Thứ Hai, 1 tháng 1, 2024

CHỦ ĐỘNG NGĂN NGỪA NGUY CƠ CHIẾN TRANH

 


Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam đã khẳng định một chân lý: Dựng nước phải đi đôi với giữ nước. Chân lý đó đã trở thành truyền thống quý báu của dân tộc, đồng thời là một quy luật nội tại của quá trình xây dựng và phát triển bền vững đất nước. Lúc đất nước yên bình, hiển nhiên là phải tập trung vào nhiệm vụ dựng nước, chăm lo làm giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, bảo tồn được văn hóa dân tộc, xã hội phồn vinh và sẵn sàng, chủ động ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh. “Ngụ binh ư nông” (gửi binh lính ở nhà nông) là một chính sách đặc sắc của các triều đại Lý, Trần, Lê… Quân chủ lực triều đình không nhiều, chủ yếu là quân địa phương tập trung theo từng phiên, nuôi quân đỡ tốn kém, bảo đảm sức lao động cho nông nghiệp, mà khi có chiến tranh, huy động được tối đa trai tráng cầm súng đánh giặc.

“Động binh tĩnh dân”, “bách tính giai binh”, “tận dân vi binh”… là những kế sách độc đáo của cha ông ta để “giữ nước từ lúc nước chưa nguy”, chăm lo quốc phòng, an ninh, giữ vững chủ quyền, bờ cõi, răn đe, ngăn chặn các hành vi xâm hại chủ quyền lãnh thổ của đất nước.

Thực tiễn trong quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam hàng ngàn năm qua cho thấy, thời đại nào, triều đại nào mà gắn chặt dựng nước đi đôi với lo giữ nước, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”, xây dựng đất nước theo quan điểm “quốc phú, binh cường”, “biên cường quốc thịnh” thì độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ được giữ vững; thời đại nào, triều đại nào không gắn chặt giữa dựng và giữ nước, không lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy, để nước nghèo, dân đói, xã hội lạc hậu, quốc phòng và an ninh không được củng cố, nội bộ mâu thuẫn, sẽ tạo ra điều kiện thuận lợi để kẻ thù tiến công xâm lược.

Trần Quang Khải (1241-1294) nhà chính trị, quân sự thời Trần đã từng nói: “Thái bình tu trí lực. Vạn cổ thử giang sơn” (có nghĩa là: Thái bình nên tu dưỡng trí lực, vật lực. Đất nước vững nghìn thu). Vua Lê Thái Tổ (1385-1433) căn dặn muôn dân trăm họ: “Biên phòng hảo vị trù phương lược. Xã tắc ung tu kế cửu an” (có nghĩa là: Biên phòng cần có phương án, chiến lược tốt. Đất nước phải có kế lâu dài).

Bài học kết hợp chặt chẽ dựng nước đi đôi với lo giữ nước, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” trong lịch sử dân tộc được Ðảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển thành tư tưởng chỉ đạo chiến lược, kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, kết hợp giữa kháng chiến với kiến quốc. Đặc biệt, sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, cả nước đi lên CNXH và bước vào công cuộc đổi mới, bài học dựng nước đi đôi với giữ nước, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” của dân tộc được Ðảng ta đưa lên một tầm cao mới. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991 chỉ rõ: “Xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng”.

Quan điểm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” của Đảng ta được thể hiện rõ nét trong Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới (Nghị quyết số 28-NQ/TW và được ban hành vào năm 2013). Trong 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới vừa qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết, nỗ lực phấn đấu, đạt được những thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Chúng ta đã giữ vững được thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ; khôn khéo, mềm dẻo, linh hoạt trong xử trí các tình huống, ngăn ngừa nguy cơ xung đột, nhất là các tình huống trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo; đề xuất rất sát những chủ trương, đối sách, giải pháp cơ bản, lâu dài; trước những tác động, ảnh hưởng của tình hình thế giới đối với quân đội và giải pháp xây dựng quân đội trong tình hình mới, nhất là xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ. Xây dựng tiềm lực kinh tế của nền quốc phòng toàn dân theo định hướng XHCN, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giữ vững độc lập, tự chủ trong mở rộng hợp tác kinh tế; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, tăng lượng dự trữ quốc gia; gắn phát triển kinh tế với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực, sẵn sàng huy động các nguồn lực cho quốc phòng. Tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, bảo đảm không phụ thuộc vào một thị trường, một đối tác cụ thể; chủ động ứng phó hiệu quả với tác động tiêu cực, gây sức ép thông qua kinh tế từ bên ngoài.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng ta khẳng định: “Chủ động ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa… Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”.

Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII vào tháng 10-2023, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Trong 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới vừa qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết, nỗ lực phấn đấu, đạt được những thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

                                                                                                           BT

Giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch ở Việt Nam hiện nay

 


 Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ là giải pháp đầu tiên, có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, trong đó lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là rất quan trọng. Đây là giải pháp nền tảng chi phối, chỉ đạo các giải pháp khác trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, tiếp tục nâng cao hiệu quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII gắn với thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nêu cao trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, người đứng đầu các cấp nêu cao tính tiền phong, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược. Kết hợp chặt chẽ công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng, thực hiện nghiêm quy chế dân chủ ở cơ sở với xây dựng chính quyền, xây dựng tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở vững mạnh.

 Kết hợp chặt chẽ công tác lãnh đạo đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với lãnh đạo đấu tranh phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chống tham nhũng, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

Kết hợp công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” với đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ luôn đòi hỏi Đảng phải có biện pháp, cơ chế kết hợp chặt chẽ việc lãnh đạo của hai công tác này. Trong lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, phải thấy rõ mối quan hệ của nó với âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” và coi đó là yêu cầu, nội dung và biện pháp quan trọng hàng đầu để tìm ra giải pháp làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”. Và ngược lại, trong đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, phải thấy rõ mối quan hệ của nó với “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, cái này đan xen, bện chặt vào cái kia, tác động, chi phối lẫn nhau. Vì vậy, phải coi đó là yêu cầu có tính nguyên tắc để có biện pháp hữu hiệu nhằm ngăn ngừa, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.

Tăng cường đổi mới mạnh mẽ công tác lãnh đạo của Đảng; thực hiện nội dung, phương thức lãnh đạo phù hợp với yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong tình hình mới

Thực hiện đúng nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”; đồng thời, thực hiện nội dung, phương thức lãnh đạo phù hợp. Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất, đủ hiệu lực của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, của cấp ủy các cấp đối với công tác này.

Duy trì nghiêm và phát huy hiệu quả cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, có tư duy mới và biện pháp lãnh đạo phù hợp. Bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách phát huy dân chủ, tạo động lực trong công tác đấu tranh. Tăng cường bồi dưỡng tri thức lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh giai cấp, dân tộc; nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh cho các đối tượng; sắp xếp, kiện toàn Ban Chỉ đạo 94 các cấp tinh gọn, hiệu quả; đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận và phổ biến kinh nghiệm về lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình” cho cán bộ, đảng viên và nhân dân để họ không mắc mưu địch.

Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, của cán bộ, đảng viên trong lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong tình hình mới.

Đề xuất được giải pháp mới nhằm phát huy vai trò của tổ chức đảng, cấp ủy đảng các cấp, của cán bộ, đảng viên với việc chủ động lãnh đạo thực hiện chương trình, kế hoạch đấu tranh đã xác định. Tiếp tục thúc đẩy các Ban Chỉ đạo phòng, chống “diễn biến hoà bình” các cấp hoạt động có kế hoạch, “chuyên nghiệp” và thực thi hơn, tránh mắc “bệnh” thành tích. Có cơ chế phối hợp giữa các tổ chức, các lực lượng, khắc phục những bất cập, chồng chéo trong công tác lãnh đạo. Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược, phải tích cực, chủ động, tiên phong trong cuộc đấu tranh này.

Quan tâm chăm lo phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; làm cho dân no, dân yên, dân tin yêu Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa

Đây là giải pháp hỗ trợ trực tiếp, rất hiệu quả; phục vụ đắc lực cho công tác lãnh đạo đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; là thực lực sức mạnh và ưu thế của chế độ ta. Vì vậy, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; chăm lo nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần cho nhân dân; xây dựng cơ sở chính trị - xã hội vững mạnh, bảo đảm cho chế độ xã hội luôn luôn ổn định, được đổi mới và phát triển. Cùng với đó, thực hiện tốt giải pháp này là góp phần xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường quốc phòng, an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; không để “khoảng trống chính trị” để các thế lực thù địch lợi dụng, xâm nhập chống phá cách mạng Việt Nam.

Tóm lại, âm mưu cơ bản, xuyên suốt và lâu dài của các thế lực thù địch là dùng “diễn biến hòa bình” để xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa, lái nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, Đảng lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” là yêu cầu khách quan - mệnh lệnh của cuộc sống.

Thực tiễn Đảng lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” thời gian qua đạt được nhiều kết quả quan trọng cả về nhận thức và thực tiễn lãnh đạo; song còn có hạn chế nhất định. Nhận diện đúng âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” và tính chất nguy hiểm, tác hại to lớn của nó để đề xuất các giải pháp “xây” và “chống” sao cho hiệu quả có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Các thế lực thù địch sử dụng “trăm phương ngàn kế” để chống phá ta, đó là ý muốn chủ quan của chúng; còn chúng có thực hiện được mưu đồ đen tối ấy hay không quyền quyết định là của chúng ta./.

V3.

 

 

“LẤY CHÍNH TRỊ LÀM GỐC”, CÀNG HỌC CÀNG THÔNG

 


Tư tưởng “lấy chính trị làm gốc” xuất hiện từ rất sớm cùng với hệ quan điểm của Đảng ta về cách mạng Việt Nam và sự cần thiết phải có một đảng chính trị chân chính theo chủ nghĩa Mác - Lênin; phải xây dựng cho được lực lượng vũ trang nhân dân - đội quân cách mạng thực hiện sứ mệnh giải phóng dân tộc.

Tư tưởng “lấy chính trị làm gốc” có nội dung tương đồng với quan điểm “chính trị trọng hơn quân sự”, “người trước súng sau” của Đảng ta và Bác Hồ. Nguồn gốc của các quan điểm, tư tưởng ấy xuất phát từ nhu cầu đấu tranh giải phóng dân tộc, được tìm thấy trong các văn kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930; đó là Chính Cương văn tắt, Sách lược văn tắt và Điều lệ vắn tắt do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khởi thảo, được Hội nghị thành lập Đảng thông qua. Điều đó thể hiện sự giác ngộ chính trị, đề cao vai trò lý luận tiên phong và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với lực lượng vũ trang cách mạng, được tái khẳng định trong Báo cáo Chính trị trình bày tại Đại hội lần thứ I của Đảng ta (3-1935, tại Ma Cao, Trung Quốc). Đây là nội dung quan trọng xuyên suốt Nghị quyết của Đảng về xây dựng “Đội Tự vệ công - nông” - Tổ chức quân sự đầu tiên của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.

Trong các văn kiện thời kỳ này, Đảng ta từng bước khẳng định rõ quan điểm “lấy chính trị làm gốc” trong xây dựng đội quân cách mạng, mang bản chất giai cấp công nhân, có tính nhân dân và tính dân tộc, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng mà khởi điểm là xây dựng các “đội tự vệ công nông” - “con nòi của cách mạng”, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng.

Ngay từ đầu Đảng ta xác định: Thành phần cốt cán tham gia các “đội tự vệ công nông” là con em ưu tú của nhân dân - những người sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì cách mạng, là nhân cốt tạo nên sức mạnh của các lực lượng vũ trang nhân dân, là “vũ khí sắc bén”, “công cụ bạo lực” của cách mạng. Từ đây, Đảng, Bác Hồ tập trung xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng và khẳng định: Chừng nào ở Việt Nam chưa có lực lượng vũ trang nhân dân đủ mạnh thì chừng ấy, chúng ta chưa thể giải phóng dân tộc. Vì vậy, Đảng phải “lấy chính trị làm gốc” để xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh.

Tư tưởng “lấy chính trị làm gốc” trong xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân thể hiện sâu sắc ở sự lãnh đạo của Đảng đối với đường lối chính trị trong tổ chức lực lượng, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng lực lượng vũ trang nhân dân. Tư tưởng ấy soi đường, dẫn dắt các Đội Tự vệ công - nông, các Đội Du kích quân ra đời, phát triển, đạt đến tầm cao khi Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ra đời (ngày 22-12-1944). Với sự kiện này, tư tưởng “lấy chính trị làm gốc” được hiện thực hóa, khẳng định rõ ràng trên thực tế và mở ra thời kỳ phát triển mới về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng mà Quân đội ta là một trong những lực lượng nòng cốt, đóng vai trò chủ lực.

Vì lẽ đó, trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, Bác Hồ chỉ rõ: Bên cạnh người đội trưởng, có người chính trị viên đảm nhiệm trọng trách xây dựng Đội và giữ vững bản chất cách mạng của bộ đội, hoạt động thống nhất theo nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt; trước hết là thực hiện các nghị quyết của Chi độ Đảng và chấp hành mệnh lệnh của người chỉ huy.

Tư tưởng “lấy chính trị làm gốc” tiếp tục được bổ sung, phát triển trong các tác phẩm của Bác Hồ trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược. Bác khẳng định: Trong xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, ở cấp nào cũng vậy, đều cần có người chính trị phái viên do đoàn thể cách mạng lựa chọn, phái đến, được Đảng giao trọng trách nắm giữ “phần hồn” đời sống của bộ đội, là “người anh, người chị” của cán bộ, chiến sĩ - “sợi dây bền chặt kết nối bộ đội với nhân dân, trực tiếp chăm lo mọi mặt công tác đảng, công tác chính trị ở đơn vị, trực tiếp tuyên truyền, giáo dục bộ đội về chính trị, tư tưởng, đạo đức, pháp luật, sinh hoạt dân chủ, xây dựng các mối quan hệ cán binh, quan hệ quân dân, vun đắp tình đoàn kết, nhất trí trong đơn vị và trong nhân dân, thực hiện nghĩa vụ quốc tế. Nhờ đó mà cán bộ, chiến sĩ đi đúng đường lối chính trị - quân sự của Đảng, giữ nghiêm kỷ luật của Quân đội, pháp luật của Nhà nước, có thái độ tốt trong quan hệ với nhân dân và vận động binh lính địch cũng như giải quyết công tác tù, hàng binh, đem lại lợi thế có lợi cho cách mạng, hướng đến thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc...

Nếu lơ là, coi thường hoặc không nắm vững “hồn cốt” của bộ đội, không “lấy chính trị làm gốc”, không đặt công tác chính trị, tư tưởng vào đúng vị trí, không phát huy được vai trò, tầm quan trọng và sức mạnh của nó thì quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng sẽ “lơ lửng ở trên trời”, không có cách nào để đến với bộ đội và nhân dân. Quân đội sẽ mắc nguy cơ “nhiệt tình nhưng sai hướng”... Yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trở nên xa vời, sự sai trái, lệch lạc, thiếu sự đồng thuận, sự lỏng lẻo về đoàn kết, nhất trí trong nhận thức và hành động của bộ đội đối với công tác chính trị - quân sự của Đảng cũng từ đó mà ra, kéo theo các hệ lụy khác. Đúng là mọi sai sót, lầm lạc về đường lối chính trị đều phải trả giá đắt.

Vì vậy, Bác Hồ cho rằng, “bệnh” xem nhẹ công tác giáo dục chính trị, coi thường chính trị ví như người đi rừng, đi biển không có “la bàn”, bị mất phương hướng, không thể tránh khỏi lầm đường, lạc lối, rất nguy hiểm...

Thực tiễn hơn 79 năm xây dựng, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của Quân đội ta đã khẳng định tính đúng đắn của tư tưởng “lấy chính trị làm gốc” trong xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Chính nó đã, đang và tiếp tục định hướng chính trị đúng đắn trong xây dựng Quân đội nhân dân, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới; là biện pháp tối ưu để phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “phi Đảng”, “phi chính trị hóa” quân đội...

Năm tháng sẽ qua đi, nhưng tư tưởng “lấy chính trị làm gốc” của Đảng, Bác Hồ trong xác định đường lối chính trị và xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vẫn còn nguyên giá trị; có sức truyền cảm, lôi cuốn thật hấp dẫn, là động lực tinh thần to lớn, luôn cổ vũ, động viên các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội và nhân dân ta vượt khó tiến lên; mãi mãi là tư tưởng cơ bản, sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta đối với mọi hoạt động của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

Quán triệt sâu sắc, dụng sáng tạo tư tưởng “lấy chính trị làm gốc” của Đảng và Bác Hồ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong xây dựng Quân đội ta tiến lên hiện đại; tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; góp phần đưa sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc giành những thành tựu mới vì sự phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.

                                                                                                BT

Một số yêu cầu đối với công tác lãnh đạo của Đảng về đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” trong tình hình mới

 


Một là, phải không ngừng nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; giúp họ nhận diện sao cho trúng, cho đúng đối tác, đối tượng, bạn, thù; bản chất sự điều chỉnh âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam của các tổ chức, lực lượng thù địch, cơ hội, xét lại trong tình hình mới và tính chất nguy hiểm, tác hại của nó đối với cách mạng Việt Nam. Muốn vậy, Đảng phải có biện pháp hữu hieuj để lãnh đạo cuộc đấu tranh đạt hiệu quả: bảo vệ được Đảng, Nhà nước, nhân dân và bảo vệ vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây là yêu cầu có tính nguyên tắc đòi hỏi bản lĩnh và trí tuệ của Đảng là bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào đều phải kiên định, vững vàng; tỉnh táo, sáng suốt phân biệt rõ ràng “phải trái, trắng đen”; đâu là nhận thức lệch lạc, không đúng, không đầy đủ mà sinh ra quan điểm sai trái; đâu là sự cố tình chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch, bọn cơ hội, xét lại; đâu là những yếu kém, khuyết điểm và hạn chế của ta, của cán bộ, đảng viên; đâu là sự chống phá “giấu mặt”, “trá hình” và công khai của các thế lực thù địch…Trong tình hình mới phải tìm ra phương cách tối ưu nhất để quản lý chặt bọn cầm đầu, chủ mưu; có kế hoạch chủ động tiến công làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của địch từ trong “trứng nước”; không để xảy ra hiện tượng “tả khuynh” và hữu khuynh; không để đất nước rơi vào bị động, bất ngờ.

Hai là, phải đẩy mạnh nghiên cứu dự báonắm chắc tình hình địch - ta; dự báo chính xác những nơi có thể xảy ra “điểm nóng”, “vùng nóng”; tìm được biện pháp tối ưu trong việc kết hợp chặt chẽ giữa chủ động ngăn chặn, phòng ngừa với kiên định ý chí tiến công; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, làm sao cho thực lực của ta ngày càng mạnh lên; biết lấy xây vững mạnh là chính, là quyết định, còn đấu tranh chống là rất quan trọng. Đây là yêu cầu khách quan đang đặt ra cấp bách đối với các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải làm gì, làm như thế nào để tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo công tác đấu tranh, kết hợp giữa “xây” và “chống” gắn với khắc phục các nguy cơ khác đe dọa cách mạng Việt Nam sao cho hiệu quả.

Ba là, phải tăng cường và đổi mới mạnh mẽ công tác lãnh đạo đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” gắn với lãnh đạo đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” lực lượng vũ trang. Yêu cầu này cần phải được nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn về tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và quan hệ tác động qua lại giữa nó với “diễn biến hòa bình”; “diễn biến hòa bình” là nguyên nhân cơ bản, trực tiếp thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là “kết quả lôgíc”, hệ quả trực tiếp của “diễn biến hòa bình”. Đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình” chỉ đạt kết quả khi gắn liền với đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Vì vậy, phải thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII gắn với thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện tốt yêu cầu này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch trong tình hình mới./.

V3.

 

 

DÂN CHỦ PHẢI CÓ TỔ CHỨC, DÂN CHỦ PHẢI CÓ KỶ LUẬT, CHỨ KHÔNG PHẢI DÂN CHỦ QUÁ TRỚN

 


Vừa qua, trên không gian mạng, các thế lực thù địch tung ra nhiều thông tin sai lệch, bịa đặt, mang tính chống phá vấn đề dân chủ (trong đó có quyền làm chủ của người dân) ở Việt Nam. Chúng tuyên truyền rằng, ở Việt Nam không có dân chủ, “người dân không hề biết và cũng không có quyền gì trong việc lựa chọn người lãnh đạo đất nước, cũng như việc tham gia giám sát quyền lực nhà nước”. Chúng cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam “bất chấp luôn chủ trương “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, hay Đảng không cho người dân “có tiếng nói và hành động trong “xây dựng, chỉnh đốn Đảng” và “chống tham nhũng, tiêu cực”. Chúng kêu gọi, kích động người dân muốn có dân chủ thì phải “lật đổ” Đảng, chế độ…

Nhưng sự thật tình hình dân chủ ở Việt Nam cho thấy, những thông tin trên là sai trái, xấu, độc, mang tính chống phá. Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn hiểu đúng và thực hiện đúng những vấn đề liên quan đến quyền làm chủ, dân chủ của nhân dân.

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới chế độ Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: “Nhân dân có nghĩa vụ, đồng thời có quyền lợi. Nhân dân có quyền tự do tư tưởng, tự do tổ chức, tự do tín ngưỡng... có quyền ứng cử và bầu cử…”. Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải: “… làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”. Hồ Chí Minh luôn chỉ rõ mối quan hệ giữa quyền dân chủ và nghĩa vụ trong thực hiện dân chủ của nhân dân. Khi bàn về xây dựng những con người của chủ nghĩa xã hội, Người yêu cầu ai cũng phải là một chiến sĩ dũng cảm phấn đấu xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Đã là người Nhà nước thì phải chăm lo việc nước như chăm lo việc nhà” và: “Đã là người chủ thì phải biết tự mình lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ. Mỗi người phải ra sức góp công, góp của để xây dựng nước nhà. Ngày 27-2-1961, tại Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ II, Hồ Chí Minh nói: Đã có quyền hạn làm chủ, thì phải làm trọn nghĩa vụ của người chủ. Nghĩa vụ đó là: Cần, kiệm xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhằm mục đích không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động.

Hồ Chí Minh cũng đưa ra nhiều chủ trương, giải pháp để thực hiện quyền và nghĩa vụ trong dân chủ. Người xác định muốn có quyền làm chủ, muốn thực hiện tốt dân chủ thì phải thi đua sản xuất nhiều, nhanh, tốt, rẻ và thực hành tiết kiệm. Còn trong bài Tự phê bình, phê bình, sửa chữa đăng trên Báo Nhân dân ngày 26-7-1956, Người viết: “Dưới chế độ dân chủ, thì mọi người, trước hết là mọi cán bộ, mọi cơ quan và đoàn thể cần phải thật thà tự phê bình và hoan nghênh người khác phê bình mình; có như vậy mới tiến bộ được”.

Đồng thời, Hồ Chí Minh thẳng thắn chỉ ra những căn bệnh cần phải phòng tránh, loại bỏ, xử lý kiên quyết trong thực hiện dân chủ. Đó là tình trạng dân chủ quá trớn, tự do vô chính phủ, vô kỷ luật, lợi dụng dân chủ để vi phạm pháp luật. Khi nói chuyện với bộ đội Quân chủng phòng không - không quân vào tháng 7-1965, Hồ Chí Minh căn dặn: “Kỷ luật trong dân chủ, dân chủ phải có kỷ luật”. Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “… làm việc phải có dân chủ bàn bạc, nhưng chú ý dân chủ phải có tổ chức kỷ luật” và: “Có chuyên chính thực sự, có dân chủ thực sự thì mới tiến lên chủ nghĩa xã hội được”.

Những năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thường xuyên đưa ra những chủ trương, chính sách, giải pháp tích cực, đồng bộ liên quan đến vấn đề dân chủ.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam”. Tổng Bí thư nhấn mạnh chủ trương: “… không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trên cơ sở liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”. Tổng Bí thư yêu cầu việc thực hiện dân chủ phải gắn chặt với kỷ cương, phép nước, đi vào thực chất. Tháng 10-2023, tiếp xúc cử tri Hà Nội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Cứ cậy mình là cán bộ cấp trên đi xuống hạnh họe nhân dân là không được. Nhưng dân lại bảo dân làm chủ rồi nói tôi chẳng nghe thì cũng không được nên cần có luật pháp, Nhà nước phải có kỷ cương, dưới sự lãnh đạo của Đảng”.

Đảng ta đã có nhiều quy định để cán bộ, đảng viên làm tốt việc tạo thuận lợi cho nhân dân thực hiện dân chủ. Đảng yêu cầu cán bộ, đảng viên phải tôn trọng dân chủ của nhân dân, gần gũi, giúp đỡ, học hỏi nhân dân. Đặc biệt, để giữ cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, Đảng đã đưa ra các biểu hiện sai trái cần phòng tránh, khắc phục và những điều đảng viên không được làm, trong đó có nội dung liên quan đến vấn đề dân chủ. Như: Nghị quyết số 04-NQ/TW của Đảng chỉ ra 27 biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, trong đó có: “Quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân”. Và Đảng Quy định về Những điều đảng viên không được làm, tại Điều 3: “Phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không nêu gương; chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; “tư duy nhiệm kỳ”, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chúng”.

Vừa qua, cùng với sự lãnh đạo của Đảng, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, nhân dân ta đã thực hiện tốt Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở. Nhân dân vừa được hưởng quyền của mình về dân chủ, vừa chấp hành nghiêm nghĩa vụ của mình trong thực hiện dân chủ theo đúng quy định của pháp luật. Như: “Được công khai thông tin và yêu cầu cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời”, “Kiểm tra, giám sát, kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với các quyết định, hành vi vi phạm pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở”… nhưng phải “theo đúng quy định của pháp luật”; “Tham gia ý kiến về các nội dung được đưa ra lấy ý kiến ở cơ sở theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”; “Chấp hành quyết định của cộng đồng dân cư, chính quyền địa phương, cơ quan, đơn vị, tổ chức sử dụng lao động”.

Mỗi người chúng ta cần tin tưởng và quyết tâm cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra: “Phải coi trọng hơn quản lý phát triển xã hội; mở rộng dân chủ phải gắn với giữ vững kỷ luật, kỷ cương”.

                                                                                                                                                         BT

Một số kinh nghiệm về lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của Đảng Cộng sản Việt Nam

 


Kinh nghiệm thứ nhất, thường xuyên nâng cao chất lượng giáo dục chính trị - tư tưởng cho tất cả cán bộ, đảng viên và nhân dân ở các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội, xác định là nhiệm vụ cần thiết, cấp bách trong lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam. Đây là mặt trận tư tưởng mang ý nghĩa quyết định nhất đối với việc đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Kinh nghiệm thứ hai, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng cầm quyền thật sư đoàn kết, thống nhất, trong sạch vững mạnh là nhân tố quyết định thắng lợi trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam.

Kinh nghiệm thứ ba, xây dựng mối quan hệ máu thịt hữu cơ sống còn giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân trong phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam.

Kinh nghiệm thứ tư, nền kinh tế đất nước ổn định, phát triển bền vững là sức đề kháng tốt nhất của xã hội trước âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam.

Kinh nghiệm thứ năm, lực lượng vũ trang tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân là công cụ sắc bén chuyên chính có hiệu quả với kẻ thù trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bao loạn lật đổ, chống phá Việt Nam./.

V3.

Những thành công trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”

 


* Trên lĩnh vực chính trị:

Một là, đã làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong việc xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ, phát triển và làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần, xã hội Việt Nam. Hai là, đã vô hiệu hóa các luận điệu và hoạt động phá hoại tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị; bảo vệ thành công các quan điểm, tư tưởng đổi mới của Đảng. Ba là, góp phần củng cố giữ vững niềm tin vào thắng lợi của cách mạng, vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân; đã gắn chặt “xây” với “chống”, lấy “xây” làm chính. Bốn là, đã làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam về tổ chức, về công tác cán bộ; hệ thống chính trị của Việt Nam không ngừng được xây dựng và phát triển. Năm là, đã chủ động xây dựng bộ máy lãnh đạo, chỉ đạo; tổ chức lực lượng và các điều kiện bảo đảm cho công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch. Sự ra đời và hoạt động hiệu quả của Ban Chỉ đạo 94 Trung ương, Ban Chỉ đạo 609 của Hội đồng Lý luận Trung ương, Ban Chỉ đạo 213 Trung ương về đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật; Ban Chỉ đạo 94 Đảng ủy Công an Trung ương; Ban Chỉ đạo 94 Quân ủy Trung ương và các Ban Chỉ đạo 94 trực thuộc Quân ủy Trung ương, Bộ Tư lệnh 86, Lực lượng 47, cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, lực lượng chuyên sâu, lực lượng tham gia đấu tranh ở từng cấp đã góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động“diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam.

* Trên lĩnh vực kinh tế:

Một là, nền kinh tế của Việt Nam vẫn giữ được độc lập, tự chủ, không bị lệ thuộc vào nước ngoài, đã chủ động phát hiện, ngăn chặn và làm thất bại ý đồ “tư nhân hóa” nền kinh tế, tiến công vào vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. 

Hai là, nền kinh tế Việt Nam vẫn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa; từ năm 1986 đến nay, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. 

Ba là, nền kinh tế Việt Nam vẫn giữ được sự ổn định với tốc độ tăng trưởng cao từ 6 - 7%/năm. Bốn là, phát triển kinh tế đã gắn chặt với việc giải quyết các vấn đề xã hội, bảo đảm công bằng xã hội.

* Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội:

Một là, đã làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch hòng thay đổi hệ giá trị văn hóa Việt Nam bằng hệ “giá trị văn hóa tư sản”; bảo vệ và phát triển nền văn hóa truyền thống, văn hóa cách mạng, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong quá trình đổi mới.

Hai là, giữ vững được sự ổn định chính trị đất nước, làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội về mọi mặt.

Ba là, đã làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong việc lợi dụng đổi mới để gây chia rẽ dân tộc, tôn giáo, gây mâu thuẫn xã hội - giai cấp; lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng Việt Nam; không ngừng củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự đồng thuận xã hội.

* Trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh:

Một là, lực lượng vũ trang nhân dân luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao; đạt nhiều thành quả quan trọng trong xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số đơn vị, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. 

Hai là, làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch phá hoại vũ khí, trang bị, cơ sở vật chất - kỹ thuật. 

Ba là, xác định đúng đắn vị trí, mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng - an ninh trong tình hình mới; xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Bốn là, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. 

Năm là, làm thất bại mưu đồ bao vây, cấm vận, cô lập Việt Nam, cản trở Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế; nhờ đó, Việt Nam tạo được môi trường thuận lợi phục vụ cho công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sáu là, vị thế quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao; tranh thủ được nhiều diễn đàn quốc tế để tập hợp đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị./.

V3.

 

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch

 


Lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam là một bộ phận quan trọng, nhiệm vụ thường xuyên, cấp bách của công tác tư tưởng, văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam, là nhân tố quyết định làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; góp phần quan trọng vào việc giữ vững độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức sâu sắc tác hại vô cùng to lớn của âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch đã làm cho chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu sụp đổ; phong trào cộng sản và công nhân quốc tế tạm thời lâm vào thoái trào và chính nó đã và đang gây không ít khó khăn, cản trở công cuộc cải tổ, cải cách, đổi mới của các nước chủ nghĩa xã hội còn lại, trong đó có Việt Nam và Cu Ba.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã nghiên cứu kỹ bản chất, âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá các nước xã hội xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu và tìm ra được những nguyên nhân chủ yếu làm cho Đảng Cộng sản Liên Xô và các Đảng Cộng sản ở các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu mất quyền lãnh đạo, chế độ xã hội chủ nghĩ bị sụp đổ. Về nguyên nhân chủ quan: Một là, Đảng Cộng sản biến chất, nội bộ mất đoàn kết và chia rẽ sâu sắc. Hai là, Đảng Cộng sản từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, thực hiện cải tổ, cải cách đất nước, xây dựng xã hội “dân chủ” kiểu phương Tây. Ba là, không thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang và làm trong sạch các cơ quan bảo vệ pháp luật.

Về nguyên nhân khách quan, nổi lên hai điểm chính: Một là, chủ nghĩa đế quốc và một số nước phương Tây hỗ trợ đắc lực cho lực lượng đối lập chống đối trong nước chống phá Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội củ nghĩa; thực hiện “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Hai là, lợi dụng thời điểm khó khăn, đời sống nhân dân không được đảm bảo, thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và bộ máy nhà nước, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã lôi kéo, mua chuộc, tập hợp được một bộ phận đông đảo quần chúng đứng về phía họ để chống Đảng, Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Từ nhận thức trên, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “diễn biến hòa bình” là một nguy cơ của cách mạng Việt Nam; đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là một nhiệm vụ cấp bách của cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc, diễn ra quyết liệt trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội; là công cuộc giữ nước của cả hệ thống chính trị và toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, gồm tổng thể hoạt động đối nội, đối ngoại về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, ngoại giao, quốc phòng, an ninh,...được tiến hành bằng hệ thống giải pháp đồng bộ, khả thi vừa mang tính cấp bách trước mắt vừa là vấn đề cơ bản, lâu dài; kết hợp giữa phòng ngừa, ngăn chặn và răn đe, trừng trị với việc tạo sức mạnh tổng hợp để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.

Đây là cuộc chiến đấu trong thời bình, một “cuộc chiến không bom rơi, đạn nổ, không tiếng súng” nhưng vô cùng gay go, quyết liệt và phức tạp, giữa dân tộc Việt Nam kiên cường trong chống giặc ngoại xâm để bảo vệ độc lập dân tộc và đi theo con đường chủ nghĩa hội với “lũ giặc nội xâm”, đang tìm “trăm phương nghìn kế” để phá hoại công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” là nhất quán và được khẳng định là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài gắn chặt với thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được thể hiện qua các kỳ đại hội và các hội nghị Trung ương kể từ khi Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới (1986) đến nay.

Sau khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, tại Hội nghị Trung ương Ba khóa VII, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Nâng cao cảnh giác cách mạng, chống “diễn biến hòa bình”. Vạch trần những âm mưu thâm độc và những luận điệu chiến tranh tâm lý. Quản lý chặt chẽ các cuộc hội thảo, các dịch vụ thông tin, ngăn chặn việc lợi dụng diễn đàn và các cơ hội để thu thập tin tức tình báo, truyền bá các quan điểm thù địch và lối sống tư sản”. Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng xác định 4 nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam, đó là: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nguy cơ tham nhũng và các tệ nạn xã hội; nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Hội nghị Trung ương Tám khóa IX, Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: “Ngăn chặn, đẩy lùi mưu toan “diễn biến hòa bình”, nguy cơ can thiệp quân sự và xung đột vũ trang, xâm hại chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước ta”. Đại hội lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: “Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta”. Hội nghị Trung ương Tám khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới khẳng định: “Chủ động đấu tranh với âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Không để hình thành tổ chức chính trị đối lập dưới bất kỳ hình thức nào”. Đại hội lần thứ XII của Đảng xác định 4 nguy cơ vẫn tồn tại, “có mặt diễn biến phức tạp như tham nhũng, lãng phí, “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với những thủ đoạn mới, nhất là triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông trên mạng internet để chống phá ta và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. 

Những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch tiếp tục được khẳng định trong văn kiện Đảng qua các kỳ đại hội, hội nghị Trung ương ở các khóa tiếp theo; đồng thời, được bổ sung, hoàn thiện, cụ thể hóa trong thực tiễn lãnh đạo công tác đấu tranh này.   

V3. 

Công cụ mới để thực hiện “diễn biến hòa bình”

 


Trước sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong kỷ nguyên thông tin của thời đại toàn cầu hóa và với quan điểm “một đài phát thanh cũng có thể bình định được một nước, một đô la chi cho tuyên truyền có hiệu quả hơn năm đô la chi cho quân sự” nên thứ “vũ khí” hữu hiệu được các thế lực thù địch coi trọng sử dụng trong chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí, xuất bản, nhất là các phương tiện có chương trình tiếng Việt để thực hiện bôi nhọ, vu cáo, đả kích Việt Nam. Trong đó, họ ngày càng coi trọng các trang mạng xã hội, internet - một phương tiện truyền thông có tốc độ nhanh, sức lan tỏa mạnh đối với công chúng. Thực tế ở nước ta gần đây đã xuất hiện khá nhiều các website, blog, phát tán quan điểm trái chiều, xuyên tạc. Với cách thức tiến hành khá công phu, tinh xảo; dựa vào một số sự kiện đã diễn ra, họ nhào nặn bằng các chi tiết “sặc mùi” chính trị phản động; thêm bớt những “số liệu” không thể kiểm chứng, kèm theo trích dẫn “kim, cổ, đông, tây”, giả danh khoa học; sử dụng công nghệ chèn các tư liệu, hình ảnh đã bị cắt ghép, chỉnh sửa, “live stream”... tạo ra những sự kiện “giật gân”, thông tin “câu khách”, gợi trí tò mò của dư luận; cố tình đổi trắng thay đen, biến không thành có, rồi suy diễn, bình luận theo kiểu làm “sáng tỏ vấn đề”. Tần suất các luận điệu thâm độc đó ngày càng gia tăng cả về lưu lượng, cấp độ, mật độ; thực hiện “bôi nhiều sẽ bẩn”, “nói lắm phải tin”, tung “hỏa mù” nhằm gây tâm lý hoài nghi, dao động trong xã hội; từng bước hướng cộng đồng đến những suy nghĩ lệch lạc, dẫn đến “tự diễn biến”, dần xuất hiện những hành vi “lệch chuẩn” và rơi vào “tự chuyển hóa” lúc nào không hay.

Cho dù có “khoác tấm áo mới” thì bản chất thực sự của chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là hoạt động chống phá của các lực lượng thù địch; vẫn là một kiểu “chiến tranh không có tiếng súng” nhưng vô cùng nguy hiểm với tính chất chính trị phản động, dân tộc chủ nghĩa, toàn cầu, phi vũ trang. Đã từng cay đắng thất bại trong chiến tranh, nay các thế lực thù địch lớn tiếng tuyên bố sẽ “thắng trong hòa bình”, “thắng bằng kinh tế thị trường” và Việt Nam vẫn là tiêu điểm, vẫn hội tụ đủ các yếu tố là trọng tâm chống phá của những thủ đoạn mới trên đây. Bởi lẽ, là một nước xã hội chủ nghĩa luôn tiên phong trong phong trào độc lập dân tộc, không chịu lệ thuộc vào bên ngoài, Việt Nam nắm giữ vị trí địa kinh tế - chính trị - quân sự chiến lược quan trọng trong khu vực, lại nằm ở vị trí địa - chiến lược, trung tâm của cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn. Hơn nữa, những thành tựu hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế đã tăng cường vị thế, uy tín, tiềm lực, thực lực và sức mạnh tổng hợp của đất nước ta, tuy nhiên trong nội bộ, hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tệ nạn xã hội... còn diễn biến khá phức tạp. Thêm vào đó, thay đổi được chế độ chính trị, bộ máy cầm quyền ở Việt Nam, các thế lực thù địch sẽ có nhiều lợi thế khi thực hiện các mưu đồ chính trị mới trong thế giới đương đại. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, tiếp tục diễn ra vô cùng phức tạp, quyết liệt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Vấn đề quan trọng có ý nghĩa định hướng chiến lược trong cuộc chiến này là phải tăng cường nghiên cứu, dự báo, đánh giá và nhận diện đúng bộ mặt thật, “bình mới, rượu cũ” của chiến lược “diễn biến hòa bình”; đồng thời, xác định đấu tranh phòng, chống, làm thất bại “diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, các cấp, các ngành, các địa phương. Về cơ bản lâu dài, kiên quyết đấu tranh, kiên trì quán triệt, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, giải pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của Đảng và Nhà nước đã xác định, trong đó, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, thống nhất nhận thức và tư tưởng, hành động, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân là cơ sở nền tảng. Thực hiện đồng bộ các giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là giải pháp đột phá, nhất là khi “diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm, thay vì tác động từ bên ngoài vào sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy chúng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Mũi nhọn xung kích chính là vũ khí phê phán thông qua đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Và cho dù “diễn biến hòa bình” có thay đổi phương thức, điều chỉnh thủ đoạn, diễn biến theo chiều hướng nào, mang bộ mặt nào đi nữa thì mục tiêu cuối cùng của họ không có gì khác là hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, hòng xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, tập trung xây dựng Đảng vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” gắn với ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là vấn đề mang tính nguyên tắc, giữ vai trò quyết định trong bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trong tình hình mới./.

          V3.

Đối với biện pháp tiến hành “diễn biến hòa bình” bằng “công cụ mềm”, “quyền lực thông minh”.

 


Đây là những biện pháp mới, rất linh hoạt, mang tính tổng hợp trên các phương diện và nảy sinh trong xu thế các nước thay đổi cách thức sử dụng quyền lực và sự trỗi dậy của trào lưu dân túy, xu hướng bảo hộ thương mại trong quan hệ quốc tế. Thực hiện tiến công toàn diện, có trọng điểm song “diễn biến hòa bình” ngày càng coi trọng các “công cụ mềm” và “quyền lực thông minh” nhằm vào các lĩnh vực chính trị tư tưởng, kinh tế, văn hóa - xã hội, ngoại giao, nhất là vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để từng bước chuyển hóa đối phương, giành “chiến thắng mà không cần chiến tranh”. Trọng tâm ở bên trong các nước thì họ tìm mọi cách khoét sâu mâu thuẫn, phân hóa nội bộ, tạo ra những “khoảng trống” quyền lực, đẩy đối phương vào vòng bất ổn. Bên ngoài, vẫn hỗ trợ bằng việc tạo áp lực, tăng cường lôi kéo, khống chế, từng bước gây ảnh hưởng có lợi cho họ. Cách thức tiến hành rất tinh vi, khó nhận diện; có lúc dụ dỗ, mua chuộc bằng vật chất; lúc thì núp dưới danh nghĩa hoạt động từ thiện, nhân đạo; có khi kêu gọi mở rộng tự do, dân chủ, nhân quyền, thúc đẩy quan hệ đối tác; đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; nhiều khi lại ngấm ngầm thao túng, khống chế về tài chính, từng bước ép buộc đối phương lệ thuộc về chính trị. Chiến lược chống phá từ từ, dần dần theo cách “mưa dầm thấm lâu”. Phương châm hành động mềm dẻo, linh hoạt, “đối thoại thay đối đầu”, “bắt tay thay súng đạn”, không phô trương rầm rộ, nhìn hình thức biểu hiện bên ngoài ít khốc liệt, không tàn phá như chiến tranh vũ lực; thậm chí có vẻ “gần gũi”, “thân thiện” trong một “thế giới phẳng” nhưng bản chất thì đang âm thầm đẩy đối phương xuống đáy “vũng lầy” của sự khủng hoảng và dẫn đến đổ vỡ ngay từ bên trong./.

V3.

 

Mục tiêu và động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có sự dịch chuyển và mở rộng hơn.

 


Mặc dù mục tiêu cao nhất, suy đến cùng của chiến lược “diễn biến hòa bình” là lật đổ chế độ chính trị xã hội của các nước “không cùng quỹ đạo”, nhưng hiện nay, do sự tác động của các mối quan hệ quốc tế phức tạp, đa tầng nấc, nhiều cấp độ giữa các nước, các tổ chức, sự chế ước của các quy tắc, chế định quốc tế, khu vực; khi chưa lật đổ được chế độ chính trị thì “diễn biến hòa bình” sẽ nhằm đến mục tiêu thấp hơn là thay đổi đường lối, chính sách; cài cắm lực lượng thân cận vào bộ máy cầm quyền; làm phức tạp hóa thành phần lãnh đạo; thay đổi tính chất quốc gia, dân tộc khác theo hướng phục vụ lợi ích của chủ thể tiến hành. Trong đó, thay đổi bộ máy cầm quyền nước khác là mục tiêu trọng yếu hiện nay và để làm được điều này, chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những điều chỉnh mới gắn với “công nghệ lật đổ” cực kỳ tinh vi, phản động.

Từ sự ra đời của học thuyết chính trị “phản kháng phi bạo lực” (phản kháng hòa bình), ngay lập tức, các “nhà dân chủ”, “nhà tiến bộ xã hội” phương Tây coi đó là “bảo bối thần kỳ”, “công cụ hữu hiệu” để lật đổ chính quyền ở nhiều quốc gia trong không gian hậu Xô-viết thông qua cái gọi là “cách mạng sắc màu” vào những năm 2004 - 2006; sau đó thay đổi chính thể của hàng loạt quốc gia ở khu vực Trung Đông, Bắc Phi vào năm 2011 với cái tên mĩ miều “Mùa xuân Ả rập”. Đó không có gì khác là bạo loạn phi vũ trang bắt nguồn từ “diễn biến hòa bình”, là “kỹ năng lật đổ” thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh - một “dị bản” của việc kết hợp “diễn biến hòa bình” với bạo loạn lật đổ. Và hiện nay, “dị bản” ấy tiếp tục được “hoàn thiện”, phát triển thành một kịch bản dựng sẵn với “công thức” lật đổ qua các bước: Một là, hình thành các hoạt động “phản kháng mềm” trong nội bộ đối phương do sự cộng hưởng theo các phương tiện truyền thông; kích động tâm lý đám đông, tổ chức người dân tụ tập, tuần hành, biểu tình, “bất tuân dân sự”, đi ngược lại chính sách hiện hành, chống đối chính phủ, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo ra các “điểm nóng”, bất ổn. Hai là, nội công ngoại kích, bên trong thì biểu tình, bạo động; bên ngoài thì tập hợp đồng minh, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ... đồng loạt gây sức ép trên tất cả các lĩnh vực buộc chính quyền đương thời phải từ chức, giải tán. Ba là, tạo cớ để can thiệp, tiến hành bạo loạn trực tiếp lật đổ chính quyền nhưng núp dưới danh nghĩa “bảo vệ người dân”, “đấu tranh vì tự do, dân chủ”, “vì công lý”... Bốn là, cài cắm lực lượng đối lập, nhanh chóng tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân, bầu cử; công khai ủng hộ, công nhận chính quyền mới của lực lượng đối lập chịu sự kiểm soát của họ. Điểm mấu chốt trong kịch bản này là họ cố tình “bới móc”, lôi ra điểm yếu trong bộ máy cầm quyền của đối phương; thậm chí không ngần ngại thêm thắt, bịa đặt các khuyết điểm; sẵn sàng gán tất cả những sai trái, tiêu cực trong xã hội; châm ngòi cho làn sóng chống đối trong nước và làm cho bộ máy ấy dường như đã biến chất, “lỗi thời, không phù hợp”, do đó sẽ bị thay thế và đó là “lẽ thường tình” theo đúng quy luật(?!). Cho nên, một bộ máy cầm quyền thân cận do họ dựng lên nhưng lại được “hợp pháp hóa” thông qua một cuộc bầu cử theo luật định vô cùng tinh vi và họ luôn tự hào coi đây là sản phẩm sáng tạo của “công nghệ lật đổ” thông qua biểu tình, đảo chính bằng mô hình “bạo lực đường phố”. Theo đó, có tới “198 hành động phản kháng phi bạo lực”, nhưng trong đó bao hàm cả các hành động vô nhân đạo, bị pháp luật nhiều nước nghiêm cấm như làm tiền giả, in sao tài liệu giả, cướp bóc, ám sát, khủng bố... chứ không hoàn toàn phi bạo lực và không loại trừ sau đó sẽ lan rộng, bùng phát thành một kiểu dạng “chiến tranh lai ghép” mới.


             Từ sự mở rộng về mục tiêu làm cho động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” trong sự dịch chuyển và cạnh tranh quyền lực cũng có sự mở rộng và thay đổi theo. Nếu như “diễn biến hòa bình” trước đây chủ yếu là đấu tranh ý thức hệ chính trị giai cấp; đấu tranh giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; thì hiện nay nó đã được mở rộng và chuyển sang cả “đấu tranh” vì lợi ích dân tộc cục bộ, hẹp hòi; cạnh tranh chiến lược để xác lập vị thế ảnh hưởng.

V3.

Đối tượng chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” được mở rộng và phương thức tiến hành đã có sự chuyển đổi.

 


“Diễn biến hòa bình” trong tình hình mới không những nhằm vào các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa, mà còn chuyển sang chống phá các nước có chế độ chính trị mà chủ thể tiến hành cho là không phù hợp với lợi ích, giá trị, “khuôn mẫu” của họ. Đó là những nước độc lập, có chủ quyền nhưng “cứng đầu”, “không cùng quỹ đạo”, không tuân theo sự chỉ huy, chỉ đạo của họ, không có lợi cho họ trong giải quyết các vấn đề quốc tế. Đặc biệt, trọng tâm chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các nước có vị trí địa chính trị - kinh tế - quân sự chiến lược quan trọng, phức tạp, nhạy cảm hoặc ở những khu vực hội tụ sự cạnh tranh chiến lược, tranh chấp gay gắt về lợi ích, chủ quyền trên thế giới. Tính đa dạng, phức tạp, đan xen không đồng nhất giữa chủ thể và đối tượng được thể hiện trong mối quan hệ này, phạm vi này là chủ thể tiến hành, nhưng có thể trong mối quan hệ khác, phạm vi khác, chủ thể đó lại là đối tượng chống phá.

Phương thức chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm từ bên ngoài tác động vào bên trong sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong nội bộ đối phương. Nếu như những năm qua, “diễn biến hòa bình” coi trọng “dính líu để khuếch trương”, “can dự để mở rộng”, trực tiếp tiếp xúc để thẩm thấu các hành động chống phá từ bên ngoài vào bên trong nước khác thông qua thủ đoạn đặc trưng như “xóa bỏ cấm vận”, xúc tiến “bình thường hóa quan hệ”... thì nay đã chuyển sang tìm mọi cách khai thác và khoét sâu mâu thuẫn nội tại; triệt để lợi dụng những sơ hở, yếu kém trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành xã hội của các nước để chống phá. Như đã thành quy luật, mỗi khi ở các nước là đối tượng chống phá diễn ra các sự kiện chính trị trọng đại, xuất hiện các “điểm nóng”, các vấn đề xã hội phức tạp, nhạy cảm... thì đó là “cơ hội vàng” để các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”. Họ sử dụng chính lực lượng, phương tiện của đối phương; kết hợp công khai với bí mật; thực hiện đánh ngầm, mềm, sâu, hiểm, tiến công toàn diện, có trọng điểm; thường núp dưới danh nghĩa “hiến kế”, “chống tham nhũng”, “góp ý kiến xây dựng”... để lũng đoạn đối phương. Trong đó, lĩnh vực chính trị, tư tưởng được họ xác định là khâu trọng tâm, đột phá; kinh tế là mũi nhọn; dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là “ngòi nổ”; ngoại giao để hỗ trợ; quân sự để răn đe, hậu thuẫn. Trong quá trình thực hiện, khi có điều kiện, thời cơ và cần thiết sẽ kết hợp với bạo loạn lật đổ, gây xung đột, nội chiến, can thiệp vũ trang, chiến tranh ủy nhiệm... để nhanh chóng đạt được mục tiêu chiến lược. Cách thức tiến hành rất công phu, bài bản để che đậy tính chất chính trị phản động, “ru ngủ” tinh thần cảnh giác cách mạng, làm cho đối phương mơ hồ, mất cảnh giác; mưu toan từng bước tạo sự suy thoái về tư tưởng chính trị, mục ruỗng về bộ máy, xuất hiện các mầm mống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở từng cá nhân, trong nội bộ các tổ chức và toàn xã hội và cuối cùng là sự sụp đổ chế độ chính trị giống như sự vận động “tự thân”, “tất yếu”, “hợp quy luật”.

V3.

Bộ mặt mới của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay

 


Chủ thể và lực lượng tiến hành “diễn biến hòa bình” trong bối cảnh mới rất đa dạng, phức tạp, đan xen, không đồng nhất. Nếu như trước kia, chủ thể tiến hành “diễn biến hòa bình” là chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thì nay, bên cạnh lực lượng này còn có cả các nước theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi với tư tưởng bành trướng, bá quyền. Để xác lập vị thế vượt trội hoặc tranh giành lợi ích, ảnh hưởng trong trật tự thế giới mới, một số nước lớn thâu tóm hoạt động của các tổ chức, diễn đàn quốc tế, khu vực để lôi kéo, khống chế các nước khác vào vòng kiềm tỏa của mình. Trong một số trường hợp cụ thể, có những nước bất chấp luật pháp quốc tế, trắng trợn xâm phạm chủ quyền, can thiệp sâu vào nội bộ các nước khác bằng các biện pháp tổng hợp nhằm thay đổi bộ máy chính quyền hoặc lật đổ chế độ chính trị nước khác theo hướng có lợi cho mình. Với chủ thể được mở rộng, lực lượng tiến hành sẽ là “đại quân công chúng” ngay trong nội bộ đối phương. Trước kia, khi thực hiện “diễn biến hòa bình”, những kẻ chủ mưu, thù địch, hiếu chiến bên ngoài trực tiếp tiến hành chống phá. Nay, họ chuyển sang hành động “sau bức màn che”, “bí mật giật dây”, tập trung “nhồi nhét” tư tưởng chống đối, đào tạo, huấn luyện những kẻ “theo đóm ăn tàn”, nội gián, tay sai một cách khá bài bản, trở thành những “kỹ sư lành nghề” lật đổ chế độ chính trị ngay trong nội bộ đối phương. Từ đó, họ ngụy biện rằng, nguyên nhân sụp đổ chế độ chính trị do sự tự thân vận động bên trong chứ không phải do sự chống phá từ bên ngoài (?!). Họ móc nối với những đối tượng cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất nhen nhóm thành các tổ chức chính trị đối lập hoạt động công khai, được “ngụy trang” dưới danh nghĩa các hội, đoàn, tổ chức xã hội dân sự... và rêu rao đó là “đại diện của người dân”; tập hợp các phần tử phản động, lưu manh, bất mãn đội lốt các chức sắc, chức việc, già làng, trưởng nhóm, trưởng hội... chỉ chờ cơ hội là “ngóc đầu”, “lột xác”; mua chuộc, lừa gạt, ép buộc quần chúng nhẹ dạ tham gia làm bình phong, lá chắn. Lực lượng này khi bị lôi kéo, kích động hợp thành “đại quân công chúng” tại chỗ, luôn chịu sự chỉ đạo của các “chuyên gia chống cộng” bên ngoài và đương nhiên đó hoàn toàn không phải là quần chúng theo đúng nghĩa là lực lượng cách mạng. Đây là vấn đề hết sức nguy hiểm, nhất là trong trường hợp số đông quần chúng nhân dân bị mê hoặc, tin theo lời hứa hão huyền bằng các khẩu hiệu lòe bịp, bị “sập bẫy” giương sẵn của các trung tâm quyền lực, các tổ chức phản động quốc tế luôn rắp tâm “đục nước béo cò”, tạo cớ can thiệp, chống phá.

V3.