Chủ Nhật, 3 tháng 12, 2023

Sự cần thiết phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng trong tình hình hiện nay

 


          Hiện nay thủ đoạn mà các thế lực thù địch, phản động sử dụng để tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội ta trên không gian mạng là: Thiết lập các trang web, blog mở các “diễn đàn”, “câu lạc bộ” trên mạng nhằm tán phát các tài liệu phản động và truyên truyền phá hoại tư tưởng chính trị. Đăng tải các bài viết, hình ảnh, video clip có nội dung tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa trên mạng xã hội. Sử dụng không gian mạng để tuyên truyền, kích động, kêu gọi khủng bố gây hoang mang trong dư luận xã hội.

Nội dung chống phá của chúng thường tập trung vào những vấn đề như: Phê phán, đả kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo; truyền bá các giá trị của xã hội tư bản, lối sống thực dụng phương Tây; đưa tin sai lệch về tình hình nội bộ của Việt Nam, bịa đặt sự chia rẽ, mâu thuẫn trong giới lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, bôi nhọ, hạ thấp uy tín của các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước. Các thủ đoạn trên nhằm: Phá hoại tư tưởng chính trị, đời sống văn hóa tinh thần của các tầng lớp nhân dân; Gây nhiễu loạn thông tin, làm phức tạp về chính trị xã hội; Làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp.

Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng chính là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, kiên trì, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm chính. Trong đó, chú trọng một số nội dung cơ bản sau:

Một là, cấp ủy, lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành phải không ngừng nâng cao nhận thức, xác định rõ quá trình tổ chức đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng là quá trình định hướng tiếp nhận thông tin một cách khách quan, có chọn lọc. Trên cơ sở đó, thống nhất cộng đồng trên cả hai bình diện nhận thức và hành động nhằm loại bỏ cái xấu, cái tiêu cực, thúc đẩy phát triển cái tốt đẹp, tạo sự lan tỏa trong toàn xã hội. Việc định hướng thông tin đối với cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân phải được thực hiện thống nhất giữa mục tiêu đặt ra của hệ thống chính trị, của nhà lãnh đạo, quản lý các cấp với nhu cầu cần cung cấp thông tin chính thống của quần chúng nhân dân.

Hai là, trước những sự kiện chính trị, nhất là các vụ việc phức tạp, nhạy cảm tác động đến tư tưởng chính trị của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân, các cơ quan thông tin, truyền thông cần khai thác thông tin từ cơ quan chức năng chịu trách nhiệm cung cấp, để thông tin, bình luận trung thực, khách quan, thu hút độc giả vào tầm ảnh hưởng của mình, góp phần định hướng, tạo sự thống nhất trong nhận thức, thái độ và phương pháp giải quyết vấn đề. Thực tiễn đã chứng minh, trước những vấn đề bức xúc về tư tưởng, dù độ phức tạp của sự việc đến đâu, nếu thực hiện công tác thông tin kịp thời, đúng đắn, làm tốt định hướng thông tin, thì sự việc sẽ được giải quyết một cách ổn thỏa, bức xúc trong xã hội sẽ được giải tỏa, nhất là không còn cơ hội để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng xuyên tạc, bịa đặt chống phá.

Ba là, xây dựng cơ chế, hình thức và nội dung phát ngôn của cơ quan chịu trách nhiệm trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Sự lên tiếng chính thức, kịp thời của cơ quan có trách nhiệm cũng thể hiện rõ vai trò và năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy và chính quyền các cấp, các ngành trước mỗi vấn đề, sự kiện nảy sinh; đồng thời, nếu được thực hiện tốt sẽ là một biện pháp hiệu quả để định hướng dư luận, củng cố niềm tin, tạo sức đề kháng thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội. Công tác thông tin cần nhận diện, phát hiện và dự báo sớm một số vấn đề có thể gây bức xúc về tư tưởng và phải luôn đi trước, đi cùng trong quá trình giải quyết vụ việc. Phải có sự vào cuộc tích cực của các cấp ủy, chính quyền, lãnh đạo ban tuyên giáo các cấp, kịp thời bám sát thực tiễn, bảo đảm tính chính xác, có chiều sâu trí tuệ, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của nhân dân thì mới hạn chế tối đa những tác động của thông tin xấu, độc trên không gian mạng hiện nay.

Bốn là, khắc phục sự yếu kém trong quản lý những nội dung thông tin trên không gian mạng phản ánh phiến diện, suy diễn liên quan đến các vụ việc phức tạp, những bài viết thiếu tính chính xác, sai lệch bản chất về những vấn đề văn hóa, chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống. Tăng cường nâng cao chất lượng công tác kiểm soát, định hướng trong việc đưa thông tin chạy theo thị hiếu tầm thường, giật gân, câu khách của một số báo điện tử.

Thực hiện tốt những vấn đề cơ bản trên, sẽ góp phần hữu hiệu ngăn chặn, bác bỏ các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm của Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa - chế độ tốt đẹp mà Đảng và Nhân dân ta đang xây dựng./.

V3.

 

 

Sự cần thiết giữ vững mối quan hệ máu thịt Đảng - Dân trong nâng cao vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam

 


Giữ vững mối quan hệ máu thịt Đảng - Dân để nâng cao vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là một vấn đề rất lớn, hệ trọng và có ý nghĩa về lý luận cũng như thực tiễn trong điều kiện một đảng cầm quyền ở Việt Nam. Giải quyết được vấn đề này sẽ góp phần vào thành công của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam...

1- Chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã làm một cuộc cách mạng về thế giới quan và nhân sinh quan trong đời sống xã hội khi khẳng định vai trò to lớn của nhân dân với luận điểm “Quần chúng là người sáng tạo ra lịch sử”.

2- Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là nguồn gốc lý luận và phương pháp luận cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc giải quyết một cách đúng đắn mối quan hệ Đảng - Dân.

Từ tư tưởng của Hồ Chí Minh, chúng ta thấu hiểu sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và quá trình phát triển của Đảng với mục đích là phấn đấu hy sinh đến cùng vì độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam. Đảng tồn tại vì quyền làm chủ thực sự của nhân dân và làm thay đổi vị thế của người dân từ thân phận nô lệ lên địa vị làm chủ. Hồ Chí Minh nói “Đảng ta là Đảng cầm quyền” có nghĩa là, Người khẳng định bước ngoặt vĩ đại đánh dấu sự chuyển biến về chất trong vị thế của Đảng và Dân, từ chưa có chính quyền trở thành có chính quyền của Dân, do Dân, vì Dân; đồng thời xác định rõ trách nhiệm của Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân, xây dựng và thực hiện một đường lối chính trị đúng đắn với những bước đi và phương pháp thích hợp để “làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, Dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Hồ Chí Minh nói “Đảng ta là Đảng cầm quyền” là nói Đảng ta lãnh đạo toàn diện xã hội, sử dụng bộ máy chính quyền quy tụ và phát huy sức mạnh của nhân dân, thực hiện thắng lợi đường lối cách mạng do Đảng đề ra vì lợi ích của nhân dân. Điều đó đòi hỏi Đảng ta phải luôn luôn giữ vững bản chất cách mạng và khoa học của mình, phải kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nâng cao vai trò lãnh đạo và vị thế cầm quyền của Đảng, làm tốt công tác xây dựng Đảng mà đội ngũ cán bộ là mấu chốt.

3- Vì Dân và dựa vào Dân để xây dựng Đảng là một trong những tư tưởng lớn, ở tầm chiến lược, định hình trong chủ thuyết xây dựng Đảng cầm quyền của Hồ Chí Minh, làm nên lịch sử vẻ vang của Đảng ta.

Với quan điểm Đảng nhất thiết phải gắn bó máu thịt với nhân dân, Hồ Chí Minh coi đây không chỉ là tiêu chuẩn của một đảng cách mạng chân chính, mà còn là một trong những quy luật tồn tại và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mối quan hệ giữa Đảng và Dân được Hồ Chí Minh xác định là mối quan hệ biện chứng, nó hình thành và phát triển gắn với quá trình cách mạng. Người luôn nhắc nhở chúng ta phải hiểu sâu sắc ý nghĩa, vai trò của nhân dân trong mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Theo Người, để giữ gìn và phát triển bền vững mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, Đảng ta phải luôn nhận thức đầy đủ và giải quyết tốt bốn vấn đề cơ bản: Ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác; Đảng phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ trung thành của nhân dân; Đảng phải gần gũi quần chúng, học hỏi quần chúng, lãnh đạo quần chúng; Đảng phải là người tổ chức và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong Di chúc thiêng liêng của Hồ Chí Minh, Người nói rõ “Đảng ta là một Đảng cầm quyền” mà hạt nhân, cốt yếu và hệ trọng là sự gắn bó giữa Đảng với Dân.

Nhân dân ta có Đảng lãnh đạo, đã làm nên những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử, minh chứng cho sức mạnh của Đảng và sức mạnh của nhân dân. Tổng kết những bài học lớn của cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng, Đảng ta nhận thức sâu sắc rằng “Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” và “Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi”. Cho nên, điều cốt yếu và hệ trọng của lý luận về Đảng lãnh đạo, Đảng cầm quyền là xây dựng và phát triển mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với Dân, bảo đảm cho ý Đảng phản ánh đúng lòng Dân và đường lối của Đảng thuận lòng Dân. Thực tiễn cách mạng Việt Nam, đặc biệt gần 30 năm đổi mới đã đạt được những thành tựu quan trọng về xây dựng mối quan hệ Đảng - Dân là: Đảng lắng nghe Dân, vì Dân, dựa vào Dân và Dân tin Đảng trở thành nhân tố bảo đảm sự đúng đắn và thành công của đường lối cách mạng của Đảng; Đảng gắn bó với Dân và được Dân ủng hộ, đã làm nên những thành tựu rất quan trọng, có ý nghĩa lịch sử; Đảng chăm lo xây dựng mối quan hệ gắn bó máu thịt với Dân là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong việc tạo nên sức mạnh của Đảng; Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị và thực hiện ngày càng có hiệu quả Quy chế Dân chủ ở cơ sở, tạo nên niềm tin của Dân và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

4- Phát huy vai trò của Đảng và vai trò của Dân trong mối quan hệ Đảng - Dân để nâng cao vị thế của Đảng.

Vai trò của Đảng thể hiện rõ ở chỗ, đi đôi với xây dựng đường lối đúng đắn, Đảng ta đặc biệt quan tâm chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ của một đảng cầm quyền, lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Vai trò của Đảng thể hiện ở chỗ, Đảng lãnh đạo phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm “Dân biết, Dân bàn, Dân làm, Dân kiểm tra” theo Chỉ thị số 30-CT/TW, của Bộ Chính trị khóa VIII, ngày 18-02-1998, “Về xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở”; Quyết định số 290-QĐ/TW, ngày 25-02-2010, của Bộ Chính trị, “Về Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị”; Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 03-6-2013, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”. Đảng lãnh đạo nhân dân làm tốt công tác giám sát, phản biện và góp ý xây dựng Đảng, chính quyền theo Quyết định số 217-QĐ/TW và Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12-12-2013, của Bộ Chính trị. Đảng đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo đối với nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và hội quần chúng.

Vai trò của nhân dân thể hiện rõ trong việc góp ý xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng; trong việc tham gia xây dựng Đảng, hiểu rõ Đảng, ủng hộ Đảng, hưởng ứng những lời kêu gọi của Đảng, ra sức cho Đảng rõ tình hình của nhân dân, thật thà góp ý và phê bình Đảng; tham gia phòng, chống tệ nạn quan liêu, tham nhũng và lãng phí; giám sát cán bộ và đại biểu dân cử.

Trong giai đoạn hiện nay, phải thực hiện tốt các giải pháp xây dựng Đảng về tiềm lực tư tưởng, lý luận, trí tuệ và tổ chức cán bộ; mở rộng công khai và dân chủ trong Đảng; phát huy quyền làm chủ của nhân dân và khối đoàn kết liên minh công nhân - nông dân - trí thức; giải quyết kịp thời, hiệu quả những nhu cầu bức xúc chính đáng của nhân dân./.

V3.

 

Sai lầm của luận thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền”

 


Lâu nay, các nước phương Tây thường rêu rao cái gọi là “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “quyền lực nhà nước ở một quốc gia không được đàn áp nhân quyền”. Về thực chất, quan điểm này đã đối lập quyền con người với chủ quyền. Họ lập luận một cách phi lý rằng, vấn đề quyền con người không thuộc công việc nội bộ của một nước. Thậm chí, một số nước phương Tây còn quy chụp rằng “việc Việt Nam nhấn mạnh chủ quyền quốc gia cao hơn tất cả, trên thực tế là lấy danh nghĩa duy trì chủ quyền quốc gia để duy trì quyền lực thống trị của Đảng Cộng sản Việt Nam” (!?). Họ còn rêu rao rằng, tuyệt đối hóa tầm quan trọng của chủ quyền quốc gia là sai lầm (!?) và ngụy biện bằng viện dẫn báo cáo về an ninh con người của một số tổ chức quốc tế, như Báo cáo phát triển con người của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), cũng nhấn mạnh bảo đảm an ninh cá nhân, mà coi nhẹ, không đề cập đến an ninh quốc gia(2).

Có thể nói, quan điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền” là hoàn toàn sai trái. Như chúng ta đã biết, quyền con người không bao giờ tách khỏi điều kiện, trình độ phát triển và chủ quyền của từng quốc gia - dân tộc. Quan điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền” thực chất chỉ là “bình phong” che đậy cho các âm mưu mà các nước phương Tây lợi dụng để can thiệp vào công việc nội bộ, chủ quyền của nước khác. Để nhận diện và bóc trần âm mưu, thủ đoạn này, cần nhận thức đúng đắn mấy vấn đề sau đây:

Thứ nhất, tôn trọng chủ quyền của các quốc gia là một tiêu chuẩn đã được cộng đồng quốc tế công nhận, cũng là cơ sở và tiền đề để thực hiện quyền con người. Nghị quyết 2625 (XXV) của Đại hội đồng Liên hợp quốc, ngày 24-10-1970, đã đưa ra Tuyên bố về những nguyên tắc của Luật Quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, trong đó khẳng định các nguyên tắc, như nguyên tắc chủ quyền quốc gia, nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của các quốc gia, nguyên tắc không can thiệp vào các vấn đề thuộc thẩm quyền của các quốc gia khác...(3). Vì vậy, nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia được áp dụng trong tất cả các lĩnh vực quan hệ quốc tế, bao gồm lĩnh vực quyền con người. Không có chủ quyền quốc gia, cũng như không có luật pháp quốc tế, thì không thể nói đến bảo đảm quyền con người. Quan điểm cho rằng “nhân quyền cao hơn chủ quyền” trực tiếp vi phạm tôn chỉ và nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc.

Thứ hai, việc thực hiện quyền con người cần phải dựa vào chủ quyền, do các nước thông qua pháp luật, biện pháp và cơ chế của nhà nước ở từng quốc gia - dân tộc để thực hiện. Các điều ước quốc tế về quyền con người đã quy định quyền con người về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Để thực hiện tốt các quyền này, cần phải thông qua pháp luật quốc gia cũng như cơ chế bảo đảm của pháp luật quốc gia.

Thứ ba, quyền con người không thể tách rời chủ quyền quốc gia. Quyền con người của cá nhân và chủ quyền quốc gia có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không có chủ quyền thì không thể nói đến quyền con người, mất đi chủ quyền cũng có nghĩa là mất đi sự bảo đảm đối với quyền con người.

Thứ tư, quyền con người mang tính quốc tế, nhưng về bản chất là vấn đề thuộc công việc nội bộ của một quốc gia. Vì vậy, các nước có quyền căn cứ vào tình hình cụ thể của nước mình để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.

Thứ năm, so với chủ quyền quốc gia, quyền con người nằm ở vị trí phụ thuộc. Như chúng ta đã thấy, trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, chủ quyền quốc gia nằm ở vị trí ưu tiên. Bởi vì, quyền con người của cá nhân chịu sự quy định, chi phối và chế ước của pháp luật quốc gia. Đối với các điều ước quốc tế không phù hợp với chế độ chính trị, cũng như không phù hợp với trình độ phát triển về kinh tế - xã hội, chính phủ các nước có quyền từ chối tham gia hoặc bảo lưu nhằm tránh việc đảm nhận nghĩa vụ điều ước có thể gây tổn hại đến chủ quyền quốc gia. Hiện nay, có khoảng hơn 28 điều ước quốc tế về quyền con người, nhưng Mỹ mới chỉ phê chuẩn 4 điều ước. Đặc biệt, nước này vẫn chưa phê chuẩn một số điều ước cốt lõi về quyền con người, trong đó có Công ước lao động cưỡng bức năm 1930. Lý do được Mỹ đưa ra là Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị xung đột với pháp luật của nước này, và bởi “chủ quyền quốc gia của nước Mỹ cao hơn tất cả”. Điều này cho thấy, so với chủ quyền quốc gia, quyền con người chỉ ở vị trí phụ thuộc.

Thứ sáu, các quốc gia bất kể lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo đều có quyền tự chủ trong việc lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của mình, các quốc gia khác không có quyền can thiệp. Hơn nữa, các quốc gia do sự khác nhau về điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và sự khác biệt về điều kiện lịch sử nên phương thức bảo đảm quyền con người có thể khác nhau.

Thứ bảy, việc các nước phương Tây rêu rao rằng “nhân quyền cao hơn chủ quyền” thực chất xuất phát từ nhu cầu can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác cũng như thúc đẩy chính trị cường quyền mà thôi. Trên thực tế, nhân danh “dân chủ nhân quyền”, trong những thập niên qua, Mỹ và một số quốc gia đã sử dụng vũ lực can thiệp vào công việc nội bộ, thay đổi chế độ chính trị ở một số nước. Tuy nhiên, thực tế ở các nước sau khi Mỹ “can dự” cho thấy, cái mang lại cho những quốc gia này không hề là “dân chủ nhân quyền”, mà là sự xung đột và hỗn loạn. Chính vì thế, quan điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền” không hề có giá trị đối với việc thúc đẩy quyền con người, mà trái lại, khiến khả năng xâm hại quyền con người một cách nghiêm trọng hơn.

          V3.

Quá trình hình thành, phát triển chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch

 


Có thể nói, khái niệm “Diễn biến hòa bình” không mới và cũng không lạ đối với mọi người. Người ta biết đến cụm từ này từ thập niên 20 của Thế kỷ XX, khi chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ) sử dụng “Diễn biến hòa bình” để chống phá các nước đối địch, nhất là nước Nga - Nhà nước Xô-viết công nông đầu tiên trên thế giới vừa ra đời từ sau Cách mạng Tháng Mười vĩ đại. Ngược dòng lịch sử, thậm chí nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: “Diễn biến hòa bình” nếu xét ở góc độ mục tiêu, tính chất, nội hàm (bao gồm cả hoạt động phản gián, lật đổ) thì xuất hiện từ thời Xuân Thu (Thế kỷ VI, trước Công nguyên), cách đây khoảng 2.700 năm, do Tôn Tử - nhà tư tưởng quân sự nổi tiếng của Trung Quốc phát kiến và được nêu tại Thiên 13 của cuốn “Binh pháp Tôn Tử”. Tư tưởng chủ đạo của “Thiên”, hay còn gọi “kế sách” này là “Bất chiến tự nhiên thành”, có nghĩa “không đánh mà thắng”. Có lẽ cũng vì thế mà sau này một số người thường gọi “Diễn biến hòa bình” bằng cái tên rất đặc trưng: “Cuộc chiến tranh không khói súng”. Như vậy, có thể khẳng định: “Diễn biến hòa bình” là cuộc chiến tranh - cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng, thể chế chính trị; mà đã là chiến tranh thì dù “có khói súng” (bằng quân sự) hay “không có khói súng” (phi quân sự) cũng đều chung tính chất quyết liệt và chung mục tiêu là tiêu diệt đối phương bằng sức mạnh “Cứng” hay sức mạnh “Mềm”, hoặc kết hợp cả hai nguồn sức mạnh “Cứng” và “Mềm”. Chúng ta thấy, ngay từ đầu “Diễn biến hòa bình” không phải do CNĐQ phát kiến, nhưng hiện đang là “sản phẩm” của họ và họ có nó trên cơ sở tiếp thu tư tưởng quân sự cổ đại của nhân loại, vận dụng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng thời điểm, từng giai đoạn, nhằm giành thắng lợi quyết định trong “cuộc chiến” sống còn với các quốc gia khác hệ tư tưởng, đối địch.

Không phủ nhận CNĐQ đã đạt được những thành công nhất định trong việc sử dụng và phát triển chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Trong giai đoạn đầu, từ khoảng thập niên 20 đến thập niên 50 của thế kỷ trước “Diễn biến hòa bình” được CNĐQ xác định là một giải pháp quan trọng, giải pháp kết hợp; trong khi giải pháp quân sự, sử dụng sức mạnh quân sự đóng vai trò quyết định trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của họ. Đến giai đoạn kế tiếp, từ khoảng thập niên 50 (CNXH đã phát triển thành hệ thống, gồm 13 nước) đến thập niên 90, cũng như hiện nay, khi điều kiện sử dụng giải pháp quân sự bị thu hẹp và khó thực hiện, trong khi tiến công CNXH là mục tiêu ưu tiên hàng đầu, thì “Diễn biến hòa bình” được CNĐQ đặc biệt coi trọng và nâng tầm thành chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Với việc sử dụng chiến lược nguy hiểm này, CNĐQ đã gây một loạt sự kiện với cái gọi là “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”,… mà thực chất là các hoạt động bạo loạn, lật đổ chính quyền ở một số nước, như: Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung ga ri,… vào những năm 60, 70 của thế kỷ trước. Đặc biệt, cuối thập niên 80, đầu 90, CNĐQ đã sử dụng chiến lược “Diễn biến hòa bình” để chống phá quyết liệt CNXH. Sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu có nhiều nguyên nhân, nhưng rõ ràng trong đó có bàn tay chống phá của CNĐQ. Đáng chú ý là, trong quá trình tiến hành “Diễn biến hòa bình”, họ thúc đẩy mạnh mẽ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nhất là “phi chính trị hóa” quân đội, làm cho Quân đội Liên Xô hùng mạnh, với bề dày hơn 70 năm xây dựng bị vô hiệu hóa hoàn toàn. Biểu hiện cụ thể là, Quân đội xa rời sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, mất phương hướng chính trị, không xác định được mục tiêu chiến đấu, mục tiêu bảo vệ và cuối cùng Đảng Cộng sản không còn chỗ dựa, không được bảo vệ, mất vai trò lãnh đạo, dẫn tới sụp đổ chế độ XHCN.

Huyênh hoang, tự đắc với chiến quả giành được và nhằm khuyếch trương chiến lược “Diễn biến hòa bình”, những quan chức Nhà Trắng và các triết gia của CNĐQ đã cao giọng dự báo về sự kết thúc của CNXH. Tiêu biểu là Francis Fukuyama - một người Mỹ gốc Nhật Bản - với bài viết “Sự cáo chung của Lịch sử” được công bố lần đầu trên Tạp chí “Lợi ích Quốc gia” Mỹ, số mùa hè 1989, sau này được hoàn chỉnh thành cuốn sách “Sự cáo chung của Lịch sử và con người cuối cùng” xuất bản năm 1992, phát hành rộng rãi ở 14 nước, với nhiều thứ tiếng khác nhau. Ý đồ chính trị của cuốn sách được thể hiện rõ: phủ nhận phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác; phủ nhận giá trị tiến bộ và khoa học của ý thức hệ giai cấp vô sản; tuyên truyền các giá trị của CNTB; luận chứng cho việc thiết lập trật tự thế giới đơn cực do Mỹ lãnh đạo. Tương tự như vậy là cuốn “Sự đụng độ giữa các nền văn minh” của S. Huntington; trong đó, ông ta biện giải và cho rằng nền văn minh phương Tây là “vô giá”, là “độc nhất vô nhị”. Điển hình trong số đó phải kể đến Tổng thống Mỹ R. Ních Sơn với cuốn sách “Chớp thời cơ” và cuốn “Năm 1999 - Chiến thắng không cần chiến tranh” nêu dự báo đến cuối Thế kỷ XX các nước XHCN còn lại sẽ “tự sụp đổ”. Đến nay đã giữa thập niên thứ 2 của Thế kỷ XXI, nhưng thực tế thì sao? Mọi người đã rõ và đều thấy rằng đó chỉ là sự võ đoán, hoàn toàn không có cơ sở, hay nói cách khác là sự ảo tưởng phi lý, phi thực tiễn.

Nhưng không vì thế mà chúng ta mất cảnh giác và xem nhẹ “Diễn biến hòa bình”, đặc biệt là thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Bởi lẽ, chống phá các nước XHCN, tiến tới xóa bỏ CNXH, trong đó có nước ta, luôn là mục tiêu nhất quán, xuyên suốt của CNĐQ. Chừng nào CNĐQ còn tồn tại thì chừng đó họ còn giữ và theo đuổi mục tiêu đó. Tuy nhiên, tham vọng là một việc, còn đạt được hay không lại là việc khác. Hơn nữa, quyền quyết định trong vấn đề này là ở chúng ta chứ không phải họ, nên cho dù âm mưu của họ có thâm hiểm đến đâu, thủ đoạn có tinh vi, xảo quyệt đến nhường nào thì cuối cùng cũng không tránh khỏi thất bại.

Đối với nước ta, ngay sau khi kết thúc “Chiến tranh Việt Nam” - theo cách gọi của người Mỹ, và cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược - theo cách gọi của nhân dân Việt Nam, họ đã nhanh chóng tiến hành một cuộc chiến tranh mới “không khói súng” - “Diễn biến hòa bình”. Ngoại trưởng Mỹ Kitxinhgơ khi đó đã ngạo mạn tuyên bố: “Chúng ta thất bại trong chiến tranh, nhưng sẽ giành chiến thắng trong hòa bình”. Để hiện thực hóa tham vọng, họ đã liên tục tiến hành các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh,… bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”; trong đó, thúc đẩy mạnh mẽ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội. Đáng chú ý là những năm gần đây, lợi dụng việc nước ta mở cửa, hội nhập quốc tế, thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,… họ đã sử dụng những hình thức, thủ đoạn mới hết sức tinh vi, thâm độc, nguy hiểm, hòng gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ, tạo khủng hoảng niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN. Đặc biệt, nhằm thúc đẩy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, nhất là Quân đội nhân dân và Công an nhân dân - công cụ bạo lực bảo vệ chế độ XHCN ở nước ta - họ đã phối hợp hoạt động các lực lượng phản động trong và ngoài nước để chống phá toàn diện, kể cả từ hệ thống pháp luật Nhà nước. Điển hình là, lợi dụng việc Đảng, Nhà nước và Quốc hội tổ chức lấy ý kiến nhân dân tham gia sửa đổi Hiến pháp cũng như hiện nay đang tổ chức thực thi Hiến pháp mới, các thế lực thù địch, phản động đã ra sức chống phá dưới dạng tham gia “góp ý”, “kiến nghị”,… trong đó trắng trợn đòi bỏ Điều 4 của Chương I, đòi bỏ hiến định “Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”; rằng, cần phải sửa Chương IV - “Bảo vệ Tổ quốc” với biện giải lố bịch: “Lực lượng vũ trang chỉ trung thành với Tổ quốc và nhân dân, theo đó chỉ có chức năng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, chứ không có chức năng bảo vệ Đảng, Nhà nước hay bất cứ tổ chức chính trị nào”; rằng, “Quân đội không chịu sự lãnh đạo của Đảng”. Rõ ràng đây là những luận điểm hết sức phản động, hoàn toàn trái với cơ sở lý luận, thực tiễn. Thế nhưng đáng quan ngại là, không phải ai cũng thấy, trong đó có một số ít người do thiếu thông tin và nhận thức hạn chế đã ngộ nhận, cả tin, thậm chí bị “thuyết phục” bởi những luận điệu tuyên truyền độc hại đó. Cũng không nằm ngoài mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội, họ còn sử dụng thủ đoạn “vàng thau lẫn lộn”, đánh đồng sự hy sinh của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam với binh sĩ quân đội Ngụy quyền Sài Gòn, bằng cách ngụy biện: “họ đều hy sinh vì Tổ quốc, bảo vệ Tổ quốc”, từ đó đòi Nhà nước ta ghi công và cho hưởng chế độ liệt sĩ. Thật nực cười, phi lý! Điều đó cho thấy, các thế lực thù địch không từ bất cứ một thủ đoạn nào hòng đạt cho được mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội. Và, khi không thực hiện được, họ dở chiêu bài bôi nhọ hình ảnh, hạ thấp uy tín của Quân đội. Cho nên chủ động đấu tranh làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”, nhất là thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, đồng thời gắn liền với đó, xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị là vấn đề đặc biệt quan trọng, cấp thiết hiện nay.

Thực chất đây là mối quan hệ giữa “bảo vệ và xây dựng”; trong đó, mỗi nội dung có nội hàm riêng, nhưng giữa chúng có mối quan hệ biện chứng, không tách rời nhau. Khi giải quyết vấn đề này, cần gắn chặt hai nội dung, không được xem nhẹ bất cứ nội dung nào. Sẽ là không đúng, nếu chúng ta chỉ chú trọng một chiều đến yếu tố “bảo vệ”, tức là đấu tranh chống “phi chính trị hóa” quân đội, mà xem nhẹ yếu tố “xây dựng”, mà ở đây là xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị; tương tự như vậy, nếu chỉ xem trọng yếu tố “xây dựng”, mà không quan tâm đúng mức đến yếu tố “bảo vệ” cũng là sai. Phương pháp nghiên cứu, xem xét và giải quyết đúng đắn vấn đề này là, phải trên cơ sở tư duy biện chứng, khoa học; coi trọng giải quyết đồng bộ cả hai nội dung: đấu tranh làm thất bại mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch và đẩy mạnh xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị.

V3.

 

QĐND Việt Nam tuyệt đối trung thành và giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng

 


QĐND Việt Nam ra đời ngày 22-12-1944 từ những tổ chức vũ trang tiền thân trong phong trào đấu tranh cách mạng giành độc lập, tự do của dân tộc, do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp sáng lập, tổ chức, lãnh đạo. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã khẳng định tính tất yếu, đặc thù ra đời và vai trò to lớn của QĐND Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Bởi vậy, về bản chất, QĐND Việt Nam là Quân đội kiểu mới, công cụ bạo lực vũ trang của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc.

Là công cụ bạo lực vũ trang chủ yếu của nhà nước xã hội chủ nghĩa, QĐND Việt Nam cùng với các giai cấp, thành phần của toàn dân tộc tiến hành đấu tranh chống lại các thế lực xâm lược để giành độc lập dân tộc và thực hiện thống nhất nước nhà. Sau khi đất nước độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, QĐND Việt Nam là lực lượng nòng cốt của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Thực tế lịch sử đấu tranh cách mạng cho thấy, từ khi ra đời đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội ta luôn hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao phó. Bản chất giai cấp công nhân và truyền thống vinh quang của Quân đội ta đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Nhưng thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của hơn 35 năm đổi mới toàn diện đất nước, có sự đóng góp rất quan trọng của QĐND Việt Nam.

Là Quân đội kiểu mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, vì vậy, QĐND Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân sâu sắc. Bản chất đó được biểu hiện sâu sắc ở mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; hệ tư tưởng và nguyên tắc tổ chức xây dựng Quân đội. Đảng Cộng sản Việt Nam và nhà nước xã hội chủ nghĩa quyết định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; quyết định các nguyên tắc tổ chức và cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Hệ tư tưởng trong QĐND Việt Nam là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.  

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã hiến định chương IV về bảo vệ Tổ quốc, bao gồm các Điều 64 đến Điều 68 đã thể hiện đầy đủ, sâu sắc quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về bảo vệ Tổ quốc. Bản chất chính trị của lực lượng vũ trang nhân dân nói chung và QĐND Việt Nam nói riêng, thể hiện ở những nội dung cụ thể sau.

Thứ nhất, vai trò của QĐND Việt Nam đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Điều 64 quy định: Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân và an ninh nhân dân mà nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới. Cơ quan, tổ chức, công dân phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh. Như vậy, Hiến pháp đã xác định rõ QĐND Việt Nam cùng với các lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, chức năng, nhiệm vụ của QĐND Việt Nam. Điều 65 quy định: Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, nhân dân, với Đảng và Nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế.

Thứ ba, phương hướng xây dựng QĐND Việt Nam. Điều 66, 67, 68 quy định: Nhà nước xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có lực lượng thường trực hợp lý, lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh và rộng khắp, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng.

Thứ tư, quy định trách nhiệm của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng QĐND Việt Nam. Nhà nước phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân, giáo dục quốc phòng và an ninh cho toàn dân; xây dựng công nghiệp quốc phòng, an ninh; bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang, kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh; thực hiện chính sách hậu phương Quân đội; bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ, công nhân, viên chức phù hợp với tính chất hoạt động của QĐND; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ Tổ quốc.

Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới và bảo đảm sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; kiên định, giữ vững nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam là người tổ chức và lãnh đạo, Nhà nước quản lý QĐND Việt Nam-là nhân tố quyết định sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội và là nhân tố bảo đảm chính trị của Quân đội ta.

Các thế lực thù địch, phản động từ trước đến nay cũng hiểu rất rõ điều đó. Do vậy, chúng luôn tìm mọi cách công kích, phá hoại, nhằm tiến tới loại bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, trong đó có quan điểm “dân sự hóa” Quân đội, tạo nguyên cớ cho các thế lực có thâm thù với cách mạng tiến hành “cuộc chiến không đánh mà thắng”, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Vì vậy, việc nhận diện kịp thời và phê phán sự phi lý, phản động của quan điểm “dân sự hóa” Quân đội là việc làm cấp thiết trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Việc phát huy sức mạnh tổng hợp các tổ chức, các lực lượng trong phòng, chống luận điệu “dân sự hóa” Quân đội, góp phần tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, suy cho cùng cũng là bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với QĐND Việt Nam. V3.

Những âm mưu, chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch

 


Về cơ bản, các đối tượng phản động và các thế lực thù địch thường sử dụng một số cách thức, chiêu trò để chống phá Đảng và Nhà nước ta như:

Thứ nhất, lợi dụng triệt để sự phát triển của in-tơ-nét, mạng xã hội nhằm tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin xấu độc, bịa đặt, thật giả lẫn lộn hòng gây nhiễu loạn thông tin, gieo rắc tư tưởng hoài nghi làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đơn cử như thời gian qua, lợi dụng tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến hết sức phức tạp, khi cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, các ban, ngành đoàn thể và nhân dân cả nước ta chung sức đồng lòng phòng, chống dịch thì các đối tượng đã tung rất nhiều thông tin với mục tiêu gây hoang mang, hoảng loạn trong dư luận. Ví dụ như lợi dụng sự khó khăn nhất thời tại các khu cách ly, các đối tượng đã kích động sự bức xúc trong dư luận, thổi phồng việc chính quyền chậm trễ, yếu kém trong điều hành, phủ nhận sự nỗ lực của cả xã hội trong khống chế dịch bệnh. Điều này đã phần nào làm suy giảm sự chung tay đồng lòng của người dân về các biện pháp phòng, chống dịch bệnh mà chính quyền đang thực hiện.

Thứ hai, các thế lực thù địch, phản động đã và đang cố tình rêu rao nhằm xuyên tạc chủ nghĩa xã hội, chế độ xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, cố gắng công kích, bôi bác chủ nghĩa xã hội, ngợi ca một chiều chủ nghĩa tư bản, phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xuyên tạc về những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của đất nước ta sau 35 năm đổi mới.

Giọng điệu của các đối tượng phản động không ngừng đòi Đảng ta, Nhân dân ta từ bỏ mục tiêu con đường đã chọn và đi theo con đường khác. Các đối tượng cũng thường xuyên rêu rao rằng kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là lạc nhịp, là lỗi thời.

Thứ ba, các đối tượng phản động, thế lực thù địch vẫn duy trì âm mưu “diễn biến hòa bình” mà chúng đã thực hiện hàng chục thập niên nay. Đó là đẩy mạnh phá hoại từ bên trong, tạo mâu thuẫn chia rẽ nội bộ, đặc biệt là phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sự gắn bó của Nhân dân với Đảng. Và khi có thời cơ, chúng sẽ kích động người dân biểu tình, bạo loạn, gây bất ổn chính trị, tạo ra những cuộc cách mạng đường phố hay còn gọi là "cách mạng màu" để lật đổ chính quyền.

Thứ tư, đưa ra các “kiến nghị” nhằm hướng lái dư luận theo ý đồ xấu của chúng; triệt để lợi dụng tâm lý hiếu kỳ của một số người dân, tung ra những thông tin lập lờ giữa đúng và sai để gây hoài nghi cho nhân dân; cổ xúy cho cái gọi là “nhận thức đa chiều” hay “nhìn nhận đa chiều” để bới móc, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Các chiêu trò chống phá nêu trên đều hướng tới mục đích cuối cùng là hòng tạo nên bức tranh bi quan về tình hình Việt Nam, gây mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa, dọn đường dư luận để tiếp tục đưa ra những luận điệu phủ nhận vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam.

V3. 

 

Những “mảnh ghép” tốt đẹp đang định hình xã hội tương lai

 


Điều khá thú vị là, một số “mảnh ghép” của xã hội tương lai-chủ nghĩa cộng sản, cũng đang dần xuất hiện trên nhiều lĩnh vực của đời sống hiện nay. Chế độ tự quản của các cộng đồng dân cư, cái mà C.Mác cho rằng sẽ thay thế cho nhà nước trong xã hội cộng sản, hiện nay cũng đã xuất hiện ở nhiều nước trong một số lĩnh vực quản trị xã hội. Giáo sư Klaus Schwab, Chủ tịch Diễn đàn Kinh thế thế giới và cũng là tác giả của khái niệm “cách mạng công nghiệp 4.0” nhận định rằng: Hiện nay chúng ta đã có chủ nghĩa cộng sản về thông tin! Hàm ý của ông phản ánh một thực tế là hiện nay, nếu bạn có phương tiện nối mạng, nếu bạn có nhu cầu tìm hiểu, chỉ cần tra một từ khóa vào công cụ tìm kiếm, sẽ có ngay hàng triệu thông tin và gần như hoàn toàn miễn phí! Ngay ở Việt Nam, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, rất nhiều hành động thiện nguyện tự giác cũng phản ánh lối tư duy và hành động của con người trong xã hội tương lai: “Bánh mì miễn phí”, “nước uống miễn phí”, “dịch vụ sửa xe miễn phí”...

Chúng ta có thể coi những ví dụ trên là những “mảnh ghép” của hiện thực đang định hình cho xã hội tương lai-xã hội cộng sản chủ nghĩa.           

Như vậy, với một cách nhìn khoa học, chúng ta có thể khẳng định CNXH vẫn đang là một thực tế với nhiều cấp độ trên thế giới hiện nay. Thực tế đó đang biểu hiện rất sinh động, có sức hấp dẫn mạnh mẽ với nhân loại. Thế giới đang đi lên CNXH với nhiều con đường, cách thức khác nhau. Như lời C.Mác và Ph.Ăng-ghen: “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay. Những điều kiện của phong trào ấy là do những tiền đề hiện đang tồn tại đẻ ra”. 

V3.  

Nhận thức sai lầm khi tuyệt đối hóa quyền con người của cá nhân, đặt quyền con người của cá nhân lên trên quyền con người của tập thể

 


Lấy “chủ nghĩa cá nhân” làm ý thức hệ cơ bản, giai cấp tư sản cho rằng, quyền con người là quyền tự nhiên, tuyệt đối, vốn có của cá nhân; quyền của cá nhân là cái tự nhiên, bất khả nhượng. Họ chủ trương đặt lên hàng đầu việc bảo vệ quyền con người của cá nhân khi cho rằng “trong xã hội tự do của toàn thế giới, tất cả nhân dân đều có quyền thể hiện quan điểm chính trị cá nhân”. Cả lý luận và thực tiễn đều bác bỏ việc tuyệt đối hóa quyền con người của cá nhân, chỉ ra việc đặt quyền cá nhân lên trên quyền của tập thể, của cộng đồng, của quốc gia - dân tộc là sai lầm, bởi vì:

Thứ nhất, nhấn mạnh quyền con người của cá nhân theo quan điểm của giai cấp tư sản là quyền con người của số ít người. Quyền con người “lấy cá nhân làm trung tâm” là sản phẩm của chế độ sở hữu tư bản tư nhân về tư liệu sản xuất, liên quan mật thiết với chế độ kinh tế, chính trị của chủ nghĩa tư bản. Nó nhấn mạnh giá trị cá nhân, quyền cá nhân và đặt lên hàng đầu lợi ích cá nhân. Quyền con người của giai cấp tư sản chính là đặc quyền của thiểu số. Trên thực tế, ở trong nước, quyền con người của giai cấp tư sản chính là sự tước đoạt đối với quyền con người của đại đa số; còn trong quan hệ quốc tế, đó là sự can thiệp một cách vô căn cứ vào chủ quyền, công việc nội bộ của nước khác.

Thứ hai, bảo vệ quyền con người của đại đa số người là ưu tiên số một của quyền con người trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Quyền con người ở Việt Nam bao gồm các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Bảo đảm để nhân dân Việt Nam thụ hưởng rộng rãi, đầy đủ và toàn diện các quyền này là mục tiêu cơ bản về vấn đề quyền con người ở Việt Nam. Ở Việt Nam, chủ thể thụ hưởng quyền con người không phải là thiểu số, cũng không phải là một bộ phận người thuộc giai cấp hay tầng lớp nào đó, mà là toàn thể nhân dân Việt Nam. Điều này thể hiện tính công bằng của quyền con người ở Việt Nam, cũng là điểm cơ bản thể hiện sự khác biệt quyền con người ở Việt Nam với quyền con người ở các nền dân chủ đa nguyên phương Tây.

 

Thứ ba, chúng ta nhấn mạnh phát triển quyền con người của tập thể, quyền cá nhân không được “đứng lên trên” quyền và lợi ích của tập thể, của cộng đồng xã hội. Quyền cá nhân và quyền tập thể có mối quan hệ với nhau, không thể tách rời, không có quyền con người của cá nhân thì không có quyền con người của tập thể, quyền tập thể hay quyền con người của tập thể lại là cơ sở của tất cả quyền con người của cá nhân, là điều kiện tiên quyết để cá nhân thụ hưởng tất cả các quyền và tự do. Đúng như quan niệm cho rằng “nước mất thì nhà tan”. Chúng ta vừa cần phải bảo vệ, tôn trọng quyền và tự do cá nhân, vừa phải tôn trọng quyền của người khác, cũng như tôn trọng, bảo vệ lợi ích của quốc gia, xã hội và tập thể. Không thể lấy danh nghĩa bảo vệ quyền con người của thiểu số mà xâm hại đến quyền con người của đại đa số người, thậm chí gây tổn hại đến lợi ích quốc gia; nhấn mạnh quyền con người của tập thể chính là để bảo vệ nhiều hơn quyền con người của cá nhân.

Thứ tư, nhấn mạnh sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ là một nguyên tắc cơ bản của quyền con người ở Việt Nam. Quyền và nghĩa vụ không thể tách rời. Điều 15, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 chỉ rõ: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân. Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác. Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội. Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”(5). Bất kỳ quyền và tự do nào cũng là tương đối, trên thế giới không có quyền và tự do tuyệt đối mà không chịu sự hạn chế hay chỉ có quyền mà không có nghĩa vụ.

Thứ năm, việc Nhà nước Việt Nam truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với một số đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật không phải là “vi phạm nhân quyền” như một số nước phương Tây quy chụp. Đây là sự thực thi quyền năng của Nhà nước nhằm ngăn chặn các hành vi vi

          V3.

Nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, hòng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng

 


Các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với âm mưu hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, bằng các thủ đoạn, như: (i) Xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; (ii) Tập trung công kích, xuyên tạc quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; (iii) Bóp méo, hạ thấp, phủ nhận thành quả đổi mới của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng...

Về kinh tế, chúng xuyên tạc, chống phá đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta. Các thế lực thù địch âm mưu làm cho nền kinh tế nước ta phát triển chệch định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng bóp méo các nguyên lý kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đối lập định hướng xã hội chủ nghĩa với phát triển kinh tế thị trường…, tạo ra nền tảng vật chất, xã hội hình thành nền “chính trị dân chủ” và “xã hôi dân sự” kiểu tư bản chủ nghĩa.

Về văn hóa, chúng lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng Việt Nam; gieo rắc tư tưởng sùng bái lối sống, văn hóa phương Tây; o bế các cây viết, khuynh hướng, xu hướng văn hóa - văn nghệ cực đoan, phản động; phát tán những tác phẩm cổ vũ sự chống đối, xúc phạm những giá trị văn hóa truyền thống, đòi “giải thiêng thần tượng”, “hạ bệ thần tượng”. Các thế lực thù địch lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền để lôi kéo, dụ dỗ một bộ phận quần chúng thực hiện các hành vi chống đối chính quyền; tìm cách khoét sâu vào những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để bóp méo, xuyên tạc, tạo ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng của đảng viên và nhân dân ta.

Về ngoại giao, tìm cách cản trở Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế, mặt khác, lôi kéo, mua chuộc các đối tác từ bên ngoài để gây sức ép, tác động vào bên trong đất nước; quốc tế hóa những vấn đề nội bộ của Việt Nam; xuyên tạc đường lối đối ngoại, độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển đa dạng hóa, đa phương hóa của Việt Nam…

          V3.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chống "giặc nội xâm" với công cuộc đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay

        Hồ Chí Minh là một tấm gương tiêu biểu trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh còn là một vị tổng tư lệnh trên mặt trận chống "giặc nội xâm" cả về tư tưởng, lí luận và trong thực tiễn cách mạng.

Thấm nhuần tư tưởng của Người về đấu tranh chống giặc nội xâm, Đảng ta chỉ rõ, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu.

Nếu giặc ngoại xâm là kẻ thù từ nước ngoài đến đánh chiếm, xâm lược nước ta, đặt ách thống trị, áp bức, bóc lột Nhân dân ta… dưới nhiều hình thức, và là loại kẻ thù rõ ràng, dễ xác định trận tuyến để đấu tranh, diệt trừ, thì trái lại, "giặc nội xâm" là kẻ thù từ bên trong nội bộ, ở trong từng người, từng tổ chức, đơn vị, cho đến trong một quốc gia, dân tộc.

Đây là thứ giặc nguy hại, khó nhìn thấy, khó đấu tranh, khó xác định. Đó là những thói hư tật xấu, tệ nạn xã hội, sự thoái hóa, biến chất trong một bộ phận đội ngũ cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Đó là các biểu hiện như: tham ô, lãng phí, quan liêu, các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân…, và những quan điểm, hành vi tiêu cực, sai trái.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đã gọi là "giặc" thì bất luận dù ở bên ngoài, hay bên trong ta phải ra sức đấu tranh, tiêu diệt. Người cách mạng, đảng cách mạng, nhân dân cách mạng phải thắng các loại giặc đó. Bởi vậy, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân phải ra sức chống giặc ngoại xâm và "giặc nội xâm".

Năm 1952, nhân dịp phát động phong trào thi đua giết giặc, thi đua tăng gia sản xuất, tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu, Hồ Chí Minh lần đầu tiên đề cập đến khái niệm "giặc nội xâm". Người nói: "Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ "giặc ở trong lòng". Nếu chiến sĩ và Nhân dân ra sức chống giặc ngoại xâm mà quên chống giặc nội xâm, như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình".

Khi phân tích về mối quan hệ giữa giặc nội xâm và ngoại xâm, Hồ Chí Minh đã đồng thời chỉ ra mối nguy hại của thứ "giặc ở trong lòng" như sau: "Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu, dù cố ý hay không, cũng là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến. Vì nó làm chậm trễ công cuộc kháng chiến và kiến quốc của ta. Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta cần, kiệm, liêm, chính.

Để kháng chiến thắng lợi, để xây dựng nước nhà, chiến sĩ thì hi sinh xương máu, đồng bào thì hi sinh mồ hôi nước mắt để đóng góp. Mà những kẻ tham ô, lãng phí và quan liêu thì phá hoại tinh thần, phí phạm sức lực, tiêu hao của cải của Chính phủ và Nhân dân. Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám".

Với sự sáng suốt, Người thấy rõ chẳng những có những kẻ thù ở bên ngoài, mà còn có kẻ thù ở bên trong. Hơn thế nữa, cả hai loại giặc đó thường cấu kết với nhau, là đồng minh của nhau để phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhân dân ta. Do đó, bên cạnh nhiệm vụ chống giặc ngoại xâm cần phải tăng cường, chú ý hơn nữa nhiệm vụ chống giặc nội xâm.

Tư tưởng chống giặc ngoại xâm kết hợp với chống giặc nội xâm, chống giặc nội xâm để ổn định và phát triển nội lực, tạo tiền đề để đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm đến thắng lợi hoàn toàn, là tư tưởng sáng tạo của Hồ Chí Minh trên cơ sở vận dụng quan điểm duy vật mácxít vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và Hồ Chí Minh, chúng ta đã tiến hành nhiều đợt học tập, chỉnh quân, chỉnh Đảng, chỉnh huấn cho cán bộ và bộ đội để nâng cao trình độ chính trị - tư tưởng và sự giác ngộ của mỗi người, đồng thời tiến hành tự phê bình, tự đấu tranh với những sai lầm khuyết điểm trong nội bộ các ngành, các cấp thuộc quân, dân, chính, đảng.

Để chống giặc nội xâm có kết quả, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì trước hết phải chú ý rèn luyện đội ngũ cán bộ, vì "có cán bộ tốt việc gì cũng xong". Phải tăng cường phê bình và tự phê bình. Phải quản lí, kiểm tra, đôn đốc từ nhiều phía đối với cán bộ, từ cấp trên, từ đồng cấp, cho đến từ cấp dưới và đặc biệt là từ quần chúng nhân dân.

Nếu như trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm, Hồ Chí Minh chỉ rõ, "Chúng ta phải luôn luôn nâng cao cảnh giác và tinh thần yêu nước của Nhân dân, dựa vào lực lượng của Nhân dân" thì trong chống giặc nội xâm cũng phải dựa vào dân mới có thể dành được thắng lợi: "phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu ắt phải dựa vào lực lượng quần chúng thì mới thành công".

Theo Hồ Chí Minh, tiến hành công cuộc chống "giặc nội xâm" còn lâu dài và khó khăn, phức tạp hơn cả sự nghiệp chống giặc ngoại xâm. Người khẳng định rằng: "Việc tranh đấu với kẻ địch ở tiền tuyến bằng súng, bằng gươm còn dễ, nhưng việc tranh đấu với kẻ địch trong người, trong nội bộ, trong tinh thần, là một khó khăn, đau xót".

Vì vậy, để chiến thắng "giặc nội xâm", xây dựng chế độ xã hội mới và xây dựng những con người xã hội chủ nghĩa - sự nghiệp đó càng đòi hỏi rất nhiều ý chí và nghị lực, quyết tâm và sáng tạo, trí tuệ và công sức của nhiều thế hệ người Việt Nam; phải có sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta.

Thực tiễn sự nghiệp chống giặc ngoại xâm giành độc lập tự do và thống nhất đất nước, Hồ Chí Minh đã tập hợp, huy động được mọi lực lượng, đã đề ra được đường lối chiến lược và sách lược vô cùng sáng tạo, đã lãnh đạo và chỉ đạo toàn Đảng, toàn dân ta phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp để dành chiến thắng vẻ vang, thì trong sự nghiệp chống "giặc nội xâm", Người đã chú trọng suốt đời tới việc chăm lo và xây dựng Đảng, Chính phủ, quân đội và Nhân dân ta về mọi mặt để theo kịp với xu thế phát triển của thời đại. Hồ Chí Minh đã nêu ra một chương trình rất có hệ thống trong công cuộc chống giặc nội xâm: Từ việc chống các tệ nạn điển hình, đến việc xây dựng người tốt việc tốt; từ việc chống nạn thất học, chống giặc dốt, đến việc khuyến khích học tập, nâng cao dân trí; từ việc xây dựng đảng đến chính quyền và các đoàn thể quần chúng; từ việc chăm lo đời sống vật chất đến đời sống văn hóa, tinh thần của Nhân dân; từ việc tăng cường giáo dục cho đến việc kiểm tra, thi hành pháp luật; từ việc xây dựng đội ngũ cán bộ cốt cán, cho đến việc hướng dẫn, chỉ đạo các phong trào của Nhân dân; từ việc kháng chiến cho đến việc kiến quốc…Trước lúc đi xa, Người đã để lại bản Di chúc lịch sử, chứa đựng một cách tập trung nhất quan điểm, tư tưởng của Người về sự nghiệp chống giặc ngoại xâm gắn liền với công cuộc chống giặc nội xâm, về vấn đề chăm lo phát triển nguồn lực con người…

Trong giai đoạn hiện nay, thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về chống "giặc nội xâm" càng trở nên quan trọng và cần thiết. Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, Đảng ta đã vạch rõ những thời cơ mới và cả những nguy cơ mới đối với sự phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay. Nhìn lại gần 40 năm đổi mới đất nước, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: "Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Nguy cơ tụt hậu, rơi vào bẫy thu nhập trung bình còn lớn. Có biểu hiện chưa quan tâm đúng mức bảo đảm phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển văn hóa, bảo đảm phúc lợi xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong phát triển kinh tế thị trường; … Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp", đây đều là những nguy cơ sát thực, không thể chủ quan coi thường nguy cơ nào. Những nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra đó có thể quy thành hai loại kẻ thù bên trong và bên ngoài. Điều này có nghĩa là chúng ta vẫn cần và càng cần phải quán triệt tư tưởng của Hồ Chí Minh về chống giặc ngoại xâm và chống "giặc nội xâm".

Tệ nạn tham nhũng và nhiều tệ nạn xã hội khác hiện nay đã trở thành "quốc nạn", là mối lo lắng rất bức xúc của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta. Rõ ràng thứ "giặc nội xâm" đó đã, đang và sẽ là bạn đồng minh của các thế lực phản động đang âm mưu thực hiện "diễn biến hòa bình" đối với đất nước ta. Bởi lẽ, các thế lực thù địch đó sẽ tìm cách lợi dụng nhau, cấu kết với nhau để phá hoại sự nghiệp cách mạng nước ta.

Nhận thức rõ vấn đề như vậy, thì chúng ta mới có thể chủ động đấu tranh có hiệu quả. Ngược lại với những ý kiến của khá nhiều người cho rằng tệ tham nhũng hiện nay là rất khó khắc phục, thậm chí là không thể chống được vì nó bắt nguồn từ mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường, vì đất nước còn nghèo nàn, lạc hậu… Thiết nghĩ, chúng ta có thể khắc phục, đẩy lùi và tiến tới chiến thắng các tệ nạn đó, nếu toàn Đảng, toàn dân ta quyết tâm quán triệt và thực hiện tốt tư tưởng của Bác Hồ về chống "giặc nội xâm". Tức là phải kiên trì thực hiện đồng thời các biện pháp giáo dục và hành chính, tổ chức và pháp luật, chính trị và tư tưởng, trong Đảng và ngoài Đảng, trong bộ máy nhà nước và trong xã hội, xây đi liền với chống, đặc biệt là phải dựa vào Nhân dân đi đôi với việc nêu cao gương cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… như Hồ Chí Minh đã dạy và thực hiện rất có hiệu quả. Lịch sử nhiều triều đại phong kiến Việt Nam trước đây để mất nước trước họa ngoại xâm có nguyên nhân chính là sao nhãng, coi thường nhiệm vụ chống "giặc nội xâm". Nhìn vào lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, chúng ta cũng thấy rõ có những nước, những Đảng Cộng sản đã giành được chính quyền, đã xây dựng đất nước theo chế độ mới tốt đẹp. Thế nhưng, vì không chú ý phòng trừ "giặc nội xâm", cho nên đã để thứ giặc ở trong lòng nổi dậy làm thoái hóa, biến chất Đảng và Nhà nước (như chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội đủ các loại…). Hậu quả đau đớn là đảng tan rã, chính quyền mất, chế độ xã hội chủ nghĩa cũng không còn…

Thực tế đó là những bằng chứng sống động, để lại những kinh nghiệm và bài học lịch sử về chống giặc ngoại xâm phải đi liền với chống "giặc nội xâm". Chống giặc ngoại xâm thắng lợi, thì lại càng phải chú trọng phòng và chống "giặc nội xâm" hơn bao giờ hết; phải không ngừng đề cao cảnh giác phòng chống có hiệu quả cả hai loại giặc đó, để bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng. Đó cũng chính là quán triệt và vận dụng đúng đắn, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về chống "giặc nội xâm" trong giai đoạn hiện nay của cách mạng nước ta.

Tình hình mới, Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, Đảng ta đã thẳng thắn kiểm điểm và chỉ rõ: "Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" còn diễn biến phức tạp". Đảng ta nêu rõ, đây là một trong những nguy cơ rất nghiêm trọng làm suy giảm niềm tin của Nhân dân với Đảng và đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ: Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc. Trước thực trạng đó, cùng với việc nhấn mạnh đến nhiệm vụ tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đảng ta chỉ rõ cần phải thực hiện các biện pháp ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Thật vậy, nạn tham nhũng kéo dài, ngày càng diễn biến phức tạp, quy mô ngày càng lớn, tính chất ngày càng nghiêm trọng trong bộ máy của hệ thống chính trị và trong nhiều tổ chức kinh tế là một nguy cơ lớn đe dọa đến sự sống còn của chế độ ta. Điều quan trọng hơn là từ thực tiễn kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta muốn cảnh báo về hậu quả xã hội nguy hại của nó.

Tham nhũng, lãng phí, quan liêu ngoài những tổn thất và thiệt hại to lớn về kinh tế còn gây nên những thiệt hại về chính trị, xã hội khó lường. Điều tệ hại hơn, các tệ nạn này đang làm tha hóa cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức, có quyền; làm mất lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; làm mất đi mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với quần chúng nhân dân; làm cho các chủ trương, chính sách bị sai lệch dẫn đến chệch hướng và làm tiền đề của mọi sự mất ổn định xã hội; là điều kiện thuận lợi cho các thế lực thù địch, gây mất ổn định chính trị, thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ. Đối với kẻ thù, nạn tham nhũng, lãng phí, quan liêu là cơ sở và mục tiêu để chúng công kích, bôi xấu chế độ ta, làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước ta. Đúng như điều mà Lênin trước đây đã cảnh báo về nguy cơ của một đảng cầm quyền chính là ở chỗ đánh mất mối dây liên hệ với quần chúng, rằng "nếu có cái gì làm tiêu vong chúng ta thì chính là những tệ nạn đó".

Trong nhiều năm qua, Đảng ta đã có những chủ trương, phương hướng chỉ đạo nhằm đấu tranh chống tệ nạn này có hiệu quả. Nhà nước cũng ban hành hàng loạt văn bản pháp luật quy định cụ thể về chống tham nhũng, lãng phí, nhưng nhìn chung hiệu quả của cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí chưa cao. Nhận thức ra tính chất nguy hại của tệ nạn này, Đảng ta đã có chủ trương tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Cuộc đấu tranh này là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng, nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Vì vậy, các cấp ủy và tổ chức Đảng, đặc biệt là cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu các cơ quan đơn vị phải nhận thức sâu sắc tính cấp thiết, lâu dài, phức tạp và khó khăn của cuộc đấu tranh này, có quyết tâm chính trị cao, phải thực sự tiên phong, gương mẫu trong trận chiến với thứ "giặc nội xâm" đấu tranh kiên quyết, kiên trì, liên tục có hiệu quả từ Trung ương đến cơ sở, trong Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chính là gạn đục, khơi trong làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, "thật sự trong như pha lê, mạnh như thác lũ" như Bác Hồ từng chỉ rõ, để phục vụ Nhân dân, mang lại lợi ích thiết thực cho Nhân dân.

Với những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" mà Đảng ta đã chỉ ra, chúng ta cần và nhất thiết phải học tấm gương "Dĩ công vi thượng" của Bác, nâng cao chất lượng thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII, Kết luận 21-KL/TW ngày 25/10/2021, đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo tinh thần Kết luận 01-KL/TW của Bộ Chính trị ngày 18/5/2021, đặt lợi ích của Đảng, của Nhân dân lên trên hết. Nếu thiếu sâu sát thực tế và gần gũi quần chúng, không thật sự tôn trọng Nhân dân thì "giặc nội xâm" càng có đất sinh sôi nảy nở. Chính vì vậy, cần tăng cường giáo dục đảng viên về đường lối, chính sách, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên đi đôi với duy trì nghiêm kỷ luật trong Đảng là rất quan trọng. Bên cạnh đó, các chế độ sinh hoạt, kiểm tra, tự phê bình và phê bình trong Đảng phải thường xuyên, nghiêm túc. Mỗi đảng viên cần phải ra sức học tập, tu dưỡng, tự điều chỉnh mình để tiến bộ; giải quyết tốt mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân với tập thể. Đặc biệt cần phải khơi dậy truyền thống trọng đạo lý của dân tộc, phát huy sức mạnh to lớn của Nhân dân tạo thành dư luận mạnh mẽ và rộng khắp để phát hiện và đấu tranh khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên, đúng như Hồ Chí Minh chỉ ra: "phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên" . Kiên quyết đấu tranh với "giặc nội xâm" là góp phần làm cho Đảng ta thật sự trong sạch vững mạnh, "là đạo đức, là văn minh". Mọi hoạt động xây dựng Đảng trong mọi thời kỳ cách mạng của Đảng đều không ngoài mục đích trên.

Sưu tầm