Thứ Tư, 8 tháng 5, 2024

 Chiến thắng Điện Biên Phủ - Thắng lợi của khát vọng hòa bình, độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân

Nói đến “khát vọng”, “ý chí quyết tâm” là nói đến yếu tố tinh thần, là sự mong muốn, khao khát, quyết tâm dồn hết sức lực, trí tuệ, sự chủ động, sáng tạo để đạt được mục tiêu đề ra; là nguồn động lực có sức mạnh to lớn để mỗi người thực hiện thành công những nhiệm vụ quan trọng nhằm đạt được ước mơ, hoài bão của mình; không khuất phục trước mọi khó khăn, thử thách. Với ý nghĩa đó, suy rộng ra trên bình diện quốc gia, dân tộc, đó là ý chí, bản lĩnh quyết tâm, quyết chí đấu tranh vì hòa bình, độc lập của dân tộc; là sự chủ động, sáng tạo trong lãnh đạo đường lối đấu tranh của chính đảng cầm quyền; là động lực để huy động mọi tầng lớp nhân dân phát huy cao nhất sức mình nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong từng giai đoạn, từng thời điểm lịch sử cụ thể. 

Việt Nam, ở thời điểm đầu năm 1954, trước yêu cầu đặt ra là “phải đánh cho thắng”, đã thấy một khát vọng Việt Nam trỗi dậy mạnh mẽ và được biểu hiện trên nhiều khía cạnh.

Thứ nhất, Điện Biên Phủ - nơi thể hiện ý chí, bản lĩnh quyết tâm, quyết chí đấu tranh vì khát vọng hòa bình, độc lập của dân tộc

Mùa Hè năm 1953, thực dân Pháp triển khai Kế hoạch Nava. Ngày 20-11-1953, Pháp đã điều 6 tiểu đoàn nhảy dù chiếm đóng Điện Biên Phủ và quyết định tập trung lực lượng xây dựng ở đây tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương hòng tiêu diệt quân chủ lực của Việt Nam, giành thắng lợi quân sự lớn để kết thúc chiến tranh. Ngày 25-11-1953, theo lệnh của Nava, 6 tiểu đoàn đánh chiếm Mường Ngòi, Mường Khoa, xây dựng phòng tuyến sông Nậm U để nối liền Thượng Lào với Điện Biên Phủ. Ngày 30-11-1953, Đại tá Đờ Cátxtơri được bổ nhiệm Chỉ huy quân đồn trú ở Điện Biên Phủ.

Đến đầu tháng 12-1953, lực lượng phòng giữ Điện Biên Phủ của Pháp đã tăng từ 6 tiểu đoàn lên 9 tiểu đoàn bộ binh và 3 tiểu đoàn pháo, được bố trí thành 49 cứ điểm, 8 cụm, chia làm 3 phân khu (Phân khu Bắc, Phân khu Trung tâm, Phân khu Nam). Mỗi cụm có hệ thống hỏa lực nhiều tầng, hệ thống hầm ngầm che chắn ngang dọc, sở chỉ huy, bao bọc bởi thép gai dày 50m đến 200m với vô số các loại mìn. Hai sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm với phi đội 12 chiếc máy bay bảo đảm sự chi viện bằng đường hàng không. Thêm vào đó là sự yểm trợ của Mỹ ở các sân bay Gia Lâm, Cát Bi.

Chứng kiến sự đồ sộ và vô cùng kiên cố của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, từ Thủ tướng Pháp Lanien đến tướng Nava và cả Đờ Cátxtơri đều tin chắc rằng quân Việt Minh sẽ không dám tiến công Điện Biên Phủ và nếu tiến công thì sức mạnh của Pháp ở Điện Biên Phủ sẽ nghiền nát quân chủ lực của Việt Minh. Nava đã rất tự tin khi khẳng định rằng: “Điện Biên Phủ là tập hợp những gì được phòng thủ mạnh nhất chưa từng có ở Đông Dương”. Tướng Blăng - Tham mưu trưởng Lục quân Pháp khẳng định “đấy là một Véc-đoong(1) ở Đông Nam Á”; Tướng Đanien - Trưởng phái đoàn cố vấn và viện trợ quân sự Mỹ cho Pháp sau chuyến thị sát 6 tuần, “ông ta lên tất cả các điểm tựa, chui vào hầm cố thủ, kiểm tra từng ụ pháo” và khẳng định “Việt Minh chắc chắn sẽ bị đè bẹp”; Đờ Sơvinhê, Thứ trưởng Bộ chiến tranh Pháp huênh hoang khẳng định “Điện Biên Phủ là bất khả xâm phạm”.

Nếu chỉ nhìn vào tương quan so sánh lực lượng của hai bên thì sự tin tưởng của tướng lĩnh Pháp là hoàn toàn có cơ sở. Ở thời điểm năm 1954, quân Pháp có ưu thế về binh lực và hỏa lực: “Số quân Pháp và tay sai là 444.900 người trong khi quân đội ta chỉ có 238.000 người. Lính Pháp có 594 khẩu pháo trong đó có 300 khẩu 105mm, trong khi quân đội ta chỉ có 80 khẩu pháo. Quân Pháp có 10 trung đoàn cộng với 6 tiểu đoàn và 10 đại đội xe tăng, thiết giáp, trong khi quân đội ta không có xe tăng, thiết giáp. Quân Pháp có 580 máy bay và 391 tàu chiến còn Việt Minh không có máy bay, tàu chiến”(2).

Dù tương quan lực lượng giữa ta và Pháp quá chênh lệch, song Đảng ta vẫn đặt niềm tin vững chắc vào ý chí, tinh thần và lực lượng để từ đó phát động toàn Đảng, toàn quân và toàn dân tộc Việt Nam quyết chiến, quyết thắng. Trong thư gửi cán bộ, chiến sĩ Điện Biên Phủ tháng 12-1953, Người động viên bộ đội “chiến đấu anh dũng, chịu đựng gian khổ hơn, phải giữ vững quyết tâm trong mọi hoàn cảnh”. Người nhấn mạnh: “Chiến dịch này là chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà cả đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được”(3); “Toàn dân, toàn Đảng và Chính phủ nhất định đem toàn lực chi viện Chiến dịch Điện Biên Phủ và nhất định làm mọi việc cần thiết để giành toàn thắng cho chiến dịch này”(4).

Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị họp. Sau khi nghe Tổng Quân ủy báo cáo tình hình, Bộ Chính trị nhận định: “Về địch, Điện Biên Phủ sẽ là một tập đoàn cứ điểm mạnh, nhưng có cái yếu cơ bản là bị cô lập, mọi việc tiếp viện, tiếp tế phải dựa vào đường hàng không. Về ta, với chất lượng đã được nâng cao thêm một bước… với những kinh nghiệm sẵn có và sự tiến bộ về trang bị kỹ thuật, quân đội ta tới đây có thể đánh được tập đoàn cứ điểm. Vấn đề đường sá, tiếp tế cho chiến dịch đúng là những khó khăn. Nhưng với quyết tâm của toàn Đảng, cả hậu phương… nhất định sẽ bảo đảm cung cấp cho tiền tuyến”(5). Từ đây, một quyết định lịch sử được Bộ Chính trị đưa ra với ý chí, quyết tâm sắt đá “dốc toàn lực tiêu diệt bằng được quân địch ở Điện Biên Phủ”.

Từ sự phân tích trên, chúng ta thấy rằng: Chiến dịch Điện Biên Phủ hoàn toàn khác so với các chiến dịch trước đó. Chúng ta phải đương đầu với một quân đội nhà nghề mạnh, được trang bị vũ khí hiện đại. Tuy so sánh lực lượng hết sức chênh lệch, song dân tộc Việt Nam có Đảng tiên phong và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã làm nên một chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, đập tan sự kháng cự của Pháp trong tập đoàn cứ điểm mạnh nhất, chấm dứt sự có mặt của quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương.

Rõ ràng, nhìn suốt hành trình tiến hành cuộc kháng chiến và ở Chiến dịch Điện Biên Phủ đã cho thấy thực dân Pháp lúc đó đã không đánh giá đúng dân tộc Việt Nam. Và do đó, sau thất bại ở Điện Biên Phủ, họ vẫn cố gắng đi tìm đáp án cho một câu hỏi “vì sao dân tộc Việt Nam lại giành được thắng lợi trước một đội quân nhà nghề lớn mạnh đến như vậy?”. Nhiều người trên thế giới coi thắng lợi của Việt Nam là một câu chuyện huyền thoại. Còn “chúng ta, những người trong cuộc, đều biết rõ dân tộc Việt Nam đã thắng, trước hết là do sức sống mãnh liệt của nền văn hóa lâu đời, của truyền thống yêu nước hàng nghìn năm, của tinh thần đấu tranh bất khuất thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ, của tư tưởng mà Bác Hồ đã nêu rõ Không có gì quý hơn độc lập tự do”(6).

Thứ hai, luôn chủ động, độc lập, tự chủ trong hoạch định đường lối kháng chiến cũng như trong chỉ đạo thực tiễn chiến dịch

Quyết tâm tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ, nhưng tiêu diệt bằng cách nào phụ thuộc vào tài thao lược của Đảng. Cần nhấn mạnh rằng, đây là một trận quyết chiến chiến lược mà cả hai cùng chọn. Vì vậy, tâm thế của quân ta khi bước vào trận đánh không phải là sự chủ động bày binh, bố trận, nhử địch vào trận địa mai phục như các trận Bạch Đằng (938), (1288), trận Như Nguyệt (1077), trận Chi Lăng - Xương Giang (1427), trận Rạch Gầm - Xoài Mút (1785), trận Ngọc Hồi - Đống Đa (1789)… như đã từng diễn ra trong lịch sử, mà đây là một trận quyết chiến mà cả hai phía đều có sự chuẩn bị, đều biết trước, chấp nhận thực tế “một mất một còn” và đều có quyết tâm giành thắng lợi. Trong điều kiện đó, thắng - bại của trận quyết chiến mấu chốt nằm ở tài thao lược của mỗi bên.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tài thao lược của Đảng ta được thể hiện ở việc đề ra đường lối kháng chiến đúng đắn với tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt là “toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính”. Nhờ đó, chúng ta huy động sức mạnh của toàn dân, tạo lập một thế trận chiến tranh nhân dân: Mỗi đường phố là một mặt trận, mỗi quốc dân là một chiến sĩ, đánh địch mọi lúc, mọi nơi, tạo “thế trận lòng dân” vững chắc. Nhờ đó, trong Chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954, chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích đã tiêu diệt hai phần ba (8 vạn) tên địch trên toàn chiến trường Đông Dương “góp phần quyết định vào việc đánh bại kế hoạch Nava”(7).

Nhờ có chủ trương, đường lối đúng đắn, tạo lập thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp đã làm phân tán khối cơ động của Pháp mà tướng Nava dày công tập hợp và đặt nhiều kỳ vọng: 51% bị điều lên chiến trường rừng núi (Tây Bắc, Luôngphabăng, Mường Sài, Sênô, Plâycu, An Khê…) để ứng phó với những đòn tấn công của chủ lực Việt Minh có sự hiệp đồng của quân dân tại chỗ, 49% còn lại bị chiến tranh du kích kìm chân đến không còn cơ động nữa. Kết quả là, địch thì tan, còn ta thì tụ. Để rồi đường tới Điện Biên Phủ như một “cái bẫy” đặt ra cho Pháp vì đóng quân trong một lòng chảo, Điện Biên Phủ trở nên trơ trọi.

 Mô tả về thế trận ở Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh lật ngửa chiếc mũ, đưa tay lên vành mũ rồi nói với nhà báo Ôxtrâylia - Bớcsét về triển vọng cuộc đụng đầu ở Điện Biên Phủ giữa ta và Pháp: “Đây là rừng núi, nơi có lực lượng của chúng tôi. Dưới kia là thung lũng Điện Biên Phủ (đáy mũ), ở đó người Pháp với những đội quân tinh nhuệ nhất. Họ sẽ không bao giờ ra được - tuy có mất một ít thời gian”(8). Theo binh pháp thì: “Được thế tốt… lúc đánh, thì thế như lăn đá tròn xuống núi cao mấy nghìn thước”(9).

Khi quyết định giao chiến với thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ, tài thao lược của Đảng thể hiện ở việc nghiên cứu, đánh giá đúng tương quan lực lượng của ta và địch, bám sát thực tiễn chiến trường, dựa chắc vào đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính” để đi đến quyết định thay đổi phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”.

Việc thay đổi đó là bởi ban đầu, khi quân địch mới nhảy dù xuống, lực lượng của địch chưa được tăng cường, bố trí của chúng còn tương đối sơ hở, quân ta thực hiện bao vây Điện Biên Phủ theo phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh”, thời gian Chiến dịch dự kiến 3 đêm 2 ngày, nổ súng vào ngày 20-1-1954. Nhưng với nhãn quan khoa học, tư duy chính trị - quân sự sắc sảo và tài thao lược của Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp khi được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh “giao toàn quyền”, trên cơ sở phân tích thế trận: địch không còn ở trong trạng thái lâm thời phòng ngự, mà đã trở thành một tập đoàn cứ điểm phòng ngự kiên cố, pháo binh của ta là hỏa lực chủ yếu của chiến dịch lại không kéo đ­ược vào trận địa đúng thời gian, yêu cầu, “nếu đánh nhanh giải quyết nhanh thì tổn thất sẽ rất lớn, chắc chắn sẽ thất bại”(10).

Sau 11 ngày đêm suy tính, nhất là đêm 25-01-1954 hầu như không chợp mắt, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đi đến một quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời cầm quân của mình: Tạm ngừng nổ súng, kéo pháo ra, chuẩn bị thêm để đánh theo phương châm tác chiến mới là “đánh chắc, tiến chắc”. Nói là quyết định khó khăn bởi bộ đội ta đã đ­ược chuẩn bị để đánh nhanh, bộ binh đã triển khai đội hình, phần lớn pháo binh đã vào trận địa nay lại rút ra làm cho tư tưởng bộ đội dễ hoang mang. Hơn thế, mọi công tác chuẩn bị đều phải làm lại từ đầu, những khó khăn về cung cấp, vận tải tiếp tế khi mùa mưa đến... sẽ tăng lên, nhưng không thể không thay đổi.

Quyết định chuyển sang phương châm “đánh chắc, tiến chắc” chính là quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng thể hiện trong Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II (họp từ 25 đến 30-1-1953), Hội nghị Bộ Chính trị tháng 10-1953 tại Tỉn Keo (Thái Nguyên), phương án tác chiến Đông - Xuân 1953 - 1954, ngày 6-12-1953 của Tổng Quân ủy trình Bộ Chính trị và cũng là kế thừa kinh nghiệm “lấy nhỏ đánh lớn”, “lấy ít địch nhiều” của nền nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Trong Báo cáo của Tổng Bí thư Trường Chinh tại Hội nghị Trung ương lần thứ tư đã đưa ra tư tưởng chỉ đạo: “ta không chủ quan khinh địch, không nóng vội, không mạo hiểm. Đánh ăn chắc, tiến ăn chắc. Chắc thắng thì kiên quyết đánh cho kỳ thắng. Không chắc thắng thì kiên quyết không đánh. Nếu chủ quan mạo hiểm một lần mà thua nặng thì sẽ tai hại lớn. Chiến trường của ta hẹp, người của ta không nhiều, nên nói chung ta chỉ có thắng chứ không được bại, vì bại là hết vốn”(11).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “phải đánh cho thắng, chắc thắng mới đánh”. Báo cáo của Tổng quân ủy ngày 6-12-1953, khi địch mới nhảy dù xuống Điện Biên Phủ cũng đã trù liệu thời gian tiến hành trận công kiên lớn nhất này khoảng 45 ngày. Một sự dự báo gần như trở thành hiện thực ở Điện Biên Phủ. Trải qua “Năm mươi sáu ngày đêm, khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt/ Máu trộn bùn non/ Gan không núng/ Chí không mòn!”, quân ta đã tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. 17 giờ 30 phút ngày 7-5-1954, Tướng Đờ Cátxtơri và toàn bộ Bộ Tham mưu quân Pháp ở Điện Biên Phủ bị bắt. Lá cờ “Quyết chiến, Quyết thắng” tung bay trên nóc hầm chỉ huy của địch.

Thứ ba, Điện Biên Phủ - nơi hội tụ cao nhất của ý chí tự lực, tự cường, vượt qua mọi khó khăn gian khổ quyết giành thắng lợi cuối cùng

Quyết định thay đổi cách đánh, đồng nghĩa với mọi công tác chuẩn bị phải làm lại từ đầu, khó khăn chồng chất. Bởi Điện Biên Phủ là một tập đoàn gồm 49 cứ điểm, được tổ chức thành 8 cụm cứ điểm - trung tâm đề kháng - liên hoàn với nhau, với lực lượng phòng ngự và lực lượng cơ động, hỏa lực mạnh… Nơi đây lại là một chiến trường rừng núi hiểm trở, đường sá chưa được mở mang, ở xa hậu phương của ta (từ 400-500km). Trong các chiến dịch trước đó, bộ đội ta chỉ sử dụng ít lực lượng, chiến trường lại gần hậu phương, việc hành quân, vận chuyển đạn dược, lương thực, thực phẩm gặp nhiều khó khăn, lương thực cạn kiệt và nhiều lúc đã phải ăn cháo cầm hơi. Đến Chiến dịch Điện Biên Phủ, quy mô hoàn toàn lớn hơn, lực lượng sử dụng nhiều hơn, chiến trường xa hơn… thì khó khăn sẽ lớn hơn gấp bội phần.

Trong triển khai lực lượng, sự thay đổi đối với bộ binh đã là điều không đơn giản, vì vậy đối với pháo binh, vấn đề lại càng phức tạp hơn nhiều. Pháo vào trận địa chỉ bằng sức đẩy, sức kéo của con người, trong khi đó đã kéo pháo vào lại kéo ra, rồi lại kéo vào trên một hướng khác; phải làm đường mới, phải chống pháo địch đánh phá liên tiếp ngày đêm, nhất là ở các điểm nút di chuyển... Bên cạnh đó, quá trình diễn ra chiến dịch, chúng ta còn phải đấu tranh chống tư tưởng hữu khuynh, đánh giá địch cao, không tin ở phương án “đánh chắc, tiến chắc”. Vấn đề đặt ra lúc này là phải làm sao thống nhất về mặt ý chí và hành động để có được quyết tâm từ trên xuống dưới, đồng sức, đồng lòng quyết tâm giành thắng lợi.

Thực tiễn nêu trên cho thấy thành công rất lớn từ công tác tư tưởng - chính trị trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, nhờ đó đã quy tụ được sự đồng sức, đồng lòng, sự tin tưởng tuyệt đối của toàn quân, toàn dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Trong quá trình chuẩn bị nhằm phục vụ cho phương châm tác chiến mới, nhiều khẩu hiệu động viên đã được nêu ra:Chuẩn bị tốt là đã giành thắng lợi một nửa!; Đem sức lao động ra để làm đường kéo pháo, xây dựng các trận địa tấn công, đổ mồ hôi hôm nay để ngày mai tiết kiệm xương máu cho đồng đội!; Bảo đảm đường sá thông suốt là bảo đảm thắng lợi!; Xây dựng công sự dày thêm một tấc là tạo thêm điều kiện để chiến thắng quân địch!”.

Với tinh thần tự lực, tự cường, quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cố nhiên, sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”(12). Toàn dân tộc Việt Nam đã tập trung mọi nguồn lực chi viện cho Điện Biên Phủ. Cùng với các đơn vị quân đội tiến lên Điện Biên Phủ là hàng vạn thanh niên xung phong phối hợp với công binh mở hàng trămkilômét đường. Chúng ta đã huy động 261.461 dân công với tổng 18.301.570 ngày công phục vụ chiến dịch, vận chuyển 27.400 tấn gạo cho Điện Biên Phủ; huy động 628 xe vận tải, 11.800 thuyền bè, hơn 20.000 xe đạp thồ, 500 ngựa thồ và hàng nghìn xe trâu, bò kéo phục vụ Chiến dịch.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định: “nhân dân ta không những cung cấp cho bộ đội mọi nhu cầu chiến đấu và chiến đấu bên cạnh bộ đội, mà còn chăm lo cho bộ đội từng cái kim, sợi chỉ, miếng quà, tấm bánh, gửi hàng nghìn bức thư cổ vũ, gửi đến cho chiến sĩ cả tấm lòng thương yêu đùm bọc của toàn dân, truyền cho chiến sĩ cả nhiệt tình của hàng triệu nhân dân đang phấn khởi sôi nổi tiến hành cải cách ruộng đất”.

Có thể khẳng định, chỉ có lòng yêu nước nồng nàn, một tinh thần tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc và một quyết tâm bảo vệ nền độc lập, thống nhất Tổ quốc mới có được sức mạnh tổng lực như vậy. Và đó chính là sức mạnh nội sinh tiềm tàng quyết định chiến thắng.Guyn Roi - một nhà văn, nhà báo người Pháp từng nhận xét: “Không phải viện trợ từ bên ngoài đã đánh bại tướng Nava, mà chính là những chiếc xe đạp thồ 200 - 300 kg hàng và đẩy bằng sức người, những con người ăn chưa đủ no và ngủ thì nằm ngay dưới đất trải tấm nilông. Cái đã đánh bại tướng Nava không phải là phương tiện, mà là sự thông minh và ý chí của đối phương”(13).


_________________

(1) Hàm ý nói về “Cối xay thịt” - Trận chiến Verdun ở mặt trận phía Tây trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, giữa quân đội Đức và Pháp từ 21-2 đến 19-12-1916 xung quanh Verdun-sur-Meuse ở Đông Bắc nước Pháp.

(2) Ban Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975 - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.487.

(3) Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho đồng chí Võ Nguyên Giáp tháng 12-1953.

(4) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.88.

(5) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng:Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập I (1930-1954)/quyển 2 (1945-1954), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018, tr.439-440.

(6)  Việt Nam trong thế kỷ XX, t.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.45.

(7) Đại tướng Hoàng Văn Thái: Một số suy nghĩ về những bài học lớn của cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 -1954…, in trong Mấy vấn đề chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985, tr.19.

(8)  Bớcsét: Hồi ký, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, tr.225.

(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.523.

(10) Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ xưa và nay, Tạp chí Xưa và Nay, số 2, tháng 5-1994.

(11) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.4, Sđd, tr.59.

(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, Sđd, tr.522.

(13) Jules Roy: Trận Điện Biên Phủ dưới con mắt người Pháp, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2004, tr.449.


 Đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc bản chất của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Ở Việt Nam, chế độ dân chủ XHCN được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng với thực tiễn xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN. Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN, là mục tiêu, là động lực của sự phát triển đất nước, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân, đặt nhân dân ở vị trí trung tâm, có quyền quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước.

Trước hết, tư tưởng của C.Mác về dân chủ có ý nghĩa đặc biệt, mở ra giai đoạn mới trong nhận thức về dân chủ. Trong tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen (năm 1843), C. Mác đã chỉ ra bản chất của chế độ dân chủ: “Trong chế độ quân chủ, chúng ta có nhân dân của chế độ nhà nước; trong chế độ dân chủ, chúng ta có chế độ nhà nước của nhân dân. Chế độ dân chủ là câu đố đã được giải đáp của mọi hình thức chế độ nhà nước”(1).

Theo đó, chế độ dân chủ xuất phát từ con người, nhân dân là chủ thể tạo ra chế độ nhà nước dân chủ theo ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Đồng thời, C.Mác cũng chỉ ra điểm khác nhau căn bản về bản chất giữa chế độ dân chủ và chế độ quân chủ: “Chế độ dân chủ là chế độ nhà nước với tư cách là khái niệm loài. Còn chế độ quân chủ thì chỉ là một trong những giống của chế độ nhà nước, mà lại là một giống tồi. Chế độ dân chủ là nội dung và hình thức. Chế độ quân chủ dường như chỉ là hình thức, nhưng trong thực tế thì nó xuyên tạc nội dung”(2).

Trong tác phẩm Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản, khi trả lời câu hỏi: Cuộc cách mạng đó sẽ diễn biến như thế nào?, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “ nó tạo ra một chế độ dân chủ và nhờ đó trực tiếp hay gián tiếp tạo ra quyền thống trị chính trị của giai cấp vô sản”(3). Do đó, bản chất của chế độ dân chủ được xác định là hướng tới con người hiện thực, nhân dân hiện thực và được xác định là sự nghiệp của bản thân nhân dân, quyền lực chính trị thuộc về nhân dân.

Kế thừa tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin cũng đưa ra những quan điểm về dân chủ. Trong tác phẩm Nhà nước và Cách mạng, V.I.Lênin viết: “Chế độ dân chủ có một ý nghĩa lớn lao trong cuộc đấu tranh tự giải phóng của giai cấp công nhân chống bọn tư bản”(4). Ông nhấn mạnh đến vai trò, ý nghĩa của chế độ dân chủ đối với việc giải phóng giai cấp công nhân. Sang giai đoạn Chính sách kinh tế mới, V.I.Lênin cho rằng cần phải thực hiện được nền dân chủ XHCN kiểu mới, vượt ra khỏi nền dân chủ tư bản chủ nghĩa, thực hiện phương pháp kết hợp giám sát bên trong và bên ngoài của bộ máy đảng, nhà nước và tăng cường giám sát đối với lãnh đạo cao nhất; thực hiện nền dân chủ XHCN gắn chặt với quần chúng nhân dân. V.I.Lênin  nhấn mạnh: “Dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân”(5).

Tiếp tục quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ và vận dụng sáng tạo vào điều kiện vụ thể của Việt Nam. Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của nhân dân, lấy dân là gốc. Người xác định nhiệm vụ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, cán bộ nhà nước phải là công bộc của dân, gần dân, tin dân, và “Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân…”(6).

Quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của đất nước qua từng giai đoạn phát triển của lịch sử. Nền dân chủ XHCN mà Việt Nam xây dựng là nền dân chủ tiến bộ, nhân văn của toàn thể nhân dân lao động, nhân dân đóng vai trò là vị trí trung tâm, là chủ thể của đất nước.

Điều này được thể hiện qua các văn kiện Đại hội Đảng. Tại Đại hội VI (năm 1986), thuật ngữ Dân chủ XHCN được đề cập: “nhà nước chuyên chính vô sản thực hiện chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa”(7). Đại hội nhấn mạnh đến nhiệm vụ của nhà nước đó là phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Trải qua các giai đoạn phát triển, dân chủ ngày càng được Đảng nhận thức một cách đầy đủ, sâu sắc, toàn diện hơn và phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước. Đảng chủ trương xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, quyền làm chủ của nhân dân. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(8).

Để thực hiện tốt mục tiêu xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN, góp phần vào thành công của sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam, tác giả bài viết đề xuất một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, Đảng tập trung thực hiện nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo lấy đổi mới hệ thống chính trị là trọng tâm. Bởi, Nhà nước chính là công cụ để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có nhiều tiến bộ, tổ chức bộ máy nhà nước tiếp tục được hoàn thiện, hoạt động hiệu lực và hiệu quả hơn; bảo đảm thực hiện đồng bộ các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”(9).

Quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn: quyền làm chủ của người dân được thực hiện có hiệu quả theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; vị trí, vai trò của người dân được đề cao, người dân có quyền tham gia, giám sát và có quyền thụ hưởng những thành quả từ việc thực thi chính sách và được quyết định những công việc hệ trọng của đất nước.

Ở Việt Nam, mọi công dân đều có quyền bầu cử, có quyền tham gia quản lý xã hội một cách trực tiếp, hoặc thông qua người đại diện do mình lựa chọn, ủy thác. Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là hình thức dân chủ trực tiếp, là phương thức thể hiện ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng Nhà nước và cơ quan đại diện, cơ quan quyền lực nhà nước từ Trung ương đến địa phương.

Quyền lực nhà nước có sự thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, được phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quyền lực nhà nước trong việc thực thi quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tập trung cải cách bộ máy hành chính nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu quả; cán bộ nhà nước thực sự là công bộc của nhân dân, luôn lắng nghe dân, gần dân, tin dân; duy trì mối quan hệ mật thiết với nhân dân; công tác cán bộ có nhiều đổi mới dân chủ, công khai, minh bạch. Nền dân chủ ở Việt Nam là nền dân chủ XHCN, là nền dân chủ của khối đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân với đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương; quyền lợi đi đôi với trách nhiệm và nghĩa vụ; dân chủ được cụ thể hóa thành pháp luật, dân chủ trong khuôn khổ pháp luật; khắc phục tình trạng vô kỷ luật, dân chủ cực đoan, lợi dụng dân chủ để phá hoại chế độ XHCN. Điều đó, khẳng định được bản chất ưu việt của Nhà nước XHCN Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, phục vụ lợi ích của nhân dân, và ngày càng nhận được sự đồng tình, ủng hộ của người dân, tạo nên niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Thứ hai, Đảng chủ trương thực hiện dân chủ trong toàn hệ thống chính trị, thường xuyên cải cách, đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu quả; lấy thực hiện phát huy dân chủ trong Đảng là trọng tâm, gắn đấu tranh kinh tế với đấu tranh chính trị; đấu tranh chống các biểu hiện suy thoái, tiêu cực. Đảng nhấn mạnh thực hiện phát huy dân chủ trong Đảng là cơ sở, điều kiện để thực hiện dân chủ trong toàn hệ thống chính trị và toàn xã hội. Khi dân chủ trong Đảng được thực hiện một cách thực chất, nội bộ Đảng luôn đoàn kết thống nhất ý chí và hành động sẽ là điều kiện để mở rộng phát huy dân chủ trong toàn hệ thống chính trị. Ngược lại, nếu dân chủ trong Đảng không được thực hiện một cách có hiệu quả sẽ nảy sinh những hệ lụy làm mất đi sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, chia rẽ nội bộ, gây bè kết phái làm ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của tổ chức đảng.

Nhận thức rõ được vai trò, ý nghĩa của việc phát huy dân chủ trong Đảng, Đảng luôn quán triệt và thực hiện nhất quán nguyên tắc tập trung dân chủ, tức là tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Đây được coi là nguyên tắc cơ bản, rường cột xuyên suốt quá trình xây dựng, tổ chức, lãnh đạo của Đảng; tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách là hai mặt thống nhất trong một chỉnh thể không thể tách rời.

Những năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; thường xuyên tổ chức đối thoại giữa người đứng đầu các cấp ủy đối với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân; kiên quyết đấu tranh, phê phán những biểu hiện lệch lạc, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; công tác cán bộ được thực hiện một cách công khai, minh bạch, dân chủ nhằm xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; chú trọng công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực gây ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức đảng.

Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh toán, kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, phát hiện sớm, xử lý nghiêm minh các vụ việc, vụ án tham nhũng; kịp thời xử lý, thay thế cán bộ lãnh đạo, quản lý có biểu hiện tham nhũng, lãng phí; xử lý nghiêm những cán bộ nhũng nhiễu, vòi vĩnh, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp”(10).

Thứ ba, thực tế những thành quả về thực hiện nhân quyền ở Việt Nam đã phản bác lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch cho rằng Việt Nam là một nước không có dân chủ và nhân quyền.

Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn đặt vấn đề dân chủ và quyền con người lên hàng đầu. Điển hình, trước ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, Đảng, Nhà nước đã đề ra hàng loạt chính sách bảo đảm an toàn cho người dân; chính sách an sinh xã hội nhằm ổn định cuộc sống cho người dân, đặc biệt là những người có hoàn cảnh khó khăn, các đối tượng ưu tiên. Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước cũng có những chính sách hỗ trợ công dân ở nước ngoài về nước. Những điều này một lần nữa khẳng định mục tiêu của Đảng, Nhà nước Việt Nam đó là “đặt lợi ích của người dân lên trên hết” và cho thấy nỗ lực, quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ, bảo đảm, thúc đẩy dân chủ, nhân quyền.

Trong quá trình xây dựng CNXH, Việt Nam đã có nhiều đóng góp to lớn cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Điều này một lần nữa khẳng định đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng trong suốt chín thập niên qua. Đó là sự thật và sự thật này đã được kiểm chứng bởi lịch sử Việt Nam hiện đại, bởi sự tin tưởng, ủng hộ và đồng thuận xã hội của toàn thể nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam; bởi sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế. Đó là cơ sở quan trọng, giáng một đòn mạnh mẽ, đấu tranh, phản bác những âm mưu, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN ở Việt Nam; khẳng định tính ưu việt, bản chất dân chủ của chế độ XHCN ở Việt Nam.

Trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng luôn giữ vững lập trường, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vận dụng sáng tạo vào tình hình thực tiễn của đất nước để thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng CNXH. Đảng luôn đặt những nhiệm vụ quan trọng, cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN, thực hiện phát huy dân chủ trong Đảng là trọng tâm tiến tới thực hiện dân chủ trong toàn hệ thống chính trị; xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam. Chúng ta chủ trương không ngừng và phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trên cơ sở liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”(11).


_________________

(1), (2) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.349.

(3) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.4, Sđd, tr.469- 470.

(4), (5) V. I. Lênin: Toàn tập, t.33, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.122, 109.

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.216.

(7) ĐCSVN:Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.451.

(8), (9), (10) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.173, 72, 195.

(11) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.28.

 Nhận diện những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch về dân chủ

Trong bối cảnh thế giới hiện nay, trước những biến đổi sâu sắc về mọi mặt của đời sống xã hội, dân chủ luôn là vấn đề được quan tâm đề cập ở cả phương diện lý luận và thực tiễn. Các thế lực thù địch tăng cường sử dụng mọi âm mưu, thủ đoạn tinh vi để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam trên mọi lĩnh vực, gây kích động biểu tình, mất ổn định về chính trị - xã hội; làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Âm mưu của các thế lực thù địch là phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận chế độ dân chủ XHCN, phủ nhận CNXH và con đường đi lên CNXH với mục đích làm cho Việt Nam đi chệch hướng XHCN. Điều này đe dọa trực tiếp sự tồn vong của Đảng, Nhà nước, của chế độ dân chủ XHCN ở Việt Nam.

Trước hết, các thế lực thù địch lợi dụng sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu, chúng cho rằng Việt Nam lựa chọn và kiên định con đường đi lên CNXH là một sai lầm, đi theo vết xe đổ của Liên Xô. 

Thứ hai, để phủ nhận tính ưu việt và bản chất dân chủ của mô hình XHCN, các thế lực chống CNXH trên toàn thế giới đã tiến hành chiến dịch tuyên truyền những thông tin sai lệch, những luận điệu xuyên tạc làm ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam và các nước XHCN khác. Các thế lực thù địch tuyên truyền luận điệu Việt Nam là một nước không dân chủ và “độc tài”; vu khống Đảng, Nhà nước Việt Nam vi phạm dân chủ, đàn áp tôn giáo và kỳ thị dân tộc. Chúng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng vi phạm, phủ nhận mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Chúng lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền để bóp méo, xuyên tạc việc thực hiện dân chủ, cho rằng Việt Nam không có dân chủ, bởi “chế độ một đảng cầm quyền là cản trở sự phát triển của đất nước”.

Thứ ba, các thế lực phản động, thù địch đã xuyên tạc về vấn đề dân chủ nhằm thực hiện âm mưu chia rẽ nhân dân, gây kích động biểu tình, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước Việt Nam; tuyên truyền Việt Nam là một nước thiếu tự do dân chủ đối với đồng bào dân tộc thiểu số và một số tôn giáo như Việt Nam có “hai chính sách tôn giáo”; không bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số trong thực tế thông qua “cơ chế xin - cho” để kích động hành vi phản quốc và bạo lực giữa các cộng đồng dân tộc. Điển hình là các vụ kích động gây ra vụ khủng bố đặc biệt nghiêm trọng ở Đắk Lắk ngày 11-6-2023 làm chết 9 người, 2 người bị thương và phá hủy nhiều tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, mục đích nhằm lật đổ chính quyền.

Chúng ngày càng có nhiều thủ đoạn tấn công và xuyên tạc về dân chủ và tự do của Việt Nam bằng nhiều hình thức khác nhau và ngày một tinh vi hơn. Đồng thời, chúng còn lan truyền thông tin rằng Việt Nam là một nước không có tự do, dân chủ và nhân quyền.

Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới

 Tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng; tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới... Đây là những nội dung được nhấn mạnh tại Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện Kết luận số 01 của Bộ Chính trị khóa XIII về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới do Đảng ủy Quân khu 5 tổ chức tại thành phố Đà Nẵng sáng nay (19/4).

Qua 3 năm triển khai Kết luận số 01 của Bộ Chính trị khóa XIII về đẩy mạnh học tập làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh và 2 năm thực hiện Nghị quyết của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ", kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, Đảng bộ và Lực lượng vũ trang Quân khu 5 đạt được nhiều kết quả quan trọng. 

Trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thực hiện Nghị quyết của Quân ủy Trung ương, các cơ quan, đơn vị đã đẩy mạnh việc thực hiện Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; tích cực tham gia các phong trào thi đua “Cán bộ, chiến sĩ Lực lượng vũ trang Quân khu 5 thi đua thực hiện văn hóa công sở, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, “Lực lượng vũ trang Quân khu 5 chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Quân đội chung tay vì người nghèo, không để ai bị bỏ lại phía sau” cùng nhiều phong trào khác như “Đền ơn, đáp nghĩa”, “Uống nước, nhớ nguồn”. Các đơn vị Quân khu 5 đã thăm, tặng hơn 3.500 suất quà, tổ chức các điểm vui xuân cùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn với tổng kinh phí 9 tỷ đồng. Chương trình “Mẹ đỡ đầu”, các cấp Hội Phụ nữ trong Quân khu 5 đã nhận đỡ đầu 38 cháu mồ côi trên địa bàn đóng quân; Chương trình “Nâng cánh ước mơ” đã trao 167 suất quà tặng học sinh xuất sắc tiêu biểu với số tiền gần 250 triệu đồng…

Phát biểu tại Hội nghị, Trung tướng Trịnh Đình Thạch, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 5 khẳng định, bên cạnh nhiều kết quả đáng kể về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới hiện vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục. Đó là việc đăng ký cam kết nội dung làm theo chưa gắn với nhiệm vụ trọng tâm, chưa sát với thực tiễn. Công tác tuyên truyền, phát hiện, biểu dương, nhân rộng các mô hình, cách làm hay trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chưa kịp thời; trách nhiệm nêu gương, tính tiền phong, gương mẫu của một số cán bộ, đảng viên còn hạn chế. Trung tướng Trịnh Đình Thạch đề nghị: "Tại Hội nghị này, chúng ta sẽ đánh giá kết quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện Kết luận số 01 và Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương, tập trung làm rõ kết quả đạt được, hạn chế, khó khăn vướng mắc và nguyên nhân; xác định phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện trong thời gian tới. Qua đó, tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”.

Tại Hội nghị này, Quân khu 5 đã tuyên dương 24 tập thể và 32 cá nhân điển hình tiêu biểu trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, lao động sản xuất và công tác. Đây là những tập thể, cá nhân có nhiều thành tích xuất sắc về tinh thần làm việc năng động, sáng tạo; có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật được áp dụng vào thực tiễn có hiệu quả... Các tập thể, cá nhân này đã có nhiều cách làm mới trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng lực lượng thường trực, dân quân tự vệ, dự bị động viên, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”.

Lữ đoàn 172 - Vùng 3 Hải quân: Điểm tựa ngư dân trên biển

 5 năm qua, Lữ đoàn 172, Bộ Tư lệnh Vùng 3 Hải quân đẩy mạnh phong trào phát huy sáng kiến, khả năng sáng tạo của bộ đội. Nổi bật là phát huy vai trò của các sĩ quan trẻ trong thiết kế, chế tạo nhiều mô hình học cụ có giá trị thực tiễn cao, góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu và làm chủ vũ khí thiết bị kỹ thuật. Điển hình như thiết bị mô phỏng tổ hợp Tên lửa P15U trên tàu 205E; Mô hình hệ thống truyền tiếp đạn Pháo AK-725; Hệ thống báo động và định vị GPS khi có người rơi xuống nước... 

Lữ đoàn 172 đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trong Vùng tổ chức luyện tập, diễn tập, sẵn sàng chi viện cho các lực lượng khác thực hiện nhiệm vụ trên biển; tổ chức tuần tra quản lý vùng biển, huấn luyện chung với Hải quân các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp... Đặc biệt, lần đầu tiên Lữ đoàn 172 đã tham gia diễn tập đa phương quốc tế tại Malaysia và Indonesia, diễn tập MILAN 2024 tại Ấn Độ kết hợp đối ngoại quốc phòng đạt kết quả tốt, góp phần tăng cường mối quan hệ hữu nghị, hợp tác quốc phòng giữa các nước trong khu vực và quốc tế. 

Trong những năm qua, Lữ đoàn 172, Vùng 3 Hải quân thực hiện tốt phong trào thi đua “Dân vận khéo”, xây dựng “Đơn vị dân vận tốt” gắn với  phong trào “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”. Toàn Lữ đoàn đã huy động được hàng nghìn ngày công giúp đỡ nhân dân, các trường học trên địa bàn xây dựng cơ sở hạ tầng, chữa cháy rừng, khắc phục hậu quả thiên tai, thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách...

Từ năm 2023, Lữ đoàn 172 chủ động phối hợp với các đơn vị kết nghĩa triển khai thực hiện có hiệu quả chương trình “Hải quân làm điểm tựa cho ngư dân vươn khơi, bám biển”, nhận đỡ đầu 2 cháu là con ngư dân hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại Đà Nẵng đến năm 18 tuổi.

Chuẩn Đô đốc Nguyễn Đăng Tiến, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Vùng 3 Hải quân cho biết, hiện nay tình hình trên thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, toàn thể cán bộ, chiến sĩ Vùng 3 Hải quân nói chung và Lữ đoàn 172 nói riêng cần đề cao cảnh giác, tăng cường tập luyện sẵn sàng chiến đấu, giúp nhân dân địa bàn giữ vững ổn định chính trị trên địa bàn.

“Tiếp tục thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua Quân chủng Hải quân chung sức xây dựng nông thôn mới, chung tay vì người nghèo, không để ai bị bỏ lại phía sau. Tích cực tham gia tìm kiếm cứu nạn phòng chống thiên tai, giúp nhân dân xóa đói giảm nghèo, tổ chức các hoạt động đền ơn đáp nghĩa. Cán bộ chiến sĩ Lữ đoàn 172 tiếp tục nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo, khắc phục khó khăn, phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, góp phần xững đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo của Tổ quốc”. Chuẩn Đô đốc Nguyễn Đăng Tiến nhấn mạnh./.

Đoàn đại biểu Bộ Quốc phòng dự Triển lãm Quốc phòng an ninh Châu Á tại Malaysia

 Tại Triển lãm Quốc phòng an ninh Châu Á lần thứ 18 năm 2024 (DSA 2024), Đoàn đã tham dự Lễ Khai mạc, tham quan các gian hàng và khu trưng bày sản phẩm của một số doanh nghiệp, tập đoàn lớn trên thế giới. Đoàn cũng đã có các cuộc gặp với một số đối tác để trao đổi về các vấn đề cùng quan tâm và hợp tác song phương. 

Tại cuộc gặp với Giám đốc Cơ quan quản lý chương trình mua sắm quốc phòng Hàn Quốc (DAPA), hai bên bày tỏ vui mừng với sự phát triển của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Hàn Quốc nói chung, hợp tác quốc phòng song phương giữa hai nước nói riêng.

Đặc biệt, hợp tác trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, thương mại quân sự cũng được hai bên quan tâm triển khai, đạt kết quả thiết thực. Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn đánh giá cao vị trí, vai trò của DAPA và mong muốn DAPA sẽ tiếp tục đóng góp vào sự phát triển chung của quan hệ quốc phòng song phương giữa Việt Nam và Hàn Quốc.

Giám đốc DAPA cũng khẳng định coi trọng hợp tác với các đối tác Việt Nam, mong muốn hai bên tiếp tục có những hợp tác thực chất, hiệu quả trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng thời gian tới.

Tại các cuộc làm việc, gặp gỡ với các đối tác, Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn, Trưởng ban Tổ chức Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam cũng trân trọng cảm ơn Bộ Quốc phòng các nước đã cử đoàn cấp cao sang tham dự Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam lần thứ nhất năm 2022 và mong muốn Bộ Quốc phòng, Quân đội và doanh nghiệp quốc phòng các nước sẽ tiếp tục ủng hộ, tham dự Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam lần thứ 2 được tổ chức từ ngày 19-22/12/2024 nhân dịp kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân.

Triển lãm Quốc phòng an ninh Châu Á là một trong những triển lãm lớn, có uy tín về quốc phòng được Malaysia tổ chức 02 năm một lần. Theo thông tin từ Ban Tổ chức, Triển lãm lần thứ 18 năm 2024 được tổ chức trên diện tích 45.000 m2 với sự tham dự của khoảng 50.000 khách thương mại, 400 đoàn khách dân sự và đại biểu cấp cao Bộ Quốc phòng, quân đội từ 45 nước và khoảng 1.200 công ty, tập đoàn công nghiệp quốc phòng hàng đầu của thế giới.

Triển lãm năm nay trưng bày 15 nhóm chuyên đề, nổi bật là các sản phẩm quân sự hiện đại (máy bay, tàu chiến, xe thiết giáp, tên lửa tầm thấp vác vai, hệ thống súng phòng không, súng laser…), các loại đạn dược, quân trang, quân dụng phục vụ quốc phòng, an ninh. Tham dự Lễ khai mạc năm nay có Thủ tướng Chính phủ Malaysia với tư cách khách mời danh dự đặc biệt, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Malaysia và đại diện đoàn Bộ quốc phòng các nước. 

Việc Bộ Quốc phòng Việt Nam cử đoàn tham dự và trưng bày sản phẩm tại các sự kiện quốc tế về công nghiệp quốc phòng là những hoạt động hợp tác quốc tế nhằm thiết thực triển khai chủ trương của Đảng, Nhà nước về xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam theo hướng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, nhất là Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 26/01/2022 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo.

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: CÁC HÃNG TRUYỀN THÔNG QUỐC TẾ ĐÃ ĐƯA TIN ĐẬM NÉT VỀ LỄ KỶ NIỆM 70 NĂM CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ VÀO NGÀY 7/5!

     Trong bài viết có tựa đề "Việt Nam kỷ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử", hãng tin Reuters (Anh) đưa tin các cựu chiến binh, các lãnh đạo cấp cao và các nhà ngoại giao đã tập trung tại Điện Biên Phủ để tham dự sự kiện kỷ niệm 70 năm chiến thắng trước thực dân Pháp!

"Trận Điện Biên Phủ lịch sử được coi là một trong những trận đánh vĩ đại trong thế kỷ 20. Thất bại của Pháp dẫn đến việc ký kết Hiệp định Geneva vào năm 1954", Reuters bình luận.

Theo Reuters, "không nản lòng trước cơn mưa dai dẳng, hàng chục nghìn người tập trung đông đúc tại sân vận động chính Điện Biên Phủ để xem các cuộc diễu hành quân sự và các chương trình văn nghệ, cũng như lắng nghe các bài phát biểu được phát trên đài truyền hình quốc gia".

Reuters dẫn lời ông Carl Thayer, một chuyên gia về Việt Nam, cho biết: "Bài học từ chiến dịch Điện Biên Phủ là Việt Nam phải xác định rõ ràng lợi ích quốc gia và theo đuổi những lợi ích này một cách chiến lược".

"Việt Nam đã hệ thống hóa cách tiếp cận này bằng chính sách "ngoại giao cây tre", kiên quyết và kiên định trên các nguyên tắc cơ bản, nhưng linh hoạt trong cách thức và phương tiện để đạt được các mục tiêu chiến lược", ông Thayer nói.

Hãng tin AFP (Pháp) cũng đăng tải bài viết về lễ kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử. AFP đưa tin Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Sebastien Lecornu đã tham dự sự kiện.

AFP điểm lại các dấu mốc quan trọng, cũng như các sự kiện lịch sử, đồng thời mô tả bầu không khí tại lễ kỷ niệm.

"Những con đường rợp bóng cây ở Điện Biên Phủ được trang hoàng bằng các khẩu hiệu và biểu ngữ mang hình ảnh anh hùng đấu tranh giành độc lập Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ", theo AFP.

Ông Jean-Yves Guinard, 92 tuổi, một trong ba cựu binh Pháp trở lại Điện Biên Phủ dự lễ kỷ niệm, nói với AFP rằng ông "vẫn rất gắn bó" với Việt Nam. AFP đưa tin cả 3 cựu binh Pháp đã đến thăm Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và được người dân địa phương cũng như du khách chào đón.

AFP cũng dẫn lời quân nhân Ha Thi Duong chia sẻ: "Quá khứ đã qua rồi. Chúng tôi không còn nghĩ đến xung đột hay hận thù. Bắt tay là điều tốt vì tất cả chúng tôi đều muốn thêm bạn bớt thù".

Trong bài viết có tựa đề "Việt Nam kỷ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp", hãng tin AP đưa tin hàng nghìn người dân địa phương và cựu chiến binh với huân chương treo đầy trên ngực áo, hầu hết đều ở độ tuổi 90, đã cổ vũ và vẫy cờ Việt Nam khi lễ diễu binh diễn ra dưới cơn mưa.

AP dẫn lời ông Nguyen Trung Dung, 94 tuổi, một trong những cựu chiến binh, cho biết sự kiện này là cơ hội để ông có dịp gặp lại đồng đội, những người đã sát cánh cùng ông trong trận Điện Biên Phủ.

Theo AP, Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Sebastian Lecornu tham dự sự kiện, đánh dấu lần đầu tiên một quan chức cấp cao của Pháp đến thăm chiến trường xưa và dự lễ kỷ niệm ở Điện Biên Phủ.

AP cho biết, thời gian trôi qua, mối quan hệ giữa Việt Nam và Pháp cũng ngày càng phát triển.

"Khi chúng tôi chiến đấu, chúng tôi là kẻ thù. Nhưng bây giờ, chúng tôi bắt tay với họ. Chúng tôi cùng nhau đoàn kết xây dựng một thế giới hòa bình, hạnh phúc, không có chiến tranh", ông Pham Duc Cu, cựu chiến binh 94 tuổi từng chỉ huy một đại đội pháo binh trong trận chiến, cho biết./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: LƯU LUYẾN ĐIỆN BIÊN!

     Hoàn thành nhiệm vụ tham gia diễu binh, diễu hành kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954 / 7-5-2024), cán bộ, chiến sĩ các khối tập kết tại Đường 7-5, lên xe về đơn vị!
Ba tháng luyện tập tập trung và 15 ngày có mặt ở thành phố Điện Biên Phủ với nhiều lần hợp luyện, các khối tham gia diễu, duyệt đã để lại những ấn tượng tốt đẹp, sâu sắc với đồng bào, chiến sĩ và nhân dân Điện Biên.

Trước khi các lực lượng sẽ tổ chức cơ động về đơn vị, rất đông người dân đã đến tận xe, chụp ảnh, cổ vũ, động viên, lưu luyến chia tay.
Sau đây là một số hình ảnh mà phóng viên ghi nhận được, xin giới thiệu cùng độc giả:
Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đón nhận tình cảm nồng nhiệt của đồng bào địa phương.
 
Tình cảm đặc biệt của đồng bào Điện Biên dành cho các cán bộ, chiến sĩ Quân đội.

Giọt nước mắt xúc động, bùi ngùi.

Những cái bắt tay đầy lưu luyến.

Lưu luyến phút chia xa.

Nụ cười rạng rỡ Điện Biên hôm nay./.
Yêu nước ST.

TRẦN HỒNG VỚI NHỮNG KHOẢNH KHẮC BÌNH DỊ CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP!

     Những ngày tháng 5 lịch sử, khi cả nước đang sôi nổi các hoạt động kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, tưởng nhớ Đại tướng Võ Nguyên Giáp-Tổng Tư lệnh kiêm Chỉ huy trưởng Chiến dịch Điện Biên Phủ, chúng tôi may mắn được gặp gỡ và trò chuyện cùng Đại tá, nhà báo, nghệ sĩ nhiếp ảnh (NSNA) Trần Hồng, người có hơn 20 năm được đi theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp để ghi vào ống kính những khoảnh khắc bình dị về vị tướng tài ba, nhân hậu. Những tấm ảnh do ông chụp hoàn toàn chân thực, không thực hiện bất kỳ một kỹ xảo nào, bởi ông quan niệm: “Các bức ảnh phải khắc hoạ phẩm chất về vị tướng đầy “chất văn”, sự thanh liêm, giản dị của Đại tướng trong cuộc sống đời thường”!

Trong câu chuyện cùng Đại tá, nhà báo Trần Hồng, chúng tôi vô cùng ấn tượng với những bức ảnh quý giá về Đại tướng Võ Nguyên Giáp giữa đời thường được ông chụp, ghi chép và lưu giữ cẩn thận. Ông chia sẻ: “May mắn lớn trong cuộc đời quân ngũ của tôi là được ghi lại những khoảnh khắc đời thường của một con người có một không hai trong lịch sử Việt Nam, để từ đó ông càng chói sáng, lan tỏa trong triệu trái tim một Võ Nguyên Giáp vẹn nguyên mãi mãi”.

Đại tá Trần Hồng kể, ông từng mở hai cuộc triển lãm ảnh tại Hà Nội trong hai năm 1992, 1995 và may mắn được Đại tướng Võ Nguyên Giáp tới dự. Đến xem, vị Đại tướng huyền thoại lưu bút rằng: “Những tấm ảnh (những bức tranh) như thơ, như nhạc. Qua hình ảnh ghi lại, người xem rất xúc động với những tình cảm, những nỗi đau thương và những niềm vui qua những con mắt làm cho người xem nhớ mãi, chúc Trần Hồng, người nghệ sĩ , chiến sĩ có những tác phẩm lớn”.

Là người yêu nghề, mê việc nên mỗi khi tác nghiệp, Đại tá Trần Hồng thường quan sát, phán đoán, di chuyển chọn chỗ đứng, tìm góc độ sao cho thích hợp nhất để thực hiện ý tưởng bấm máy. Với ông, mỗi lần Đại tướng Võ Nguyên Giáp xuất hiện trước ống kính của mình, là thêm một ý tưởng sáng tạo mới, ông sợ mỗi giây qua đi là mất một khoảnh khắc hiếm quý. Đại tá Trần Hồng kể: “Lần tôi vào nhà riêng của Đại tướng (30 Hoàng Diệu-Hà Nội) dịp đầu Thu năm 1994, bất ngờ thấy ông mặc thường phục, hiếm hoi lắm mới có được hình ảnh này bởi kể cả lúc nghỉ ngơi chơi đùa với các cháu nội, ngoại ông vẫn mặc quân phục. May mắn là hôm đó tôi mang theo hai máy ảnh. Tôi chụp lia lịa. Đang lúc “cao trào”, Đại tướng vẫy tôi lại gần, hỏi: “Sao cậu lại chụp tớ nhiều thế?”. Tôi trả lời: “Dạ! Thưa Đại tướng, sao Đại tướng lại cho em chụp Đại tướng nhiều thế ạ?”. Ông nhìn tôi nở nụ cười tươi và nói: Cậu này ma lanh thật!”.

Khi xem bức ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp gặp gỡ thân mật với bà con dân tộc Tày, nhân dịp Đại tướng về thăm Cao Bằng tháng 12 năm 1994, chúng tôi được Đại tá Trần Hồng cho biết: “Đại tướng thân tình, cởi mở với con cháu của những đồng bào, đồng chí không tiếc máu xương, công sức kháng chiến kiến quốc. Bằng tiếng Tày, Đại tướng thu hút mọi người và giữa ông với đồng bào không còn khoảng cách nào giữa người nói và người nghe nữa. Đồng bào các dân tộc ở đây từ già đến trẻ đều gọi Đại tướng là “ông nội” của mình.”

Với bức ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp Ban biên tập báo Quân đội nhân dân, Đại tá Trần Hồng nhắc lại một kỷ niệm khác còn in đậm trong tâm trí ông: Khi Đại tướng đồng ý chụp ảnh chung với Ban biên tập, tôi đang nâng máy, vê nét, chờ cơ hội chụp thì Đại tướng nói to: “Trần Hồng chụp phải đẹp đấy!”. Gắn gần hết cả cuộc đời quân ngũ hơn 40 năm với Báo Quân đội nhân dân, trước ống kính của tôi, khoảnh khắc ấy là 12 sĩ quan cao cấp, 12 nhà báo-đồng nghiệp cùng cơ quan lại được Tổng Tư lệnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho chụp ảnh chung và căn dặn… “chụp phải đẹp đấy”- Tôi coi đây là “mệnh lệnh”- mệnh lệnh “trái tim”. Tay tôi phút chốc run lên, hồi hộp, may mà ảnh không bị nhòe. Bức ảnh có thể chưa đẹp nhưng như Đại tướng nói: “Nhiếp ảnh sao mà kỳ diệu đến vậy. Có những việc theo thời gian có thể quên đi nhưng nhìn ảnh là tôi có thể nhớ từng chiến sĩ, từng trận đánh cả những căn dặn của Bác Hồ…”.

Đặc biệt khi xem những tấm ảnh Đại tướng lên thăm chiến trường xưa nhân kỷ niệm 50 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 2004 và khi Đại tướng về thăm quê hương Lệ Thủy, Quảng Bình năm 2004, chúng tôi rất xúc động. Bảy mươi năm đã trôi qua, Đại tướng đã về cõi vĩnh hằng, nhưng công lao to lớn cùng dấu ấn sâu đậm của Tổng Tư lệnh-Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong Chiến dịch Điện Biên Phủ vẫn còn mãi với dân tộc ta.

Đại tá Trần Hồng cũng ghi lại được hình ảnh Đại tướng tiếp những vị khách quốc tế như: Tổng thống Venezuela Hugo Chavez, bà Tổng thống Chile Michelle Bachelet, cha con ông Raymond Aubrac (người bạn Pháp đã mời Chủ tịch Hồ Chí Minh về ở nhà mình năm 1946 trong thời gian đàm phán dài ngày ở Pháp) đến tận tư dinh thăm và mừng thọ Đại tướng… Mỗi bức ảnh đi kèm với những câu chuyện về vị Đại tướng huyền thoại giữa đời thường, về bối cảnh, sự việc, thông tin những con người liên quan.

Được biết, nhà báo Trần Hồng đã tổ chức 14 cuộc triển lãm về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong đó có một triển lãm được thực hiện tại Cộng hòa Ba Lan năm 2018, được nhiều bạn bè và các cơ quan truyền thông trong và ngoài nước đánh giá cao. Tiêu biểu như: Triển lãm về “Chân dung những người thường gặp” (12/1992), “Chân dung mẹ” (12/1995), “Đại tướng Võ Nguyên Giáp những lần tôi được gặp” (8/2006), “Đại tướng Võ Nguyên Giáp-Những khoảnh khắc còn mãi” (5/2009)… Hiện nay, 111 bức ảnh về Đại tướng Võ Nguyên Giáp do Đại tá Trần Hồng chụp trong thời gian từ năm 1986 đến 2013 được lưu trữ tại Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, Bộ Nội vụ. Ngoài sáng tác những bức ảnh về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tá Trần Hồng còn có niềm đam mê chụp ảnh chân dung về người Mẹ Việt Nam Anh hùng, về những người lính Cụ Hồ.

Nhà báo Hồ Quang Lợi, nguyên Phó Chủ tịch thường trực Hội nhà báo Việt Nam cảm nhận về những bức ảnh của Trần Hồng: “Chính qua những bức ảnh này, chúng ta có thể hình dung rõ hơn, hiểu đầy đủ hơn cuộc đời, con người được đánh giá là “vĩ nhân của mọi thời đại”. Sự vĩ đại đó không phải ở những gì to lớn, choáng ngợp mà chính là ở sự bình dị, đơn sơ, gần gũi. Và đó là điều mà những bức ảnh của Trần Hồng làm ta xúc động, làm trái tim ta thổn thức…”.

Rời nhà Đại tá Trần Hồng khi chiều còn vương nắng mà lòng cảm thấy thư thái, tự hào. Tôi nhớ gương mặt hiền từ, nụ cười tươi của ông và cả những sẻ chia công việc chuyên môn. Câu nói: “Những người làm báo có thể họ không làm lên lịch sử nhưng không có họ lịch sử không được ghi lại…” của ông như truyền lửa cho thế hệ trẻ chúng tôi tiếp tục vững bước trên con đường đã chọn./.

Yêu nước ST.

Tăng cuờng quản lý triệt tiêu karaoke trá hình

 

Có thể thấy rằng những quán karaoke trá hình đã và đang trở thành những điểm nóng về tình hình ANTT, gây khó khăn trong công tác quản lý phòng chống tội phạm của cơ quan chức năng. Trước những biến tướng từ hoạt động kinh doanh karaoke, mới đây, Bộ VH-TT&DL vừa đưa Dự thảo Nghị định quy định về kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường ra lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, người dân. Đặc biệt, dự thảo Nghị định quy định quán karaoke không được hoạt động từ 2-8 giờ sáng, phải tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, hợp đồng lao động, an toàn lao động, bảo hiểm, phòng chống tệ nạn xã hội và các quy định của pháp luật khác có liên quan. Với những quy định này hy vọng sẽ là lời cảnh báo cho các chủ cơ sở có ý định kinh doanh karaoke không lành mạnh.

xấu hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ./,.

karaoke trá hình

 

Nhiều quán ở khắp các tình, thành trong cả nước hiện nay có dấu hiệu kinh doanh không lành mạnh. Mặc dù đã nhiều lần bị “tuýt còi” nhưng vì lợi nhuận lớn, nhiều cơ sở vẫn cố tình vi phạm nên tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an ninh trật tự tại địa phương.

Nhiều năm nay, nhân dân ở gần các quán karaok luôn bức xúc vì sự hoạt động của quán karaoke, nhiều quán thường xuyên xuất hiện những nữ tiếp viên ăn mặc “mát mẻ” vào ra dường như không chịu bất kỳ sự kiểm tra, quản lý nào.

Bên trong đó là cả những vấn đề phức tạp. Sau một thời gian trinh sát, phát hiện các đối tượng nghiện ma túy thường tụ tập tại quán karaoke Quang Vinh ở địa bàn H. Duy Xuyên nên bất ngờ kiểm tra, bắt quả tang hàng chục đối tượng đang sử dụng ma túy. Thời điểm kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện có tổng cộng 34 đối tượng đang sử dụng ma túy tổng hợp. Bước đầu lực lượng chức năng tiến hành lập biên bản đối với ông Quang về hành vi để người khác lợi dụng sử dụng chất ma túy trong khu vực, phương tiện mình quản lý, lập biên bản vi phạm hành chính các đối tượng sử dụng ma túy.