Thứ Hai, 4 tháng 12, 2023

 

              Hoàng Tất Thắng kẻ phản động


Gần đây, trên trang mạng “Danlambao”, Hoàng Tất Thắng đăng tải bài viết: “Chào mừng Việt Khang & tản mạn đôi điều về sức mạnh âm nhạc trong tranh đấu”. Nội dung bài viết đã bóc trần bản chất phản động của Y.

1. Hoàng Tất Thắng cố tình biện minh, ca ngợi Bài hát: “Anh là ai” và “Việt Nam tôi đâu” của Việt Khang, người đã bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 4 năm tù giam, 2 năm quản chế về tội tuyên truyền chống nhà nước CHXHCH Việt Nam. Hoàng Tất Thắng, cố tình không hiểu rằng: Nội dung 2 bài hát của Việt Khang nhằm tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước kích động gây mất ổn định chính trị đất nước. Tệ hại hơn, nội dung bài hát “Việt Nam tôi đâu”, là sự xuyên tạc, vu khống quan điểm, đường lối của Đảng ta về giải quyết những bất đồng và tranh chấp trên Biển Đông. Đảng ta luôn nhất quán chủ trương: Giải quyết những bất đồng trên Biển Đông, bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế. Bài hát, “Việt Nam tôi đâu”, thực chất là sự kích động, kêu gọi biểu tình chống lại Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Vì thế, việc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử Việt Khang theo Ðiều 88, Bộ luật Hình sự nước CHXHCN Việt Nam là hoàn toàn đúng người, đúng tội.

2. Không chỉ cố tình biện minh, ca ngợi Việt Khang, Hoàng Tất Thắng còn cố tình biện minh, ca ngợi “nhóm tuổi trẻ yêu nước”. Bản chất của nhóm này, là một tổ chức phản động ở nước ngoài. Chúng, “Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”. Trong website của “nhóm” này có nhan nhản đủ loại tin tức từ kêu gọi “biểu tình”, thánh lễ cầu nguyện tới tin khẩn, tin “đức thánh cha”, “hàng trăm lá cờ vàng thân yêu được dán ở Việt Nam”. Không chỉ có thế, họ còn có thư mời tham dự buổi văn nghệ “dòng nhạc tuổi trẻ yêu nước tại San Jose năm 2013 tổ chức tại tiền đình quận Santa Clara số 70 West Hedding, San Jose CA 95110 với chương trình có hai phần bài hát thuộc dòng nhạc tuổi trẻ yêu nước từ quốc nội xen lẫn những sáng tác đấu tranh ở hải ngoại và bài hát ca ngợi quê hương, vinh danh người lính Việt Nam cộng hòa.

Kẻ đứng ra thành lập nhóm này là Nguyễn Thiện Thành – đang bị Cơ quan Công an TP Hồ Chí Minh phát Lệnh truy nã số 3, ngày 23/4/2012 về “Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Biểu tượng của nhóm này là lá cờ vàng ba sọc. Một số thành viên của “nhóm” này như Võ Minh Trí, Trần Vũ Anh Bình, Ðinh Nguyên Kha, Nguyễn Phương Uyên đã bị tòa án xét xử với tội danh “Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” theo Ðiều 88 Bộ luật Hình sự.

Vi phạm pháp luật phải bị xử lý bằng pháp luật, đó là nguyên tắc mà bất kỳ quốc gia nào cũng thực thi để bảo vệ quyền con người, bảo đảm trật tự, công bằng xã hội, bảo vệ an ninh quốc gia. Vì thế, chúng ta cần nhận diện rõ tội danh của Việt Khang và “nhóm tuổi trẻ yêu nước”, để rồi thống nhất nhận thức rằng: Hoàng Tất Thắng lộ rõ nguyên hình kẻ phản động, từ đó vạch trần bản chất, và đấu tranh làm thất bại với mọi thủ đoạn của các thế lực thù địch, giữ gìn ổn định xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thân yêu./.

 NGUYỄN DOÃN ĐÔN LÀ AI

Thời gian gần đây trên một số diễn đàn phản động đã đồng loạt tán phát bài viết Chúng ta cần một lịch sử rõ ràng cho dân tộc của “nhà dân chủ” Nguyễn Doãn Đôn. Xuyên suốt bài viết, y đã trắng trợn nêu lên những điều sai sự thật, gây tổn hại đến cuộc đời, thân thế, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; nhằm mục đích “hạ bệ” thần tượng Người trong lòng nhân dân Việt Nam; tạo đà cho việc xóa bỏ nền tảng tư tưởng, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

  1. Xuyên tạc về Hồ Chí Minh là tội ác không thể dung thứ

Lịch sử đã khẳng định, thân thế, sự nghiệp cũng như tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh luôn gắn bó mật thiết với cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, các luận điệu xuyên tạc Hồ Chí Minh cũng ngày một gia tăng hơn bao giờ hết. Bám gót, nối đuôi các thế lực phản động và bọn cơ hội chính trị Nguyễn Doãn Đôn lớn tiếng tráo trở, cho rằng Hồ Chí Minh là hình tượng không hoàn toàn có thật…; và có tư tưởng Hồ Chí Minh không? Tư tưởng ấy là cái gì vậy? Sao ta theo “tư tưởng” ấy bao nhiêu năm trời đằng đẵng… ? Những lời thiển cận này chẳng thể “lừa phỉnh” được người đọc, mà có chăng chỉ làm lộ rõ bộ mặt ngu dốt, trơ trẽn, phản động của Nguyễn Doãn Đôn. Bởi, Hồ Chí Minh là một nhân cách cao đẹp, có đức trong, trí sáng, cống hiến trọn đời cho dân tộc và nhân loại tiến bộ. Người luôn hiện hữu trong tâm thức mỗi người Việt Nam yêu nước. Mọi lời lẽ, hành động xúc phạm, bôi nhọ, “hạ bệ” Người đều là tội ác không thể dung thứ. Nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, không ai có thể phủ nhận rằng tư tưởng và nhân cách của Người đã trở thành những giá trị tiến bộ của thế giới; không những là tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc Việt Nam mà còn là giá trị chung cho sự phát triển của nhân loại. Chủ tich Hồ Chí Minh là vị anh hùng giải phóng dân tộc và là một nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam; Người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội… Hành động cố tình đặt điều nói xấu, xuyên tạc, tung tin ngụy tạo về Hồ Chí Minh của Nguyễn Doãn Đôn và “đồng đảng” của y chẳng khác nào dùng bàn tay mà che mặt trời vậy!

  1. Đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đấu tranh phòng, chống các luận điệu xuyên tạc về Hồ Chí Minh là quan điểm nhất quán của Đảng ta. Nó gắn chặt với cuộc đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, cũng như cuộc đấu tranh chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Để đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc Hồ Chí Minh, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị phải thực hiện đồng bộ những giải pháp, từ đấu tranh phòng ngừa đến đấu tranh trực diện với các luận điệu xuyên tạc về thân thế và sự nghiệp của Người. Điều cốt yếu nhất, có ý nghĩa quyết định đến đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động của các luận điệu xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh là mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi chiến sĩ, đồng bào ta ở trong và ngoài nước cần hiểu đúng về công lao và đóng góp của Người đối với đất nước; hiểu và tin tưởng vào chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng và thắng lợi của sự nghiệp cách mạng; không nghe và tin theo những giọng điệu xuyên tạc của Nguyễn Doãn Dân và đồng bọn của y làm tổn hại đến lợi ích quốc gia – dân tộc./.

 

               NGUYỄN DOÃN ĐÔN LÀ AI

Thời gian gần đây trên một số diễn đàn phản động đã đồng loạt tán phát bài viết Chúng ta cần một lịch sử rõ ràng cho dân tộc của “nhà dân chủ” Nguyễn Doãn Đôn. Xuyên suốt bài viết, y đã trắng trợn nêu lên những điều sai sự thật, gây tổn hại đến cuộc đời, thân thế, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; nhằm mục đích “hạ bệ” thần tượng Người trong lòng nhân dân Việt Nam; tạo đà cho việc xóa bỏ nền tảng tư tưởng, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

  1. Xuyên tạc về Hồ Chí Minh là tội ác không thể dung thứ

Lịch sử đã khẳng định, thân thế, sự nghiệp cũng như tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh luôn gắn bó mật thiết với cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, các luận điệu xuyên tạc Hồ Chí Minh cũng ngày một gia tăng hơn bao giờ hết. Bám gót, nối đuôi các thế lực phản động và bọn cơ hội chính trị Nguyễn Doãn Đôn lớn tiếng tráo trở, cho rằng Hồ Chí Minh là hình tượng không hoàn toàn có thật…; và có tư tưởng Hồ Chí Minh không? Tư tưởng ấy là cái gì vậy? Sao ta theo “tư tưởng” ấy bao nhiêu năm trời đằng đẵng… ? Những lời thiển cận này chẳng thể “lừa phỉnh” được người đọc, mà có chăng chỉ làm lộ rõ bộ mặt ngu dốt, trơ trẽn, phản động của Nguyễn Doãn Đôn. Bởi, Hồ Chí Minh là một nhân cách cao đẹp, có đức trong, trí sáng, cống hiến trọn đời cho dân tộc và nhân loại tiến bộ. Người luôn hiện hữu trong tâm thức mỗi người Việt Nam yêu nước. Mọi lời lẽ, hành động xúc phạm, bôi nhọ, “hạ bệ” Người đều là tội ác không thể dung thứ. Nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, không ai có thể phủ nhận rằng tư tưởng và nhân cách của Người đã trở thành những giá trị tiến bộ của thế giới; không những là tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc Việt Nam mà còn là giá trị chung cho sự phát triển của nhân loại. Chủ tich Hồ Chí Minh là vị anh hùng giải phóng dân tộc và là một nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam; Người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội… Hành động cố tình đặt điều nói xấu, xuyên tạc, tung tin ngụy tạo về Hồ Chí Minh của Nguyễn Doãn Đôn và “đồng đảng” của y chẳng khác nào dùng bàn tay mà che mặt trời vậy!

  1. Đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đấu tranh phòng, chống các luận điệu xuyên tạc về Hồ Chí Minh là quan điểm nhất quán của Đảng ta. Nó gắn chặt với cuộc đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, cũng như cuộc đấu tranh chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Để đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc Hồ Chí Minh, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị phải thực hiện đồng bộ những giải pháp, từ đấu tranh phòng ngừa đến đấu tranh trực diện với các luận điệu xuyên tạc về thân thế và sự nghiệp của Người. Điều cốt yếu nhất, có ý nghĩa quyết định đến đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động của các luận điệu xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh là mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi chiến sĩ, đồng bào ta ở trong và ngoài nước cần hiểu đúng về công lao và đóng góp của Người đối với đất nước; hiểu và tin tưởng vào chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng và thắng lợi của sự nghiệp cách mạng; không nghe và tin theo những giọng điệu xuyên tạc của Nguyễn Doãn Dân và đồng bọn của y làm tổn hại đến lợi ích quốc gia – dân tộc./.

 

CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG, KIM CHỈ NAM CHO HÀNH ĐỘNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Đảng cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Điều này khẳng định giá trị lý luận, thực tiễn to lớn của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam. Song, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách xuyên tạc sự thật này. Trên trang blog “Vietnamthoibao” Trần Trung Đạo có bài viết: “Một bóng ma đang ám ảnh Việt Nam”, cho rằng việc tôn thờ chủ nghĩa Mác – Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh là sai lầm, làm cho đất nước không thể phát triển được. Đây là sự xuyên tạc, bôi nhọ trắng trợn chủ nghĩa Mác – Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

1. Chủ nghĩa Mác – Lênin là thành tựu tư tưởng, lý luận vĩ đại của nhân loại đã phơi bày bản chất sâu xa, những mâu thuẫn cố hữu tồn tại trong chế độ tư bản chủ nghĩa và dự đoán chính xác xu hướng vận động của các hình thái kinh tế – xã hội để đi đến khẳng định tương lai của nhân loại là chế độ cộng sản chủ nghĩa. Vì vậy, đây là học thuyết khoa học, cách mạng và nhân văn nhất đề ra mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người và chỉ rõ lực lượng, con đường, phương thức nhằm đạt được mục tiêu đó. Vượt lên trên mọi giới hạn về không gian và thời gian, những nguyên lý, quy luật, khái niệm, phạm trù và phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin tiếp tục là chìa khóa giải đáp những vấn đề tư tưởng, soi sáng những nhiệm vụ lịch sử của nhân loại, đó là giải phóng con người khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột, mọi sự tha hóa. Chủ nghĩa Mác – Lênin có giá trị bền vững và tính thời đại bởi bản thân nó là một học thuyết phát triển và nhân văn, luôn hướng tới sự tiến bộ của xã hội loài người; là học thuyết vạn năng vì nó là một học thuyết chính xác, một học thuyết hoàn bị và chặt chẽ, nó cung cấp cho người ta một thế giới quan hoàn chỉnh, không thỏa hiệp với bất cứ một sự mê tín nào, một thế lực phản động nào. Song, đó là học thuyết phát triển, học thuyết mở, nên sẽ là sai lầm nếu tuyệt đối hóa mặt này hay mặt kia của nó. Vì vậy, chúng ta phải tiếp tục học tập, nghiên cứu, phát triển, vận dụng sáng tạo với thực tiễn cách mạng Việt Nam.

2. Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ thiên tài của Đảng và nhân dân ta, Người thầy vĩ đại của Cách mạng Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, Người chiến sĩ cộng sản quốc tế mẫu mực đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta: Người ra đi tìm đường cứu nước và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân tộc ta đã giành thắng lợi vang dội trong cuộc Cách mạng tháng Tám, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Pháp, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta bản Di chúc mang tầm tư tưởng và trí tuệ của thời đại. Thực hiện bản Di chúc của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã không ngừng tiến lên giành được nhiều thắng lợi vẻ vang, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, hiện thực hoá mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Bên cạnh đó, tư tưởng của Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, trên cơ sở kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại. Giá trị lý luận, thực tiễn to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa vẫn còn nguyên vẹn, giữ vai trò quyết định trong công cuộc đổi mới hiện nay, tiếp tục soi sáng những vấn đề lý luận để giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra, đưa nước ta vững chắc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Với ý nghĩa đó, ngày 18/5/2021 Bộ Chính trị (khóa XIII) đã ban hành Kết luận số 01-KL/TW về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

Việc Trần Trung Đạo xuyên tạc trắng trợn chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là đi ngược lại với ý chí của loài người tiến bộ trên thế giới nói chung, nguyện vọng chính đáng của nhân dân Việt Nam nói riêng. Đây là điều, không thể chấp nhận được cần phải lên án mạnh mẽ và đấu tranh loại bỏ./.

       Hội nghị Trung ương 7 khóa XIII của Đảng

Từ ngày 15 đến ngày 17/5/2023, tại Thủ đô Hà Nội, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng giữa nhiệm kỳ khóa XIII (Hội nghị Trung ương 7) đã họp, thảo luận, cho ý kiến và quyết nghị nhiều vấn đề quan trọng trong xây dựng Đảng, phát triển kinh tế – xã hội và những nhiệm vụ trọng tâm đến hết nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng. Sự kiện này được đông đảo nhân dân và dư luận quan tâm, đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao. Tuy nhiên, các trang mạng xã hội phản động cũng đã đăng tải nhiều bài viết xuyên tạc về Hội nghị.

Cả trước, trong và sau Hội nghị, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị liên tục tán phát những bài viết xuyên tạc như: “Đằng sau những con số- Hội nghị “giữa nhiệm kỳ” không nói được điều gì” của Phạm Trần đăng trên Việt Báo và Quyenduocbiet.com; “Hội nghị Trung ương 7: Đảng cộng sản hoàn toàn bế tắc” của Việt Hoàng đăng trên Thongluan-rdp; “Hội nghị Trung ương 7: Những dấu hiệu tàn cuộc” của Trần Đông A đăng trên Baotiengdan …. Những bài viết trên đều tập trung phủ nhận ý nghĩa, kết quả quan trọng của Hội nghị, cho rằng với thời gian ngắn như vậy sẽ “không nói được điều gì”, thậm chí “thất bại”, “rơi vào tàn cuộc”. Chúng cũng xuyên tạc, hạ thấp uy tín của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và những thành tựu, nỗ lực của Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị và toàn dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn đã bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của chúng.

Một là, Hội nghị Trung ương 7 là sự kiện rất quan trọng với dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng

Trong hai ngày làm việc, Hội nghị đã hoàn thành các nội dung được xác định: Cho ý kiến và thông qua Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư giữa nhiệm kỳ và một số nhiệm vụ trọng tâm đến hết nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng; Lấy phiếu tín nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương đối với các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XIII; và một số vấn đề quan trọng khác. Hội nghị Trung ương 7 có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; là dịp để nhìn lại và đánh giá một cách khách quan, toàn diện những kết quả, thành tựu đã đạt được từ đầu nhiệm kỳ đến nay, đồng thời chỉ ra những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm; dự báo bối cảnh tình hình mới với những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, để từ đó đề ra những chủ trương, quyết sách lớn cần phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện trong nửa cuối của nhiệm kỳ khoá XIII.

Hai là, không thể phủ nhận thành tựu của đất nước trong nửa nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng

Trong bối cảnh, tình hình thế giới, khu vực và trong nước với nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường và nhiều khó khăn, thách thức mới xuất hiện, gay gắt, khó giải quyết hơn so với dự báo cũng như so với cùng kỳ của một số nhiệm kỳ gần đây đã tác động, ảnh hưởng sâu sắc đến an ninh chính trị, kinh tế, xã hội trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, với ý chí, quyết tâm cao, đất nước ta vẫn vững vàng vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục đạt được những kết quả quan trọng, khá toàn diện trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt về kinh tế – xã hội. Chúng ta đã cơ bản thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ vừa tập trung phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh; vừa thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và hiệu quả. Việt Nam là một điểm sáng “trong bức tranh xám màu” của kinh tế toàn cầu. Tăng trưởng kinh tế năm 2021 đạt 2,56% (trong khi nhiều nền kinh tế trên thế giới tăng trưởng âm); tăng trưởng kinh tế năm 2022 đạt 8,02% (cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới); dự báo năm 2023 Việt Nam vẫn có thể đạt từ 6 đến 6,5%… Các chỉ tiêu quan trọng về thu ngân sách nhà nước, tổng vốn đầu tư toàn xã hội vẫn tăng; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, cán cân thương mại… đều đạt và vượt so với kế hoạch đề ra. Điểm mới rất quan trọng của nhiệm kỳ này là, chúng ta đã ban hành và chỉ đạo tổ chức rất thành công các Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện các nghị quyết mới của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh ở toàn bộ 6 Vùng kinh tế – xã hội của cả nước – một vấn đề có ý nghĩa chiến lược, rất quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Đối với các lĩnh vực khác như: quốc phòng, an ninh, đối ngoại; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xây dựng, chỉnh đốn Đảng cũng có nhiều đổi mới, mang lại hiệu quả thiết thực.

Những kết quả đó khẳng định những chủ trương, đường lối của Đảng là đúng đắn, phù hợp, thành quả của những nỗ lực, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, nhất là sự đoàn kết thống nhất, phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng của cả hệ thống chính trị; phát huy truyền thống yêu nước và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên; tinh thần lao động tích cực, sáng tạo, trách nhiệm của nhân dân; sự tín nhiệm, đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế.

Như vậy, Hội nghị Trung ương 7 khóa XIII đã thành công tốt đẹp trên nhiều phương diện. Chúng ta tin tưởng rằng, với niềm tin vững chắc, khí thế mới, động lực mới, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta sẽ tiếp tục đoàn kết, phấn đấu với quyết tâm và nỗ lực cao hơn nữa; năng động, sáng tạo hơn nữa để sáng suốt nắm bắt mọi thời cơ, thuận lợi; vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thách thức; hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra cho cả nhiệm kỳ khoá XIII, góp phần xây dựng đất nước thân yêu của chúng ta ngày càng phát triển, cường thịnh; ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, như Bác Hồ muôn vàn kính yêu hằng mong muốn. Đồng thời, chúng ta cũng luôn cảnh giác, đấu tranh, phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận kết quả, ý nghĩa của Hội nghị đặc biệt quan trọng này./.

PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG, SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC, XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC TA NGÀY CÀNG PHỒN VINH, HẠNH PHÚC

    Dưới sự lãnh đạo của Đảng, những năm qua, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố, tăng cường và phát huy. Các giai tầng xã hội chuyển biến tích cực, phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng… Trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Đảng ta xác định quan điểm tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc, cụ thể

Thứ nhất, Đảng ta tiếp tục khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, đường lối chiến lược quan trọng, xuyên suốt của Đảng; nguồn sức mạnh to lớn, nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nền tảng vững chắc của đại đoàn kết toàn dân tộc là liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo; là mối quan hệ bền chặt giữa Đảng và Nhân dân, là niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; là đoàn kết trong Đảng, đoàn kết giữa các giai tầng xã hội, giữa cộng đồng các dân tộc Việt Nam, giữa đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa những người theo các tôn giáo khác nhau, giữa người Việt Nam ở trong và ngoài nước; là đoàn kết giữa Nhân dân Việt Nam và Nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới.

Bác Hồ đã nói "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công" - dẫn lại lời dạy của Bác Hồ, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cho rằng, nếu như có đoàn kết trong Đảng thì sẽ có thành công. Nếu có đoàn kết trong Đảng, đoàn kết trong dân thì sẽ có thành công lớn hơn và nếu có cả đoàn kết trong Đảng, trong dân và đoàn kết quốc tế thì sẽ đạt tới đại đoàn kết, đại thành công lớn hơn. Như vậy, cách đặt vấn đề của Nghị quyết 43 đã rộng hơn, làm rõ hơn nội hàm của đại đoàn kết dân tộc.

Thứ hai, hiệu triệu người Việt Nam ở trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài. Lấy mục tiêu xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc; trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 làm điểm tương đồng để động viên, cổ vũ Nhân dân đồng lòng, chung sức thực hiện vì tương lai của dân tộc, hạnh phúc của Nhân dân.

Thứ ba, đề cao phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và “vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân”.Đại đoàn kết toàn dân tộc phải gắn với phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền làm chủ của Nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Giải quyết tốt quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng, nâng cao cuộc sống của Nhân dân; bảo đảm công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc, các giai tầng xã hội và của mỗi người dân trong tiếp cận cơ hội, đóng góp cho đất nước và thụ hưởng thành quả phát triển.

Thứ tư, Đảng xác định vai trò của cả hệ thống chính trị về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân, là trách nhiệm của Đảng và cả hệ thống chính trị. Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng đoàn kết trong hệ thống chính trị, đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội giữ vai trò nòng cốt chính trị trong tập hợp, đoàn kết, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, tiềm năng, sức sáng tạo của Nhân dân cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỀ MỐI QUAN HỆ XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

         Giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là một vấn đề hệ trọng không chỉ của Việt Nam mà của tất cả các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề có tính quy luật, dựng nước phải đi đôi với giữ nước. Do vậy, các thế lực cơ hội, thù địch cũng luôn tìm cách chống phá, gây mất ổn định, mong muốn chúng ta giải quyết sai, xử lý không đúng dẫn tới đổ vỡ, thất bại. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy, nếu tập trung quá nhiều nguồn lực, tách riêng các nhiệm vụ, không có quan điểm đúng, dẫn tới tập trung quá nhiều cho quốc phòng, an ninh, dẫn tới không đủ nguồn lực cho xây dựng và phát triển kinh tế, tất yếu kinh tế kém phát triển và ngược lại, nếu chỉ tập trung cho phát triển kinh tế, coi nhẹ quốc phòng, an ninh dẫn tới hoặc phải dựa vào sự hỗ trợ từ bên ngoài, hoặc luôn trong tình trạng bị đe doạ, phụ thuộc. Vì vậy, âm mưu, thủ đoạn của chúng là tạo ra sự mất cảnh giác, lợi dụng những khó khăn trong từng thời điểm, nhất là khó khăn về kinh tế, khó khăn về bảo vệ chủ quyền biển đảo để phê phán, xuyên tạc.

Các quan điểm sai trái, thù địch về quốc phòng, an ninh, về lực lượng vũ trang, từ lâu luôn nhấn mạnh rằng, cần phải phi chính trị hoá lực lượng vũ trang, lực lượng vũ trang chỉ tuân thủ pháp luật, không chịu sự lãnh đạo của Đảng; rằng lực lượng vũ trang muốn chuyên nghiệp, muốn có sức mạnh và khách quan thì không chịu sự chi phối của chính trị và ngược lại. Một đảng cầm quyền dễ mất dân chủ, độc đoán chuyên quyền, khi chi phối lực lượng vũ trang sẽ biến lực lượng vũ trang trở thành công cụ cho độc đoán, chuyên quyền, phe phái trong xã hội. Điều này dẫn tới suy yếu trong nhiệm vụ bảo vệ đất nước đối với bên ngoài, nhưng là công cụ bạo lực đối với trong nước….

       Do vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng cần hết sức cảnh giác trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, nhận rõ âm mưu của chúng hòng gây hoang mang, dao động, mất phương hướng chính trị, chia rẽ rẽ quân đội với công an, lực lượng vũ trang với nhân dân, nhân dan với Đảng … nhằm thực hiện xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

CHA ANH TA ĐÁNH GIẶC: ĐƠN VỊ ĐẦU TIÊN BẮN RƠI MÁY BAY B-52!

         Để góp phần làm nên Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, một trong những đơn vị luôn được nhắc tới là Trung đoàn 238, Sư đoàn 363 - đơn vị bắn rơi chiếc máy bay B-52 đầu tiên; tạo ra những kinh nghiệm quan trọng, làm cơ sở viết nên Cuốn sách đỏ “Cách đánh B-52” của Bộ đội tên lửa Phòng không Việt Nam!

Vào giữa năm 1965, lần đầu tiên giặc Mỹ cho B-52 ném bom hủy diệt một căn cứ hậu cần của ta ở Bến Cát rồi đánh rộng ra khắp miền Nam. 10 tháng sau, ngày 12-4-1966, B-52 Mỹ leo thang ra miền Bắc, ném bom đèo Mụ Giạ, miền Tây Quảng Bình. Tiếp theo là những đợt đánh phá liên tục xuống khu vực Vĩnh Linh, cực Nam Quân khu 4. Trước tình hình đó, Bác Hồ đã chỉ thị cho đồng chí Đặng Tính - Chính ủy Quân chủng PK-KQ: “Máy bay B-52 Mỹ đã ném bom miền Bắc, phải tìm ra cách đánh cho được B-52. Nhiệm vụ này Bác giao cho các chú PK-KQ”. Quán triệt sâu sắc chỉ thị của Người, tháng 4-1966, theo lệnh của Bộ Tổng Tư lệnh, Quân chủng giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 238 vào chiến đấu ở chiến trường Khu 4, trên đất lửa Vĩnh Linh để thực hiện nhiệm vụ chiến lược vô cùng quan trọng là nghiên cứu cách đánh máy bay B-52. Đây là một nhiệm vụ vô cùng mới mẻ, nặng nề đối với Trung đoàn.

Ban Chỉ huy Trung đoàn quyết định đưa toàn bộ lực lượng của các tiểu đoàn 82, 84, 85, trung đoàn bộ cùng lực lượng pháo phòng không vào Vĩnh Linh. Ban Chỉ huy Trung đoàn quyết định bố trí Tiểu đoàn 84 ở khu Tây Vĩnh Linh để đánh B-52 trước. Tiểu đoàn 82 ở khu Đông chuẩn bị thật tốt tạo thế bất ngờ đánh B-52 sau khi Tiểu đoàn 84 đã đánh ở khu Tây. Sau khi họp bàn, nghiên cứu, phân tích, lãnh đạo và chỉ huy Trung đoàn nhất trí chủ trương dồn ghép toàn bộ lực lượng và trang bị tốt của Trung đoàn cho một tiểu đoàn (Tiểu đoàn 84), quyết đánh bằng được máy bay B-52; tăng cường huấn luyện kíp chiến đấu đánh B-52.

13 giờ ngày 17-9-1967, Tiểu đoàn 84 vào cấp 1; 17 giờ 3 phút, dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đình Phiên, kíp chiến đấu Tiểu đoàn 84 gồm sĩ quan điều khiển Lê Hỷ cùng ba trắc thủ Phạm Văn Ngoạn, Trần Hồng Thính và Nguyễn Văn Ngận đã phóng 2 đạn tiêu diệt chiếc B-52 đầu tiên tại Vĩnh Linh. 17 giờ 34 phút, tốp B-52 tiếp theo bay vào, chỉ còn một quả đạn, Tiểu đoàn vẫn quyết đánh và bắn rơi thêm 1 chiếc B-52. Mặt trận thông báo: 2 chiếc B-52 bị diệt. Đây là chiến công đầu tiên bắn rơi B-52 của Bộ đội Tên lửa phòng không Việt Nam.

Sau khi nghe báo cáo kết quả bắn rơi B-52, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư khen đồng bào, chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân và cán bộ Vĩnh Linh: “Bác rất vui lòng được tin ngày 17-9-1967, Vĩnh Linh đã lập công xuất sắc, lần đầu tiên bắn rơi 2 máy bay B-52 của giặc Mỹ. Thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, Bác đặc biệt gửi lời khen đồng bào, cán bộ và chiến sĩ Vĩnh Linh đã đánh giỏi, bắn trúng, chiến thắng vẻ vang, Vĩnh Linh thật xứng đáng là tiền tuyến anh hùng của miền Bắc xã hội chủ nghĩa”. Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì cho Tiểu đoàn 84.

Tiếp đó, ngày 20-10-1967, Tiểu đoàn 82 bằng 3 quả đạn đã bắn rơi 2 máy bay B-52 và ngày 29-10-1967, Tiểu đoàn 84 lại lập công xuất sắc, bằng 2 quả đạn tiêu diệt 1 máy bay B-52. Tiểu đoàn 82 đã được Quốc hội và Chính phủ tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Hai và Quân khu 4 tặng Tiểu đoàn lá cờ mang dòng chữ “Đánh mạnh thắng to” cùng 1 đài bán dẫn.

Hòa nhịp với tiếng súng tiến công và nổi dậy của đồng bào, chiến sĩ Miền Nam anh hùng, ngày 11-1-1968, Tiểu đoàn 82 lại bắn rơi 1 máy bay B-52. Đây là chiếc máy bay B-52 thứ 6 bị Trung đoàn bắn rơi trên đất lửa Vĩnh Linh anh hùng.

Trải qua bao gian nan, thử thách, ác liệt, phải hi sinh cả xương máu (từ giữa năm 1966 đến đầu năm 1968) Trung đoàn 238 đã hành quân tới đất lửa Vĩnh Linh, bám trụ kiên cường, anh dũng đánh thắng nhiều đối tượng, từ máy bay cường kích đến máy bay ném bom chiến lược B-52 của giặc Mỹ. Chiến công của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 238 có ý nghĩa to lớn trong việc nghiên cứu đánh một đối tượng tác chiến mới, bước đầu rút kinh nghiệm, nghiên cứu tìm ra cách đánh B-52 cho các đơn vị sau này tham gia Chiến dịch Phòng không bảo vệ Hà Nội tháng 12-1972, đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B-52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng làm nên một “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, tạo bước ngoặt quyết định thay đổi cục diện chiến tranh ở Việt Nam. Với những thành tích vẻ vang, những cống hiến và hy sinh to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngày 15-1-1976 Trung đoàn đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”.

Phát huy truyền thống đơn vị anh hùng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn không ngừng phấn đấu, rèn luyện, nâng cao sức mạnh chiến đấu và SSCĐ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Nhiều năm liền Đảng bộ đạt trong sạch vững mạnh, Trung đoàn vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu” là lá cờ đầu trong Phong trào Thi đua quyết thắng của Sư đoàn 363 và Quân chủng PK-KQ. Với thành tích đó, ngày 13-12-2013, Trung đoàn vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân” thời kỳ đổi mới./.
Yêu nước ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 03 THÁNG 12 NĂM 1945!

     “Nhờ sức đoàn kết tranh đấu chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều như anh chị em trong một nhà, không còn có sự phân chia nòi giống, tiếng nói gì nữa. Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lập càng cần đoàn kết hơn nữa”!
Lời căn dặn trên được Chủ tịch Hồ Chí Minh nói tại Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam, ngày 03 tháng 12 năm 1945, đăng trên Báo Cứu quốc, số 108, ra ngày 04 tháng 12 năm 1945.
Đây là thời điểm nước ta vừa mới giành được nền độc lập, phải thực hiện nhiều nhiệm vụ cấp bách như: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm, mở rộng quan hệ với các nước tiến bộ trên thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam... Lời căn dặn của Bác có ý nghĩa sâu sắc, là sự nhắc nhở ân cần đối với đồng bào các các dân tộc hãy xóa bỏ mọi bất hòa, thành kiến, phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà để bảo vệ nền độc lập đã giành được.
Hiện nay, các thế lực thù địch đang quyết liệt thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, kích động ý thức về tộc người và lợi dụng sự chênh lệnh về trình độ phát triển giữa các dân tộc để tạo mâu thuẫn, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị, là nền tảng lý luận cho chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta; định hướng, dẫn dắt cho hoạt động thực tiễn nhằm giải quyết tốt vấn đề dân tộc trong tình hình mới. Thực hiện lời dạy của Người, Đảng và Nhà nước ta chủ trương tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số; nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số.  Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp. Chống kỳ thị dân tộc; nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc...

Hơn 75 năm qua, bằng những việc làm thiết thực như tham gia phát triển kinh tế - xã hội, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, xóa mù chữ, phòng chống thiên tai, bão lũ, hỏa hoạn, chăm sóc sức khỏe nhân dân, bài trừ hủ tục mê tín, dị đoan, tệ nạn xã hội… Quân đội ta đã góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Trong giai đoạn mới, phát huy bản chất và truyền thống tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội nguyện kề vai sát cánh với đồng bào các dân tộc vượt qua mọi khó khăn, thử thách, xây dựng miền núi, vùng các dân tộc ngày càng vững mạnh, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cùng với đồng bào các dân tộc và nhân dân cả nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.
Môi trường ST.

Chủ Nhật, 3 tháng 12, 2023

Xây dựng phong cách làm việc dân chủ cho đội ngũ cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh

        Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến công tác cán bộ, coi đó là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, khâu “then chốt” trong công tác xây dựng Đảng. Người thường xuyên căn dặn cán bộ phải rèn luyện phương pháp, tác phong công tác, trong đó phong cách làm việc dân chủ được Người đặc biệt coi trọng. Trong giai đoạn hiện nay, việc tiếp tục vận dụng sáng tạo, hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ rất cần thiết, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng.

           Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ

        Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng dân chủ, coi thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Người khẳng định, bản chất của dân chủ tức là dân là chủ và dân làm chủ. Trong Đảng, Người căn dặn: “Để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ”; “Để lãnh đạo tốt, các cấp ủy phải thật đoàn kết, thật dân chủ, phải thực hành chế độ “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” và phê bình và tự phê bình để không ngừng tiến bộ”(2). Đối với Nhà nước, Người cho rằng: “Nhà nước ta phát huy dân chủ đến cao độ, đó là do tính chất Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân. Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên”.

        Người luôn coi trọng cán bộ, khẳng định “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Phong cách, tác phong công tác của cán bộ rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả công việc. Bởi vậy Người luôn căn dặn cán bộ “Tác phong phải dân chủ, dựa vào lực lượng quần chúng, học hỏi sáng kiến của quần chúng để lãnh đạo quần chúng”. Muốn có tác phong dân chủ, “cán bộ phải đi sát sản xuất, đi sát quần chúng và phải dân chủ với dân”. Như vậy, vừa là phát huy dân chủ nhân dân, vừa rèn luyện tác phong dân chủ của người cán bộ.

        Trong cách thức, phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện phong cách làm việc giản dị, gần gũi nhưng sâu sắc, quyết đoán, hòa mình vào quần chúng nhân dân, coi nhân dân là cội nguồn của mọi thắng lợi. Người coi dân chủ là “chìa khóa vạn năng” để khơi dậy tính sáng tạo của nhân dân, huy động và sử dụng nguồn lực nhân dân vào các lĩnh vực, ngành, nghề hoạt động khác nhau, bảo đảm thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng ở mọi lúc, mọi nơi. Người đã nhấn mạnh: “Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái, và người khác cũng học theo. Và trong khi tăng thêm sáng kiến và hăng hái làm việc, thì những khuyết điểm lặt vặt, cũng tự sửa chữa được nhiều”.

        Bởi vậy, Người nhắc nhở cán bộ, trong phong cách làm việc, phong cách công tác, phong cách lãnh đạo của cán bộ phải chống bệnh hẹp hòi, nghĩa là phải tuyệt đối vì lợi ích của Đảng, của Nhân dân. Người chỉ rõ: nguyên nhân của bệnh có nhiều, nhưng chủ yếu là do ham danh vọng và địa vị, nên khi ở cương vị phụ trách thì lôi người này, kéo người khác, ưa ai thì kéo vào, không ưa thì đẩy ra. Hậu quả của bệnh hẹp hòi là gây chia rẽ, mất đoàn kết giữa cán bộ cấp trên phái đến và cán bộ địa phương, cán bộ cũ và cán bộ mới, giữa bộ phận và toàn cục, cán bộ cơ quan này và cán bộ cơ quan khác, địa phương này và địa phương khác…

        Phong cách làm việc dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là phải “nói đi đôi với làm”. Người yêu cầu cán bộ phải thống nhất giữa nói và làm, tư tưởng phải chuyển hóa thành hành động cụ thể, hoàn thành nhiệm vụ, thực hiện lý tưởng cao cả của Đảng và dân tộc. Người từng căn dặn “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Tức là để dân tin, dân quý, dân ủng hộ, người đảng viên phải làm trước, đi trước, dù có gian khổ, hy sinh cũng không kêu ca, phàn nàn. Nói đi đôi với làm còn là cách để cấp trên gương mẫu với cấp dưới, là để cầm tay, chỉ việc giữa người có kinh nghiệm với người mới, người chưa có kinh nghiệm. Ở bất kỳ đâu, làm bất cứ việc gì, ở cương vị nào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều tôn trọng, lắng nghe ý kiến của mọi người, phát huy trí tuệ của tập thể, đề cao những kinh nghiệm, sáng kiến, cách làm hay, sáng tạo đem lại hiệu quả cao trong công việc. Người chỉ rõ: “Gom góp mọi ý kiến rời rạc, lẻ tẻ của quần chúng, rồi phân tích nó, nghiên cứu nó, sắp đặt nó thành những ý kiến có hệ thống… Cứ như thế mãi thì lần sau chắc đúng mực hơn, hoạt bát hơn, đầy đủ hơn lần trước. Đó là cách lãnh đạo cực kỳ tốt”.

        Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cán bộ phải có ý thức tập thể cao, tạo được bầu không khí dân chủ, cởi mở trong làm việc, cũng như trong cuộc sống; từ đó, tạo động lực, niềm tin cho mỗi người có thể tham mưu, hiến kế, đề xuất những cách thức, biện pháp nâng cao năng suất lao động, xây dựng đơn vị, địa phương vững mạnh về mọi mặt. Đồng thời, đề cao phong cách làm việc dân chủ nhưng không đồng nghĩa với dân chủ quá trớn, mạnh ai người nấy làm, mà phải tuân theo nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”; làm bất kỳ việc gì phải đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết; phải nêu cao tính tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên…

        Bồi dưỡng phong cách làm việc dân chủ cho đội ngũ cán bộ hiện nay

        Trong những năm qua, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, trong đó có phong cách làm việc dân chủ đã đạt nhiều kết quả, góp phần chuyển biến mạnh mẽ, tích cực trong nhận thức, hành động của đội ngũ cán bộ. Song, trước yêu cầu của tình hình mới, đòi hỏi phải xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược nâng cao hơn nữa về chất lượng, vững kiến thức chuyên môn, có năng lực quản lý, điều hành, phong cách làm việc dân chủ, khoa học... Có như vậy mới phát huy được trí tuệ của tập thể, đưa ra được những quyết định sáng suốt, hiệu quả, phù hợp, vượt qua khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị.

        Tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII), triển khai kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị (khóa XIII) “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, ngày 12-6-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã nhấn mạnh: “Phong cách Hồ Chí Minh là lối sống, tác phong khiêm tốn, giản dị, cầu thị, gần dân, trọng dân, tin dân, học dân, làm việc gì cũng phải vì lợi ích của nhân dân; là đầy tớ của dân chứ không phải “làm quan nhân dân”, không được lên mặt “làm quan cách mạng”. Có thể thấy, yêu cầu xây dựng, bồi dưỡng phong cách làm việc cho cán bộ, trong đó có phong cách dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh là việc làm hết sức cần thiết.

        Để công tác này thực hiện có hiệu quả, trước hết, cần thực hiện nghiêm các quy chế, quy định của Đảng, Nhà nước về cán bộ và công tác cán bộ như: Quy định số 89-QĐ/TW ngày 4-8-2017 của Bộ Chính trị khóa XII về “Khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”; Quy định số 90-QĐ/TW ngày 4-8-2017 về “Tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý”; Quy định số 105-QĐ/TW ngày 19-12-2017 về “Phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử”; Quy định số 50-QĐ/TW, ngày 27-12-2021 về công tác quy hoạch cán bộ; Quy định số 80-QĐ/TW, ngày 18-8-2022 về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử; Quy định số 65-QĐ/TW, ngày 28-4-2022 về luân chuyển cán bộ; Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021 về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ… Việc thực hiện nghiêm các quy định trong công tác cán bộ là cách thức để thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong mỗi tổ chức đảng. Đồng thời để cán bộ phải tự ý thức rèn luyện phong cách làm việc dân chủ.

Bên cạnh đó, cần phát huy dân chủ, bảo đảm tính chặt chẽ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ. Công tác cán bộ được thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch sẽ tạo điều kiện cho cán bộ có môi trường rèn luyện, phấn đấu, phát triển toàn diện. Tiếp tục đổi mới công tác tác đánh giá cán bộ, bởi đây là khâu mở đầu, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng liên quan đến các khâu khác của công tác cán bộ. Đánh giá không đúng về cán bộ dẫn tới bố trí, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ không đúng,  có thể gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng; triệt tiêu nhân tố tích cực, thúc đẩy chủ nghĩa cơ hội, tiêu cực, suy thoái đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cán bộ được đánh giá khách quan, công tâm, được lựa chọn và bố trí đúng sẽ góp phần hạn chế tham nhũng, tiêu cực… Để đánh giá đúng cán bộ, cần đánh giá đa chiều, thông qua năng lực, phẩm chất và uy tín; dựa vào kết quả, hiệu quả thực hiện từng công việc cụ thể. Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý, cần phải căn cứ vào kết quả, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị. Đồng thời, phải căn cứ vào kết quả đổi mới, sáng tạo; tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nói đi đôi với làm; khả năng thích ứng nhanh với tình hình thực tiễn, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành. Đánh giá để bổ nhiệm và bầu cử phải trực tiếp khảo sát, gặp gỡ trao đổi với các tổ chức, cá nhân có liên quan và tham khảo ý kiến phản ánh, đóng góp của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Bản thân cán bộ tự đánh giá, tập thể đánh giá, cấp trên đánh giá, cấp dưới đánh giá, huy động các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia đánh giá cán bộ.

Cần có cơ chế, chính sách thu hút, lựa chọn, bồi dưỡng, sử dụng người có đức, có tài. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương gắn với các chế độ, chính sách như tiền lương, thu nhập, cải thiện cuộc sống, môi trường, điều kiện làm việc… cho cán bộ. Việc đổi mới, thực hiện tốt cơ chế, chính sách trên cơ sở kiểm soát tốt quyền lực, vừa đảm bảo chất lượng cán bộ, vừa phát huy dân chủ, phòng, chống được tiêu cực…

Thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm, trong đó có trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp cũng là cách để rèn luyện tác phong dân chủ. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI, XII) của Đảng đều nêu rõ vấn đề về vai trò, trách nhiệm, thẩm quyền người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016, của Bộ Chính trị “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” cũng đã khẳng định quan điểm đó. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ, trong nhiệm kỳ qua, “việc đổi mới phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo Đảng từ Trung ương tới cơ sở có bước tiến bộ. Coi trọng việc phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức đảng, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội”.

Cán bộ phải sâu sát cơ sở, nắm vững thực tiễn, kịp thời giúp cơ sở giải quyết các khó khăn và vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. Đây vừa là trách nhiệm, vừa là tác phong công tác cần phải có của mỗi cán bộ. Đặc biệt với cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu, để có phong cách lãnh đạo sâu sát, cần phải dành thời gian đi cơ sở, trực tiếp trao đổi, đối thoại với người dân, doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức…, từ đó tránh được bệnh quan liêu, hạn chế tình trạng ra các quyết định, chủ trương thiếu tính thực tiễn, duy ý chí. Mặt khác, cần xem phong cách sâu sát cơ sở, thực tiễn là một tiêu chí, một yêu cầu cần thiết trong quy hoạch, đề bạt cán bộ giữ vị trí người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp.

Cùng với làm tốt các khâu trong công tác cán bộ, cần “có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân”. Như vậy đội ngũ cán bộ sẽ ngày càng trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao về chất lượng, góp phần thực hiện thắng lợi các nghị quyết của Đảng.

Sưu tầm

Sự cám dỗ từ những túi quà

Tặng quà vốn xuất phát đơn giản chỉ là hành động thể hiện mối quan hệ tình cảm giữa người trao và người nhận, được thực hiện một cách tự nguyện, không mang tính vụ lợi như trao đổi, mua bán và thường không phụ thuộc vào giá trị món quà to hay nhỏ. Nó là thứ “vật hoá” nhằm thể hiện sự kính trọng, biết ơn, để ghi nhớ, lưu niệm hay đơn giản là sự sẻ chia với những người không may mắn trong cuộc sống…, của người trao đối với người được nhận. Có thể nói, tặng quà là một biểu hiện, một hành vi ứng xử không chỉ mang tính nhân văn sâu sắc mà còn mang tính văn hoá: Văn hoá tặng quà.

Chỉ tiếc rằng những năm gần đây hành vi tặng quà đã và đang có sự biến tướng, lệch chuẩn nhanh chóng và mạnh mẽ. Không ít người khi có nhu cầu thăng quan tiến chức, muốn được "ngồi" vào vị trí lãnh đạo nào đó; để được cử đi công tác, học tập ở nước ngoài, hay muốn trúng thầu các chương trình, dự án; kể cả khi cần chạy án, chạy tội... để cho chắc ăn họ sẽ có chiêu tặng quà. Còn đối với người nhận thì một khi đã có quà cũng sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu của người tặng quà, tuỳ theo giá trị của túi quà là lớn hay nhỏ cũng như khả năng, uy quyền mà người nhận quà có trong tay. Hiện tượng này đang khá phổ biến trong giai đoạn hiện nay. Nó có ở mọi lúc, mọi nơi, nguy hiểm hơn còn len lỏi vào các cơ quan đảng, nhà nước, các bộ, ngành, tập đoàn, tổng công ty… Nó dễ dàng đánh gục một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thoái hoá biến chất từ Trung ương đến cơ sở. Sự biến tướng của việc tặng quà nói trên đã và đang làm mất đi những giá trị cao đẹp đích thực vốn có của việc tặng quà, không chỉ là vi phạm pháp luật mà còn tác động xấu đến cả việc phát huy truyền thống văn hoá dân tộc; xây dựng lối sống mới văn minh của con người Việt Nam hiện đại.

Đã có không ít những túi quà đầy cám dỗ mà cả người trao và người nhận đều hiểu rất rõ đó là sự mặc cả, mua bán, sự "có đi có lại" theo kiểu “vật ngang giá”, “ông đưa chân giò, bà thò chai rượu”. Đó là mối quan hệ mà cả người trao quà với kẻ nhận quà đều được hưởng lợi. Cái lợi bất chính phi đạo đức, không cần bỏ trí tuệ, đầu tư công sức mà thực chất là sự ăn cướp trắng trợn tiền của của Nhà nước và Nhân dân. Quà ở đây thường rất đa dạng, linh hoạt có thể là tiền, kim loại quý, là nhà đất, xe cộ, bao gói đi du lịch nước ngoài… tuỳ theo “gu” và sở thích của người nhận quà đã được người tặng quà tìm hiểu rất kỹ trước đó. Thậm chí nếu biết rõ kẻ nhận quà là loại háo sắc, quà tặng còn có thể là sự đưa đẩy, khéo léo bố trí các kỳ cuộc với sự tận tâm phục vụ của những cô gái trẻ, đẹp. Nguy hiểm hơn, việc tặng quà như trên ngày một tinh vi, lắm chiêu và không chỉ dừng lại ở mối quan hệ cá nhân nhỏ lẻ mà tính chất, quy mô việc tặng quà đã có xu hướng "nhóm lợi ích".. Điều nguy hiểm hơn, người tặng quà luôn biết quan tâm lợi dụng tiếng nói, ảnh hưởng của những người có chức quyền cao, nắm trong tay quyền uy có thể quyết định mang lại cho họ nhiều lợi ích.

Trên thực tế hiện nay đã có không ít người nhận quà là cán bộ, đảng viên có chức quyền lớn đã lợi dụng vị trí công tác, quyền uy và mức độ ảnh hưởng của mình để thao túng, gây nhũng nhiễu cả một ngành, một lĩnh vực, địa phương, thậm chí phạm vi có thể trải dài trên cả nước. Điển hình và nghiêm trọng như vụ Công ty Việt Á gần đây đã có không ít quan chức cơ quan Đảng, Nhà nước, Quân đội lợi dụng địa vị công tác của mình trực tiếp hoặc chỉ đạo cấp dưới thực hiện theo yêu cầu của người tặng quà gây thất thoát lớn tiền của, tài sản của Nhà nước và Nhân dân. Còn phải kể đến vụ án Nguyễn Thị Thanh Nhàn, cựu Chủ tịch Công ty AIC cùng bộ xậu điển hình cho nhóm lợi ích đã móc ngoặc với cựu Bí thư Tỉnh uỷ Đồng Nai Trần Đình Thành, cựu Chủ tịch tỉnh Đồng Nai Đinh Quốc Thái cùng một số quan chức thoái hoá, biến chất khác đã nhận quà hối lộ với số tiền lên đến 43 tỷ đồng để cho trúng 16 gói thầu trái quy định trong việc cung cấp trang thiết bị y tế tại dự án xây dựng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đồng Nai, gây thiệt hại cho Nhà nước lên tới 152 tỷ đồng. Hay mới đây, lợi dụng lúc Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đang tập trung chống dịch COVID-19, với danh nghĩa các “chuyến bay giải cứu”, không ít cán bộ thuộc các Bộ Ngoại giao, Bộ Y tế, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công an, Văn phòng Chính phủ và một số cơ quan khác đã không vượt qua được sự cám dỗ tầm thường của những túi quà tặng để ra tay “nhúng chàm” và phải bị truy tố trước pháp luật. Hành vi tặng quà nói trên đã và đang làm hoen ố, ảnh hưởng không tốt đến uy tín, danh dự của Đảng, Nhà nước, cơ quan, đơn vị; làm mất lòng tin và để lại dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng cả trên bình diện quốc tế.  

Ai cũng biết, đã là cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức của hệ thống chính trị đều phải tuân theo pháp luật. Các quy định, quy chế về việc tặng quà, nhận quà đã được Đảng và Nhà nước quy định rất cụ thể. Theo đó, với quà tặng không đúng chế độ, tiêu chuẩn thì cán bộ, đảng viên phải nghiêm túc từ chối và giải thích rõ lý do đối với người tặng quà. Trong trường hợp không thể từ chối thì phải báo cáo ngay tổ chức, cơ quan, đơn vị để xử lý theo quy định của pháp luật, tuyệt đối không được nhận quà. Cán bộ, đảng viên chỉ được phép tặng quà, nhận quà đối với người thân mà quà tặng đó không liên quan, không tác động và chi phối ảnh hưởng đến lợi ích, hoạt động công vụ, vị trí công tác. Để thực hiện nghiêm các quy định nói trên, cần thiết Đảng, Chính phủ, cụ thể là các ngành chức năng cần tiếp tục nghiên cứu để bổ sung, hoàn thiện pháp luật và các quy định về việc tặng và nhận quà. Đối với cán bộ, đảng viên thì ngoài việc tự giác, không ngừng rèn luyện nâng cao ý thức chính trị, phẩm chất đạo đức công vụ, rất cần có sự quản lý chặt chẽ, sát sao hơn nữa của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể nơi cán bộ, đảng viên đang công tác. Đặc biệt phát huy vai trò giám sát, phát hiện thông qua “tai mắt” của đông đảo quần chúng nhân dân trong xã hội, phát huy vai trò của MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội từ Trung ương đến cơ sở.

Để cho việc tặng quà luôn là một nét đẹp văn hoá, mang tính nhân văn sâu sắc thì mọi biến tướng, lệch chuẩn của hiện tượng tặng quà nhanh chóng phải được dư luận xã hội lên án xoá bỏ. Chỉ có như vậy, việc tặng quà, nhận quà mới trở về đúng với ý nghĩa cao đẹp, trong sáng vốn có của nó.

Sưu tầm