Thứ Sáu, 10 tháng 5, 2024

BỨC KÝ HỌA VÀ KÝ ỨC BI TRÁNG


Bức ký họa “Trao đổi tình hình chiến đấu ở trận địa chốt bên bờ sông Thạch Hãn, Quảng Trị, 2-1-1972” được trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam miêu tả các cán bộ, chiến sĩ đang họp giao ban trong căn hầm.
Người ngồi trên bao cát, người ngồi trên cuộn dây, ai cũng mang cả trang bị, vũ khí bên mình trong tư thế sẵn sàng chiến đấu... Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết, họa sĩ Phạm Ngọc Liệu là tác giả của bức ký họa này.
Năm 1971, khi đang là sinh viên Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam, theo tiếng gọi non sông, chàng thanh niên Phạm Ngọc Liệu xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ, vào chiến trường Quảng Trị. Những ngày tháng bên đồng đội chiến đấu, ông dùng ngòi bút, giấy vẽ ký họa hàng trăm khoảnh khắc đáng nhớ. Bức ký họa trao đổi tình hình chiến đấu trong căn hầm có một vị trí đặc biệt trong trái tim ông. Ngày ấy, đất lửa Quảng Trị bị bom đạn quân thù cày xới. Hôm ấy, khi bước vào hầm, trong lòng ông trào dâng niềm cảm phục trước những khuôn mặt sáng ngời lòng dũng cảm, tin yêu vào chiến thắng. Ông nhanh chóng lấy bút, giấy vẽ để ký họa lại khoảnh khắc này. Khi hoàn thành bức tranh, ông vừa rời hầm thì pháo địch bắn tới, tất cả đồng đội trong căn hầm hy sinh. Đau xót, thương tiếc đồng đội vô bờ, ông càng day dứt vì chưa kịp ghi lại tên từng đồng đội trong bức ký họa ấy.
Năm 2008, tại Trại sáng tác mỹ thuật đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng ở Tam Đảo (Vĩnh Phúc), họa sĩ Phạm Ngọc Liệu đã mang bức ký họa in lại trên toan, đồng thời viết thêm dòng lưu bút “Những con người này, vĩnh viễn tôi không còn cơ may gặp lại... Nợ các anh, tôi không thể trả. Thành tâm kính cẩn. Tam Đảo, tháng 5-2008. P.Ngọc Liệu” vào tranh. Sau đó, ông gửi tặng tác phẩm của mình tới Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (tháng 5-2009) để lưu giữ và giáo dục truyền thống cho bộ đội và nhân dân.
VĂN LƯU - Báo QĐND
Bức ký họa “Trao đổi tình hình chiến đấu ở trận địa chốt bên bờ sông Thạch Hãn, Quảng Trị, 2-1-1972” của họa sĩ Phạm Ngọc Liệu.
Có thể là tác phẩm nghệ thuật về văn bản
Tất cả cảm xúc:
2

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG "LẤY DÂN LÀM GỐC" CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀO THỰC TIỄN CÔNG TÁC


Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ vĩ đại của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân trên thế giới mà người còn là nhà văn hoá kiệt xuất, nhà tư tưởng lớn với hệ tư tưởng đổi mới được chứng minh qua thực tiễn, trở thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam, cho đến tận ngày nay vẫn còn nguyên giá trị. Những tư tưởng đó được các lớp cán bộ, chiến sĩ Bộ đội biên phòng Bình Phước vận dụng vào thực tiễn mang lại hiệu quả cao trong công tác, trong đó có tư tưởng “lấy dân làm gốc”.
Lấy dân làm gốc trong tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh
“Dân là gốc của nước, nước lấy dân làm gốc” là tư tưởng và phương châm hành động của các bậc hiền triết từ đông sang tây, từ cổ chí kim. Danh nhân Nguyễn Trãi đã từng nói: “Việc nhân nghĩa cốt ở an dân”. Hay như Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cũng đã từng tâu với vua Trần Anh Tông rằng: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước”. Nói như vậy để thấy rằng dù cho trong thời đại nào việc dựa vào dân, lấy dân làm gốc luôn được coi là yếu tố tiên quyết đến mọi thắng lợi.
Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ khi Người tiếp cận được với Chủ nghĩa Mác- Lê Nin thông qua đọc “Bản sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” đăng trên báo Nhân đạo vào năm 1920. Người đã rất tâm đắc và cho đây là luồng ánh sáng mới cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng thuộc địa. Trên cơ sở kế thừa và phát huy những tinh hoa đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc rút, nâng
tư tưởng lấy dân làm gốc lên một tầm cao mới phù hợp với xu thế và đặc điểm xã hội Việt Nam.
Theo đó, Người xác định nhân dân là chủ thể, là dân tộc gồm 04 giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử yêu nước khác. Đây là lực lượng đông đảo, to lớn, vừa là nơi tập hợp trí tuệ, sức mạnh, đạo đức, tài năng và của cải, vừa là nơi tập hợp của lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Kế thừa và phát triển tư tưởng trọng dân, chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, dân chính là gốc của nước, “nước lấy dân làm gốc”. Trong bài thơ cổ động được viết năm 1948, Người cũng đã căn dặn:
“Quân tốt, dân tốt
Muôn sự đều nên.
Gốc có vững, cây mới bền
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.
Trong bài nói tại hội nghị cung cấp toàn quân lần thứ nhất diễn ra vào ngày 24-6-1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch một nước đều là phân công làm đày tớ cho dân”. “Đối với nhân dân, thì công cụ của nhà nước dân chủ mới (Chính phủ, Pháp luật, công an, Quân đội…) là để giữ gìn quyền lợi của nhân dân”.
Khi nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khoá 2, trường Đại học nhân dân Việt Nam ngày 08-12-1956, Bác Hồ tiếp tục nhấn mạnh lại vai trò làm chủ và sức mạnh, trí tuệ của dân: “Trong bầu không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Người cũng thường xuyên nhắc tới câu ca dao của người dân Quảng Bình rằng “Dễ mười lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong” của nhà thơ Thanh Tịnh viết năm 1948. Dân là gốc của nước, từ đầu chí cuối Người luôn coi trọng dân, tin vào dân, dựa vào dân để phát huy sức mạnh từ dân, mang lại độc lập, thống nhất, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Người căn dặn mỗi cán bộ, đảng viên, thân sỹ yêu nước đều “Phải đem hết sức dân, tài dân, của dân để làm lợi cho dân”.
Đảng ta ra đời và được nuôi dưỡng trưởng thành từ nhân dân. Khi lòng dân và ý đảng cùng chung một nhịp đập thì mới phát huy được nguồn sức mạnh và tinh thần đoàn kết của nhân dân. Lấy dân làm gốc cũng là kim chỉ nam xuyên suốt trong quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Muốn làm được điều đó phải gần dân, lắng nghe dân, thấu hiểu dân, tôn trọng dân, đề ra chủ trương, chính sách hợp lòng dân. Tất cả mọi sự nghiệp đều là của dân, do dân và vì dân.
Quan điểm lấy dân làm gốc cũng chính là nền tảng cho công cuộc đổi mới và tiến lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã và đang thực hiện nhằm hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Hết lòng phụng sự nhân dân
Trong thư gửi bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích nhân ngày kỷ niệm ngày thành lập quân giải phóng Việt Nam 22-12-1949, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Quân đội ta là quân đội nhân dân, do dân đẻ ra, vì dân mà chiến đấu, yêu nước, yêu dân, cho nên hy sinh kham khổ”. “Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội”. Để trở thành quân nhân, việc đầu tiên là phải thuộc lòng mười lời thề danh dự của quân nhân; trong đó lời thề thứ 9 nói rõ “Khi tiếp xúc với nhân dân làm đúng ba điều nên: Kính trọng dân, giúp đỡ dân, bảo vệ dân. Và ba điều răn: Không lấy của dân, không doạ nạt dân, không quấy nhiễu dân. Để gây lòng tin cậy, yêu mến của nhân dân. Thực hiện quân với dân một ý chí”.
Thật vậy, “Quân đội ta là quân đội của nhân dân. Trong thời kỳ kháng chiến, quân đội thi đua giết giặc, để bảo vệ nhân dân, hòa bình trở lại, quân đội vừa lo học tập, vừa ra sức giúp nhân dân trong mọi việc.… Vì bộ đội luôn luôn ra sức phục vụ nhân dân, cho nên nhân dân thương yêu bộ đội như con em ruột thịt của mình”. Quân với dân như cá với nước.
Thấm nhuần lời dạy của Bác, lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng nói chung và Bộ đội Biên phòng tỉnh Bình Phước nói riêng đã luôn xác định “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt”. Thường xuyên “bám trụ, bám dân, bám địa bàn”, thực hiện “cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng dân tộc” để bảo vệ dân, bảo vệ biên giới. Thông qua việc thực hiện chức năng đội quân lao động sản xuất, những năm qua BĐBP tỉnh đã triển khai thực hiện ngày càng nhiều những mô hình dân vận khéo; tiêu biểu có thể kể đến như: Nâng bước em tới trường, con nuôi đồn biên phòng, xuân biên phòng ấm lòng dân bản, tháng ba biên giới, BĐBP chung sức xây dựng nông thôn mới, bò giống cho người nghèo, ngân hàng bò giống, vì sức khỏe cộng đồng, mái ấm cho người nghèo nơi biên giới… đã và đang góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc nơi biên giới. Ngoài chức năng là lực lượng chuyên trách trong quản lý bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới, Bộ đội biên phòng còn đảm nhận nhiều vai trò khác nhau nhằm đảm bảo an ninh, an sinh và an toàn biên giới, cũng như trở thành chỗ dựa vững chắc cho người dân.
Chỉ tính riêng từ năm 2016 đến 2022, cán bộ chiến sĩ Bộ đội Biên phòng Bình Phước đã xây dựng gần 432 ngôi nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết với trị giá hơn 14 tỷ đồng; hỗ trợ 49 con bò giống, 45 con dê giống và nhiều phương tiện sinh kế khác với trị giá gần 1 tỷ 400 triệu đồng; tổ chức được 82 đợt khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho 25.799 lượt người, xây dựng 4 trạm xá Quân - dân y trị giá gần 20 tỷ đồng; tổ chức hàng nghìn ngày công lao động giúp dân xây dựng, sửa chữa nhà ở, dọn dẹp vệ sinh, làm đường giao thông nông thôn, khắc phục hậu quả thiên tai, thu hoạch mùa vụ. Nhận nuôi dưỡng, đỡ đầu hàng trăm học sinh có hoàn cảnh khó khăn, tiếp sức cho các cháu đến trường tiếp tục nuôi dưỡng ước mơ trên con đường học tập.
Đặc biệt trong những năm dịch bệnh Covid-19 xuất hiện và diễn biến phức tạp, cùng với cả hệ thống chính trị, Bộ đội Biên phòng tỉnh Bình Phước cũng đã khắc phục khó khăn, chung tay góp sức về vật chất, hàng hóa thiết yếu, trang bị y tế, lương thực thực phẩm với trị giá hàng chục tỷ đồng cho người dân khu vực biên giới. Nhân dịp các ngày lễ, tết, BĐBP tỉnh cũng trao tặng hàng nghìn suất quà cho các gia đình chính sách, người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ và gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau. Bên cạnh đó, những năm qua BĐBP tỉnh cũng đã cử hàng trăm cán bộ có chuyên môn, năng lực tăng cường cho các xã biên giới, phân công đảng viên tham gia sinh hoạt tại các chi bộ thôn ấp, phụ trách, giúp đỡ các hộ gia đình ở khu vực biên giới.
Vì thế, BĐBP đã được nhân dân gọi rất nhiều tên gọi gần gũi và thân thương khác như: Thầy giáo quân hàm xanh, thầy thuốc quân hàm xanh, người chiến sĩ văn hóa quân hàm xanh, người kỹ sư quân hàm xanh…. Bởi họ có thể khi hóa thân thành những người thầy thuốc không quản mưa nắng, ngày đêm để khám bệnh, cấp cứu cho người dân, khi hóa thân thành những người nông dân truyền đạt khoa học kỹ thuật vào sản xuất, và khi họ lại trở thành những chiến sĩ can trường trên mặt trận đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ bình yên cho nhân dân biên giới.
Khi được nhân dân tin yêu và coi là chỗ dựa tin cậy, nhân dân cũng trở thành tai, mắt, thành những cánh tay nối dài trong việc quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, đấu tranh, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khu vực biên giới.
Có thể kể đến hàng chục những hội, nhóm, câu lạc bộ từ học sinh, thanh niên, phụ nữ đến người cao tuổi đều năng nổ, nhiệt tình tham gia, như: Câu lạc bộ phụ nữ dân tộc tham gia bảo vệ đường biên cột mốc, phụ nữ bảo vệ biên giới, tổ tự quản đường biên mốc quốc giới, điểm sáng biên giới, toàn dân tham gia bảo vệ an ninh tổ quốc.... Nhân dân đã cung cấp nhiều thông tin có giá trị cho BĐBP trong đấu tranh phòng chống tội phạm; tích cực tham gia tuần tra, phát quang, bảo vệ đường biên, mốc quốc giới.
Những việc làm thực tâm, thực lòng của cán bộ chiến sĩ BĐBP tỉnh với đồng bào biên giới đã góp phần tích cực trong tham gia củng cố hệ thống chính trị; phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo. Qua đó, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước,
Quân đội, xây dựng thế trận biên phòng toàn dân trong thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Đồng thời khẳng định vững chắc thêm lời dạy của Bác “dân là gốc của nước. Nước lấy dân làm gốc” thì mọi việc ắt thành công./.

CÓ QUYẾT TÂM THÌ VIỆC GÌ LÀM CŨNG ĐƯỢC


Năm 1945, mở đầu bài nói chuyện tại buổi lễ tốt nghiệp khóa 5 trường Huấn luyện cán bộ Việt Nam, Bác đã thẳng thắn góp ý: “Trong giấy mời tới đây nói 8 giờ bắt đầu, bây giờ 8 giờ 10 phút rồi mà nhiều người chưa đến. Cách tôi làm việc đúng giờ. Tôi khuyên anh em làm việc phải cho đúng giờ, vì thời gian quý báu lắm”. Một câu chuyện nhỏ về thời gian, về kỷ luật nhưng Bác lại dạy chúng ta biết bao điều. Bác quý trọng thời gian của mình bao nhiêu, thì cũng quý thời gian của người khác bấy nhiêu. Vì thế, Bác không để bất cứ ai phải đợi mình bao giờ. Bác đã hẹn là đến, Bác đã hứa là làm, hẹn đồng chí nào giờ nào đến gặp, đến đúng giờ ấy là thấy Bác đã chờ sẵn.
Thu Đông năm 1952, Bác đến với Hội nghị chuẩn bị chiến dịch Tây Bắc. Nhiều đồng chí cán bộ dự chiến dịch Tây Bắc năm đó vẫn còn nhớ, Bác đã đến hội nghị với một hình ảnh không ai có thể quên được. Mấy hôm ấy trời mưa to, nước lũ từ các đầu nguồn tràn về cắt đứt cả đường sá nhưng Bác đã vượt suối lũ, tới hội nghị. Bà con địa phương đi đến đấy gặp lũ phải đứng lại, thấy thế cũng hăng hái theo Bác và đều lội qua được. Tất cả các đồng chí dự hội nghị đều biết rằng mùa mưa vượt suối nước lũ không phải là việc dễ, cho nên khi thấy Bác đã tới hội nghị rất đúng giờ, chẳng những cảm động trước sự săn sóc chu đáo của Bác với quân đội, mà còn là một bài học cần ngay cho họ trước khi ra trận. Bài học ấy, như Bác thường nói, là: “Quyết tâm, có quyết tâm thì việc gì làm cũng được”.
Quý trọng thời gian, Bác không muốn anh em giúp việc, cán bộ ngồi chơi không và luôn căn dặn anh em phải “học ở trường, ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân”, học trong việc làm hàng ngày, trong việc lớn cũng như việc nhỏ. Đồng chí Hoàng Hữu Kháng, người trực tiếp bảo vệ Bác từ năm 1946 đến năm 1951 kể lại: Có những lần hết giờ gác, chúng tôi nằm tán chuyện với nhau. Lúc giải lao Bác đi thăm anh em. Một hôm, Bác gặp chúng tôi đang nằm chơi, Bác nói: “Các chú không có việc gì làm à? Nếu không có việc thì mang chiếc giư­ờng dỡ ra rồi lắp lại, nếu còn thì giờ nữa thì ra ngoài kia vật nhau hay tăng gia”. Ý Bác muốn nói là phải tìm việc mà làm, không nên ngồi tán gẫu.... Đồng chí lái xe ít xem sách báo. Những buổi anh rỗi việc, Bác gọi lên, bảo ngồi ở buồng bên, rồi đưa sách báo cho đọc. Thỉnh thoảng, Bác qua kiểm tra. Có lần Bác vào, thấy tờ báo mở trên bàn, đồng chí lái xe tựa lưng vào ghế ngủ. Bác nhẹ nhàng đi ra. Lúc khác, Bác nói: "Mới đọc chưa hiểu, dễ buồn ngủ. Đọc ít lâu, hiểu rồi sẽ ham. Ham rồi sẽ không buồn ngủ nữa". Cũng với ý đó, Bác đã từng nói với những cán bộ phục vụ thật thấm thía: “Cái gì cũng quen đi thôi các chú ạ. Chăm cũng quen đi, mà lười cũng quen đi, quen nhanh thôi chứ không lâu đâu. Thế nào là khó khăn? Khó khăn là cái chưa quen. Rèn luyện cho quen đi thì khó cũng không còn khó nữa. Kiên trì rèn luyện, sẽ đến một lúc làm cỏi khó thấy rằng không khó”./.
VoDoa th.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'Chúng ta không sợ sai sailẩm, lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa. Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình...'
Thích
Bình luận
Chia sẻ

DÂN LÀ GỐC : CÓ DÂN LÀ CÓ TẤT CẢ

 

“Dân là gốc” luôn là kim chỉ nam xuyên suốt lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Sức mạnh lòng dân đã đưa đất nước ta vượt qua những thác ghềnh, gian nan suốt hàng nghìn năm lịch sử.
Tư tưởng “Nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng được Đảng, Nhà nước ta thấu triệt, vận dụng, là cơ sở tạo nên cội nguồn sức mạnh đoàn kết, mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Đảng ra đời là vì lợi ích của nhân dân, sự lãnh đạo của Đảng là nhằm “lấy tài dân, sức dân để làm những công việc có lợi cho dân”, chứ không phải vì lợi ích của người lãnh đạo.
Trong bối cảnh đất nước đang tiếp tục phát triển và đổi mới hiện nay, “dân là gốc” tiếp tục là kim chỉ nam trong tư tưởng, phương châm hành động của Đảng, Nhà nước ta.
Bài 1: Có dân là có tất cả
“Dân là gốc”, tức dân là nền tảng cho mọi thành tựu của một quốc gia, dân tộc. Lịch sử của đất nước cho thấy, từ thời phong kiến, triều đại nào biết thực thi chính sách an dân, lấy dân làm gốc ắt quy tụ được lòng dân, đất nước hưng thịnh, thái bình.
Đi ngược lại với điều này, đất nước rơi vào loạn lạc, bị các thế lực ngoại bang xâm lăng bờ cõi…
Sức mạnh từ nội lực nhân dân
Bộ luật Hình thư đầu tiên của nước ta dưới triều nhà Lý công bố năm 1042 đã xác định: “Chăm lo đến đời sống người dân trăm họ, chỉnh đốn pháp luật sao cho giảm bớt nỗi khổ của dân, xóa bớt bất công trong thiên hạ”. Sự ra đời của Bộ luật Hình thư đầu tiên đã ghi nhận những thay đổi trong nhận thức của triều Lý so với các triều đại trước đó về tầm quan trọng của lòng dân đối với vận mệnh của một quốc gia. Những quyết sách quan trọng của triều Lý về chính trị, kinh tế, giáo dục, luật pháp cũng rất chú trọng chăm lo đến cuộc sống người dân. Nền tảng vững chắc ấy đã giúp triều Lý phát triển hưng thịnh trong hơn 200 năm.
Kế thừa những di sản triều Lý, triều đại nhà Trần trong hoàn cảnh đất nước bị giặc xâm lăng, bài học “lấy dân làm gốc” đã được vua tôi nhà Trần thấm nhuần, thể hiện qua Hội nghị Diên Hồng năm 1284, tập hợp được sức mạnh, thống nhất được ý chí của quân dân, nhờ đó đã ba lần đánh tan giặc Nguyên Mông hùng mạnh nhất thế giới thời đó. Một câu chuyện minh chứng cho chân lý “lấy dân làm gốc” là Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn từng dốc lòng tâu vua Trần Anh Tông về kế sách giữ nước: “Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”.
Lịch sử đã minh chứng, có dân là có tất cả, không biết dựa vào dân sẽ phải chịu thất bại. Nhà Hồ lâm vào cảnh nước mất, nhà tan, thất bại trước giặc Minh hung tàn cũng bởi không thấu triệt chân lý này. Đến thời Hậu Lê, tư tưởng “lấy dân làm gốc” được phát huy, sau 9 năm trường kỳ kháng chiến, quân dân nhà Lê đã đánh bại giặc Minh, khôi phục xã tắc. Nguyễn Trãi, khi thay mặt Lê Lợi viết “Bình Ngô đại cáo” đã nêu rõ: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân". Bản Tuyên ngôn độc lập của triều Lê đã khẳng định tư tưởng vì dân và an dân. Nhà chính trị, quân sự kiệt xuất Nguyễn Trãi cũng khẳng định: “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”, thể hiện quan điểm quốc gia muốn tồn tại dài lâu và vững mạnh đều phải dựa vào dân, đặt mục đích yên dân lên hàng đầu, bởi dân có yên thì nước mới thịnh.
Không chỉ là tư tưởng xuyên suốt qua các triều đại phong kiến, trong công cuộc đấu tranh giành độc lập và bảo vệ đất nước của dân tộc thế kỷ XX, sức mạnh của quần chúng đã được minh chứng ngay từ những năm 1930-1940 mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ-Tĩnh của công nhân, nông dân Nghệ An và Hà Tĩnh.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hàng triệu người dân đang sống trong cảnh lầm than nô lệ đã được khích lệ, gắn kết với nhau để nhất tề đứng lên. Tinh thần ấy đã làm nên thành công cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, lật đổ chế độ thực dân - phong kiến trên đất nước ta, dẫn đến sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc, kỷ nguyên độc lập dân tộc, gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Bản Tuyên ngôn độc lập được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình lịch sử có đoạn: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”; “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Đây chính là khát vọng cháy bỏng, là mục tiêu sống của mỗi con người. Bài học nằm lòng “lấy dân làm gốc” của cha ông đến thời đại Hồ Chí Minh tiếp tục là ngọn đuốc soi đường.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn đặc biệt coi trọng sức mạnh của nhân dân. Người khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”, “Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”, “Dân là gốc của một nước, nước lấy dân làm gốc”, “Gốc có vững, cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.
Sau Cách mạng Tháng Tám, đất nước bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, quyết giữ vững nền độc lập dân tộc, đưa kháng chiến đi đến thắng lợi hoàn toàn. Ở cuộc kháng chiến đó, có những dân công hỏa tuyến, những bà mẹ Việt Nam ngày đêm đào hầm nuôi giấu cán bộ, những nắm gạo sẻ chia của từng gia đình được gom lại, giúp bộ đội ta có thêm sức mạnh, niềm tin để vững bước vào trận đánh lớn. Đó chính là minh chứng rõ nét nhất cho ý chí và sức mạnh của tinh thần đoàn kết toàn dân tộc, cũng là một trong những nhân tố quyết định để làm nên một Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Sức mạnh từ nội lực nhân dân một lần nữa làm nên đỉnh cao Đại thắng mùa Xuân năm 1975, non sông thu về một mối.
Có thể thấy, tôn trọng, phát huy quyền làm chủ, chăm lo đời sống nhân dân là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh và trong sự lãnh đạo của Đảng. Có dân là có tất cả đã trở thành phương pháp luận, phương châm hoạt động cách mạng của Người: “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong”...
Nhân dân là trung tâm, là chủ thể
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đổi mới đất nước, Đảng, Nhà nước ta luôn lấy nhân dân là trung tâm, là chủ thể. Tại Đại hội VI của Đảng, một trong bốn bài học lớn được Đảng rút ra trong toàn bộ hoạt động của mình là Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động. Bài học này tiếp tục được quán triệt sâu sắc trong các kỳ Đại hội VII và Đại hội VIII của Đảng.
Đánh giá quá trình đổi mới, Đại hội IX của Đảng một lần nữa khẳng định: Đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân. Đến Đại hội Đảng lần thứ XII, một trong năm bài học mà Đại hội đúc kết là: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, luôn xác định “Dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; kiên trì thực hiện đúng nguyên tắc “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.
Tại Đại hội XIII, tư tưởng dân là gốc đã được đúc kết thành bài học riêng, với những nguyên tắc cơ bản, đồng thời tiếp tục được phát triển bổ sung. Theo đó, để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, cùng với thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, văn kiện Đại hội nhấn mạnh việc dân giám sát và dân thụ hưởng.
Đặc biệt, tại Hiến pháp năm 2013 - văn bản chính trị, pháp lý cao nhất của đất nước - cụm từ “nhân dân” được viết hoa một cách trang trọng, điều mà các bản Hiến pháp trước đó chưa thể hiện đã cho thấy sự tôn vinh của Đảng, Nhà nước đối với nhân dân - chủ thể của đất nước, đồng thời khẳng định bản chất Nhà nước do dân, vì dân và tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
Theo nguyên Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Phan Trung Lý - người trực tiếp tham gia vào quá trình sửa đổi Hiến pháp, từ khi nghiên cứu chủ trương sửa đổi đến khi Hiến pháp năm 2013 được thông qua, hai chữ nhân dân được viết hoa, khẳng định mạnh mẽ quan điểm “lấy dân làm gốc”. Nhân dân là chủ thể của Hiến pháp, chủ thể của quyền lực Nhà nước. Tầm vóc của Hiến pháp, sức sống của Hiến pháp cũng chính từ hai chữ “Nhân dân” đó.
Thông điệp mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta muốn khẳng định đến toàn thể nhân dân và bạn bè quốc tế rằng, ở Việt Nam, mọi chủ trương, chính sách đều xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Đất nước ta vì thế mà đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Thành quả này thuộc về nhân dân.
Qua đại dịch COVID-19, điều này càng được khẳng định mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Quan điểm “vì dân” được thể hiện xuyên suốt trong chiến lược của Đảng, Nhà nước về phòng, chống đại dịch COVID-19. Với một đất nước đang nỗ lực vươn lên, rất nhiều khó khăn phía trước, nhưng trong mọi đường lối của Đảng, sự điều hành của Nhà nước đều trước sau như một, chấp nhận thiệt hại về kinh tế nhưng bằng mọi giá, phải bảo vệ tính mạng nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội. Khó có thể kể hết ra đây những chỉ đạo, những quyết sách kịp thời trong hơn hai năm qua để hỗ trợ người dân vượt qua đại dịch, hay phục hồi kinh tế đất nước. Tuy là một nước còn nhiều khó khăn, nhưng Việt Nam là 1 trong 6 nước có tỷ lệ bao phủ vaccine phòng COVID-19 cao nhất thế giới.
Khẳng định "dân là gốc" tiếp tục là tư tưởng, phương châm hành động của Đảng, Nhà nước ta, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng mới đây đã nêu rõ, cán bộ, đảng viên phải tôn trọng nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, học hỏi nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh, trật tự, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. “Phải kiên quyết loại bỏ thái độ bàng quan, vô cảm trước những bức xúc của nhân dân; kiên quyết loại bỏ mọi hành vi lạm dụng, lợi dụng quyền lực để xâm phạm lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân”, Tổng Bí thư nhấn mạnh./.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THIẾT CHẾ VĂN HÓA, THỪA HAY THIẾU?

     Ngày 12.5, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục sẽ phối hợp tổ chức Hội thảo Văn hóa năm 2024 chủ đề “Chính sách và nguồn lực cho phát triển thiết chế văn hóa, thể thao”. Báo Đại biểu Nhân dân xin giới thiệu một số bài viết cung cấp các góc nhìn xung quanh chủ đề này!

Chúng ta còn thiếu rất nhiều thiết chế văn hóa đủ tiêu chuẩn để tổ chức các sự kiện lớn, mang tầm khu vực và quốc tế, được tổ chức và vận hành một cách chuyên nghiệp, nhưng lại thừa những thiết chế không đáp ứng được các tiêu chuẩn này.

Nhà văn hóa thành… “nhà văn khóa”
Năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở giai đoạn 2013 - 2020, định hướng đến năm 2030. Nhờ đó, đến nay, hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở đã từng bước được hoàn thiện nhằm thực hiện hiệu quả công tác tuyên truyền, phục vụ các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.

Tuy nhiên, chúng ta còn thiếu rất nhiều thiết chế văn hóa đủ tiêu chuẩn để tổ chức các sự kiện lớn, mang tầm khu vực và quốc tế, được tổ chức và vận hành một cách chuyên nghiệp, nhưng lại thừa những thiết chế không đáp ứng được các tiêu chuẩn này.

Có nhiều lý do, trong đó có những lý do do lịch sử của nó. Đó là việc các thiết chế đã được xây dựng từ lâu, với thiết kế, chức năng và cả công năng sử dụng phù hợp với một thời kỳ lịch sử cụ thể. Khi đó chúng ta chưa hình dung được sự phát triển khoa học - công nghệ mạnh mẽ như ngày hôm nay. Chúng ta cũng chưa đủ nguồn lực để có thể tạo ra những cơ sở vật chất xứng tầm, chưa kể tư duy quản lý, tổ chức các hoạt động ở các thiết chế văn hóa cũng rất khác.

Dù vậy, cũng phải khẳng định rằng, các thiết chế văn hóa đó đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, đáp ứng nhu cầu văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao của Nhân dân trong những năm tháng khó khăn của đất nước, giúp chúng ta có những thành tựu nhất định trong quá trình phát triển văn hóa ở cơ sở.

Tuy nhiên, những thành tựu ở quá khứ cũng không khỏa lấp được những vấn đề bức xúc của hiện đại. Đã khoảng 20 năm nay, các thiết chế văn hóa ở cơ sở gặp rất nhiều khó khăn.

Nhiều nhà văn hóa thành “nhà văn khóa”, vì chủ yếu khóa cửa, không có nhiều sinh hoạt, chủ yếu là khoảng sân dành cho các hoạt động thể dục, thể thao, còn hoạt động của nhà văn hóa liên quan đến sinh hoạt chi bộ, tổ dân phố, người cao tuổi... Tương tự như vậy là số phận hẩm hiu của thư viện hay bảo tàng ở nhiều địa phương, hay các công viên bị bỏ hoang, không người chăm sóc, hoặc khóa cửa để hạn chế người vào…

Dù chúng ta đều biết, về lý thuyết, các thiết chế văn hóa là các không gian công cộng, dành cho cộng đồng, là nơi giao lưu văn hóa, văn nghệ, gắn kết cộng đồng, lan tỏa những giá trị văn hóa, nhưng một khi những mục đích căn bản đó không đạt được, thì đây là một sự lãng phí rất lớn.

Điều này càng trở nên lãng phí hơn khi chúng ta vẫn quan niệm, sử dụng cách quản lý và tổ chức hoạt động cho các thiết chế theo kiểu cũ.

Bất kỳ dự án nào, bằng cách thể hiện sự quan tâm đến văn hóa, đều có hạng mục xây dựng các thiết chế như nhà văn hóa, công viên, thậm chí thư viện, rạp chiếu phim... mà chưa thực sự quan tâm đến việc làm cách nào để các thiết chế này hoạt động hiệu quả.

Cần có tư duy khác
Trong xu thế các phương tiện giải trí ngày càng đa dạng, phong phú, hấp dẫn, tư nhân đầu tư các khu vui chơi giải trí đáp ứng nhu cầu, yêu cầu và tiêu chuẩn cao của người dân, còn các cơ quan, tổ chức Nhà nước vẫn phải thực hiện tinh giản biên chế, thì việc quản lý và tổ chức hoạt động cho các thiết chế văn hóa theo mô hình cũ thực sự đã gây ra sức cản, độ ỳ rất lớn đối với các thiết chế văn hóa của Nhà nước.

Hãy tưởng tượng rằng, cán bộ văn hóa ở cơ sở chỉ quan tâm đến giờ mở cửa, đóng cửa của nhà văn hóa, thư viện, bảo tàng… mà không cần quan tâm đến xây dựng thương hiệu cho các hoạt động của mình, phát triển khán giả, thiếu những kỹ năng kinh doanh cần thiết để các thiết chế có thể trở nên sinh động, hấp dẫn, thì làm sao các thiết chế này có thể thu hút sự quan tâm của Nhân dân, cũng như đầu tư của Nhà nước?

Tôi thường chất vấn các cơ quan hữu quan, các địa phương về việc đầu tư ít ỏi cho các thiết chế văn hóa, câu trả lời thường xuyên mà tôi nhận được là đầu tư không hiệu quả, còn nhiều thiết chế văn hóa dư thừa, lãng phí... Đây đúng là vấn đề rất khó xử đối với những người yêu văn hóa. Nếu giải trình về đầu tư không hiệu quả có thể không quá khó, vì đầu tư cho văn hóa khó có thể đong đếm như kinh tế (không ai đong đếm cảm giác hạnh phúc khi xem một bộ phim, đọc một câu chuyện, chơi một trận bóng đá...) và tác động của các hoạt động văn hóa có thể lan tỏa sang các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác (cần phải tính cho văn hóa), thì việc lãng phí các thiết chế văn hóa là một bài toán khó giải hơn.

Cần có tư duy khác về phát triển thiết chế văn hóa như chuyển đổi mô hình đầu tư công, quản trị tư, hợp tác công tư, sự tham gia chủ động và tích cực của cộng đồng, hay việc áp dụng các kỹ năng kinh doanh... Đặc biệt là cần có nguồn nhân lực phù hợp thì mới giúp có những chuyển biến căn bản cho các thiết chế văn hóa. Muốn có được điều này, chúng ta lại cần có môi trường thể chế, chính sách hỗ trợ để toàn xã hội có thể tham gia đầu tư, xây dựng, quản lý, vận hành các thiết chế văn hóa. Đó là những thay đổi liên quan đến pháp luật về đất đai, thuế, đầu tư theo hình thức đối tác công - tư, quản lý sử dụng tài sản công...

Những bài toán này lớn và khó, nhưng rất cần sớm có lời giải. Đặc biệt, rà soát, nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển hệ thống thiết chế văn hóa bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, khả thi; hoàn thiện các chính sách về công tác quy hoạch, đầu tư, xây dựng, chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ, người lao động công tác tại hệ thống thiết chế văn hóa./.
Yêu nước ST.

VIỆT NAM BÁC BỎ NHỮNG NHẬN ĐỊNH KHÔNG KHÁCH QUAN TRONG BÁO CÁO TỰ DO TÔN GIÁO QUỐC TẾ NĂM 2024!

     Ngày 9/5, tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng cho biết, Việt Nam bác bỏ những nhận định không khách quan, mang tính định kiến và không chính xác về tình hình thực tế tại Việt Nam được nêu trong Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế năm 2024 của Ủy ban Tự do Tôn giáo Hoa Kỳ (USCIRF)!

Trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết bình luận của Việt Nam đối với Báo cáo tự do tôn giáo năm 2024 của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế (USCIRF), Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nhấn mạnh:

Việt Nam luôn thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền theo hoặc không theo tôn giáo của người dân. Tại Việt Nam, không ai bị phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng và các hoạt động của các tổ chức tôn giáo được bảo đảm theo đúng các quy định của pháp luật. Điều này đã được thể hiện rõ trong Hiến pháp 2013, hệ thống pháp luật của Việt Nam và được tôn trọng trên thực tế.

Các chính sách, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người, trong đó có tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng đã được nhiều nước ghi nhận và đánh giá cao. Đây cũng là những đánh giá, nhận xét của các nước tại Phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc vừa được tổ chức tại Geneva, Thụy Sĩ.

Việt Nam bác bỏ những nhận định không khách quan, mang tính định kiến và không chính xác về tình hình thực tế tại Việt Nam được nêu trong Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế năm 2024 của Ủy ban Tự do Tôn giáo Hoa Kỳ (USCIRF). Chúng tôi đã, đang và sẽ tiếp tục trao đổi với phía Hoa Kỳ về các vấn đề mà hai bên cùng quan tâm trên tinh thần thẳng thắn, cởi mở và tôn trọng lẫn nhau, đóng góp vào việc thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững giữa Việt Nam và Hoa Kỳ./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐƯA QUAN HỆ SONG PHƯƠNG VIỆT NAM - EU NGÀY CÀNG PHÁT TRIỂN SÂU RỘNG!

     Tối 9/5, tại Hà Nội, Phái đoàn Liên minh châu Âu (EU) tại Việt Nam đã tổ chức kỷ niệm 74 năm Ngày châu Âu (9/5/1950 - 9/5/2024)!

Tới dự và chúc mừng đoàn ngoại giao các nước thành viên EU ở Việt Nam, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Vũ nhấn mạnh: Ngày châu Âu là dịp kỷ niệm đặc biệt, là ngày tôn vinh sự đoàn kết, quyết tâm bảo vệ hòa bình và thịnh vượng. Đây là những giá trị mà bất kỳ tổ chức, quốc gia nào, trong đó có Việt Nam luôn ủng hộ.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Minh Vũ, trong 74 năm qua, kể từ Tuyên bố Schuman, EU ngày nay là một trong những tổ chức quốc tế thành công nhất. Các nước EU đóng vai trò tiên phong trong công nghệ tiên tiến, giáo dục - đào tạo, phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Vũ nêu rõ, kể từ khi chính thức thiết lập quan hệ, Việt Nam - EU đã trải qua nhiều thách thức trong bối cảnh khu vực và toàn cầu có nhiều biến động phức tạp, sâu sắc. Tuy nhiên, mối quan hệ này đang ngày càng sâu sắc và đơm hoa kết trái. Sự hỗ trợ của các nước EU dành cho Việt Nam trong thời kỳ Covid-19, cả về vaccine và thiết bị bảo hộ cá nhân là ví dụ điển hình. Hiện nay, thỏa thuận PCA (Hiệp định khung điều chỉnh quan hệ Việt Nam - EU thay thế Hiệp định khung Việt Nam - Ủy ban châu Âu năm 1995), có hiệu lực từ ngày 01/10/2016 là cơ sở pháp lý cho một giai đoạn phát triển mới, với phạm vi hợp tác rộng hơn và mức độ sâu hơn.

Thứ trưởng Nguyễn Minh Vũ khẳng định quan hệ giữa Việt Nam và EU là hình mẫu cho sự hợp tác hòa bình, đồng thời mong muốn đưa quan hệ song phương ngày càng phát triển sâu rộng.

"Là một quốc gia đang phát triển ở Đông Nam Á và là một trong những đối tác thân thiết của châu Âu, Việt Nam thấy rõ giá trị hợp tác với EU trên nhiều lĩnh vực", Thứ trưởng Nguyễn Minh Vũ nhấn mạnh và cho biết EU hiện là đối tác phát triển lớn nhất của Việt Nam; đối tác thương mại lớn thứ 5 và nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ 6. Trong khi đó, Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của EU trong ASEAN và thứ 14 của EU trên thế giới.

Để tăng cường hơn nữa hợp tác giữa hai bên, Thứ trưởng Nguyễn Minh Vũ đề nghị các nước EU sớm phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam - EU (EVIPA) cũng như triển khai hiệu quả Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA); coi đây là bước đột phá mới trong hợp tác thương mại - đầu tư, đáp ứng nguyện vọng của toàn thể cộng đồng doanh nghiệp hai bên.

Nhân dịp này, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Vũ cũng đề nghị EU cung cấp viện trợ phát triển cho Việt Nam giai đoạn 2024 - 2027 và sớm gỡ bỏ "Thẻ vàng" của EC đối với xuất khẩu thủy sản của Việt Nam; EU sẽ tiếp tục hợp tác và hỗ trợ Việt Nam thực hiện Kế hoạch huy động nguồn lực (RMP) trong khuôn khổ Quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP) để đạt được mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Về quan hệ giữa ASEAN - EU, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao nêu rõ, Việt Nam ủng hộ và sẽ tích cực thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược ASEAN - EU và tin tưởng EU sẽ tiếp tục đóng góp thiết thực hơn nữa cho khu vực.

Tại Lễ kỷ niệm, Đại sứ - Trưởng Phái đoàn Liên minh châu Âu (EU) tại Việt Nam Julien Guerrier đã điểm lại chặng đường xây dựng, hình thành và phát triển của EU. Theo đó, Liên minh châu Âu kỷ niệm "Ngày châu Âu", đánh dấu tuyên bố có tầm nhìn chiến lược được đưa ra vào ngày 9/5/1950 bởi cựu Ngoại trưởng Pháp Robert Schuman. Chỉ 5 năm sau khi Chiến tranh Thế giới lần thứ 2 kết thúc, ông Robert Schuman đã kêu gọi hướng đến sự thống nhất và hòa bình châu Âu, để các cuộc chiến tranh có thể lùi về quá khứ. Mục tiêu này đã thành công: EU đã đảm bảo hòa bình cho người dân của mình, cũng như sự thịnh vượng và tự do; các nguyên tắc như quyền và tự do cá nhân, quản trị dân chủ, pháp quyền và một tiêu chuẩn sống hài hòa cho người dân đã trở thành những trụ cột trong xã hội; sự thống nhất trong sự đa dạng.

Đánh giá cao mối quan hệ hợp tác Việt Nam - EU, Đại sứ Julien Guerrier nhấn mạnh trong 35 năm qua, EU đã sát cánh cùng Việt Nam đạt được nhiều thành tựu và hiện nay, EU mong muốn hỗ trợ Việt Nam đạt được các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2045 cũng như đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2025. Cũng nhân dịp này, Đại sứ Julien Guerrier chúc mừng Việt Nam đã đạt được những cột mốc phát triển quan trọng.

Thứ trưởng Nguyễn Minh Vũ và Đại sứ Julien Guerrier cùng các các vị khách đã nâng ly chúc mừng Ngày châu Âu và mối quan hệ Việt Nam - EU ngày càng phát triển./.


Yêu nước ST.

TÂM SỰ ĐẢNG VIÊN: NGHỊ QUYẾT MỘT CHIỀU!

     Tối cuối tuần, sau khi kết thúc buổi sinh hoạt chi bộ tổ dân phố, ông Nam chưa vội về ngay mà ghé vào nhà Thanh, người cháu họ đang công tác trên huyện!

Vừa ngồi xuống ghế, ông Nam trầm ngâm rồi nói: “Nghị quyết chi bộ tổ dân phố tháng này có một số nội dung chưa khả thi, chưa sát thực tiễn tình hình. Không biết chi bộ có lãnh đạo thực hiện thành công hay không, nhưng cũng chẳng thấy ai có ý kiến gì mà nhất nhất giơ tay quyết nghị”! Nghe vậy, Thanh cười rồi nói như để động viên: Bác ơi, đây là tình trạng chung ở không ít tổ chức đảng và trong nhiều nghị quyết, chúng cháu vẫn hay gọi đấy là những “nghị quyết một chiều”.

Khi tra từ điển tiếng Việt, cụm từ “một chiều” nghĩa là để chỉ phương hướng, theo nghĩa đây là hướng duy nhất, không có hướng ngược lại, ví như đường một chiều, dòng điện một chiều. Theo một nghĩa khác, “một chiều” cũng để chỉ một phía, một mặt mà không có sự bao quát, toàn diện hoặc thiếu những phía khác, mặt khác, như suy nghĩ một chiều, thông tin một chiều... 

Và với “nghị quyết một chiều” cũng không nằm ngoài những ý nghĩa này. Có nghị quyết nghe thì rất hay, tên rất kêu, được đầu tư rất công phu về mặt thể thức văn bản, câu từ trau chuốt, bóng bẩy, mĩ miều, nhưng các mục tiêu, chỉ tiêu trong nghị quyết lại quá cao và gần như “quá sức” so với năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng. Bởi vậy nên nghị quyết không khả thi khi triển khai trong thực tiễn và những mục tiêu, chỉ tiêu ấy vẫn cứ mãi nằm trong văn bản. 

Lại có nghị quyết khi được ban hành, nhưng không dựa trên cơ sở tổng kết từ thực tiễn, không bám sát thực tiễn đang vận động, thay đổi liên tục, hay nói cách khác là không đưa cuộc sống vào nghị quyết... Vì thế, đọc nội dung nghị quyết cứ chung chung và áp dụng cho năm nay, ở nhiệm kỳ này, hay thậm chí năm sau, nhiệm kỳ sau cũng vẫn cứ phù hợp. Đương nhiên, cả hai loại nghị quyết này đều gây rất nhiều khó khăn cho các cấp khi triển khai thực hiện và hệ quả là nghị quyết không thể đi vào cuộc sống. 

Nguyên nhân “đẻ” ra những nghị quyết một chiều không ở đâu xa, mà chính từ thái độ thờ ơ, bàng quan, thiếu tinh thần xây dựng của một bộ phận đảng viên. Những nghị quyết một chiều xuất phát từ những buổi sinh hoạt xuôi chiều, đảng viên chỉ nghe dự thảo nghị quyết do cấp ủy, tổ chức đảng chuẩn bị, rồi giơ tay quyết nghị mà không có ý kiến gì thêm.

Cũng cần nhấn mạnh thêm, thực tế ở cơ sở hiện nay, nghị quyết tháng trước triển khai thực hiện chưa xong thì đã phải lo triển khai nghị quyết tháng này; rồi lo thực hiện nghị quyết của trên triển khai về... Các cấp ban hành quá nhiều nghị quyết, chương trình hành động, nhưng không thường xuyên kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết đánh giá tiến độ, chất lượng thực hiện... Cũng vì thế nên nhiều nghị quyết khi về đến cơ sở thì triển khai theo kiểu “đầu voi đuôi chuột” hoặc vẫn cứ nằm trên giấy...

Nói tóm lại, nghị quyết dù dài hay ngắn, được ban hành bởi cấp nào cũng phải bảo đảm được hai yếu tố để có thể vận hành hai chiều, đó là: Nghị quyết phải đi vào cuộc sống và muốn thế phải đưa cuộc sống vào nghị quyết./.
Yêu nước ST.