Chủ Nhật, 3 tháng 12, 2023

Virus "sợ trách nhiệm" và những cán bộ "6 dám"

Câu chuyện với một doanh nhân mới đây gợi cho người viết bài nhiều suy nghĩ. Doanh nghiệp của ông chuyên về lĩnh vực đầu tư bất động sản và đã có dự án ở nhiều địa phương. Tuy vậy, thời gian qua, doanh nghiệp đã gặp một số vướng mắc mà chưa thể triển khai dự án được. Ông cho biết, ngoài việc dịch Covid-19 khiến tiến độ công việc bị ảnh hưởng thì tình trạng “thận trọng quá mức”, tâm lý sợ trách nhiệm trong quá trình phê duyệt hồ sơ dự án ở địa phương đang là một thực tế. Điều này đã làm chậm cơ hội đối với doanh nghiệp. Còn với người viết bài, đã nhiều lần gặp phải tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm, né trách nhiệm khi tìm mọi cách thoái thác không cung cấp thông tin cho báo chí, không dám nói hoặc đùn đẩy cho người khác trả lời.

Tâm lý sợ trách nhiệm, sợ sai sót, làm việc cầm chừng trong thực thi công vụ là một thực tế. Rõ nhất hiện nay là việc xem xét phê duyệt các dự án, đầu tư mua sắm công, giải ngân vốn đầu tư công, tình trạng có tiền mà không dám tiêu... Sau khi hàng loạt cá nhân ở các cơ quan, đơn vị vướng vào vòng lao lý do có sai phạm trong mua sắm máy móc xét nghiệm Covid-19 thì cũng xuất hiện tình trạng sợ trách nhiệm, không tiến hành mua sắm. Trong khi đó, việc mua sắm máy móc, trang thiết bị y tế cho phòng, chống dịch hiện rất cần thiết. Thậm chí về vấn đề này, trong phiên họp thứ 56 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (ngày 27-5-2021) để cho ý kiến về báo cáo kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2020 của Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã phải nêu ra tình trạng các nơi sợ mua sắm công vì sợ sai.

Từ điển tiếng Việt giải thích: “Trách nhiệm” có nghĩa là: “Điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình”. Vậy thì, người cán bộ, lãnh đạo là người được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó phải thực hiện công vụ trên cương vị, chức trách của mình. Nếu họ không dám hoặc không thể thực hiện trách nhiệm đó thì phải bị loại ra khỏi bộ máy công quyền. Nhiều tập thể, cá nhân bị xử lý kỷ luật thời gian qua do vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, làm trái quy định, độc đoán, chuyên quyền, tham ô, tham nhũng... Điều đó cho thấy, vẫn còn lỗ hổng lớn trong quản lý nhà nước để cán bộ có thể làm sai rồi mới bị phát hiện, xử lý. Hệ lụy của vấn đề này đã dẫn đến tâm lý cán bộ sợ trách nhiệm, sợ sai sót. Bên cạnh đó, có một thực tế, hiện nay, đội ngũ cán bộ các cấp trong bộ máy của chúng ta ở nhiều nơi vẫn còn nặng tâm lý trông chờ, ỷ lại, không dám quyết, không dám làm, tính năng động, sáng tạo còn hạn chế.

Hậu quả của thực trạng này có thể dẫn đến hai vấn đề: Thứ nhất, làm chậm quá trình triển khai thực hiện các công việc, nhất là các công việc cần sự khẩn trương, kịp thời, làm chậm sự phát triển xã hội. Việc cải cách, đổi mới không được thúc đẩy. Điều này khiến cho những tư duy đột phá không thể có đất để bộc lộ. Thứ hai, điều này tạo ra một tâm lý chờ đợi, đùn đẩy, nhìn nhau khiến cho bầu không khí làm việc trì trệ. Tình trạng an toàn để “giữ ghế”, tâm lý co cụm là hết sức tai hại. Cán bộ không thể hiện được toàn diện năng lực, phẩm chất của mình, trong khi người dân, doanh nghiệp cũng gặp khó khăn trong công việc.

Trở lại với vấn đề được Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nêu trong phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 27-5 vừa qua cho thấy, chúng ta cần phải nhìn thẳng vào sự thật, không được né tránh để có biện pháp tháo gỡ khó khăn, tháo gỡ điểm nghẽn. Đầu tiên là phải lựa chọn được cán bộ tốt, dám nghĩ, dám làm. Tiếp đến là những vấn đề liên quan đến trách nhiệm quản lý nhà nước phải được tháo gỡ. Cơ chế quản lý, quy chế làm việc phải được hoàn thiện, rất rõ ràng, chặt chẽ để các cá nhân, tập thể không thể làm sai, không dám làm sai. Cơ chế, quy chế chuẩn là hành lang pháp lý, là chỗ dựa để mọi tổ chức, cá nhân yên tâm, dám làm, dám đột phá, đi trước mà không quá bận tâm đến việc sợ trách nhiệm. Tất nhiên, đó phải là sự minh bạch, chính đáng, đúng pháp luật.

Cơ chế là lực đẩy đột phá

Càng trong khó khăn, thử thách thì càng cần những cán bộ có bản lĩnh, trình độ, dám nghĩ, dám làm. Câu chuyện “khoán hộ” trong nông nghiệp của ông Kim Ngọc, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc trong thập niên 1960 luôn rất cần cho hiện nay. Sáng kiến “khoán hộ” của ông đã dẫn đến “khoán 10” hay “Nghị quyết 10" của Bộ Chính trị được xem là đột phá, tháo bỏ sự ràng buộc, kìm hãm của cơ chế quản lý lạc hậu. Từ đột phá đó, Việt Nam trong thời kỳ bao cấp, từ một nước thiếu ăn trở thành nước xuất khẩu gạo. Những việc làm của ông thời kỳ đó là “đi trên dao” và nó từng thuộc về thiểu số. Nhưng đột phá của ông đã thể hiện được bản lĩnh, trí tuệ, sự quyết liệt, quyết đoán, xuất phát từ cái tâm của người cán bộ vì nước, vì dân, không vì danh vọng, không vì tư lợi.

Vị thế của đất nước ta ngày càng cao trên trường quốc tế. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo dân tộc Việt Nam không có lợi ích nào khác ngoài đưa đất nước vươn lên giàu mạnh, người dân ấm no, hạnh phúc. Hơn lúc nào hết, chúng ta rất cần những cán bộ có tư duy, việc làm đột phá. Đó chính là những cán bộ "6 dám" (dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám nói, dám đột phá sáng tạo và dám đương đầu với khó khăn, thử thách).

Tất nhiên, càng trong khó khăn càng là môi trường sàng lọc cán bộ nghiêm túc. Nhiều khi chủ trương, đường lối đúng nhưng nếu cán bộ không quyết liệt, năng động, dám nghĩ, dám làm mà thụ động, trông chờ, ỷ lại vào cấp trên thì sẽ không bao giờ đạt được hiệu quả tốt. Việc lựa chọn cán bộ để đưa vào các vị trí lãnh đạo đã từng bước được chuẩn hóa. Dù vậy, việc lựa chọn này chỉ thực sự đúng khi cán bộ đó chứng minh được năng lực của mình trong thực tiễn. Điều đó đòi hỏi người cán bộ phải đáp ứng được hai yếu tố: Thứ nhất là năng lực tốt, đạo đức tốt. Thứ hai là phẩm chất dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đây là những yếu tố rất quan trọng của người cán bộ cách mạng. Thực tiễn rất phong phú và không bao giờ có một mô hình, công thức chuẩn cho mọi người làm theo, nó đòi hỏi tư duy nhạy bén, sắc sảo của người cán bộ. Trong mối quan hệ biện chứng, chỉ những cán bộ có trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức tốt mới có thể dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Ngược lại, những cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm với động cơ trong sáng, vì nước, vì dân thì đó là những cán bộ có phẩm chất tốt. Nếu người cán bộ quá phụ thuộc vào sự nâng đỡ, tình trạng "con ông cháu cha", người “chống lưng” để đưa vào cơ cấu thì cán bộ đó khó mang lại kết quả tích cực. Điều đó càng đòi hỏi công tác cán bộ phải tiếp tục được nghiên cứu để có quy trình lựa chọn, thanh lọc đúng.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã đưa vào một nội dung quan trọng, nhận được sự đồng tình cao của dư luận, đó là bảo vệ những cán bộ “6 dám”. Để bảo vệ được những cán bộ tốt thì cần có cơ chế quản lý tốt. Cơ chế tốt sẽ tạo động lực để đội ngũ cán bộ có khát vọng vươn lên, khát vọng phát triển để địa phương mình không thua địa phương khác, ngành mình không thua ngành khác. Những người quản lý, lãnh đạo nếu không có cơ chế bảo vệ bằng hành lang pháp lý thì họ rất khó sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám mạnh dạn đổi mới. Tình trạng tự mò mẫm, tự tìm đường đi, mong manh giữa ranh giới đúng và sai trong điều kiện hệ thống pháp luật của nước ta còn nhiều khiếm khuyết thì khó để người cán bộ thực thi công vụ tốt, thậm chí dễ bị sai phạm.

Chúng ta đang trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, một mô hình chưa có trên thực tiễn, bởi thế quá trình hoàn thiện cơ chế quản lý đó gặp phải khó khăn, vướng mắc là dễ hiểu. Việc Văn kiện Đại hội Đảng XIII đã đưa vào nội dung bảo vệ cán bộ “6 dám” là phù hợp thực tiễn. Chúng ta luôn khuyến khích mọi cá nhân, tập thể có những việc làm đột phá, đổi mới, sáng tạo để đưa đất nước đi lên. Chúng ta cũng cần những cán bộ “dám nói” bởi số đó không nhiều. Những người dám nói thẳng, nói thật nhiều khi phải chịu thiệt thòi bởi sự trù dập, đố kỵ. Cần nhanh chóng thúc đẩy một cơ chế để bảo vệ cho các cán bộ sẵn sàng đi tiên phong, sẵn sàng “vượt rào” đột phá vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Những ý kiến sáng tạo, đôi khi “khó nghe” nếu không được bảo vệ, ủng hộ thì sẽ mãi mãi trở thành thiểu số. Các chính sách bao giờ cũng phải song hành để cán bộ dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm nhưng không thể làm sai và không dám làm sai. Phải phân định rõ dám làm và không dám làm sai. Đây là hai khái niệm khác nhau về nội hàm, ý nghĩa, mục đích. Nó hoàn toàn phụ thuộc vào cái tâm của người cán bộ, hay chính là đạo đức cách mạng.

Suy cho cùng nếu như người cán bộ luôn có ý thức làm đúng, có bản lĩnh, làm việc vì lợi ích chung thì không có gì phải lo lắng. Một bài học được rút ra là, trong quá trình thực hiện nếu có điều gì vướng mắc thì cần phát huy dân chủ. Đó là sự bàn bạc trong tập thể, phát huy trí tuệ số đông. Những vấn đề khó, chưa có tiền lệ thì vẫn có thể đột phá được bằng cách xin chủ trương từ cấp trên để làm rõ. Nếu mục đích làm việc rõ ràng, không vì tư lợi, không làm liều, thì sẽ thành công.

Gỡ “nút thắt” để cán bộ năng động, sáng tạo

         Kết luận số 14-KL/TW (Kết luận 14) ngày 22-9-2021 của Bộ Chính trị đã tạo được cơ sở chính trị quan trọng, khơi dậy được tinh thần năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong đội ngũ cán bộ các cấp. Tuy nhiên, để tinh thần “6 dám” có thể chuyển hóa thành hành động của cán bộ trong quá trình thực thi chức trách, nhiệm vụ thì vẫn còn nhiều lực cản.

1. Để lý giải cặn kẽ nguyên nhân dẫn đến tâm lý sợ sai không dám làm, hành vi đùn đẩy công việc, né tránh trách nhiệm ở một bộ phận cán bộ, đảng viên thời gian qua thì có nhiều. Trong quá trình khảo sát thực tế tại các địa phương, chúng tôi nhận được nhiều câu trả lời có chung một đáp án. Trước hết, xét về góc độ tâm lý học, sợ sai, không dám làm là một biểu hiện có phần tiêu cực, nhưng một trong các nguyên nhân dẫn đến biểu hiện tâm lý này lại đến từ những kết quả tích cực trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng.

Đồng chí Hồ Trung Việt, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cà Mau thẳng thắn thừa nhận: “Thời gian qua, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được Trung ương mà đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt với tinh thần “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Nhiều vụ đại án được đưa ra xét xử, hàng loạt quan chức hầu tòa, nhiều cán bộ vướng vòng lao lý... Chính những kết quả này vô hình trung đã tạo ra hiệu ứng lây lan trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Song song đó, Trung ương ban hành nhiều quy định, chỉ thị, kết luận nhằm siết chặt kỷ cương của Đảng và đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tâm lý e ngại “cố thủ”, sợ sai không dám làm của một bộ phận cán bộ, đảng viên”.

Một nguyên nhân khác xuất phát từ sự chậm trễ trong việc ban hành văn bản nhằm thể chế hóa Kết luận 14 của Bộ Chính trị. Kết luận 14 nêu rõ: “... kịp thời xem xét, nghiên cứu để thể chế hóa thành quy định pháp luật, tạo cơ sở pháp lý để nhân rộng các mô hình, giải pháp...”. Kết luận 14 được Bộ Chính trị ban hành ngày 22-9-2021 và có hiệu lực ngay từ thời điểm ban hành. Ngày 29-9-2023, Chính phủ ban hành Nghị định số 73/2023/NĐ-CP quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Qua khảo sát tại nhiều tỉnh, thành phố, từ đội ngũ cán bộ các cấp đến lãnh đạo các địa phương cho rằng, vì chưa có văn bản thể chế hóa, chưa có cơ sở pháp lý nên rất khó triển khai trong thực tiễn. 

Đồng chí Phan Thanh Duy, Phó chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu nêu quan điểm: “Kết luận 14 của Bộ Chính trị là văn bản của Đảng mang tính định hướng lớn. Mặc dù đội ngũ cán bộ rất phấn khởi, anh em thêm vững tin trong thực thi chức trách, nhiệm vụ được giao, tuy nhiên những nội dung tại Kết luận 14 còn mang tính bao hàm, chung chung, chưa rõ, chưa cụ thể. Trước khi có Nghị định số 73/2023/NĐ-CP của Chính phủ, anh em không khỏi e ngại vì nếu thực hiện đột phá, đổi mới, sáng tạo nhưng có sai sót thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật, thậm chí là xử lý hình sự”.

2. Quá trình khảo sát tại các địa phương, các đồng chí lãnh đạo đều có chung đánh giá, Kết luận 14 đã tạo ra sức lan tỏa về tinh thần đổi mới chung trong đội ngũ cán bộ các cấp, nhưng vẫn chưa thể có những đổi mới, sáng tạo mang tính đột phá như Kết luận 14 mong muốn. Một nguyên nhân khác khiến cán bộ chùn bước, e ngại không dám đổi mới và chỉ có thể “sáng tạo trong khuôn khổ”, không dám “vượt rào” đến từ những bất cập, hạn chế từ các quy định của chính sách pháp luật hiện hành.

Trên thực tế, hệ thống pháp luật ở nước ta chưa đồng bộ, còn nhiều chồng chéo. Đại hội XIII của Đảng chỉ ra: “Hệ thống pháp luật còn một số quy định chưa thống nhất, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tiễn; việc thể chế hóa, cụ thể hóa chủ trương của Đảng về một số nội dung trong công tác cán bộ còn chậm, có nội dung chưa thống nhất giữa pháp luật của Nhà nước và quy định của Đảng”. Và trong nhiều trường hợp, cán bộ muốn sáng tạo thì đồng nghĩa với việc phải làm “trái luật”.

Tại xã Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu, Nghệ An), đồng chí Hồ Đức Vĩ, Phó bí thư Đảng ủy xã cho biết: Giai đoạn trước, đất nông nghiệp trong xã bị bỏ hoang rất nhiều. Để khắc phục tình trạng này, UBND huyện cho chủ trương tích tụ ruộng đất, chuyển đổi từ trồng lúa sang các mô hình kinh tế trang trại. Nhằm tạo điều kiện cho nhân dân mở rộng quy mô sản xuất, lãnh đạo UBND xã Quỳnh Đôi cho phép nhân dân xây dựng các công trình cất trữ thức ăn chăn nuôi phù hợp với quy mô trang trại. Từ chủ trương này, Quỳnh Đôi xuất hiện nhiều mô hình trang trại quy mô lớn, mang lại hiệu quả kinh tế cao, được các cơ quan báo chí của tỉnh tuyên truyền, kịp thời nhân rộng. Tuy nhiên, khi cơ quan chức năng thanh tra, kiểm tra, kết luận các công trình xây dựng vượt quá diện tích cho phép theo những quy định của pháp luật và Chủ tịch UBND xã bị kỷ luật khiển trách, hạ bậc lương trong 6 tháng.

Bàn sâu kỹ hơn về vấn đề này, đồng chí Lê Văn Sử, Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau tâm huyết chia sẻ: Rất nhiều quy định pháp luật chưa phù hợp, hoặc chưa theo kịp với thực tiễn nên dù địa phương có rất nhiều trăn trở, vướng mắc nhưng không tìm được cách giải quyết. Kết luận 14 nêu rõ: “Đề xuất đổi mới, sáng tạo của cán bộ phải bảo đảm không trái với Hiến pháp và điều lệ Đảng”. Trong khi đó, pháp luật là sự cụ thể hóa Hiến pháp, nếu pháp luật không còn phù hợp với thực tiễn mà cán bộ vẫn cố làm ngược lại thì có thể còn bị quy vào tội cố ý làm trái. Đó là chưa kể, không ít trường hợp, dù cán bộ đã làm đúng theo quy định pháp luật, nhưng khi xảy ra vấn đề, khi kiểm tra, thanh tra vẫn bị kết luận là làm sai vì cách áp dụng quy định của luật khác nhau, có luật thì cho phép, nhưng luật khác lại không. Chính những bất cập này khiến cán bộ chùn bước, tạo ra tâm lý e ngại, thậm chí tạo sức ì xã hội vì cán bộ không dám làm, công việc không trôi chảy.

Chỉ ra những vướng mắc trong các quy định của pháp luật, đồng chí Lê Văn Sử nêu dẫn chứng, cụ thể: Từ năm 2007, tỉnh giao cho một doanh nghiệp thực hiện dự án phát triển du lịch ven biển và hoàn toàn phù hợp với Luật Đầu tư. Đến năm 2010, vùng ven biển Cà Mau bị sạt lở nghiêm trọng, do đó doanh nghiệp phải tìm cách bảo vệ đất ven biển đã được giao khai thác, quản lý, sử dụng. Thời điểm năm 2016, trong chuyến khảo sát của Thủ tướng Chính phủ tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, lãnh đạo tỉnh kiến nghị cho phép tỉnh triển khai các biện pháp để bảo vệ khu vực ven biển bị sạt lở và được Thủ tướng Chính phủ cũng như lãnh đạo các bộ, ngành rất ủng hộ. Nhưng khi địa phương làm văn bản đề nghị gửi ra, các cơ quan Trung ương lại cho rằng vướng các quy định của Luật Đất đai, Luật Lâm nghiệp và một số luật khác. Sau đó các bộ, ngành gửi văn bản đề nghị tỉnh Cà Mau phải thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật.

Từ những thực tế trên, đồng chí Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau cho rằng, để có những đổi mới, sáng tạo, “xé rào” cơ chế, liên quan đến thẩm quyền của cấp nào thì xin cấp đó phê duyệt. Nhưng hiện nay những vướng mắc từ các quy định pháp luật khiến cho cấp thẩm quyền ở cơ sở không thể phê duyệt, mà để có thể phê duyệt được thì lại phải chờ Quốc hội xem xét sửa luật. Như vậy những vấn đề về cơ chế, chính sách, luật pháp... khiến cho tinh thần năng động, sáng tạo của cán bộ vẫn trong vòng luẩn quẩn. Do đó, cần phải có cơ chế linh hoạt hơn, phân cấp về cơ sở mạnh hơn. Theo đó, nếu ở cơ quan, đơn vị, địa phương phát hiện những quy định của pháp luật không phù hợp với thực tiễn và trình đến cấp có thẩm quyền xin được thí điểm thực hiện thì nên cho phép.

3. Một lực cản khác khiến cán bộ không quyết tâm đổi mới, sáng tạo là chưa có cơ chế khích lệ tương xứng. Trong không ít báo cáo, chỉ thị, nghị quyết, Trung ương đã chỉ ra thực trạng chưa có tiêu chí, cơ chế hiệu quả để đánh giá đúng cán bộ, tạo động lực, bảo vệ cán bộ và thu hút, trọng dụng nhân tài. Đặc biệt, đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, chưa phản ánh đúng thực chất. Xét ở khía cạnh thu nhập, việc trả lương công chức, viên chức vẫn theo hệ số, có tính chất “cào bằng”, mặc dù áp lực công việc lớn nhưng mức thu nhập nhận lại không cao khiến cho cán bộ thiếu động lực phấn đấu. Ở khía cạnh thăng tiến trong nghề nghiệp, tình trạng bổ nhiệm cán bộ “đúng quy trình” nhưng không bảo đảm tiêu chuẩn, năng lực vẫn là vấn đề nhức nhối; việc trọng dụng người tài có lúc, có nơi vẫn thiếu sự sòng phẳng, chưa thực sự công bằng. Đó là chưa kể, ở một số cơ quan, đơn vị đã xảy ra tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm cho cấp dưới, khi khen thưởng thì nhận thành tích từ trên xuống dưới nhưng khi xử lý sai phạm thì “trên nhẹ, dưới nặng”.

Minh chứng như tại Bạc Liêu, với đam mê nghiên cứu khoa học, đồng chí Dương Văn Ngô, Trưởng phòng Kỹ thuật Trung tâm Giống nông nghiệp Bạc Liêu (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu) và một số cán bộ ở trung tâm đã nghiên cứu thành công giống lúa BL9. Khi giống được lưu hành, UBND tỉnh đã tặng bằng khen tập thể và cá nhân anh Ngô. Đồng chí Nguyễn Trung Hiếu, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu chia sẻ: “Thực tế trong lĩnh vực nông nghiệp, cán bộ rất vất vả nhưng cơ chế động viên, khích lệ chưa thật xứng đáng với công sức bỏ ra. Chỉ xét ở trường hợp đồng chí Dương Văn Ngô, nếu ở doanh nghiệp, với việc nghiên cứu thành công giống lúa chất lượng như BL9 thì anh sẽ được khen thưởng, đãi ngộ xứng đáng. Nhưng trong khu vực công thì bản thân anh chỉ được nhận bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh, kèm số tiền 1,8 triệu đồng...”.

Xét ở khía cạnh khác, chiếc “gọng” đang “kìm hãm” sự sáng tạo của cán bộ còn nằm ở vai trò người lãnh đạo chủ chốt của từng địa phương, đơn vị... Thực tế, ngay tại Nghị định số 73/2023/NĐ-CP đưa ra quy định “Kế hoạch đề xuất đổi mới, sáng tạo của cán bộ được gửi đến người đứng đầu cơ quan sử dụng cán bộ để xem xét, quyết định”. Tuy nhiên, nếu người đứng đầu cơ quan nhận thấy những đề xuất đổi mới, sáng tạo không đúng quy định pháp luật thì rất có thể sẽ không cho phép triển khai. Hay như nghị định cũng quy định, cấp nào cho phép thực hiện đề xuất đổi mới, sáng tạo thì người cho phép chịu trách nhiệm về việc phê duyệt đề xuất nên rất dễ nảy sinh tâm lý không ai dám làm...

Trung tướng Lưu Phước Lượng, nguyên Phó trưởng ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, nguyên Phó tư lệnh Quân khu 9, cho rằng, đã là đổi mới, sáng tạo thì có thể đúng, có thể sai, có thể mang lại hiệu quả hoặc gặp thất bại. Vấn đề đặt ra là phải có cách đánh giá, nhìn nhận thực sự phù hợp. Với những cán bộ dám đổi mới, sáng tạo và mang lại hiệu quả, cùng với việc khen thưởng, biểu dương, các cơ quan chức năng cũng nên “có gan” cất nhắc cán bộ một cách tương xứng. Ngược lại, với những trường hợp đổi mới, sáng tạo, vì lợi ích chung nhưng không thành công, có sai sót thì cũng cần động viên, khích lệ cán bộ một cách phù hợp. Nếu ví Kết luận 14 như một chiếc chìa khóa thì những người lãnh đạo đứng đầu các cơ quan, đơn vị chính là người tra chiếc chìa vào ổ khóa, dẫn dắt cán bộ, đảng viên mở ra cánh cửa dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Từ những vấn đề nêu trên, để sức sáng tạo của cán bộ thực sự được “giải phóng”, để tinh thần “6 dám” trong đội ngũ cán bộ các cấp chuyển hóa thành hành động thì còn rất nhiều vấn đề đang đặt ra. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 73/2023/NĐ-CP; trước đó Bộ Chính trị ban hành Quy định số 117-QĐ/TW ngày 18-8-2023 về xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan đã đáp ứng được mong mỏi của đội ngũ cán bộ; đồng thời đây là những cơ sở chính trị, hành lang pháp lý rất quan trọng để các cấp triển khai thực hiện Kết luận 14 hiệu quả.

Sưu tầm


Những khoảng trống từ dám nghĩ đến dám làm

         Không phủ nhận tinh thần năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu các cấp trong hệ thống chính trị.

Mặt khác, Đảng, Nhà nước đã có các cơ chế, chính sách về khuyến khích và bảo vệ cán bộ “6 dám”, tạo cơ sở chính trị, pháp lý quan trọng. Thế nhưng thời gian vừa qua, tình trạng cán bộ sợ sai, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm diễn ra khá phổ biến ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều địa phương khiến tâm lý, dư luận xã hội không khỏi hoài nghi, thất vọng.

1. Khuyến khích và bảo vệ cán bộ “6 dám” (dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo và dám hành động) vì lợi ích chung là chủ trương lớn của Đảng nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp trong hệ thống chính trị đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ. Bằng tinh thần dấn thân, dám làm, dám chịu trách nhiệm, họ là những người tiên phong đột phá vào việc mới, việc khó, qua đó tạo sự chuyển biến rõ nét cho cơ quan, đơn vị, địa phương.

Tại các địa phương, ngay khi Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 14-KL/TW về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung, hầu hết các tỉnh, thành phố đều ban hành kế hoạch triển khai, cụ thể hóa chủ trương của Đảng. Tại tỉnh Cà Mau, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Kế hoạch số 103-KH/TU nhằm giúp cấp ủy, chính quyền, đoàn thể xác định rõ trách nhiệm trong lãnh đạo thực hiện Kết luận 14. Ngoài ra, tỉnh Cà Mau còn tổ chức chương trình kết nối công chức, viên chức trẻ gặp gỡ, giao lưu, trao đổi, đóng góp ý kiến, chia sẻ tâm tư, tình cảm, nguyện vọng trong quá trình công tác với các cấp lãnh đạo. Đồng chí Hồ Trung Việt, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cà Mau khẳng định: “Tinh thần dám nghĩ, dám làm của cán bộ, đảng viên đã có sự chuyển biến; có nhiều tập thể đã trăn trở bàn bạc, đưa ra các giải pháp đột phá trong triển khai thực hiện nhiệm vụ”.

Kết luận 14 chính là bước tạo đà, điểm tựa chính trị quan trọng cho đội ngũ cán bộ các cấp thêm vững tin hơn trong quá trình thực thi chức trách, nhiệm vụ được giao. Bởi vậy, trước rất nhiều khó khăn, thách thức, để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu trong Nghị quyết Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025, hầu hết các địa phương đã có những sáng tạo đột phá nhất định trong triển khai thực hiện nhiệm vụ. Ví như ngay sau khi dịch Covid-19 được kiểm soát, Bạc Liêu là một trong những tỉnh đầu tiên của cả nước mở cửa du lịch. Để kích cầu ngành du lịch phát triển, tỉnh đã khởi xướng chương trình ký kết hợp tác phát triển du lịch giữa TP Hồ Chí Minh với 13 tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đây thể hiện rõ tinh thần đột phá, sáng tạo, trong khi thời điểm đó rất ít địa phương dám mở cửa du lịch.

Nhìn lại sau hơn hai năm triển khai thực hiện Kết luận 14 của Bộ Chính trị, lãnh đạo các địa phương đều có chung nhận định, tinh thần dám nghĩ, dám làm của đội ngũ cán bộ đã có sự chuyển biến rõ nét và chỉ cần làm có tâm, làm việc hết tinh thần trách nhiệm, có tinh thần đổi mới, sáng tạo thì ở cơ quan, địa phương nào cũng có. Kết quả khảo sát tại nhiều tỉnh, thành phố cũng cho thấy, địa phương tạo mọi điều kiện để cán bộ phát huy hết tinh thần năng động, sáng tạo; vận dụng tối đa mọi chủ trương để khuyến khích và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, mọi sự đổi mới, sáng tạo đều không được vượt ra khỏi khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật hiện hành.

Đồng chí Lê Văn Sử, Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau nhận định: Cho đến nay, gần như tất cả những đổi mới, sáng tạo đã và đang được triển khai, vận hành trong thực tiễn ở tỉnh Cà Mau đều là những “sáng tạo trong khuôn khổ”. Trên thực tế, chưa có những thay đổi thực sự mang tính đột phá về tinh thần năng động, đổi mới, sáng tạo của cán bộ. Từ khi Kết luận 14 được ban hành và đi vào thực tiễn, theo ghi nhận của địa phương, những cá nhân đề xuất ý tưởng mới, sáng tạo đột phá gần như chưa có và cũng chưa có điển hình cán bộ “6 dám” được biểu dương, khen thưởng, nhân rộng...

2. Chưa khi nào đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị lại có tâm lý sợ sai, sợ mắc khuyết điểm như thời gian gần đây. Nhất là việc hàng loạt cán bộ vướng vòng lao lý vì để sai phạm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, khiến không ít cán bộ nảy sinh tâm lý làm việc cầm chừng, với lập luận: Làm nhiều thì sai nhiều, làm ít thì sai ít, không làm thì không sai. Trên nghị trường Quốc hội, khi bàn luận về tình trạng này ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, có đại biểu ví von: “Bên trong cán bộ sợ sai/ Bên ngoài dân chúng thở dài lo âu”. Những vấn đề này đã được nêu ra tại Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, trong đó, bài phát biểu quan trọng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại phiên bế mạc đã chỉ rõ biểu hiện và nguyên nhân.

Trên thực tế, những diễn biến tâm lý này vẫn đang tồn tại, âm thầm len lỏi và đã có phần ăn sâu vào tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên, không dễ nhận diện, đấu tranh ngăn chặn triệt để. Kết luận 14 của Bộ Chính trị được ví như “đơn thuốc”, nhưng dường như vẫn chưa đủ “liều lượng” để chữa trị căn bệnh đang ngày một trầm trọng, đè nặng tâm lý của nhiều người. Tình trạng một bộ phận cán bộ, công chức né tránh, thiếu trách nhiệm, sợ sai trong thực thi công vụ không phải là hiện tượng đơn lẻ mà diễn ra ở nhiều địa phương, một số bộ, ngành Trung ương.

Đồng chí Vương Phương Nam, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Bạc Liêu thẳng thắn chia sẻ: "Trong quá trình kiểm tra, đội ngũ cán bộ của tỉnh cũng có sự tiến bộ, nhưng một số ít vẫn còn khép nép, e sợ nên tiến độ công việc còn chậm trễ”.

Sự chậm trễ vì tâm lý sợ sai của cán bộ được minh chứng cụ thể trong chuyện bán đấu giá tài sản công trên địa bàn tỉnh. Ngày 16-6-2023, đích thân Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu Phạm Văn Thiều đã có cuộc họp để yêu cầu các sở, ngành, đơn vị chủ quản có tài sản phải nhanh chóng hoàn tất thủ tục để sớm bán tài sản nhằm thu tiền về cho ngân sách nhà nước. Trong khi ai cũng nhận thức được, tiền thu từ bán đấu giá tài sản công sẽ góp phần tạo nguồn thu ngân sách nhà nước để tái đầu tư xây dựng, cải tạo trụ sở làm việc và đầu tư phát triển cho địa phương. Nhận thức là thế, nhưng để bắt tay vào làm thì rất ít ngành, địa phương triển khai vì chưa có hướng dẫn.

Cũng bởi tâm lý sợ sai nên đến cuối tháng 10-2023, vẫn còn 23 sở, ngành, địa phương của tỉnh Bạc Liêu chưa báo cáo, trong các đơn vị đã báo cáo thì có một số vẫn chưa đầy đủ hồ sơ theo yêu cầu. Mặc dù Chủ tịch UBND tỉnh đã xem xét chấp thuận cho bán trước một số cơ sở nhà, đất dôi dư, không có nhu cầu sử dụng, như trụ sở UBND phường 5 và trụ sở UBND phường 7 cũ (TP Bạc Liêu); Bệnh viện Đa khoa huyện Phước Long (cũ); trụ sở Huyện ủy Đông Hải (cũ), nhưng nhiều tháng trôi qua, các cơ sở này vẫn chưa được bán với đủ lý do. Và tình trạng “án binh bất động” như thế đã làm tài sản công bị lãng phí đầy xót xa!

Hay đơn giản như câu chuyện về phân cấp, ủy quyền liên quan đến triển khai Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11-3-2023 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững. Trong nghị quyết, Chính phủ giao quyền cho các địa phương tự quyết nhằm chấm dứt việc đùn đẩy trách nhiệm, gây khó khăn hoặc chậm trễ trong giải quyết các thủ tục triển khai dự án bất động sản trên địa bàn; tập trung đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất; đấu thầu dự án có sử dụng đất; chấp thuận chủ trương đầu tư dự án... Tuy nhiên, trên thực tế, các địa phương đều không dám chủ động thực hiện mà phải chờ hướng dẫn.

3. Sợ sai là mức nói giảm, nói tránh của việc né tránh, đùn đẩy công việc, đùn đẩy trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, cái gì có lợi thì vơ vào mình, khó khăn thì đẩy ra cho tổ chức, cho người dân, doanh nghiệp. Xét ở góc độ đạo đức của người cán bộ, đảng viên, đây chính là dấu hiệu của một loại “tự diễn biến”, là biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị, làm cản trở nghiêm trọng sự phát triển.

Lý giải cặn kẽ mọi điều cho những hành vi này, có thể phân cán bộ sợ sai ra 3 cấp độ: Ở mức độ thấp là những người không biết gì nên không làm. Đó là những người thiếu bản lĩnh, trình độ và năng lực yếu kém, được đề bạt, bổ nhiệm nhờ thân quen, chạy chức, chạy quyền, “ngồi không đúng chỗ”, không thể thực thi công việc được giao. Mức độ cao hơn, phổ biến hơn là những người có năng lực, trình độ, có kinh nghiệm, nhưng không có lợi ích thì không làm. Họ không tham mưu, đề xuất, không triển khai công việc hoặc triển khai cầm chừng... vì không có lợi ích gì trong đó. Và nhóm thứ 3 là những người biết, nhưng sợ sai nên không làm.

Đồng chí Lư Văn Điền (bí danh Tám Thanh), nguyên Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ (nay là TP Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang) nêu quan điểm: “Nếu xét với thực tế hiện nay, tôi khẳng định cán bộ chúng ta có một dám, đó là dám nghĩ. Nhưng từ dám nghĩ đến dám nói, dám làm thì rất ít, mà đã không dám làm thì chắc chắn rằng sẽ không có đổi mới, sáng tạo, không dám chịu trách nhiệm. Thái độ “thà đứng trước hội đồng kỷ luật còn hơn phải đứng trước hội đồng xét xử” trở thành phương châm hành động của không ít cán bộ, công chức. Ở góc độ nào đó, đây có lẽ là “lời tự thú” từ tận đáy lòng của người trong cuộc khi không đủ tự tin để thực thi công việc, vì xung quanh lãnh đạo, đồng nghiệp vừa được tuyên dương thì không lâu sau đó đã bị khởi tố, bắt giam; hoặc là thái độ né tránh công việc khi mà cấp trên không làm gương, chỉ đạo xiên xẹo, khiến họ khó xử”.

Việc cán bộ không dám làm còn là do họ làm với cái tâm không trong sáng. Có ý kiến cho rằng, sở dĩ cán bộ sợ sai, không dám làm là vì cơ chế, chính sách chưa theo kịp thực tiễn phát triển đất nước đang thay đổi từng ngày, từng giờ. Ở thời điểm này cơ chế có thể đúng, nhưng ở một thời điểm khác có thể sai? Bản chất cơ chế, chính sách là đúng, nhưng cái không đúng là những người có chức quyền, có hiểu biết lợi dụng cơ chế để làm những việc khuất tất, để phục vụ cho lợi ích “sân sau”, lợi ích nhóm. Nếu là do cơ chế, tại sao nhiều cán bộ, công chức chấp nhận nghèo chứ không tham nhũng? Không thể nói những cán bộ đó không hiểu luật, mà họ có đạo đức, có tự trọng, có danh dự. Trong khi đó, những vị chức to, quyền lớn lại không có liêm sỉ thì sao có thể làm đúng được...

Ngoài ra, chúng ta cũng cần nhận thức đúng đắn, phân định rõ giữa đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm với hành động vô kỷ luật, vô tổ chức. Dù trong bất cứ lĩnh vực, hoàn cảnh nào, việc đổi mới, sáng tạo cũng phải hướng đến mục đích phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Điều này cũng đã được Bác Hồ chỉ ra: “Chúng ta phải nhận rõ: Bất kỳ việc to việc nhỏ, hễ thêm điều lợi, trừ điều hại cho quần chúng, giúp quần chúng giải quyết vấn đề khó khăn, tăng kết quả của việc làm, tăng sức sản xuất của xã hội, đánh đổ sức áp bức của quân thù, đó đều là sáng kiến”. “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh” là lời răn dạy sâu sắc của Bác Hồ mà mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn ghi nhớ.

“Thực tế cho thấy, một khi cán bộ làm đúng chức trách, phận sự của mình trong công việc thì không phải sợ gì cả. Nếu đội ngũ cán bộ của chúng ta thực hiện mọi việc đều vì lợi ích của nhân dân, mang lại hiệu quả cho sự phát triển và tiến bộ xã hội thì dù “vượt rào”, “xé rào” cơ chế cũng luôn được ủng hộ. Đó là điều chắc chắn”, đồng chí Lư Văn Điền nhấn mạnh.

Sưu tầm

Phác dáng hình hài người cán bộ vì nước, vì dân

1. Ngược dòng lịch sử, vào những năm 60 của thế kỷ 20, đồng chí Kim Ngọc, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc được cả nước biết đến là người đã “xé rào” cơ chế với chủ trương “khoán hộ” trong nông nghiệp. Chủ trương “khoán hộ” là hướng đi tích cực, tìm tòi cách thức quản lý mới trong nông nghiệp, gắn lợi ích của người nông dân với kết quả lao động nhằm đem lại hiệu quả thiết thực trong sản xuất nông nghiệp. Đây là quá trình đổi mới tư duy nhằm tháo gỡ khó khăn trong sản xuất nông nghiệp, khắc phục yếu kém về công tác quản lý tại các hợp tác xã nông nghiệp ở miền Bắc lúc bấy giờ.

“Khoán hộ” chính là những đóng góp quan trọng về lý luận và thực tiễn, là cơ sở quan trọng để Trung ương từng bước hoạch định chủ trương đổi mới quản lý trong nông nghiệp. Trên cơ sở thí điểm ở các địa phương, ngày 13-1-1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 100-CT/TW về “Cải tiến công tác khoán, mở rộng "khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động" trong hợp tác xã nông nghiệp”. Lần đầu tiên khoán sản phẩm chính thức trở thành cơ chế quản lý mới trong cả nước với tên gọi “khoán 100”. Ngày 5-4-1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10-NQ/TW “Về đổi mới quản lý kinh tế trong nông nghiệp” (còn gọi là khoán 10).

Bước vào những năm đầu của thời kỳ đổi mới, một sự kiện làm nức lòng đồng bào miền Nam khi đó là quyết định của Thủ tướng Võ Văn Kiệt về phương án giải quyết tình trạng thiếu điện ở miền Nam, thúc đẩy sản xuất, phát triển kinh tế. Giữa các phương án tìm nguồn điện cho miền Nam, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã chọn phương án xây dựng đường dây siêu cao áp truyền tải điện năng với cáp điện 500kV, trải dài gần 1.500km đi từ miền Bắc, qua 14 tỉnh, thành phố để đưa điện vào Nam.

Ngày 5-4-1992, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đưa ra quyết định khởi công xây dựng đường dây tải điện 500kV Bắc-Nam và hạ quyết tâm hoàn thành trong 2 năm. Cho đến nay, các cán bộ lão thành ngành điện lực vẫn luôn khẳng định: Ông Sáu Dân (Thủ tướng Võ Văn Kiệt) đã giải quyết vấn đề cấp thiết của đất nước bằng một quyết định táo bạo và đánh cược bằng sinh mệnh chính trị của mình. Tâm, tầm và tinh thần quyết đoán, dám nghĩ, dám làm của người lãnh đạo mới có thể đưa đường dây điện dài nhất lịch sử về đích trong 2 năm. 

2. Thủ tướng Võ Văn Kiệt và đồng chí Kim Ngọc là hai trong số rất nhiều cán bộ có tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung đã được đất nước, nhân dân và lịch sử ghi nhận. Đây cũng là những minh chứng rõ nhất khẳng định rằng, trước những khó khăn, thách thức của đất nước, Đảng ta luôn có những “cánh chim đầu đàn", với tinh thần quyết đoán, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Quá trình khảo sát tại nhiều địa phương, chúng tôi được tiếp cận những con người như thế.

Tại huyện U Minh (Cà Mau), đến nay người dân còn nhắc nhiều đến cái tên Việt “keo lai”. Đây là biệt danh được mọi người đặt cho đồng chí Nguyễn Quốc Việt, nguyên Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau. Năm 2004, Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Nguyễn Quốc Việt đã ký công văn chấp thuận dự án trồng cây keo lai trên đất U Minh Hạ. Thời điểm đó, tỉnh Cà Mau đặt ra mục tiêu phát triển rừng bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân và lao động làm nghề rừng. Địa phương đã đưa dân cư vào rừng, kết hợp giao đất khoán rừng, liên doanh, liên kết... và dự án trồng keo lai ra đời. Cụ thể, ngày 2-4-2004, Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Nguyễn Quốc Việt ký công văn chấp thuận dự án đầu tư trồng rừng nguyên liệu giấy của Công ty Cổ phần Đồng Nai (CODONA) tại Lâm ngư trường Trần Văn Thời và Lâm ngư trường U Minh III với tổng diện tích 2.946ha. Đến ngày 10-5-2004, đồng chí Nguyễn Quốc Việt tiếp tục ký Quyết định số 34/QĐ-CTUB thu hồi 2.957,10ha đất của hai Lâm ngư trường U Minh III và Trần Văn Thời để CODONA thuê trồng rừng nguyên liệu giấy với giá 30 đồng/m2/năm (tổng giá tiền thuê đất là 887.130.000 đồng/năm).

Chuyện “động trời” này vô tình “động chạm” đến nhiều người. Người ta cho rằng, nhắc đến U Minh là nhắc đến cây tràm, “đặc sản” của U Minh. Vì vậy, đưa keo lai vào đây trồng sẽ mất rừng tràm, mất đi thương hiệu của U Minh. Người dân không đồng tình, áp lực của dư luận, cộng với tính cách thẳng thắn, để tạo lòng tin cho các lãnh đạo và nhân dân lúc đó trong buổi họp báo, ông Việt khẳng định nếu không thành công thì sẽ từ chức.

Sau vài năm, mô hình trồng keo lai khẳng định về mặt giá trị kinh tế. Bình quân thu nhập đạt 200 triệu đồng/ha keo lai với thời gian thu hoạch rút ngắn được một nửa so với trồng tràm. Trong khi đó, thu nhập từ trồng tràm chỉ đạt 150-160 triệu đồng/ha, nhưng chu kỳ khai thác kéo dài từ 7 năm trở lên. Keo lai được xác định là một trong 6 ngành hàng được ưu tiên trong Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Cà Mau.

Sự quyết liệt trong cách nghĩ, cách làm của ông Việt còn được thể hiện từ khi đảm nhiệm cương vị Chủ tịch UBND huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau (năm 1989-1994). Cụ thể, trước sức ép mặn-ngọt, tỉnh kiên quyết chỉ đạo phải ngăn mặn, giữ ngọt, còn nhân dân đang cần nước mặn để nuôi tôm, đồng chí Việt đã chỉ đạo để người dân trong huyện đắp đập hai lớp. Nghĩa là đập đắp không cao, chỉ nhỉnh hơn mực nước một chút, khi con nước lớn thì tràn qua đập và có nước để cho dân nuôi tôm. Nhắc lại chuyện này, ông Nguyễn Quốc Việt bộc bạch: “Lúc đó căng thẳng lắm, dù có thể mất chức, nhưng việc gì có lợi cho dân thì mình làm thôi!”.

Hiện nay, trong hệ thống chính trị của TP Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang và một số địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có một lực lượng cán bộ đang công tác nhưng từng có thời gian được bồi dưỡng, rèn luyện trong môi trường quân ngũ. Hiện tại, các đồng chí được giữ lại đã phát huy tốt phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, không ngừng rèn luyện, phấn đấu và phát triển ở một số vị trí. Điển hình trong số đó là đồng chí Thiếu tướng Đinh Văn Nơi, Giám đốc Công an tỉnh Quảng Ninh. Họ là những “sản phẩm” của đồng chí Lư Văn Điền (85 tuổi), nguyên Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ (tỉnh Cần Thơ trước đây bao gồm TP Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang hiện nay) trong những năm 1992-1996.

Đồng chí Lư Văn Điền nhớ lại: “Ngày đó, đội ngũ cán bộ ở cơ sở các tỉnh miền Tây Nam Bộ vừa thiếu, vừa yếu. Trong khi đó, các chiến sĩ Quân đội tại ngũ là lực lượng nòng cốt trong các hoạt động của địa phương, được giáo dục, rèn luyện trong môi trường Quân đội và đây là nguồn cán bộ rất chất lượng cho cơ sở. Nhưng nếu không có kế hoạch để bồi dưỡng, đào tạo và sử dụng mà chỉ để anh em thực hiện nghĩa vụ quân sự xong rồi xuất ngũ thì rất lãng phí. Để tạo nguồn cho cán bộ cơ sở sau này, tôi đề xuất chủ trương: Sau khi chiến sĩ hoàn thành nghĩa vụ quân sự thì sẽ kéo dài thời gian thêm một năm nữa (ngân sách tỉnh chi trả phụ cấp, kinh phí hoạt động). Trong thời gian này, các thanh niên được tham gia hoạt động, “học việc” ở các ban, ngành, đoàn thể, sau đó sẽ chọn lọc những người ưu tú để bố trí làm việc ở một số lĩnh vực của địa phương”.

3. Thời gian qua, hàng loạt cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương để xảy ra sai phạm, rồi vướng vòng lao lý. Tiếp đó là nhiều cơ chế, chính sách chưa theo kịp với thực tiễn nên quá trình vận hành chính sách nảy sinh không ít bất cập... Những yếu tố này là nguyên nhân chính dẫn đến tâm lý “co mình” lại, sợ sai không dám làm ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Có người lập luận “thà đứng trước hội đồng kỷ luật còn hơn phải đứng trước hội đồng xét xử”...

Tất nhiên, những lập luận như trên chỉ là cá biệt của những cán bộ đã mang trong mình mầm mống của suy thoái. Thực tiễn chứng minh, dù ở bất kỳ ngành nào, lĩnh vực gì, ở tất cả địa phương, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng luôn có những cán bộ “6 dám”. Đơn cử như tại tỉnh Cà Mau, thời điểm dịch Covid-19 bùng phát diện rộng trên địa bàn tỉnh, đồng chí Hồ Trung Việt, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chính là người đề xuất cách ly người dân tại nhà thay vì đưa về các trung tâm cách ly tập trung.

Theo đồng chí Hồ Trung Việt, những ý tưởng mới, mang tính đột phá thường sẽ khó được chấp nhận nếu chưa kiểm nghiệm trên thực tiễn. “Đề xuất của tôi khi đó cũng có nhiều ý kiến phản đối, nhưng tôi đã làm cam kết, nếu sai sót sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Ngọc Hiển là huyện đầu tiên ở Cà Mau thực hiện cách ly y tế tại nhà, sau 10 ngày thấy được hiệu quả rõ nét nên lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã cho chủ trương triển khai trên toàn tỉnh. Tiếp đó, từ cách làm ở Cà Mau, 15 ngày sau, Thủ tướng Chính phủ đã cho áp dụng trên phạm vi cả nước”, đồng chí Hồ Trung Việt chia sẻ.

Hay như tại Bạc Liêu, một trong những lực đẩy mang đến thành công cho ngành công nghiệp năng lượng sạch của tỉnh, đó là tư duy đột phá, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của các đồng chí lãnh đạo tỉnh. Đồng chí Phan Thanh Duy, Phó chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu khẳng định: “Trong hai năm 2020 và 2021, đất nước ta nói chung, tỉnh Bạc Liêu nói riêng phải đối mặt với tình hình dịch Covid-19 diễn biến căng thẳng, phức tạp. Tại các tỉnh, thành phố khác, những dự án điện gió đang thi công dang dở và buộc phải tạm dừng. Nhưng đối với Bạc Liêu, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy và Chủ tịch UBND tỉnh đã quyết liệt chỉ đạo, mạnh dạn cho phép lực lượng kỹ sư, công nhân, trong đó có cả các chuyên gia người nước ngoài tự cách ly, tự làm việc để kịp thời hoàn thành các nhà máy điện gió, đưa vào sử dụng theo đúng tiến độ”.

Sự đột phá ấy đem lại hiệu quả to lớn. Trong vòng 10 năm trước đó (từ năm 2010 đến 2020), Bạc Liêu chỉ đưa vào vận hành được 62 trụ turbine gió với công suất 99,2MW. Nhưng chỉ trong hai năm (2020-2021), trên địa bàn toàn tỉnh đã lắp đặt được thêm 100 trụ turbine vừa trên biển lẫn trên bờ với tổng công suất 370MW hòa vào lưới điện quốc gia, đưa Bạc Liêu trở thành tỉnh tiên phong trong cả nước về phát triển các dự án điện gió ngoài khơi...

Tiếp nối những chủ trương của Đảng về khuyến khích, ủng hộ cán bộ dám nghĩ, dám làm, năng động, sáng tạo vì lợi ích chung, ngày 22-9-2021, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 14-KL/TW về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 73/2023/NĐ-CP ngày 29-9-2023 quy định rõ các chính sách khuyến khích và biện pháp bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Qua khảo sát tại nhiều địa phương, như: Cà Mau, Bạc Liêu, Hậu Giang, Ninh Bình, Nghệ An... lãnh đạo các địa phương đều chung khẳng định, Kết luận 14 của Bộ Chính trị như một làn gió mới về cơ sở, góp phần khơi dậy tinh thần năng động, sáng tạo và cổ vũ, động viên cán bộ các cấp dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung...

Sưu tầm

Sao lại hình thức?

- Các ông ơi, mấy hôm vừa rồi các trang mạng "lề trái" lại rêu rao rằng việc Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm vừa qua là “hình thức”, “mị dân”. Tôi đọc tức anh ách mà chưa đủ lý lẽ để phản bác luận điệu phản động này một cách thực sự thuyết phục.

Nghe ông Huy, Phó bí thư chi bộ thôn bày tỏ bức xúc trong lúc ngồi uống trà vào chiều cuối tuần, ông Trung, nguyên Bí thư chi bộ thôn, vốn là người hiểu biết sâu, giải thích:

- Các thế lực thù địch, bất mãn thì việc gì Đảng, Nhà nước ta làm, chúng cũng tìm mọi cách để suy diễn, xuyên tạc, chống phá các ông ạ. Rõ ràng ai cũng biết việc Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Đây là chủ trương rất đúng đắn đã được thực tế chứng minh là có hiệu quả. Qua lấy phiếu tín nhiệm, giúp các đồng chí cán bộ được lấy phiếu tín nhiệm biết uy tín của mình trước tập thể, từ đó phát huy ưu điểm, phấn đấu khắc phục hạn chế, thiếu sót để hoàn thiện mình hơn, hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn. Đồng thời, kết quả lấy phiếu tín nhiệm cũng là cơ sở để Đảng, Nhà nước đánh giá cán bộ sát đúng hơn, tiến hành công tác cán bộ trong hệ thống chính trị chặt chẽ, hiệu quả hơn.

- Nhưng qua lấy phiếu tín nhiệm không có cán bộ nào bị mất chức nên các trang "lề trái" cho rằng việc lấy phiếu tín nhiệm chỉ hình thức, không thực chất.

Thấy ông Huy vẫn băn khoăn, ông Trung tiếp tục lý giải:

- Chúng ta phải khẳng định, tuyệt đại đa số cán bộ được đánh giá đúng qua lấy phiếu tín nhiệm. Việc không cán bộ nào có tín nhiệm quá thấp phải mất chức thì không có nghĩa là việc lấy phiếu hình thức mà đây cũng là điều đáng mừng, chứng tỏ chưa có cán bộ uy tín quá thấp. Không ai có thể phủ nhận sự cần thiết và những lợi ích thiết thực của việc lấy phiếu tín nhiệm. Đặc biệt, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 96-QĐ/TW về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị, nhấn mạnh: “Những cán bộ có tín nhiệm thấp phải kịp thời xem xét đưa ra khỏi quy hoạch, cho từ chức, miễn nhiệm hoặc bố trí công tác khác thấp hơn chức vụ đang đảm nhiệm mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm". Chúng ta đều biết, mỗi lần lấy phiếu tín nhiệm chính là dịp để cán bộ “tự soi”, “tự sửa” về phẩm chất, năng lực, uy tín của bản thân; qua đó cảnh tỉnh, báo động đối với những cán bộ có tín nhiệm thấp. Kết quả lấy phiếu tín nhiệm được Quốc hội công khai ngay sau khi bỏ phiếu kín. Vì vậy, nhân dân sẽ giám sát, lên tiếng nếu “có vấn đề". Mỗi lá phiếu tín nhiệm là lá phiếu của niềm tin mà mỗi đại biểu, mỗi người dân gửi gắm vào đội ngũ cán bộ-ông Trung giải thích cặn kẽ.

- Tôi cũng hay theo dõi, cứ đến mỗi dịp này là những kẻ phản động, xuyên tạc, chống phá lại lợi dụng mạng xã hội hoặc các diễn đàn trên internet để đưa tin thất thiệt, dẫn dắt dư luận, gây chia rẽ nội bộ, tạo sự hoài nghi, ngờ vực trong nhân dân về đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì các cấp. Vì vậy, mình đọc thông tin cần tỉnh táo và có chính kiến để phản bác lại, đồng thời giải thích cho người dân. Có đúng không các ông? Ông Trung nhấn mạnh thêm.

- Bác Trung giải thích thật thuyết phục. Chúng ta cũng phải góp tiếng nói để bà con hiểu rõ, tránh bị kẻ xấu lợi dụng xuyên tạc chống phá - ông Huy gật gù bày tỏ sự tán đồng.

Sưu tầm

Nhận diện chủ nghĩa dân túy và những biểu hiện hiện nay

Từ khi ra đời đến nay, để khẳng định vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã phải luôn đấu tranh quyết liệt với những trào lưu tư tưởng đối lập với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tác động, ảnh hưởng của chủ nghĩa dân túy.

Nguyên nhân nảy sinh chủ nghĩa dân túy

Chủ nghĩa dân túy là trào lưu tư tưởng, đường lối chính trị bắt đầu xuất hiện trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế vào giữa thế kỷ 19 ở Pháp, đến cuối thế kỷ trỗi dậy mạnh mẽ ở nước Nga, do một bộ phận trí thức có sự đồng cảm với giai cấp nông dân, chủ trương xây dựng các “công xã nông thôn” trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng. Lúc đầu, chủ nghĩa dân túy cũng có vai trò nhất định trong đấu tranh chống lại áp bức, bóc lột, bất công; tuy nhiên, quá trình phát triển đã ra sức cản trở Chủ nghĩa Mác, phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng vô sản. V.I.Lenin đã gọi phái dân túy là kẻ thù công khai của phong trào cách mạng Nga. Năm 1894, ông đã viết tác phẩm “Những "người bạn dân" là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ-xã hội ra sao” để vạch trần bọn dân túy là những “bạn dân” giả dối, giả hiệu; đồng thời khẳng định những vấn đề có tính nguyên tắc trong cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân là phải luôn giữ vững vai trò lãnh đạo cách mạng và nông dân là người bạn đồng minh chiến lược của công nhân. Thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917 không những đã chứng minh cho những quan điểm khoa học, cách mạng của V.I.Lenin mà còn để lại bài học kinh nghiệm quý giá về vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản và sự liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân cùng tầng lớp trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Khác với trước đây, chủ nghĩa dân túy hiện nay là khái niệm được sử dụng để chỉ các trào lưu tư tưởng, khuynh hướng, thủ đoạn chính trị có tính mị dân của cá nhân, tổ chức, chủ trương đánh vào tâm lý đám đông để kêu gọi, tổ chức phong trào nhằm tranh thủ sự ủng hộ và lôi kéo quần chúng phục vụ cho mưu đồ, lợi ích chính trị, kinh tế của họ. Ở Việt Nam, chủ nghĩa dân túy không có cơ sở kinh tế, chính trị-xã hội để tồn tại dưới dạng “chủ nghĩa” mà chỉ xuất hiện với tính cách là quan điểm, tư tưởng nhỏ lẻ, không thành hệ thống và biểu hiện ở những phát ngôn, hành động của một số cá nhân, trong đó có cả cán bộ, đảng viên. Về nguyên nhân xuất hiện các phát ngôn và hành động có tính dân túy, bên cạnh những tác động, ảnh hưởng từ bên ngoài còn có các nguyên nhân chủ quan như: 4 nguy cơ đã được Đảng ta chỉ ra từ Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1-1994), đến nay vẫn còn tồn tại và có mặt gay gắt hơn. Đáng chú ý, tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực cùng với sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ và những bức xúc xã hội còn diễn biến phức tạp. Trong khi đó, vai trò nêu gương về lời nói và hành động của một số cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên; nhận thức về dân chủ, về pháp luật của một bộ phận nhân dân còn hạn chế đã dẫn đến việc thực hiện trên thực tế có lúc, có nơi chưa hiệu quả, hoặc lẫn lộn giữa dân chủ và dân túy. Những bất cập trong giải quyết một số vấn đề xã hội như xóa đói, giảm nghèo chưa bền vững, sự chênh lệch giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội có xu hướng gia tăng... cũng là những điều kiện để các phát ngôn, hành động dân túy bột phát, nảy nở. Bên cạnh đó, các thế lực phản động, cơ hội về chính trị luôn lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền... để xuyên tạc, chống phá đã làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân hào hứng đón nhận các phát ngôn, hành động có tính dân túy. Do vậy, chúng ta phải chủ động nhận diện và phòng, chống có hiệu quả những biểu hiện dân túy trong cán bộ, đảng viên.

Biểu hiện của chủ nghĩa dân túy hiện nay

Trên các diễn đàn, hội nghị có những phát ngôn, hành vi “gây sốc” để tạo dựng hình ảnh và lấy lòng quần chúng. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, cán bộ, đảng viên đều phải chấp hành nghiêm nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, gương mẫu trước nhân dân từ lời nói đến việc làm. Tuy nhiên, một số ít cán bộ, đảng viên khi dự các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội có đông người tham gia thường có những phát ngôn gây sốc nhằm tạo dựng hình ảnh và tranh thủ sự ủng hộ của quần chúng. Trên một số diễn đàn, hội nghị, không giống với những hình ảnh mô phạm và phát biểu có phần thận trọng ở các đại biểu, số cán bộ, đảng viên này thường sử dụng những lời nói, hành vi mạnh mẽ, biết chọn đúng vấn đề nóng, bức xúc đang thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội; từ đó đưa ra những kiến nghị, điều kiện giải quyết “hợp lòng dân”, nhưng lại vượt quá quyền hạn của bản thân, hoặc không có đủ cơ sở để thực hiện trên thực tế. Khi có điều kiện tiếp xúc với nhân dân, số cán bộ này tỏ ra rất nhiệt tình, trách nhiệm trong tiếp nhận, hứa hẹn sẽ chỉ đạo hoặc trực tiếp xử lý những kiến nghị, khó khăn, vướng mắc, bức xúc... của nhân dân, nhưng lại mắc phải “bệnh hứa”, làm cho người dân cứ chờ đợi, không biết khi nào mới được giải quyết.

Mượn danh nghĩa “đại biểu nhân dân” để sửa chữa, vận dụng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước có lợi cho cá nhân và nhóm lợi ích. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta đã khẳng định: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân”. Tuy nhiên, một số ít cán bộ, đảng viên, nhất là khi đã đạt được một vị trí cao trong xã hội lại lợi dụng danh nghĩa nhân dân để biến thật thành giả, giả thành thật, nhằm trục lợi cho cá nhân, gia đình và nhóm lợi ích. Điều dễ nhận thấy, số cán bộ, đảng viên này thường rất “nhạy bén” trong phát hiện và đề xuất các vấn đề có liên quan đến lợi ích và cuộc sống của nhân dân như địa phương này, vùng kia, do tác động của suy thoái kinh tế, hoặc ảnh hưởng của dịch bệnh, sự cố môi trường, thiên tai, hỏa hoạn... đang phải đối mặt với những khó khăn, từ đó đề xuất với các cấp ủy đảng, chính quyền những chủ trương, biện pháp tháo gỡ, nhưng lại tìm cách “sửa chữa” hoặc vận dụng không đúng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước nhằm có lợi cho cá nhân, gia đình và nhóm lợi ích của họ. Trong xây dựng, thẩm định, phê duyệt một số đề án, công trình hoặc chỉ đạo, giải quyết những khó khăn, bức xúc trong xã hội, số cán bộ này thường “biết cách” xử lý nhanh chóng nhằm đem lại những lợi ích cục bộ, trước mắt cho một bộ phận nhân dân, nhưng sau đó lại ngấm ngầm “điều chỉnh” chính sách để trục lợi cá nhân. Nếu được một số phương tiện truyền thông tung hô, số cán bộ này sẽ được dư luận xã hội đánh giá là người quyết đoán và “vì nhân dân”. Chỉ đến khi các cơ quan kiểm tra vào cuộc, công bố rõ những sai phạm, lúc đó người dân mới nhận rõ bản chất của vấn đề.

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, có hành vi gây phiền hà, sách nhiễu nhân dân, trục lợi cho cá nhân, gia đình và nhóm lợi ích. Hiện nay, bên cạnh đa số cán bộ lãnh đạo thật sự gần dân, chăm lo cho dân, vẫn còn một số ít cán bộ, đảng viên có hành động quan liêu, hách dịch, xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Trong các diễn đàn, hội nghị, những cán bộ này thường phát biểu rất đúng với đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhưng thực tế lại thờ ơ, vô cảm với những khó khăn, thậm chí tính mạng của nhân dân, có hành vi tham nhũng, tiêu cực. Đánh giá trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta đã chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm, bệnh lãng phí, vô cảm, bệnh thành tích ở một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi”. Số cán bộ, đảng viên này thường lợi dụng sự thiếu hiểu biết về dân chủ của một bộ phận nhân dân và chọn thời điểm người dân có những việc cần giải quyết ngay, hoặc đang gặp khó khăn trong cuộc sống để ngầm đưa ra những “yêu sách” có lợi cho họ, nhóm lợi ích của họ.

Để che mắt nhân dân và những người khác, số cán bộ này thường tỏ ra gần gũi với quần chúng, hoặc luôn lấy những chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước làm bình phong, thậm chí chủ định làm một vài “việc tốt” để lấy lòng đồng nghiệp và nhân dân. Điều đó cho thấy, những động thái “vì dân” đó luôn được che đậy dưới một vỏ bọc rất tinh vi, không phải lúc nào cũng có thể nhận diện ngay được.

Lấy danh nghĩa “bảo vệ quyền và lợi ích nhân dân” để tập hợp, tuyên truyền, kích động quần chúng, gây mất ổn định an ninh, chính trị-xã hội. Ở nước ta, những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị luôn câu kết với các thế lực thù địch bên ngoài “mượn gió bẻ măng”, tung hô ngọn cờ bảo vệ “nhân quyền”, “dân chủ”, “lợi ích của nhân dân”, nhưng thực chất là xúi giục, kích động người dân chống lại Đảng, chính quyền, gây mất trật tự xã hội. Một số ít cán bộ, đảng viên do suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cũng đã phụ họa theo, đòi các cấp ủy đảng, chính quyền phải “mở rộng dân chủ”, xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái. Ở một số ít địa phương, số cán bộ, đảng viên này (thường đã nghỉ hưu và không tham gia sinh hoạt Đảng) còn mượn danh nghĩa “bảo vệ lợi ích của nhân dân” để tổ chức tụ tập đông người, khiếu kiện, khiếu nại, thậm chí có những hành động quá khích, kích động các hành vi vi phạm pháp luật, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Đảng ta đã chỉ rõ: “Một số rất ít cán bộ, đảng viên bị phần tử xấu lợi dụng lôi kéo, kích động, xúi giục, mua chuộc đã có tư tưởng, việc làm chống đối Đảng, Nhà nước”.

Có thể thấy, sự xuất hiện của những biểu hiện dân túy trong cán bộ, đảng viên là rất nguy hiểm và khó lường. Bởi các biểu hiện đó thường được che đậy dưới “vỏ bọc cứng” (quyền lực chính trị) và “vỏ bọc mềm” (uy tín giả) nên không phải lúc nào cũng có thể nhận biết ngay. Những biểu hiện dân túy lây lan dần sẽ trở thành một xu hướng mới trong đời sống chính trị-xã hội ở nước ta, làm suy giảm vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý xã hội của Nhà nước và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị; đồng thời tạo kẽ hở cho các phần tử phản động, cơ hội, bất mãn cổ xúy, câu kết, tạo thành lực lượng để chống phá. Nếu không chủ động phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả, nó sẽ giống như một thứ virus độc hại, đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ.

Sưu tầm

Không để các luận điệu xuyên tạc làm ảnh hưởng đến công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam

Thời gian qua, lợi dụng những diễn biến phức tạp trên Biển Đông, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thông qua nhiều âm mưu nham hiểm nhằm xuyên tạc, phủ nhận đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam.

Sự nham hiểm của những luận điệu xuyên tạc

Biển là không gian chiến lược mở, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đường lối, chiến lược và tương lai phát triển của đất nước. Biển Đông là “bản lề” nối liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, là nơi hội tụ lợi ích chiến lược và thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhiều quốc gia trong và ngoài khu vực, nhất là các nước lớn. Về mặt tiềm năng phát triển, Biển Đông có nhiều lợi thế. Nơi đây đã và đang trở thành tâm điểm của sự cạnh tranh lợi ích, quyền lực và tầm ảnh hưởng của các nước lớn, được các chuyên gia quân sự ví như vùng “chảo lửa” trên bàn cờ chính trị của khu vực với nhiều diễn biến phức tạp, nhạy cảm.

Lợi dụng tình hình phức tạp trên Biển Đông, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị khai thác triệt để, biến tấu thành nhiều bài viết, hình ảnh, video nhằm bịa đặt tình hình, bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta trong công tác quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo; lợi dụng các trang mạng xã hội để lan truyền, tán phát thông tin, gây tâm lý hoang mang, bất ổn, chia rẽ đoàn kết trong nước và quốc tế.

Với những nội dung xuyên tạc xảo trá, họ thường lặp đi lặp lại luận điệu cũ rích rằng: “Cộng sản Việt Nam làm ngơ về vấn đề chủ quyền trên Biển Đông”; Đảng, Nhà nước Việt Nam im lặng vì đã thỏa hiệp với nước lớn, không cung cấp đầy đủ thông tin về tình hình Biển Đông, không có giải pháp đủ mạnh để bảo vệ chủ quyền biển, đảo... Những thông tin xuyên tạc này ít nhiều đã tác động tiêu cực tới nhận thức, tư tưởng, tình cảm, niềm tin của một bộ phận nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta.

Chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, vùng trời, vùng biển và các hải đảo. Quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là kiên quyết, kiên trì đấu tranh quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không trên các vùng biển, đảo quốc gia. Sinh thời, khi đến thăm cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”.

Những năm qua, Đảng ta luôn coi trọng nhiệm vụ phát triển mạnh kinh tế-xã hội, bảo vệ và làm chủ vùng biển của Tổ quốc. Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9-2-2007 “Về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó xác định: “Phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo”. Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22-10-2018 “Về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đã xác định: “Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”. Tại Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta một lần nữa khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”.

Như vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của biển, đảo là một bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng không thể tách rời, bất khả xâm phạm của Tổ quốc. Bảo vệ Tổ quốc nói chung, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền, bảo đảm an ninh, an toàn và lợi ích quốc gia-dân tộc trên các vùng biển, đảo nói riêng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quá trình hoạch định và triển khai thực hiện đường lối bảo vệ chủ quyền biển, đảo luôn giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, kết hợp chặt chẽ với sức mạnh thời đại và tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để phát triển kinh tế biển gắn với quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo quốc gia.

Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo quốc gia bằng biện pháp hòa bình

Bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, trong đó chủ quyền biển, đảo là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Tuy nhiên, về biện pháp tiến hành, cần phải hết sức bình tĩnh, tỉnh táo, linh hoạt, thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong các tình huống cụ thể với mục tiêu cao nhất là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia-dân tộc. Quan điểm, lập trường của Việt Nam về vấn đề Biển Đông, về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển quốc gia theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) là rất rõ ràng và hoàn toàn có đầy đủ cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn.

Với những vấn đề còn tồn tại bất đồng, tranh chấp, Việt Nam nhất quán giải quyết bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp và thông lệ quốc tế. Là một quốc gia thành viên của Liên hợp quốc đã tham gia ký kết UNCLOS 1982, Việt Nam luôn tuân thủ các quy định của luật pháp và nguyên tắc quan hệ quốc tế; kiên trì con đường giải quyết các vấn đề nảy sinh bằng biện pháp hòa bình, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau nhằm tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của tất cả các bên liên quan vì độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và vì hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực, quốc tế.

Trên thực tế, trong những thời điểm mà quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên Biển Đông bị đe dọa, Đảng, Nhà nước và toàn dân ta luôn thể hiện tinh thần đoàn kết, đồng lòng, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình trên các diễn đàn quốc tế, khu vực thông qua các cuộc gặp gỡ, trao đổi đoàn các cấp trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao; chủ động kiềm chế, không có các hành động khiêu khích, không làm phức tạp tình hình; thực hiện đầy đủ, hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và thể hiện thiện chí để sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Xây dựng hệ thống các biện pháp hòa bình để giải quyết bất đồng, tranh chấp với các bên, các nước có liên quan, như biện pháp ngoại giao (đàm phán hòa bình; thương lượng; điều tra; trung gian hòa giải; sử dụng các tổ chức quốc tế, khu vực; ký kết các hiệp định song phương, đa phương...).

Trên tinh thần đó, Việt Nam luôn nỗ lực cao nhất để xử lý các vấn đề tranh chấp trên Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn trên biển; duy trì quan hệ hữu nghị với các bên, các nước. Kiên trì mục tiêu không để nước ngoài lấn chiếm nhưng cũng không để xảy ra xung đột; kiên trì tìm kiếm giải pháp lâu dài và yêu cầu các bên liên quan không có những hành động quá khích, cực đoan, làm phức tạp thêm tình hình, tuân thủ các cam kết đã ký kết, giải quyết mọi bất đồng trên cơ sở thượng tôn luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982 và nguyên tắc chung sống hòa bình. Coi trọng thúc đẩy xây dựng lòng tin chiến lược với các đối tác; đẩy mạnh hợp tác đa phương trên các lĩnh vực bảo đảm an ninh, nghiên cứu khoa học-công nghệ, phòng, chống tội phạm trên biển... để Biển Đông thực sự là vùng biển hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Một mặt, Việt Nam không tạo phe, không kết nhóm, không chọn bên, không liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự tại Việt Nam nhằm tấn công các nước khác, không đi theo nước này để chống lại nước kia, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Mặt khác, chúng ta cũng không mơ hồ, mất cảnh giác, né tránh, nhân nhượng vô nguyên tắc, không thụ động, không dựa dẫm, không trông chờ ỷ lại; không mắc mưu lôi kéo, kích động, khiêu khích của bất cứ thế lực nào; chỉ chọn theo chân lý, đứng về lẽ phải, dựa trên luật pháp quốc tế vì mục tiêu hòa bình, hợp tác và phát triển.

Nhằm quán triệt và thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong tình hình mới, chúng ta cần phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, thực hiện phương châm “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” trên tinh thần “thêm bạn, bớt thù”, tranh thủ tối đa sự đồng thuận, ủng hộ của các bên liên quan cùng các nước trong khu vực và trên thế giới để hạn chế những bất đồng, khắc phục sự khác biệt, triệt để khai thác các nhân tố có lợi từ bên ngoài tạo thành sức mạnh tổng hợp.

Tập trung giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục; xây dựng lực lượng bảo vệ chủ quyền, thực thi pháp luật trên biển (hải quân, cảnh sát biển, bộ đội biên phòng, kiểm ngư, dân quân tự vệ biển) vững mạnh; xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng chính trị-tinh thần vững chắc.

Tích cực xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý, bảo vệ biển, đảo phù hợp với luật pháp quốc tế. Kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp đấu tranh chính trị, pháp lý, ngoại giao, kinh tế, quốc phòng, an ninh; tăng cường hợp tác quốc tế, đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại quốc phòng về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới.

Những quan điểm nêu trên là đường lối chính trị, căn cứ pháp lý để xây dựng sự đoàn kết, đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin trong nước, quốc tế, tạo thành nền tảng và sức mạnh tổng hợp quốc gia; đồng thời là cơ sở để đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động; để dư luận quốc tế hiểu rõ về lập trường, quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia trong tình hình hiện nay.

Sưu tầm