Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên chính là sự “kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân."
Thứ Hai, 28 tháng 8, 2023
ĐẢNG VIÊN ĐI TRƯỚC LÀNG NƯỚC THEO SAU
ĐẠI TƯỚNG TỔNG TƯ LỆNH VÕ NGUYÊN GIÁP VỚI TRẬN "HÀ NỘI - ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG"
NỬA NHIỆM KỲ KHẲNG ĐỊNH VAI TRÒ, VỊ THẾ VĂN HÓA
Qua nửa nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XIII của Đảng, việc xây dựng, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người càng được khẳng định rõ là phương hướng chiến lược cơ bản của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới. Đó là dấu ấn quan trọng trong đời sống đất nước những năm gần đây, có thể nhìn khái quát từ các khía cạnh văn hóa-lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội.
TÂM, TẦM, TÀI
CHUẨN BỊ CHO NHIỆM VỤ CAO CẢ, THIÊNG LIÊNG
Ngày 15-7-1967, Bộ Chính trị mở phiên họp bất thường do Bí thư thứ nhất Lê Duẩn chủ trì, quyết định lưu giữ thi hài Bác lâu dài và sẽ xây một ngôi lăng của Người.
QUẢN LÝ VĂN HÓA PHẢI THỂ CHẾ HÓA ĐƯỢC CHÍNH SÁCH CỦA NGÀNH VÀ ĐẦU TƯ VÀO CÁN BỘ NGÀNH!
VỮNG NHƯ “KIỀNG BA CHÂN”, TOÀN QUÂN MỘT Ý CHÍ!
TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP 1945 - GIÁ TRỊ TRONG SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY!
THỦ ĐOẠN BÔI LEM THÀNH QUẢ, Ý NGHĨA LỊCH SỬ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
Cách đây 78 năm, Nhân dân ta đã nhất tề vùng lên tiến hành Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám, tạo bước ngoặt trong lịch sử phát triển của dân tộc. Đó là kết quả của sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, là thành quả của sự đoàn kết, đồng lòng, nỗ lực, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, gian khổ, hy sinh của toàn dân tộc Việt Nam
Vậy nhưng,
đến hẹn lại lên, vào thời điểm kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, một số phần tử cơ
hội chính trị trong và ngoài nước, một số tổ chức, báo đài thiếu thiện chí,
chống phá Việt Nam lại cố tình đăng tải các bài viết phủ nhận ý nghĩa và thành
quả vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám đối với dân tộc ta.
Trên
Facebook, YouTube, các đối tượng đã đăng tải nhiều bài viết cho rằng, Cách mạng
Tháng Tám năm 1945 là “sai lầm lịch sử”, là “đi ngược lại sự bảo hộ của mẫu
quốc”, không có gì thay đổi chế độ xã hội ở Việt Nam, chẳng qua chỉ là thay từ
chế độ “vua trị” sang chế độ “đảng trị”. Chúng còn cho rằng, thắng lợi mà Việt
Nam giành được đó là “sự ăn may của lịch sử khi Nhật thua trong Chiến tranh thế
giới thứ hai, chứ Đảng Cộng sản Việt Nam chẳng có tài cán gì”; vu cáo “Cách
mạng Tháng Tám thực chất chỉ là một cuộc cướp chính quyền”; “Tổng khởi nghĩa là
do quốc gia đề xướng nhưng cộng sản nhảy ra cướp công”; “Đảng Cộng sản Việt Nam
đã hứng được quả ngọt trời cho là tình thế của Pháp, Nhật và hào khí của dân
tộc lúc đó để cướp chính quyền cho riêng mình”...
Một số lại quy kết: “Cách mạng Tháng Tám là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam”; “nếu không có Cách mạng Tháng Tám, nước ta đã giàu mạnh từ lâu và không mất dân chủ như bây giờ”; “Cách mạng Tháng Tám là mở ra thời kỳ Đảng đã áp đặt một chế độ độc tài toàn trị, một đảng duy nhất nắm quyền thống trị với một nhà nước “chuyên chính vô sản”... Những gì mà các cá nhân, tổ chức chống phá, các phần tử cơ hội theo chủ nghĩa xét lại đã xuyên tạc, bôi lem về ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chính là luận điệu xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh; hạ thấp, phủ nhận sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam; xem nhẹ giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Nhìn lại
lịch sử, thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của sự lãnh đạo
sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, là thành quả của
sự đoàn kết, đồng lòng, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thử thách, gian khổ, hy
sinh của dân tộc. Đặc biệt, thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là nhờ
tư duy sắc sảo, nhạy bén, sáng tạo, quyết đoán của Đảng, Bác Hồ trong xác định,
lựa chọn thời cơ tiến hành Tổng khởi nghĩa. Điều này được thể hiện trên các
điểm sau:
Thứ nhất, Cách mạng Tháng Tám không phải là “sai lầm lịch sử” hay là “sự ăn may”. Từ những năm còn bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản”. Các cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939, 1939-1945 thực sự là những “cuộc tổng diễn tập” là tiền đề cho Cách mạng Tháng Tám thành công. Khi tình thế và thời cơ cách mạng chín muồi, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát lệnh Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước đúng vào thời điểm thuận lợi nhất.
Thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của một quá trình chuẩn bị đầy đủ lực lượng cách mạng của Đảng ta. Đồng thời, là kết quả của việc Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động, tích cực theo dõi tình hình, dự đoán chính xác thời cơ và kiên quyết lãnh đạo Nhân dân đứng lên chớp thời cơ “nghìn năm có một” để tiến hành Tổng khởi nghĩa. Trong hai yếu tố chủ quan và khách quan thì yếu tố chủ quan là động lực chính, quyết định đến thắng lợi, hoàn toàn không phải thụ động “ăn may”.
Thứ hai, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã xóa bỏ sự thống trị của thực dân, phát xít và phong kiến, xây dựng Nhà nước dân chủ Nhân dân đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Đó không phải là sự chuyển giao từ chế độ “vua trị” sang “đảng trị” mà là sự thay đổi về bản chất từ chế độ cai trị tàn bạo của thực dân, phong kiến sang chế độ Nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Cách mạng Tháng Tám đã giải phóng đồng bào ta khỏi chế độ quân chủ chuyên chế và xiềng xích thực dân”. Đồng thời, đối với công cuộc xây dựng một chế độ xã hội mới, khác hẳn về chất so với chế độ phong kiến, thực dân và đến quốc: “Cách mạng Tháng Tám đã xây dựng cho Nhân dân ta cái nền tảng Dân chủ Cộng hòa và thống nhất độc lập”.
Thứ ba, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không
phải là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam. Sau khi
nhân dân ta giành được chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa
được bao lâu, ngày 23/9/1945, thực dân Pháp quay lại cướp nước ta một lần nữa.
Trước tình thế đất nước đang “ngàn cân treo sợi tóc”, Chính phủ Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện nhiều chính sách để
gìn giữ hòa bình, tránh cuộc chiến tranh đổ máu.
Tuy nhiên, “chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa”. Với tinh thần “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, quân và dân ta đã trường kỳ kháng chiến và giành thắng lợi, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc Pháp phải ký Hiệp định Geneva tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam và các nước trên bán đảo Đông Dương. Song, Pháp đã cấu kết và “bật đèn xanh” cho đế quốc Mỹ nhảy vào xâm lược Việt Nam và Đông Dương, buộc Nhân dân ta phải tiếp tục bước vào cuộc trường chinh chống Mỹ cứu nước kéo dài 21 năm sau đó.
Bằng đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và tinh thần đấu tranh anh dũng kiên cường, bất khuất, bất chấp mọi gian khổ hy sinh, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta giành thắng lợi vẻ vang, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Chính vì vậy, nguyên nhân sâu xa, trực tiếp dẫn đến hai cuộc kháng chiến của Nhân dân ta chính là bản chất hiếu chiến xâm lược của chủ nghĩa thực dân, đế quốc chứ không phải một lý do nào khác và đương nhiên không phải do Thủ đoạn bôi lem thành quả, ý nghĩa lịch sử Cách mạng Tháng Tám
TRÁNH NHẸ DẠ, VÔ TÌNH BỊ LỢI DỤNG
Chuyện chẳng
phải mới nhưng chưa bao giờ cũ. Liên tục trong thời gian qua, ở nhiều nơi diễn
ra tình trạng cán bộ hưu trí, cán bộ nghỉ chế độ, cán bộ bị kỷ luật buộc phải
rời khỏi tổ chức… có những phát ngôn thiếu chuẩn mực, tuyên bố “cạch mặt” tổ
chức, bôi nhọ cơ quan, đơn vị cũ; nêu chính kiến đi ngược lại với quan điểm,
đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước.
Thậm chí, một số
cá nhân còn chủ ý cổ xúy hoặc vô tình bị các lực lượng thù địch lợi dụng, lôi
kéo tham gia vào các hoạt động tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam.
Thực tế đáng lo
ngại đó cần phải sớm được thẳng thắn nhận diện và có giải pháp đấu tranh quyết
liệt, tẩy trừ dứt điểm.
Nguy hại từ
những câu chuyện làm quà
Ông cán bộ nọ,
từng công tác ở cơ quan trọng yếu hẳn hoi, nhưng khi vừa về hưu, trong câu
chuyện trà nước đã lắc đầu tỏ vẻ ngao ngán, chê bai chính tổ chức mà mình từng
gắn bó suốt quãng đời công tác. Ông cho rằng sở dĩ bản thân phải tá túc với
“cái nơi ấy” là vì “cơm, áo, gạo, tiền” chứ nội bộ cơ quan “chẳng đẹp đẽ” gì.
Và rồi ông chê trách cách ứng xử, cách sống của người đứng đầu đương chức; chế
nhạo, nói xấu cả những đồng nghiệp cũ.
Lại có chuyện
một cán bộ vừa bị kỷ luật do vi phạm nhưng không nhận thức rõ khuyết điểm cá
nhân để tự sửa chữa, lại huênh hoang livestream, viết bài đăng lên tài khoản
facebook cá nhân bày tỏ sự không vừa lòng và kêu gọi cộng đồng lên tiếng bảo vệ
mình?! Nhiều người không hiểu nội dung vụ việc nên đã vô tư a dua, lớn tiếng
đặt điều, lên án tập thể, cơ quan chức năng.
Rồi lại thêm
chuyện một số cá nhân do phẩm chất, năng lực chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ
công tác, bị tổ chức thải loại, buộc phải nghỉ chế độ theo yêu cầu tinh giản
biên chế, được hưởng các chế độ đãi ngộ theo đúng quy định… nhưng có vẻ trong
lòng ấm ức nên cố tình “trở cờ” với tổ chức. Các vị này “hồn nhiên” mang những
chuyện nội bộ, cả những việc có yếu tố bí mật (theo quy định của Nhà nước) để
công khai trên diễn đàn xã hội. Tệ hơn, họ coi đó như một phương tiện hòng “câu
like”, “câu view” hoặc “nói cho bõ tức”…
Những câu chuyện
như trên diễn ra khá phổ biến ở nhiều nơi, mà tính chất, mức độ nguy hại của nó
thì thật khó lường. Vì tiếp nhận thông tin một chiều, không có điều kiện thẩm
định thực-hư, không nắm chắc bản chất vấn đề, cũng không nhận rõ yếu tố chủ nghĩa
cá nhân, chủ nghĩa vị kỷ của những người lớn tiếng “kêu oan”, bày tỏ bức xúc…
nên dư luận xã hội, nhất là trên cộng đồng mạng được dịp a dua, theo đóm ăn
tàn, like, share cảm tính, vô hình trung tạo nên làn sóng dư luận tiêu cực
trong cộng đồng. Chính điều đó đã tác động không nhỏ đến đời sống tinh thần xã
hội. Theo chiều tiêu cực, nhiều người dần dần hình thành cách nhìn phiến diện,
thiếu thiện cảm đối với hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ. Nhiều người hiểu
sai bản chất và không nhận rõ tính khoa học, khách quan từ những chủ trương,
giải pháp của Đảng, Nhà nước về công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách đối
với cán bộ, đảng viên; không thấy hết nỗ lực của các cấp, các ngành trong hiện
thực hóa chủ trương tinh giản biên chế, quyết tâm xây dựng hệ thống chính trị
tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; không nhận thức đủ tính ưu việt trong
chính sách trọng dụng hiền tài và quyết tâm thải loại những thành phần yếu kém
về năng lực, phẩm chất ra khỏi tổ chức… Những hành vi lệch lạc đó đã gây ảnh
hưởng nghiêm trọng đến nhận thức, tình cảm, ý chí, niềm tin của quần chúng đối
với tổ chức đảng và bộ máy chính quyền Nhà nước.
Nguy hại hơn là
từ những sự vụ, sự việc nêu trên, các lực lượng thù địch lấy đó làm nguyên cớ
hòng đưa đẩy vấn đề theo hướng tiêu cực, rồi suy diễn, quy chụp về những tồn
tại, hạn chế trong nội bộ Đảng và bộ máy Nhà nước. Từ một vài ví dụ trên mạng
xã hội, chúng rêu rao rằng “nội bộ tổ chức đảng và chính quyền đang mất đoàn
kết, phân chia bè cánh, kèn cựa, đấu đá hạ bệ lẫn nhau nên mới có chuyện thải
loại và đẩy cán bộ tốt vào đường cùng”… Từ đó, chúng đề xuất, tự thúc đẩy trào
lưu đấu tranh, kích động biểu tình, gây rối trên một số địa bàn. Sự việc diễn
ra năm 2018 ở nhiều địa phương, nhất là ở Bình Thuận càng giúp chúng ta thấm,
ngấm được bài học về việc cộng đồng xã hội và người dân bị các thế lực thù địch
“dắt mũi” thông qua những bài viết trên mạng xã hội.
Bắt bệnh và trị
bệnh
Phải khẳng định
ngay, những cá nhân nêu trên đã tự đánh mất mình, rơi vào “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa”. Họ đã mặc nhiên quay lưng với chính hệ tư tưởng, quan điểm, lý
tưởng cống hiến trong suốt quãng đời công tác trước đây của bản thân. Chính họ
đã tự xúc phạm, giẫm đạp lên quá khứ của chính mình!
Vì sao lại thế?
Có muôn nghìn câu trả lời. Cũng thấy rõ muôn vàn lý do, nguyên nhân đưa đến
thực trạng đó. Nào là do những xích mích, mất lòng trong hàng ngũ lúc còn đương
chức; do về hưu phải đối diện với sự cô đơn, cô độc, lại có nhiều thời gian nên
“rảnh rỗi sinh nông nổi”; do thiếu thông tin, không tìm hiểu cặn kẽ sự việc…
nên nhận thức phiến diện, cực đoan; do tác động từ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù,
nhất là khi chúng xác định nhóm công dân này là một trong những đối tượng có
thể tập trung lợi dụng, lôi kéo…
Thế nhưng, dù
căn nguyên ra sao thì vấn đề cốt tử vẫn nằm ở bản lĩnh chính trị và bản chất
của những người từng khoác lên mình màu áo đảng viên và danh dự, tư cách người
cán bộ cách mạng. Thực tế cho thấy, một khi cán bộ thật sự có bản lĩnh, chí
công, vô tư phục vụ tổ chức, cơ quan, đơn vị, sống chân thành, tử tế với đồng
chí, đồng đội lúc đương chức thì khi nghỉ hưu, rời tổ chức, họ vẫn một lòng gắn
bó với sự nghiệp của tập thể. Họ vẫn theo dõi, quan sát từng bước phát triển,
trưởng thành của tổ chức, xem đó là nguồn hạnh phúc của mình. Thậm chí, nhiều
người còn chủ động tham mưu, hiến kế, giúp đỡ thế hệ đi sau hoàn thành nhiệm
vụ. Nhiều cán bộ khi nghỉ hưu hoặc luân chuyển đi nơi khác… vẫn nhận được sự
quan tâm, động viên, kính trọng của đồng nghiệp, anh em nơi cơ quan cũ. Cấp
trên đương chức, nhân viên, đồng nghiệp vẫn thường xuyên lui tới thăm hỏi, trò
chuyện, giữ mối liên hệ mật thiết, sẻ chia vui buồn. Ngược lại, những kẻ đã,
đang và sẽ hống hách, rao giảng, kêu than trên mạng xã hội thì lúc đương chức
tâm địa có lẽ cũng có vấn đề…
Nói như vậy sẽ
không hẳn là đúng với mọi trường hợp, mà câu chuyện này còn chịu sự chi phối đa
chiều bởi các quy luật tâm lý-xã hội. Có nghĩa, bất cứ ai nghỉ hưu, bị thải
loại, rời xa tổ chức cũ… cũng đều ít nhiều rơi vào các biểu hiện, vấn đề của tư
tưởng, tâm lý. Con người ta sẽ không tránh khỏi những nỗi buồn khách quan và sự
hẫng hụt về mặt tinh thần khi phải bắt đầu một nếp sống mới. Nói như vậy để
thấy, việc quan tâm, làm tốt công tác tư tưởng cho đối tượng sắp nghỉ hưu, đối
tượng tinh giản… cần phải được cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp tiến hành
thường xuyên, liên tục. Bởi có một thực tế là, ở một số cơ quan, đơn vị hiện
nay, việc tiến hành công tác tư tưởng cho cán bộ trước và sau khi nghỉ công tác
vẫn bị coi nhẹ, ít có sự động viên, quan tâm thường xuyên.
Thế nhưng, dù
các tác động khách quan có đến mức nào đi chăng nữa thì yếu tố chủ quan vẫn giữ
vai trò quyết định. Nhiều cá nhân trước khi nghỉ hưu vẫn mưu toan giữ ghế, tham
vọng bám trụ lại tổ chức vì quyền lợi riêng nên thật khó chiến thắng được sự
xung đột tâm lý cá nhân. Và nhất là khi mưu cầu tư lợi không đạt được thì sinh
ra bệnh tư tưởng, rồi “giận cá chém thớt”, làm những chuyện trái khoáy… khiến
dư luận phải dị nghị, xem thường!
Nhiều chuyên gia
tâm lý cho rằng: Trong khi toàn Đảng và cả hệ thống chính trị đang quyết liệt
thực hiện chủ trương “có lên, có xuống, có vào, có ra” thì tinh thần này phải
được thấu triệt đến mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương. Từng cấp ủy, tổ chức
phải đẩy mạnh giáo dục để cán bộ lúc đương chức luôn thông suốt về tư tưởng,
nhận thức rõ việc nghỉ hưu, rời tổ chức là việc đương nhiên, tất yếu. Từng cá
nhân phải cố gắng duy trì quan điểm dù đang công tác hay nghỉ công tác thì đều
giữ đúng chức phận của mình; là người đảng viên kiên định, kiên trung của Đảng.
Có được tư duy và cách nghĩ đó thì chắc chắn việc nghỉ hưu, rời tổ chức sẽ tự
nó trở nên thanh thản, nhẹ nhàng…
Còn xét dưới góc
độ tổ chức, đối với những trường hợp vừa rời tập thể đã hòa vào đám đông một
cách tiêu cực thì cần phải được cấp có thẩm quyền nhận diện, đấu tranh phê bình
nghiêm khắc; thậm chí xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để giáo dục
chung. Thực tế nhiều năm qua cho thấy, những trường hợp như đã nêu ở trên diễn
ra khá phổ biến, ở nhiều cơ quan, đơn vị, nhưng việc xử lý vẫn chưa triệt để,
nghiêm khắc. Có chăng chỉ là sự nhắc nhở, động viên, đối thoại, cảnh tỉnh… rồi
“đâu lại vào đấy”. Do vậy, cùng với giáo dục, thuyết phục, các cơ quan chức
năng cần có thái độ quyết liệt xử lý thực trạng này. Khi phát hiện các đối
tượng lợi dụng mạng xã hội để nói xấu Đảng, chế độ, bôi nhọ tổ chức, cơ quan,
đơn vị thì kiên quyết xử lý nghiêm minh đến cùng, đúng người, đúng mức độ vi
phạm, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”…
Làm cán bộ, đảng
viên của Đảng thì cần phải khắc ghi và hiểu sâu sắc lời dạy quý báu của Chủ
tịch Hồ Chí Minh: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ
đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người
yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá
nhân”.








