trị, ý nghĩa văn hóa đang lan tỏa sâu xa và vững chắc hơn trong việc xây dựng chiến lược, chương trình, kế hoạch phát triển các lĩnh vực, các địa phương, vùng, miền. Các chương trình phát triển văn hóa với mục tiêu quốc gia, mục tiêu của các địa phương, chiến lược về đối ngoại văn hóa được chú trọng, tạo các điều kiện thuận lợi về chính sách và huy động sự tham gia của cộng đồng xã hội, của đồng bào Việt Nam ở trong và ngoài nước.
Đồng thời, nhiều giải pháp trong lĩnh vực văn hóa được triển khai, tác động tích cực vào đời sống xã hội, phục hồi và phát triển du lịch, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, lan tỏa hình ảnh Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn sau đại dịch Covid-19, đang ảnh hưởng từ những biến động trên thế giới, trong khu vực, việc thúc đẩy các vấn đề văn hóa, củng cố các giá trị văn hóa, nhân văn, nêu cao các giá trị tốt đẹp của dân tộc, phát huy truyền thống yêu nước, thương nòi, đoàn kết, tương trợ trong cộng đồng…, những hướng đi đó đều đã góp phần củng cố sự an tâm, cổ vũ người dân, động viên xã hội vững vàng vượt khó và kiên trì đối mặt, vượt qua những thách thức mới.
Đóng góp vào cuộc chiến đấu cam go, quyết liệt của toàn Đảng, toàn dân trước nạn tham nhũng, tiêu cực, văn hóa cũng giúp gợi mở các giải pháp đấu tranh, phòng chống những biểu hiện suy thoái. Đó là khi các giá trị về nhân cách, nhân phẩm, đạo đức con người trước nhân dân, đất nước, đạo đức công vụ, tinh thần cống hiến được học hỏi, đề cao, cụ thể hóa vào các quy định, tiêu chí để Đảng, Nhà nước và nhân dân đánh giá cán bộ, chấn chỉnh đội ngũ, rèn luyện lực lượng có đức, có tài phục vụ xã hội.
Trên chặng đường tiến tới thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng XIII, tinh thần văn hóa vẫn tiếp tục là kim chỉ nam, mục tiêu văn hóa tiếp tục là sự chọn lựa. Cùng với đó, các giải pháp văn hóa sẽ tiếp tục được khai thác, sáng tạo, vận dụng vào thực tiễn củng cố, phát triển kinh tế-xã hội đất nước. Hướng đi lớn lao và quan trọng cho hiện tại và tương lai của một đất nước đổi mới, hội nhập, đó là các thành tựu trong mỗi lĩnh vực và sự tiến bộ của con người được xây dựng trên giá trị bền vững, văn hóa, nhân văn./.
St

TÂM, TẦM, TÀI

 

Nói đến cái tâm là nói đến lòng trong sáng, không tơ hào vụ lợi, vì hạnh phúc của nhân dân mà cống hiến hết mình, nhất là những con người chân chính đã giơ tay thề trước Ðảng, nguyện hy sinh phấn đấu hết mình cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Tâm sáng tỏ đó là thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh không khoan nhượng. Tấm gương sáng của Bác Hồ và các vị lãnh đạo tiền bối khác đã chứng minh cho điều đó và mọi người chúng ta phải noi theo. Nhiều gương sáng được tuyên dương các thời kỳ chiến tranh và xây dựng chủ nghĩa xã hội là thể hiện sinh động cho việc học tập gương sáng về cái tâm của các lãnh đạo tiền bối. Những tấm gương người tốt.
Tầm là tầm nhìn xa, trông rộng, biết tính toán trước sau, không vì cái lợi trước mắt mà làm cho cái lâu dài bị sa sút, bị mai một, bị kém hiệu quả. Tầm nhìn xa trông rộng rất cần thiết cho mọi lãnh đạo.
Với phương châm “7 lần đo - 1 lần cắt” như Bác Hồ đã dạy là một bài học quý giá mãi mãi cho mọi người. Tầm nhìn của cán bộ phải phù hợp với tầm nhìn của thời đại mà Việt Nam đã hội nhập với khu vực và thế giới, không vì lợi ích cục bộ nào đó mà làm hại cho các địa phương khác, cho cả nước, cho toàn xã hội. Thời đại ngày nay khi đất nước tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa lại càng rất cần những cán bộ có tầm nhìn xa chiến lược để lãnh đạo đất nước và lãnh đạo các doanh nghiệp. Trong điều kiện Việt Nam là một nước mới thoát ra khỏi thu nhập thấp, trở thành một nước có thu nhập trung bình thì càng đòi hỏi sự phấn đấu nỗ lực và tầm nhìn xa của các cấp, các ngành. Làm sao để tiến kịp bạn bè trong khu vực và thế giới, đòi hỏi phải có tầm nhìn khoa học, biện chứng đem lại lợi ích thiết thực cho Tổ quốc.
Tâm, tầm, tài luôn luôn đi cùng với nhau, có tâm, có tầm nhưng người cán bộ cần có những tài năng nhất định ở một lĩnh vực nào đó mà mình được đảm nhiệm, phân công. Tài ở đây trước hết là phải đem lại lợi ích cho sự nghiệp chung của đất nước và phúc lợi của nhân dân. Chữ tài có nội hàm rất rộng, bao gồm tài lãnh đạo, tài cầm quân, tài ứng biến với những khó khăn nảy sinh trong quá trình tiến hành công việc. Tài đột biến đem lại những thành quả lớn đặc biệt cho mỗi vị trí công tác của từng cán bộ. Vật chất là hữu hạn, còn tài năng con người là vô hạn. Vậy nên những con người đó cần phải được giáo dục và rèn luyện, tu dưỡng một cách đầy đủ.
Quá trình dựng nước và giữ nước của Việt Nam không thiếu những anh hùng, những cán bộ xuất chúng lãnh đạo đất nước chống ngoại xâm, giành lại độc lập tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Xã hội cần tôn vinh những cá nhân có tâm, tầm, tài như vậy. Trước đây cũng như hiện nay, nhiều cán bộ tốt là những đầu tàu để kéo theo những toa tàu của toàn xã hội, xây dựng những cái mới, cái tốt giảm bớt những cái suy thoái trong xã hội.
Chúng ta tin tưởng rằng dưới sự lãnh đạo của Ðảng và học tập, làm theo tấm gương Bác Hồ vĩ đại, đất nước chúng ta sẽ ngày càng xuất hiện nhiều gương tốt, có đủ tâm, tầm, tài phụng sự đất nước và phấn đấu vì hạnh phúc lâu dài của nhân dân./.
St

CHUẨN BỊ CHO NHIỆM VỤ CAO CẢ, THIÊNG LIÊNG

 Ngày 15-7-1967, Bộ Chính trị mở phiên họp bất thường do Bí thư thứ nhất Lê Duẩn chủ trì, quyết định lưu giữ thi hài Bác lâu dài và sẽ xây một ngôi lăng của Người.

Sau sinh nhật lần thứ 77, sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh có dấu hiệu giảm sút rõ rệt. Trước tình hình đó, Bộ Chính trị đã có cuộc họp bất thường, khẩn trương và bí mật do Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn chủ trì. Cuộc họp đã bàn hai việc quan trọng. Một là, tiếp tục bằng mọi cách chăm lo sức khỏe của Bác. Mặt khác, không thể tránh khỏi quy luật của tạo hóa, tuổi Bác ngày càng cao mà bệnh tình như vậy có thể không lâu nữa Người sẽ “nằm xuống”. Do đó phải tính tới việc tổ chức lễ quốc tang và có ngay quyết định lưu giữ thi hài Bác lâu dài cho nhân dân cả nước, nhất là nhân dân miền Nam được thấy hình ảnh thật của Bác.
Chính vì vậy, để đáp ứng nguyện vọng của toàn dân, Bộ Chính trị quyết định lưu giữ thi hài Bác lâu dài và sẽ xây một ngôi lăng của Người. Quân ủy Trung ương được trao nhiệm vụ lưu giữ thi hài Bác nếu vạn nhất Người “nằm xuống”. Bộ Kiến trúc (nay là Bộ Xây dựng) được trao cho vai trò chủ yếu trong việc xây dựng lăng, với yêu cầu công trình phải làm sao tương xứng với công lao trời biển của Bác, với uy tín và lòng kính phục Bác của nhân dân ta và bạn bè thế giới. Trong phân công nhiệm vụ, Bộ Chính trị chỉ định đồng chí Nguyễn Lương Bằng (sau này được bầu là Phó chủ tịch nước) trực tiếp theo dõi và chăm sóc sức khỏe Bác hằng ngày.
Đồng chí Lê Thanh Nghị (Phó thủ tướng Chính phủ) được phân công bí mật, thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ sớm sang Liên Xô, đề nghị bạn giúp đỡ ta đào tạo gấp một số cán bộ y tế chuyên về lưu giữ thi hài. Đồng thời giúp ta những phương tiện chuyên dùng và thuốc men đặc biệt cần thiết cho công việc này. “Sau cuộc họp chỉ vài ngày, cha tôi đã lên đường đi Liên Xô. Ông kể rằng, trong các cuộc hội đàm, mọi yêu cầu của ta về đề nghị giúp đỡ giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã được bạn đồng ý. Đồng thời, Chính phủ Liên Xô cũng cam kết sẵn sàng đào tạo cán bộ y tế cho Việt Nam về chuyên môn sâu”, bà Lê Thanh Bình-con gái của đồng chí Lê Thanh Nghị cho biết.
Về nước, đồng chí Lê Thanh Nghị báo cáo Bộ Chính trị, giao cho Quân ủy thành lập gấp tổ y tế gồm 3 bác sĩ: Lê Ngọc Mẫn (Chủ nhiệm Khoa Nội tiết, Bệnh viện Bạch Mai), Nguyễn Gia Quyền (Chủ nhiệm Khoa Giải phẫu bệnh, Quân y viện 108-nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội 108) và Lê Điều (phụ trách Khoa Ngoại, Bệnh viện Hữu nghị Việt-Xô), đưa sang Liên Xô để học về lưu giữ thi hài lâu dài. Tháng 8-1968, sau 7 tháng học tập ở nước bạn, tổ y tế về đến Hà Nội.
Bác sĩ Lê Ngọc Mẫn được điều ngay sang nơi Bác ở, cùng với bác sĩ Nhữ Thế Bảo đã ở đây từ lâu để chăm sóc sức khỏe cho Bác. Các bác sĩ Nguyễn Gia Quyền và Lê Điều được Quân ủy bổ sung vào Tổ y tế đặc biệt mới thành lập, do bác sĩ Quyền làm Tổ trưởng, có nhiệm vụ chuẩn bị cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và bí mật làm các thực nghiệm khoa học trong điều kiện nước ta, để khi Bác “nằm xuống” có thể chủ động được công việc nếu chuyên gia Liên Xô chưa sang kịp.
Tại nhà riêng ở ngõ 38 đường Xuân La (Hà Nội), Đại tá, bác sĩ Lê Điều, thành viên của Tổ y tế đặc biệt năm xưa kể với chúng tôi: “Ngay khi được Trung ương cử sang Liên Xô học tập kỹ thuật bảo quản thi hài, 3 người chúng tôi biết rằng đây là bước chuẩn bị cho một nhiệm vụ đặc biệt đang chờ chúng tôi trở về đảm nhận. Mọi việc tiến hành gần như song song. Quân ủy đã quyết định làm một cơ sở thí nghiệm dựa vào Khoa Giải phẫu bệnh lý của Quân y viện 108 giao cho tổ phụ trách, mang mật danh 75A. Ngoài ra còn làm một cơ sở tương tự ở ngay Hội trường Ba Đình để đưa thi hài Bác từ 75A tới làm lễ quốc tang mang mật danh 75B”.
Sáng 2-9-1969, như có linh cảm nào đó mà trừ những người đi công tác xa, các đồng chí trong Bộ Chính trị đều tới thăm Bác khá sớm, dù trời mưa từ đêm vẫn chưa tạnh. Các đồng chí phục vụ ở nhà H67 đã căng sẵn bạt trước nhà và bày nhiều ghế. Mọi người đến khá đông, nhưng không một tiếng nói to, không khí im lặng bao trùm. Hơn lúc nào hết, các bác sĩ đã biết được tình thế khó biến chuyển. Bác bắt đầu thở gấp, các cơn đau dữ dội kéo đến. Mọi cố gắng day, xoa lồng ngực hồi sức cho Người đều không có hiệu quả. Bác sĩ Nhữ Thế Bảo nhấc điện thoại quay số máy đặc biệt gọi gấp về 75A, nghẹn ngào: “Chuẩn bị!...”.
Lúc đó ở 75A, các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Lê Quang Đạo, Phùng Thế Tài, Trần Kinh Chi cùng Tổ y tế đặc biệt cũng đã nhận được chỉ thị từ đêm trước, sẵn sàng đợi lệnh. Đúng 9 giờ 47 phút sáng 2-9, đồng chí Phùng Thế Tài là người đầu tiên nhận được tin, dù có tiếng là vô cùng gan góc mà lúc ấy ông cũng đã bật khóc. Nhưng rồi nhanh chóng nén lại, ông ra lệnh: “Tất cả về vị trí”. Thế là cán bộ, chiến sĩ, mặt còn đầy nước mắt và cả sự bàng hoàng, đều bật dậy nghiêm trang đáp: “Sẵn sàng!”.
Khi Bác mất, Tổ y tế đặc biệt đã cùng chuyên gia Liên Xô triển khai thực hiện tốt ngay từ những giờ đầu nhiệm vụ giữ gìn thi hài của Người. Sau lễ truy điệu, việc bảo vệ và giữ gìn thi hài Bác vẫn do Quân đội đảm trách theo nghị quyết của Bộ Chính trị. Từ đây, nhiệm vụ chính thức được giao cho Tổ y tế đặc biệt, lúc này đã có khoảng 30 thành viên cùng sự hỗ trợ trực tiếp, tại chỗ của các chuyên gia bạn.
“Từ Tổ y tế đặc biệt, một thời gian sau, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Đoàn 69-đơn vị tiền thân của Bộ tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày nay. Những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong điều kiện chiến tranh ác liệt, thi hài Bác phải di chuyển nhiều lần nhưng vượt qua mọi khó khăn, thử thách, Bộ tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn bảo đảm giữ gìn thi hài Bác tuyệt đối an toàn, tạo ra những tiền đề rất cơ bản cho các giai đoạn tiếp theo. Ngày 2-9-1973, công trình lăng được khởi công xây dựng. Bộ Quốc phòng và Bộ Xây dựng được giao là lực lượng chủ công, nòng cốt trong quá trình tổ chức thi công. Sau khi khánh thành Lăng Bác, Viện 69 (thuộc Bộ tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh) có nhiệm vụ trọng tâm là cùng các chuyên gia Liên Xô trực tiếp tiến hành những biện pháp y tế chăm sóc, giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài của Người phục vụ nhân dân và khách quốc tế thăm viếng”, bác sĩ Lê Điều cho biết.
Ngày 29-8-1975, sau hai năm kể từ ngày khởi công xây dựng và sau hơn 3 tháng miền Nam giải phóng, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được khánh thành trọng thể, chính thức mở cửa đón khách đến thăm viếng. Đây là một kỳ đài lịch sử của thế kỷ 20, công trình của lòng dân-ý Đảng, của tinh thần đoàn kết toàn dân tộc. Nói về việc phát huy ý nghĩa của công trình Lăng trong điều kiện hiện nay, mới đây chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với Thiếu tướng Đinh Quốc Hùng, Bí thư Đảng ủy Đoàn 969, Chính ủy Bộ tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh khẳng định: “Từ khi mở cửa Lăng đến nay, đơn vị đã đón tiếp, phục vụ chu đáo, an toàn cho 70 triệu lượt người, trong đó có 11 triệu lượt khách quốc tế đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh; hàng nghìn hoạt động quan trọng của Đảng, Nhà nước, các buổi mít tinh, diễu binh, diễu hành mừng những ngày lễ lớn của dân tộc; các sinh hoạt chính trị, văn hóa của những tổ chức chính trị, đoàn thể... Điều đó đã cho thấy ý nghĩa và giá trị đặc biệt của công trình Lăng. Giá trị ấy không phải ở sự nguy nga, tráng lệ của Lăng Bác mà bởi ở đó đang giữ gìn và lan tỏa những giá trị của một vĩ nhân đã đi vào lịch sử nhân loại-nơi hội tụ tình cảm, niềm tin thiêng liêng và cao quý!”.
St


QUẢN LÝ VĂN HÓA PHẢI THỂ CHẾ HÓA ĐƯỢC CHÍNH SÁCH CỦA NGÀNH VÀ ĐẦU TƯ VÀO CÁN BỘ NGÀNH!

         Chúng ta phải thực hiện định hướng như Bác Hồ đã nói: "Văn hóa soi đường cho quốc dân đi" và trong Nghị quyết các kỳ Đại hội đề cập văn hóa là mục tiêu, động lực để phát triển. Tuy nhiên, chúng ta cần thể chế hóa những định hướng, mục tiêu đó hóa thành chính sách.

Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 28/8/1945, trong Tuyên cáo của Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bộ Thông tin - Tuyên truyền, tiền thân của Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) được thành lập. Với ý nghĩa đó, năm 2001, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định chọn ngày 28/8 hằng năm là ngày truyền thống của ngành để khắc ghi dấu mốc hình thành cơ quan Nhà nước trên lĩnh vực Văn hóa - Thông tin.

     Nhân 78 năm kỷ niệm Ngày truyền thống ngành Văn hóa (28/8/1945-28/8/2023), Báo điện tử Tổ Quốc đã có cuộc trò chuyện với TS Trần Hữu Sơn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu ứng dụng văn hóa và du lịch về những đóng góp của ngành vào sự phát triển của đất nước.
+ Thưa PGS.TS Trần Hữu Sơn, với nhiều năm quản lý và nghiên cứu về ngành VHTTDL, ông đánh giá như thế nào về vị trí, vai trò của văn hóa đối với sự nghiệp phát triển đất nước hiện nay?
- Bác Hồ đã nói: "Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi". Và trong Nghị quyết các kỳ Đại hội, Đảng ta đều xác định vai trò quan trọng của văn hóa. Trong Nghị quyết Trung ương 5 ( Khóa VIII), Đảng ta khẳng định: Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước…, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc.

Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển bởi lẽ, văn hóa do con người sáng tạo ra, chi phối toàn bộ hoạt động của con người, là hoạt động sản xuất nhằm cung cấp năng lượng tinh thần cho con người, làm cho con người ngày càng hoàn thiện, xa rời trạng thái nguyên sơ ban đầu khi từ con vật phát triển thành con người. Con người tồn tại, không chỉ cần những sản phẩm vật chất mà còn có nhu cầu hưởng thụ sản phẩm văn hóa tinh thần, con người và xã hội loài người càng phát triển thì nhu cầu văn hóa tinh thần đòi hỏi ngày càng cao. Đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần đó chính là đảm bảo sự phát triển ngày càng nhiều của cải vật chất cho con người và xã hội.

Từ ý nghĩa đó, Đảng ta đã xác định: văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực của sự phát triển.

Gần đây nhất, trong 2 năm 2021, 2022, liên tiếp 3 Hội nghị/Hội thảo về văn hóa được tổ chức ở quy mô quốc gia gồm: Hội nghị Văn hóa toàn quốc 2021; Hội thảo quốc gia "Hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới" và Hội thảo Văn hóa 2022 với chủ đề "Thể chế, chính sách và nguồn lực cho phát triển văn hóa" cho thấy văn hóa ngày càng được quan tâm, đầu tư, đặc biệt là sự chuyển biến trong nhận thức về vai trò của văn hóa ở các cấp cơ sở. Từ đó đầu tư cho văn hóa tăng lên.

+ Ông rất trăn trở về đầu tư cho văn hóa. Ông có thể cho biết, mức đầu tư cho văn hóa hiện nay đã tương xứng với vị trí, vai trò của văn hóa trong đời sống?
- Vấn đề đầu tư cho văn hóa đã được đề cập trong các văn kiện ở nhiều kỳ đại hội, trở thành nghị quyết của các hội nghị ban chấp hành Trung ương. Trong đó nổi bật là Hội nghị Lần thứ X của Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa IX đã ban hành Kết luận 30 - KL/TW ngày 20 tháng 7 năm 2004 về đầu tư văn hóa: "Tăng đầu tư cho văn hóa, phấn đấu đến năm 2010 ít nhất đạt 1,8% tổng chi ngân sách văn hóa nhà nước".

Đây là văn kiện đầu tiên của Đảng ghi rõ tỷ lệ đầu tư cho lĩnh vực văn hóa. Tìm hiểu vấn đề này, cần căn cứ vào thực tế chi ngân sách ở các địa phương cho sự nghiệp văn hóa thông tin, để từ đó phân tích, đồng thời so sánh mức chi cho kinh tế nhằm tìm hiểu sự quan tâm đến văn hóa của các địa phương. Chỉ tiêu đầu tư cho văn hóa không chỉ phản ánh chỉ số phát triển văn hóa mà còn nêu bật thực trạng thực hiện đường lối của Đảng và Nhà nước về văn hóa. Vì vậy xem xét mức đầu tư cho văn hóa là minh chứng quan trọng. Đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển, đầu tư cho con người ở các địa phương.

Khảo sát và dựa vào niên giám thống kê ở một số tỉnh từ năm 2015 - 2020 đều nhận thấy tình trạng chung là đầu tư cho lĩnh vực văn hóa còn rất thấp. Mười năm sau Kết luận số 30 - KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, chưa một tỉnh nào đạt mức đầu tư 1,8% tổng chi ngân sách địa phương cho văn hóa. Thủ đô Hà Nội - Trung tâm văn hóa của cả nước nhưng trong 5 năm từ 2015 - 2020, mức chi cho sự nghiệp văn hóa thông tin chưa bao giờ đạt 0,8% tổng chi ngân sách địa phương. Cụ thể năm 2015, Hà Nội chi cho sự nghiệp văn hóa thông tin là 812 tỉ đồng, chiếm 0,72% tổng chi ngân sách, nhưng đến 2018, mức chi chỉ có 127 tỉ đồng chiếm 0,095% tổng chi ngân sách. Năm 2020, Hà Nội mới chi cho sự nghiệp văn hóa thông tin với tỉ lệ cao nhất là 0,767% tổng chi ngân sách.

Như vậy, năm 2004, Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhận thấy thực trạng các địa phương chi ngân sách cho văn hóa thông tin rất thấp nên đã có kết luận: Phấn đấu đến năm 2010, ít nhất đạt được 1,8% trong tổng chi ngân sách. Nhưng thực tế thì mãi đến năm 2020, hầu hết các tỉnh chỉ đạt được từ 50-60% định mức tỉ lệ chi cho sự nghiệp văn hóa thông tin. Mức chi cho ngành văn hóa thông tin thấp, khiến cho hoạt động của lĩnh vực này chậm phát triển, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng khi xét đến chức năng của nó. Đó là sự xuống cấp của đạo đức xã hội, các giá trị nhân văn bị bào mòn, văn hóa không trở thành động lực cho phát triển. Mức đầu tư cho văn hóa thấp, nhiều địa phương không phát huy được lợi thế xây dựng một bộ phận văn hóa trở thành ngành công nghiệp văn hóa quan trọng giúp tăng nhanh nguồn thu cho ngân sách. Vì thế, ở nhiều địa phương luôn rơi vào tình trạng bất cập, tạo thành một vòng luẩn quẩn trong đầu tư phát triển lĩnh vực văn hóa. Đầu tư cho văn hóa thấp nên chậm phát triển, vì chậm phát triển nên tỉ lệ dành cho đầu tư văn hóa lại càng thấp.

+ Vậy theo ông, làm sao để tăng đầu tư cho văn hóa?
- Nhằm khắc phục tình trạng này, cần có các giải pháp hiệu quả. Vấn đề cấp bách hiện nay là các địa phương cần đổi mới nhận thức cụ thể, đúng đắn và thiết thực về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định: "Tăng đầu tư cho phát triển sự nghiệp văn hóa. Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng của đất nước".

Giải pháp thứ hai là cần nhanh chóng thể chế hóa, đổi mới cơ chế, chính sách về đầu tư cho văn hóa, xóa bỏ cơ chế xin cho hoặc định mức đầu tư chỉ do một số người ở Sở Tài chính quyết định.

Giải pháp thứ ba là cần chú trọng thay đổi nhận thức cố hữu rằng văn hóa chỉ là "ngành tiêu tiền", ngành không sản xuất, nên "khi thu được thì cho", khi khó khăn thì cắt bỏ nhiều nguồn lực đầu tư cho văn hóa.

+ Trong bối cảnh hội nhập mạnh mẽ với quốc tế, ngoài tinh hoa văn hóa nhân loại, nền văn hóa Việt Nam cũng đứng trước nguy cơ bị "xâm lược". Theo ông, có những giải pháp gì để nâng cao "sức đề kháng" của văn hóa?
- Trong nền kinh tế thị trường, một mặt văn hóa dựa vào chuẩn mực của nó là chân, thiện, mỹ (cái đúng, cái tốt, cái đẹp) để hướng dẫn và thúc đẩy người lao động không ngừng phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, nâng cao tay nghề, sản xuất hàng hóa với số lượng ngày càng nhiều với chất lượng ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu không ngừng tăng lên của xã hội; mặt khác, văn hóa sử dụng sức mạnh của các giá trị truyền thống, của đạo lý, dân tộc để hạn chế xu hướng sùng bái hàng hóa, sùng bái đồng tiền, nghĩa là hạn chế xu hướng tiêu cực của hàng hóa và đồng tiền "xuất hiện với tính cách là lực lượng có khả năng xuyên tạc bản chất con người, cũng như những mối liên hệ khác". Hạn chế những tiêu cực này chỉ có thể là văn hóa và chủ yếu bằng văn hóa.

Theo tôi, chúng ta phải thực hiện định hướng như Bác Hồ đã nói: "Văn hóa soi đường cho quốc dân đi" và trong Nghị quyết các kỳ Đại hội đề cập văn hóa là mục tiêu, động lực để phát triển. Tuy nhiên, chúng ta cần thể chế hóa những định hướng, mục tiêu đó hóa thành chính sách.

Bên cạnh chính sách, chúng ta còn thiếu nhiều Luật khác về văn hóa như: Luật về quyền văn hóa của người dân, Luật về xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, Luật công nghiệp văn hóa, Luật về nghệ thuật biểu diễn.... Theo tôi, tất cả những điều đó cần được thể chế hóa.

Mặt khác, tôi cho rằng bản thân ngành Văn hóa cần nâng cao công tác đào tạo cán bộ. Ví dụ như lĩnh vực thể thao, vận động viên Ánh Viên mới hơn 20 tuổi đã xin nghỉ là thiệt thòi cho đất nước, cần phải xem xét nghiêm túc. Bởi, chúng ta đào tạo được những người như vậy không dễ dàng. Hoặc như hiện nay, công tác đào tạo ở các trường múa, nghệ thuật rất khó tuyển học sinh, sinh viên. Tôi cho rằng, nếu khó khăn như vậy thì phải đầu tư lớn hơn. Bởi, đầu tư cho những ngành khác đã tốn kém nhưng đầu tư cho văn hóa, nghệ thuật còn tốn kém hơn.

Bên cạnh đó, để văn hóa phát triển, chúng ta phải xây dựng được một nền công nghiệp văn hóa. Nghĩa là, văn hóa phải là nguồn lực về kinh tế. Hiện nay, văn hóa, nghệ thuật ở lĩnh vực điện ảnh, âm nhạc, biểu diễn đã phát triển nhưng công nghiệp văn hóa còn nhiều lĩnh vực khác cần phải có định hướng.

Muốn bảo vệ, phát triển văn hóa dân gian cần tôn trọng môi trường sản sinh ra văn hóa dân gian. Từ việc tôn trọng văn hóa dân gian, cần tiếp tục kế thừa truyền thống để áp dụng có chọn lọc vào văn hóa dân gian của thời đại.

Tôi nghĩ, chúng ta phải thay đổi cách nhìn nhận về văn hóa, vì nếu đến giờ vẫn nhìn nhận văn hóa như thế kỷ XX chưa đúng. Đảng đã xác định văn hóa là động lực phát triển. Nhưng cán bộ cấp cơ sở lại chưa nhận thức được như vậy. Do đó, người quản lý văn hóa phải thể chế hóa được chính sách của ngành và đầu tư vào cán bộ ngành.

Vấn đề thể chế rất quan trọng, có thể nói quản lý thì trọng tâm là thể chế. Thước đo của người tư lệnh ngành là nghĩ ra thể chế và quản lý bằng thể chế.

Qua theo dõi, tôi nhận thấy điều đáng mừng cho Ngành là Bộ trưởng hiện nay rất quan tâm vấn đề thể chế, xác định trọng tâm là thể chế để quản lý.
+ Xin trân trọng cảm ơn ông!./.




Môi trường ST.

VỮNG NHƯ “KIỀNG BA CHÂN”, TOÀN QUÂN MỘT Ý CHÍ!

1. Ngày 02-02-2023, Hạ viện Mỹ đã chính thức thông qua Nghị quyết H.Con.Res 9: “Lên án sự khủng khiếp của chủ nghĩa xã hội (CNXH)”. Trong đó, quy kết “nguyên nhân của mọi tội ác là do chủ nghĩa Mác - Lênin”, “các Đảng Cộng sản và các nhà lãnh đạo CNXH là C.Mác, Ph. Ăngghen, V.I.Lênin...” gây nên. 

Dựa vào bản nghị quyết này, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã “đổ thêm dầu vào lửa”, đồng loạt viết tin, bài, dàn dựng các video clip, các cuộc phỏng vấn, trả lời phỏng vấn rồi tung lên mạng xã hội vu cáo Đảng, Nhà nước ta gây ra hai cuộc chiến tranh trong thế kỷ XX, là “nguyên nhân sinh ra các nạn đói, g.i.ế.t n.g.ư.ờ.i, kìm hãm sự phát triển của dân tộc”. Từ đó, họ xuyên tạc, phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; cho rằng “đi theo con đường CNXH là đi vào ngõ cụt” để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước ta. Thâm độc hơn, họ tung tin rằng, hiện nay Quân đội ta đã xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; không còn trung thành với mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH.

2. Trở thành niềm tin và lẽ sống cao đẹp, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH đã ngấm vào máu thịt, trở thành lý tưởng sống, chiến đấu cao đẹp của Quân đội ta. Vì vậy, sự kiên định này chính là kiên định con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân đã lựạ chọn. Thực tiễn gần 80 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành đã chứng minh: Quân đội ta không chỉ làm nên những chiến công hiển hách, mà còn kiên định đấu tranh tư tưởng, lý luận, đập tan mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Chúng ta không mắc mưu “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” quân đội, không xa rời “con đường chính trị” của Đảng; không bị chệch hướng, lạc đường; trọn vẹn tấm lòng “tận trung với Đảng, trọn hiếu với dân”.

Trong bối cảnh tình hình mới, Quân đội ta kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là yêu cầu khách quan, nhiệm vụ cấp bách trong xây dựng quân đội “tinh, gọn, mạnh” tiến lên hiện đại theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Nghị quyết Đảng bộ Quân đội lần thứ XI.

Đây là sự tổng kết sâu sắc về lý luận và thực tiễn, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt toàn bộ đường lối cách mạng Việt Nam, là vấn đề mang ý nghĩa sống còn đối với cách mạng và sự phát triển của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

3. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta, phản ánh tập trung bản chất giai cấp công nhân của Quân đội cách mạng; biểu hiện cụ thể ở: Trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân. Đây là nhân tố bảo đảm cho Quân đội ta thực sự là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. 

Thước đo lòng trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân của Quân đội ta là việc hoàn thành tốt nhất các chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, nhất là “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ XHCN”. 

Sự kiên định, vững vàng của Quân đội ta thể hiện ở niềm tin quyết chiến, quyết thắng; không dao động, ngả nghiêng, thay đổi lập trường trước mọi khó khăn, thách thức; là sự vững vàng niềm tin tiếp tục đi tiếp con đường cách mạng và hiện thực hóa mục tiêu ấy. Trong đó, kiên định, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối đổi mới của Ðảng là vấn đề căn cốt nhất, có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Điều sâu sắc ấy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong xây dựng Quân đội ta vững mạnh về chính trị, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Đây là cơ sở khoa học để củng cố, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội ta; góp phần giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội, bảo đảm và tăng cường sự lãnh đạo của các tổ chức đảng trong Quân đội. 

Vì vậy, trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đều chủ động, tích cực đấu tranh phê phán mọi biểu hiện dao động, ngả nghiêng, thoái thác nhiệm vụ; kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH của các thế lực thù địch.

4. Để mãi mãi xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới, cán bộ, chiến sĩ Quân đội cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm trước các tổ chức, các lực lượng trong toàn quân về kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Chú trọng nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể, lực lượng về âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Cùng với đó, tiếp tục nâng cao trình độ nhận thức, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ chỉ huy, cán bộ chính trị, đội ngũ chính ủy, chính trị viên... 

Một trong những vấn đề có tính nguyên tắc là kiên định nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam; giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của cấp ủy đảng, đội ngũ cán bộ các cấp đối với việc kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định để đến năm 2025 cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, từ năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. 

Chủ động, tích cực đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp nghiên cứu, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH trong Quân đội là vấn đề rất quan trọng đối với công tác giáo dục chính trị. Cùng với đó, tích cực, chủ động đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biển hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, các hiện tượng vi phạm kỷ luật và sự chống phá của các thế lực thù địch.

Đây là công việc hệ trọng và nội dung đặc biệt quan trọng đối với Quân đội ta trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất trong bối cảnh tình hình mới, mãi mãi xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”, bộ đội của nhân dân./.
Yêu nước ST.

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP 1945 - GIÁ TRỊ TRONG SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY!

        Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 không chỉ tuyên bố với thế giới về nền độc lập của nước Việt Nam, mà còn khẳng định ý chí sắt đá của dân tộc Việt Nam kiên quyết bảo vệ nền độc lập đó. Tinh thần và khí phách dân tộc thể hiện trong Bản Tuyên ngôn mãi mãi là kim chỉ nam cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. 

Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố với thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật, đã trở thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Tuyên bố đó, đã thể hiện ý chí và khí phách của dân tộc Việt Nam “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Đó cũng là lời hịch truyền gửi đến muôn đời con cháu mai sau với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Lịch sử đã lùi xa 78 năm, nhưng ý nghĩa và giá trị của Bản Tuyên ngôn Độc lập đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam chưa bao giờ xưa cũ. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn coi “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”. Với nhận thức đúng đắn về sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp, những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã kiên trì lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiều chủ trương, chính sách trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại,… để xây dựng tiềm lực, thế trận cho sự nghiệp đó và đã giành được những thành tựu quan trọng. Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Trong bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều phức tạp, chúng ta kiên quyết, kiên trì đấu tranh giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc… Chủ động, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp phù hợp, bảo vệ được chủ quyền, biển, đảo, vùng trời và giữ được hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Mặc dù tiềm lực kinh tế của đất nước còn hạn chế, nhưng Đảng và Nhà nước ta, với sự đồng lòng của toàn dân đã quan tâm đầu tư xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân trên phạm vi cả nước; chăm lo xây dựng Quân đội vững mạnh toàn diện, đưa một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại.

Hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc có sự phát triển mới, với nhiều thuận lợi do thế và lực của ta đã được cải thiện nhiều so với trước, nhưng cũng đứng trước những thách thức gay gắt. “Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta. Tình hình Biển Đông tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó lường. Cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân ta còn cam go, phức tạp, lâu dài”. Trước tình hình đó, lời thề “quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” lại vang vọng, thúc giục các thế hệ hôm nay phải nỗ lực nhiều hơn, để thực hiện trọn vẹn mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, bằng những hành động thiết thực.

Trước hết, phải đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị cho các tầng lớp nhân dân về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và của toàn dân. Kiên trì tuyên truyền, làm rõ nội hàm của mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay không chỉ là “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ”, mà còn bao gồm cả “bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc”.

Thứ hai, tích cực tuyên truyền nâng cao hiểu biết của người dân về chủ quyền, lãnh thổ đất nước; làm cho họ hiểu đúng vấn đề chủ quyền với nội dung toàn diện, cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay, chúng ta cần nắm vững phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” để xử lý các tình huống một cách tỉnh táo, bản lĩnh, vừa đảm bảo giữ được độc lập, chủ quyền, lãnh thổ, vừa giữ được môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước về mọi phương diện. Cùng với đó, cần nhận thức đúng việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc phải được thực hiện trên toàn bộ đường biên giới quốc gia. Theo đó, phải chăm lo xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân, thế trận biên phòng toàn dân trên phạm vi cả nước, trên toàn bộ tuyến biên giới quốc gia, nhằm xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển với các nước láng giềng.

Thứ ba, tập trung xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Đó chính là một trong những nội dung quan trọng để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Bởi, bảo vệ Tổ quốc hiện nay không chỉ về phương diện tự nhiên - lãnh thổ, mà còn về phương diện chính trị - xã hội, nên việc xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để thực hiện tốt nội dung này, chúng ta cần kiên trì đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Cùng với đó, cần chủ động tiến công, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, giữ vững sự ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, bảo vệ công cuộc đổi mới và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay phải trên cơ sở tích cực nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế; nắm vững phương châm “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”, có cách nhìn biện chứng về “đối tượng”, “đối tác” để có thể tranh thủ hợp tác khía cạnh “đồng thuận” ở mỗi “đối tượng”; kiên quyết đấu tranh với từng “đối tác” về những vấn đề còn mâu thuẫn, trên nguyên tắc bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, lấy giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước là lợi ích cao nhất.

Thứ năm, giữ vững phương châm “kiên quyết sử dụng mọi biện pháp phù hợp với luật pháp nước ta và luật pháp quốc tế để bảo vệ vững chắc chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; nhưng đồng thời cũng phải quyết tâm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng đất nước”.

Thứ sáu, phát huy sức mạnh toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại tạo nên sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Chúng ta vừa phải ra sức tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, vừa phải coi việc phát huy nội lực luôn là nhân tố quyết định. Muốn vậy, cần chăm lo xây dựng để “kinh tế phải vững, quốc phòng phải mạnh, thực lực phải cường, lòng dân phải yên, chính trị - xã hội ổn định, cả dân tộc là một khối thống nhất”; nắm vững và hành động đúng chủ trương của Đảng coi “nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên”.

78 năm đã trôi qua, nhưng Tuyên ngôn Độc lập 1945 vẫn mãi là kim chỉ nam cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam yêu dấu. Ý nghĩa và khí phách của dân tộc trong Bản Tuyên ngôn tiếp tục được các thế hệ người Việt Nam hiện thực hóa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay và mai sau./.
Yêu nước ST.

THỦ ĐOẠN BÔI LEM THÀNH QUẢ, Ý NGHĨA LỊCH SỬ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

         Cách đây 78 năm, Nhân dân ta đã nhất tề vùng lên tiến hành Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám, tạo bước ngoặt trong lịch sử phát triển của dân tộc. Đó là kết quả của sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, là thành quả của sự đoàn kết, đồng lòng, nỗ lực, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, gian khổ, hy sinh của toàn dân tộc Việt Nam

Vậy nhưng, đến hẹn lại lên, vào thời điểm kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, một số phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước, một số tổ chức, báo đài thiếu thiện chí, chống phá Việt Nam lại cố tình đăng tải các bài viết phủ nhận ý nghĩa và thành quả vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám đối với dân tộc ta.

Trên Facebook, YouTube, các đối tượng đã đăng tải nhiều bài viết cho rằng, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là “sai lầm lịch sử”, là “đi ngược lại sự bảo hộ của mẫu quốc”, không có gì thay đổi chế độ xã hội ở Việt Nam, chẳng qua chỉ là thay từ chế độ “vua trị” sang chế độ “đảng trị”. Chúng còn cho rằng, thắng lợi mà Việt Nam giành được đó là “sự ăn may của lịch sử khi Nhật thua trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chứ Đảng Cộng sản Việt Nam chẳng có tài cán gì”; vu cáo “Cách mạng Tháng Tám thực chất chỉ là một cuộc cướp chính quyền”; “Tổng khởi nghĩa là do quốc gia đề xướng nhưng cộng sản nhảy ra cướp công”; “Đảng Cộng sản Việt Nam đã hứng được quả ngọt trời cho là tình thế của Pháp, Nhật và hào khí của dân tộc lúc đó để cướp chính quyền cho riêng mình”...

        Một số lại quy kết: “Cách mạng Tháng Tám là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam”; “nếu không có Cách mạng Tháng Tám, nước ta đã giàu mạnh từ lâu và không mất dân chủ như bây giờ”; “Cách mạng Tháng Tám là mở ra thời kỳ Đảng đã áp đặt một chế độ độc tài toàn trị, một đảng duy nhất nắm quyền thống trị với một nhà nước “chuyên chính vô sản”... Những gì mà các cá nhân, tổ chức chống phá, các phần tử cơ hội theo chủ nghĩa xét lại đã xuyên tạc, bôi lem về ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chính là luận điệu xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh; hạ thấp, phủ nhận sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam; xem nhẹ giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Nhìn lại lịch sử, thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, là thành quả của sự đoàn kết, đồng lòng, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thử thách, gian khổ, hy sinh của dân tộc. Đặc biệt, thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là nhờ tư duy sắc sảo, nhạy bén, sáng tạo, quyết đoán của Đảng, Bác Hồ trong xác định, lựa chọn thời cơ tiến hành Tổng khởi nghĩa. Điều này được thể hiện trên các điểm sau:

        Thứ nhất, Cách mạng Tháng Tám không phải là “sai lầm lịch sử” hay là “sự ăn may”. Từ những năm còn bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản”. Các cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939, 1939-1945 thực sự là những “cuộc tổng diễn tập” là tiền đề cho Cách mạng Tháng Tám thành công. Khi tình thế và thời cơ cách mạng chín muồi, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát lệnh Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước đúng vào thời điểm thuận lợi nhất.

          Thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của một quá trình chuẩn bị đầy đủ lực lượng cách mạng của Đảng ta. Đồng thời, là kết quả của việc Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động, tích cực theo dõi tình hình, dự đoán chính xác thời cơ và kiên quyết lãnh đạo Nhân dân đứng lên chớp thời cơ “nghìn năm có một” để tiến hành Tổng khởi nghĩa. Trong hai yếu tố chủ quan và khách quan thì yếu tố chủ quan là động lực chính, quyết định đến thắng lợi, hoàn toàn không phải thụ động “ăn may”.

        Thứ hai, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã xóa bỏ sự thống trị của thực dân, phát xít và phong kiến, xây dựng Nhà nước dân chủ Nhân dân đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Đó không phải là sự chuyển giao từ chế độ “vua trị” sang “đảng trị” mà là sự thay đổi về bản chất từ chế độ cai trị tàn bạo của thực dân, phong kiến sang chế độ Nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Cách mạng Tháng Tám đã giải phóng đồng bào ta khỏi chế độ quân chủ chuyên chế và xiềng xích thực dân”. Đồng thời, đối với công cuộc xây dựng một chế độ xã hội mới, khác hẳn về chất so với chế độ phong kiến, thực dân và đến quốc: “Cách mạng Tháng Tám đã xây dựng cho Nhân dân ta cái nền tảng Dân chủ Cộng hòa và thống nhất độc lập”.

        Thứ ba, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không phải là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam. Sau khi nhân dân ta giành được chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa được bao lâu, ngày 23/9/1945, thực dân Pháp quay lại cướp nước ta một lần nữa. Trước tình thế đất nước đang “ngàn cân treo sợi tóc”, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện nhiều chính sách để gìn giữ hòa bình, tránh cuộc chiến tranh đổ máu.

        Tuy nhiên, “chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa”. Với tinh thần “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, quân và dân ta đã trường kỳ kháng chiến và giành thắng lợi, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc Pháp phải ký Hiệp định Geneva tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam và các nước trên bán đảo Đông Dương. Song, Pháp đã cấu kết và “bật đèn xanh” cho đế quốc Mỹ nhảy vào xâm lược Việt Nam và Đông Dương, buộc Nhân dân ta phải tiếp tục bước vào cuộc trường chinh chống Mỹ cứu nước kéo dài 21 năm sau đó.

        Bằng đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và tinh thần đấu tranh anh dũng kiên cường, bất khuất, bất chấp mọi gian khổ hy sinh, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta giành thắng lợi vẻ vang, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Chính vì vậy, nguyên nhân sâu xa, trực tiếp dẫn đến hai cuộc kháng chiến của Nhân dân ta chính là bản chất hiếu chiến xâm lược của chủ nghĩa thực dân, đế quốc chứ không phải một lý do nào khác và đương nhiên không phải do Thủ đoạn bôi lem thành quả, ý nghĩa lịch sử Cách mạng Tháng Tám

TRÁNH NHẸ DẠ, VÔ TÌNH BỊ LỢI DỤNG

 

Chuyện chẳng phải mới nhưng chưa bao giờ cũ. Liên tục trong thời gian qua, ở nhiều nơi diễn ra tình trạng cán bộ hưu trí, cán bộ nghỉ chế độ, cán bộ bị kỷ luật buộc phải rời khỏi tổ chức… có những phát ngôn thiếu chuẩn mực, tuyên bố “cạch mặt” tổ chức, bôi nhọ cơ quan, đơn vị cũ; nêu chính kiến đi ngược lại với quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước.

Thậm chí, một số cá nhân còn chủ ý cổ xúy hoặc vô tình bị các lực lượng thù địch lợi dụng, lôi kéo tham gia vào các hoạt động tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam.

Thực tế đáng lo ngại đó cần phải sớm được thẳng thắn nhận diện và có giải pháp đấu tranh quyết liệt, tẩy trừ dứt điểm.

Nguy hại từ những câu chuyện làm quà

Ông cán bộ nọ, từng công tác ở cơ quan trọng yếu hẳn hoi, nhưng khi vừa về hưu, trong câu chuyện trà nước đã lắc đầu tỏ vẻ ngao ngán, chê bai chính tổ chức mà mình từng gắn bó suốt quãng đời công tác. Ông cho rằng sở dĩ bản thân phải tá túc với “cái nơi ấy” là vì “cơm, áo, gạo, tiền” chứ nội bộ cơ quan “chẳng đẹp đẽ” gì. Và rồi ông chê trách cách ứng xử, cách sống của người đứng đầu đương chức; chế nhạo, nói xấu cả những đồng nghiệp cũ.

Lại có chuyện một cán bộ vừa bị kỷ luật do vi phạm nhưng không nhận thức rõ khuyết điểm cá nhân để tự sửa chữa, lại huênh hoang livestream, viết bài đăng lên tài khoản facebook cá nhân bày tỏ sự không vừa lòng và kêu gọi cộng đồng lên tiếng bảo vệ mình?! Nhiều người không hiểu nội dung vụ việc nên đã vô tư a dua, lớn tiếng đặt điều, lên án tập thể, cơ quan chức năng.

Rồi lại thêm chuyện một số cá nhân do phẩm chất, năng lực chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác, bị tổ chức thải loại, buộc phải nghỉ chế độ theo yêu cầu tinh giản biên chế, được hưởng các chế độ đãi ngộ theo đúng quy định… nhưng có vẻ trong lòng ấm ức nên cố tình “trở cờ” với tổ chức. Các vị này “hồn nhiên” mang những chuyện nội bộ, cả những việc có yếu tố bí mật (theo quy định của Nhà nước) để công khai trên diễn đàn xã hội. Tệ hơn, họ coi đó như một phương tiện hòng “câu like”, “câu view” hoặc “nói cho bõ tức”…

Những câu chuyện như trên diễn ra khá phổ biến ở nhiều nơi, mà tính chất, mức độ nguy hại của nó thì thật khó lường. Vì tiếp nhận thông tin một chiều, không có điều kiện thẩm định thực-hư, không nắm chắc bản chất vấn đề, cũng không nhận rõ yếu tố chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa vị kỷ của những người lớn tiếng “kêu oan”, bày tỏ bức xúc… nên dư luận xã hội, nhất là trên cộng đồng mạng được dịp a dua, theo đóm ăn tàn, like, share cảm tính, vô hình trung tạo nên làn sóng dư luận tiêu cực trong cộng đồng. Chính điều đó đã tác động không nhỏ đến đời sống tinh thần xã hội. Theo chiều tiêu cực, nhiều người dần dần hình thành cách nhìn phiến diện, thiếu thiện cảm đối với hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ. Nhiều người hiểu sai bản chất và không nhận rõ tính khoa học, khách quan từ những chủ trương, giải pháp của Đảng, Nhà nước về công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách đối với cán bộ, đảng viên; không thấy hết nỗ lực của các cấp, các ngành trong hiện thực hóa chủ trương tinh giản biên chế, quyết tâm xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; không nhận thức đủ tính ưu việt trong chính sách trọng dụng hiền tài và quyết tâm thải loại những thành phần yếu kém về năng lực, phẩm chất ra khỏi tổ chức… Những hành vi lệch lạc đó đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhận thức, tình cảm, ý chí, niềm tin của quần chúng đối với tổ chức đảng và bộ máy chính quyền Nhà nước.

Nguy hại hơn là từ những sự vụ, sự việc nêu trên, các lực lượng thù địch lấy đó làm nguyên cớ hòng đưa đẩy vấn đề theo hướng tiêu cực, rồi suy diễn, quy chụp về những tồn tại, hạn chế trong nội bộ Đảng và bộ máy Nhà nước. Từ một vài ví dụ trên mạng xã hội, chúng rêu rao rằng “nội bộ tổ chức đảng và chính quyền đang mất đoàn kết, phân chia bè cánh, kèn cựa, đấu đá hạ bệ lẫn nhau nên mới có chuyện thải loại và đẩy cán bộ tốt vào đường cùng”… Từ đó, chúng đề xuất, tự thúc đẩy trào lưu đấu tranh, kích động biểu tình, gây rối trên một số địa bàn. Sự việc diễn ra năm 2018 ở nhiều địa phương, nhất là ở Bình Thuận càng giúp chúng ta thấm, ngấm được bài học về việc cộng đồng xã hội và người dân bị các thế lực thù địch “dắt mũi” thông qua những bài viết trên mạng xã hội.

Bắt bệnh và trị bệnh

Phải khẳng định ngay, những cá nhân nêu trên đã tự đánh mất mình, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Họ đã mặc nhiên quay lưng với chính hệ tư tưởng, quan điểm, lý tưởng cống hiến trong suốt quãng đời công tác trước đây của bản thân. Chính họ đã tự xúc phạm, giẫm đạp lên quá khứ của chính mình!

Vì sao lại thế? Có muôn nghìn câu trả lời. Cũng thấy rõ muôn vàn lý do, nguyên nhân đưa đến thực trạng đó. Nào là do những xích mích, mất lòng trong hàng ngũ lúc còn đương chức; do về hưu phải đối diện với sự cô đơn, cô độc, lại có nhiều thời gian nên “rảnh rỗi sinh nông nổi”; do thiếu thông tin, không tìm hiểu cặn kẽ sự việc… nên nhận thức phiến diện, cực đoan; do tác động từ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, nhất là khi chúng xác định nhóm công dân này là một trong những đối tượng có thể tập trung lợi dụng, lôi kéo…

Thế nhưng, dù căn nguyên ra sao thì vấn đề cốt tử vẫn nằm ở bản lĩnh chính trị và bản chất của những người từng khoác lên mình màu áo đảng viên và danh dự, tư cách người cán bộ cách mạng. Thực tế cho thấy, một khi cán bộ thật sự có bản lĩnh, chí công, vô tư phục vụ tổ chức, cơ quan, đơn vị, sống chân thành, tử tế với đồng chí, đồng đội lúc đương chức thì khi nghỉ hưu, rời tổ chức, họ vẫn một lòng gắn bó với sự nghiệp của tập thể. Họ vẫn theo dõi, quan sát từng bước phát triển, trưởng thành của tổ chức, xem đó là nguồn hạnh phúc của mình. Thậm chí, nhiều người còn chủ động tham mưu, hiến kế, giúp đỡ thế hệ đi sau hoàn thành nhiệm vụ. Nhiều cán bộ khi nghỉ hưu hoặc luân chuyển đi nơi khác… vẫn nhận được sự quan tâm, động viên, kính trọng của đồng nghiệp, anh em nơi cơ quan cũ. Cấp trên đương chức, nhân viên, đồng nghiệp vẫn thường xuyên lui tới thăm hỏi, trò chuyện, giữ mối liên hệ mật thiết, sẻ chia vui buồn. Ngược lại, những kẻ đã, đang và sẽ hống hách, rao giảng, kêu than trên mạng xã hội thì lúc đương chức tâm địa có lẽ cũng có vấn đề…

Nói như vậy sẽ không hẳn là đúng với mọi trường hợp, mà câu chuyện này còn chịu sự chi phối đa chiều bởi các quy luật tâm lý-xã hội. Có nghĩa, bất cứ ai nghỉ hưu, bị thải loại, rời xa tổ chức cũ… cũng đều ít nhiều rơi vào các biểu hiện, vấn đề của tư tưởng, tâm lý. Con người ta sẽ không tránh khỏi những nỗi buồn khách quan và sự hẫng hụt về mặt tinh thần khi phải bắt đầu một nếp sống mới. Nói như vậy để thấy, việc quan tâm, làm tốt công tác tư tưởng cho đối tượng sắp nghỉ hưu, đối tượng tinh giản… cần phải được cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp tiến hành thường xuyên, liên tục. Bởi có một thực tế là, ở một số cơ quan, đơn vị hiện nay, việc tiến hành công tác tư tưởng cho cán bộ trước và sau khi nghỉ công tác vẫn bị coi nhẹ, ít có sự động viên, quan tâm thường xuyên.

Thế nhưng, dù các tác động khách quan có đến mức nào đi chăng nữa thì yếu tố chủ quan vẫn giữ vai trò quyết định. Nhiều cá nhân trước khi nghỉ hưu vẫn mưu toan giữ ghế, tham vọng bám trụ lại tổ chức vì quyền lợi riêng nên thật khó chiến thắng được sự xung đột tâm lý cá nhân. Và nhất là khi mưu cầu tư lợi không đạt được thì sinh ra bệnh tư tưởng, rồi “giận cá chém thớt”, làm những chuyện trái khoáy… khiến dư luận phải dị nghị, xem thường!

Nhiều chuyên gia tâm lý cho rằng: Trong khi toàn Đảng và cả hệ thống chính trị đang quyết liệt thực hiện chủ trương “có lên, có xuống, có vào, có ra” thì tinh thần này phải được thấu triệt đến mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương. Từng cấp ủy, tổ chức phải đẩy mạnh giáo dục để cán bộ lúc đương chức luôn thông suốt về tư tưởng, nhận thức rõ việc nghỉ hưu, rời tổ chức là việc đương nhiên, tất yếu. Từng cá nhân phải cố gắng duy trì quan điểm dù đang công tác hay nghỉ công tác thì đều giữ đúng chức phận của mình; là người đảng viên kiên định, kiên trung của Đảng. Có được tư duy và cách nghĩ đó thì chắc chắn việc nghỉ hưu, rời tổ chức sẽ tự nó trở nên thanh thản, nhẹ nhàng…

Còn xét dưới góc độ tổ chức, đối với những trường hợp vừa rời tập thể đã hòa vào đám đông một cách tiêu cực thì cần phải được cấp có thẩm quyền nhận diện, đấu tranh phê bình nghiêm khắc; thậm chí xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để giáo dục chung. Thực tế nhiều năm qua cho thấy, những trường hợp như đã nêu ở trên diễn ra khá phổ biến, ở nhiều cơ quan, đơn vị, nhưng việc xử lý vẫn chưa triệt để, nghiêm khắc. Có chăng chỉ là sự nhắc nhở, động viên, đối thoại, cảnh tỉnh… rồi “đâu lại vào đấy”. Do vậy, cùng với giáo dục, thuyết phục, các cơ quan chức năng cần có thái độ quyết liệt xử lý thực trạng này. Khi phát hiện các đối tượng lợi dụng mạng xã hội để nói xấu Đảng, chế độ, bôi nhọ tổ chức, cơ quan, đơn vị thì kiên quyết xử lý nghiêm minh đến cùng, đúng người, đúng mức độ vi phạm, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”…

Làm cán bộ, đảng viên của Đảng thì cần phải khắc ghi và hiểu sâu sắc lời dạy quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.