Sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin và các ứng dụng Internet tạo ra một không gian chiến lược mới được gọi là không gian mạng. Điều này mang lại nhiều lợi ích, cơ hội phát triển, nhưng song hành với đó cũng tiềm ẩn không ít nguy cơ, thách thức. Các thế lực thù địch lợi dụng Internet và mạng xã hội để xuyên tạc cương lĩnh, đường lối, quan điểm, nền tảng tư tưởng của Đảng; lôi kéo, kích động các phần tử bất mãn, gây mất ổn định ANCT, trật tự ATXH. Trong bối cảnh đó, bám sát chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh ủy, Ban chỉ đạo 35 tỉnh và tình hình thực tiễn, các cơ quan, đơn vị, địa phương trên địa bàn đã chủ động, tích cực triển khai nhiều hoạt động, biện pháp linh hoạt, thiết thực, hiệu quả để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, từng bước xây dựng không gian mạng an toàn, lành mạnh.Các đối tượng phản động, cơ hội chính trị đã lợi dụng một số sự việc nhạy cảm, phức tạp, được dư luận quan tâm, như: các vụ án về kinh tế; công tác phòng, chống tham nhũng, xử lý sai phạm của các đảng viên; các vụ việc liên quan đến vi phạm kỷ luật… để lan truyền các thông tin phản động, sai sự thật, xấu, độc, hướng lái dư luận, gây tâm lý hoài nghi, hoang mang, bức xúc. Nguy hiểm hơn chúng đã kết hợp với những phương thức truyền thông mới hiện đại, nhất là ứng dụng công nghệ AI, đưa giọng nói “thổi” vào các hình ảnh, video cắt ghép. Chiêu trò mới này tạo cảm giác cho người đọc, người xem dễ phân tâm, lung lạc giữa đúng - sai, thật - giả. Vì thế làm cho các dạng tin đồn được lan truyền, nhân bản rất nhanh, tạo tâm lý đám đông, a dua vào những sự kiện vốn không có thật trên mạng…
Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2024
NHẬN DIỆN NGUY CƠ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG
Mạng xã hội ngày nay là một phần không thể thiếu của cuộc sống con người. Tuy nhiên, không gian mạng cũng có nhiều rủi ro và nguy cơ tiềm ẩn mà chúng ta nhất là đảng viên cần phải khắc phục và sử dụng nó một cách hiệu quả nhất để bảo vệ, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Ðồng thời, tuyên truyền, lan toả rộng rãi sự đúng đắn của nền tảng tư tưởng của Ðảng.
Việt Nam có lượng người dùng Internet được đánh giá cao, những thông tin xấu độc có ảnh hưởng, tác động tiêu cực rất lớn tới xã hội. Hàng ngày, các tin, bài chống phá được các thế lực thù địch tung lên không gian mạng, gây nhiễu loạn thông tin, hướng công chúng hiểu sai lệch, kích động những tư tưởng bất mãn, phản kháng, chống đối với Ðảng, Nhà nước. Nếu chủ quan, lơ là, mất cảnh giác hoặc thiếu những giải pháp đấu tranh cứng rắn, hữu hiệu sẽ gây nên hệ luỵ khôn lường.
Các thông tin xấu, độc trên không gian mạng với những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch tấn công trực diện vào những vấn đề lý luận cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Ðảng ta đặc biệt nguy hiểm. Hiện nay, sự chống phá này không chỉ ở diện rộng bằng những bài viết dung tục, thù hận, cực đoan một chiều như trước đây, các thế lực thù địch đầu tư xây dựng và sử dụng ngày càng nhiều bài viết đa tầng thông tin, đa quan điểm, với nhiều chiêu trò đánh tráo khái niệm, ngụy tuyên truyền hết sức tinh vi, khiến công tác đấu tranh của ta càng thêm khó khăn, phức tạp.
Nội dung thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch đa dạng, phức tạp, trên tất cả các lĩnh vực: tư tưởng, chính trị, xây dựng Ðảng, kinh tế, văn hoá, xã hội..., trong đó tập trung tấn công vào một số nội dung cốt lõi thuộc hệ tư tưởng, đường lối của Ðảng ta, như: đòi Ðảng ta từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, chúng xuyên tạc nhằm “hạ bệ” tư tưởng Hồ Chí Minh bằng phủ nhận nội dung và giá trị tư tưởng của Người; chúng chống phá, xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hiện nay, nhất là đường lối đổi mới của Ðảng ta; chúng phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi xoá bỏ sở hữu toàn dân, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân đồng nhất với tư nhân hoá nền kinh tế, xoá bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước; cổ suý phi chính trị hoá lực lượng vũ trang, phủ nhận bản chất cách mạng và Nhân dân của lực lượng vũ trang, chia rẽ quân đội Nhân dân và công an Nhân dân; tán dương nền tự do báo chí tư sản, vai trò “quyền lực thứ tư” của báo chí, nhân danh tự do sáng tạo để tách sự lãnh đạo của Ðảng khỏi hoạt động báo chí, văn học, nghệ thuật; thúc đẩy hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” trá hình, từ đó cho ra đời các tổ chức đối lập chính trị ở Việt Nam; tiếp tục lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá./.
LÀM CHỦ KHÔNG GIAN MẠNG ĐỂ BẢO VỆ ĐẢNG
Ðại hội XIII của Ðảng đề cập trực tiếp và nhấn mạnh việc quản lý và phát triển thông tin trên không gian mạng, trong đó có việc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch: “Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên Internet. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục”.
Thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục chĩa mũi nhọn tấn công vào những vấn đề tư tưởng, lý luận, đồng thời sử dụng không gian mạng là một mặt trận chính để chống phá ta. Do đó công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng có vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Ðảng. Theo đó, chúng ta thực hiện một số giải pháp:
- Một là, tổ chức tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức trách nhiệm cho mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng về nhiệm vụ đấu tranh, phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức “tính hai mặt” của không gian mạng, “nhận diện” rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù trong việc sử dụng không gian mạng để chống phá cách mạng nước ta. Từ đó, nêu cao nhận thức, có tinh thần cảnh giác cách mạng cao, có nhãn quan chính trị đúng đắn, đủ sức “phản biện” trước các thông tin xấu, độc trên không gian mạng.
- Hai là, tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt các quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp đã được xác định trong Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”.
- Ba là, phát huy vai trò và sức mạnh của các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Ðặc biệt, hiện nay trong thời đại công nghệ 4.0, mỗi đảng viên được tiếp cận trình độ khoa học công nghệ hiện đại, đều có thể truy cập vào các trang mạng, tự mình thiết lập, sử dụng các tài khoản, trang thông tin cá nhân (thư điện tử: Gmail, Yahoo...), Facebook, Zalo, Blog, Line, Tiktok... để viết tin, bài đấu tranh, phản bác chống quan điểm sai trái, thù địch. Ðặc biệt, phải chủ động làm chủ không gian mạng, để không gian mạng trở thành phương tiện, công cụ đắc lực phục vụ cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng.
- Bốn là, phát huy vai trò, hiệu quả hoạt động của lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Lực lượng này là những cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ, năng lực tốt, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh để bảo vệ Ðảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa./.
“phi chính trị hóa” quân đội - vấn đề cần cảnh giác
Quân đội nhân dân Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng
sản Việt Nam tổ chức, giáo dục và rèn luyện, 79 năm qua cùng toàn Đảng, toàn
dân đánh đuổi thực dân, đế quốc thu non sông về một mối cả nước đi lên chủ
nghĩa xã hội, bảo vệ đời sống ấm no, tự do và hạnh phúc của nhân dân; luôn xứng
đáng là công cụ bạo lực sắc bén, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và
nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Tổ quốc và
nhân dân giao cho.
Âm mưu chưa bao giờ từ bỏ của
các thế lực thù địch
“Phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam là âm mưu trong
tổng thể chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam. Đây là
một âm mưu không mới, nhưng cực kỳ thâm độc, nguy hiểm của các thế lực thù
địch, phản động ngoan cố chống phá cách mạng nước ta trong suốt thời gian
qua. Các thế lực thù địch, phản động phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối,
trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Họ kêu gọi xóa bỏ hệ thống tổ
chức đảng và cán bộ tham gia phụ trách công tác Đảng trong quân đội, kêu gọi
xây dựng quân đội “trung lập”, quân đội “quốc gia”, không lệ thuộc một khuynh
hướng chính trị, một đảng phái nào; tung hô ca ngợi mô hình quân đội một số
nước để chứng minh quân đội không liên quan đến chính trị; kêu gọi Quân đội
nhân dân Việt Nam nên liên minh với quân đội một số nước để tiến lên hiện đại,
trở thành quân đội “nhà nghề”(?!). Họ cho rằng, các vấn đề liên quan đến quân
sự, quốc phòng phải được nhân dân bàn bạc công khai và quyết định thông qua
những “diễn đàn dân chủ”; lợi dụng chủ trương tinh giản biên chế, cơ cấu, sắp
xếp lại quân đội đã và đang thực hiện để xuyên tạc, kích động, quy chụp cho
rằng đó là biểu hiện của tham nhũng, lợi ích nhóm, đặc quyền, đặc lợi của một bộ
phận cán bộ, đảng viên trong quân đội…
Các luận điệu phản động trên đây không có gì mới lạ. Nhưng, với
bản chất chống cộng, các thế thực thù địch vẫn “cố đấm ăn xôi”, nuôi hy vọng
nếu không nắm được quân đội thì chí ít chúng có thể vô hiệu hoá được lực lượng
này bằng cách tạo ra áp lực xã hội, sự chống đối từ bên trong để cô lập.
Không thể có quân đội “phi
chính trị”; quân đội “trung lập”
Xã hội loài người từ khi phân chia thành giai cấp, hình thành
nhà nước bao giờ cũng gắn với một chế độ chính trị – xã hội, một hình thái kinh
tế – xã hội nhất định. Không có nhà nước tách rời dân tộc và chế độ chính trị;
cũng không có chế độ chính trị nằm ngoài nhà nước, dân tộc. Bản chất của nhà
nước là bản chất của chế độ chính trị tồn tại trong đó, chính là bản chất của
giai cấp nắm quyền thống trị xã hội. Nhà nước, dân tộc, chế độ chính trị tồn
tại thống nhất, biện chứng trong suốt quá trình vận động, phát triển.
Trong xã hội có giai cấp, giai cấp cầm quyền bao giờ cũng chú ý
xây dựng quân đội và các lực lượng vũ trang mạnh để bảo vệ địa vị thống trị,
lợi ích giai cấp của mình. Vì vậy, tổ chức và lãnh đạo quân đội, các lực lượng
vũ trang là một tất yếu, và đương nhiên quân đội, lực lượng vũ trang đó phải
mang bản chất giai cấp của chính giai cấp đã tổ chức và lãnh đạo nó. Không thể
và không bao giờ có quân đội và công an chỉ được quyền trung thành với Tổ quốc,
với đất nước, với nhân dân mà không thuộc về một thể chế chính trị hay một đảng
phái nào.
Lý luận và thực tiễn đã cho thấy giai cấp cầm quyền để thực hiện
quyền thống trị xã hội bao giờ cũng thông qua lãnh tụ chính trị của mình và
thông qua nhà nước do mình lập ra. Vì thế, trong chế độ xã hội chủ nghĩa, giai
cấp công nhân thực hiện vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng thông qua lãnh tụ
chính trị của mình là Đảng Cộng sản và thông qua nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà
nước của dân, do dân và vì dân, mang bản bản chất giai cấp công nhân, tính nhân
dân và tính dân tộc sâu sắc. Như vậy, khi nói đến quân đội cách mạng, quân đội
xã hội chủ nghĩa, lực lượng vũ trang cách mạng thì điều thể hiện trước hết là
trung thành với chế độ xã hội chủ nghĩa, với Đảng Cộng sản, với Nhà nước xã hội
chủ nghĩa, với nhân dân. Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, bảo vệ
Nhà nước, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa bắt nguồn từ chính lý
do sự ra đời và tồn tại của quân đội cách mạng, quân đội xã hội chủ nghĩa.
Quân đội nhân dân Việt
Nam tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ra đời là kết quả của cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân ta dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
các dân tộc đều bình đẳng; mọi người dân đều được tự do, bình đẳng về mặt xã
hội, được tạo điều kiện để phát triển toàn diện, đều có quyền và có trách nhiệm
xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Quyền và trách nhiệm đó được ghi trong Hiến pháp,
pháp luật do nhân dân các dân tộc Việt Nam xây dựng nên và được thực thi trên
thực tế phù hợp với khả năng của đất nước ở từng thời kỳ. Mọi sự xâm phạm quyền
và chối bỏ hoặc lơ là trách nhiệm đều là vi phạm Hiến pháp, pháp luật, là có
tội với Tổ quốc, với dân tộc, với nhân dân.
Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới, được tổ chức ra
là để chiến đấu bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc mà Đảng là
người đại diện. Bởi lẽ ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc Việt
Nam Đảng ta không có lợi ích nào khác. Cán bộ, chiến sĩ trong quân đội ta đều
là con em của nhân dân, được giáo dục, rèn luyện theo đường lối, quan điểm của Đảng,
tuân thủ Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
tự giác chiến đấu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cũng là bảo vệ
quyền và những lợi ích chính đáng của nhân dân đã được ghi trong Hiến pháp,
pháp luật. Vì vậy, Quân đội ta là một đội quân cách mạng của Đảng, Tổ quốc, Nhà
nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, nhân dân và dân tộc Việt Nam; thống nhất trong
mình bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân, tính dân tộc; tự giác chiến
đấu vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Cần thấy rằng, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay không chỉ là
đối phó với “giặc ngoài”, mà còn cả với “thù trong” là các tổ chức và phần tử
phản động, những tổ chức và cá nhân đội lốt tôn giáo v.v. chống đối Đảng, Nhà
nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; đi ngược lại lợi ích của nhân dân, dân tộc. Do
đó, nhiệm vụ cấp bách hàng đầu của quân đội là ngăn ngừa, đập tan mọi âm mưu và
hành động “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, giữ vững ổn định chính trị,
bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Cùng với chức năng sản xuất và công tác, chức năng chiến đấu của
Quân đội ta góp phần tạo nên nét đặc sắc trong bản chất chính trị – xã hội của
quân đội, làm cho Quân đội ta khác với quân đội các nước. Trong suốt quá trình
xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, mỗi bước phát triển của Quân đội ta đều
gắn liền với quá trình phát triển, hoàn thiện chức năng qua từng thời kỳ. Tuy
mỗi chức năng có vị trí, vai trò, yêu cầu và nội dung, biện pháp xây dựng riêng
nhưng tất cả đều nằm trong một thể thống nhất không thể tách rời cấu thành nên
quân đội của dân, do dân và vì dân; với sợi chỉ đỏ xuyên suốt là chủ nghĩa Mác
– Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; với chất keo kết dính là bản chất giai cấp công
nhân thống nhất chặt chẽ với tính nhân dân và tính dân tộc; do Đảng lãnh đạo
“tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” và Nhà nước thống nhất quản lý, điều hành
trên cơ sở nguồn lực tổng hợp của quốc gia và chế độ…
NHIỆM VỤ CHIẾN LƯỢC CỦA CÁCH MẠNG VIỆT
NAM HIỆN NAY
Quan điểm về bảo vệ Tổ quốc là bộ phận đặc biệt quan trọng trong
hệ thống quan điểm của Đảng. Đảng ta khẳng định trong khi đặt lên hàng đầu
nhiệm vụ xây dựng đất nước, không được một phút lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ
quốc. Quan điểm này thể hiện sự trung thành, vận dụng sáng tạo lý luận chủ
nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ
thành quả cách mạng, kế thừa, phát huy truyền thống dựng nước đi đôi với giữ
nước của dân tộc ta.
Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8
khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã nhận thức
rõ hơn yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; phát huy truyền
thống yêu nước, đoàn kết, chủ động nắm bắt thuận lợi, thời cơ, vượt qua khó
khăn, thách thức, nỗ lực phấn đấu và đạt được nhiều kết quả, thành tựu rất quan
trọng, toàn diện. Kinh tế tăng trưởng khá, chính trị ổn định, trật tự an toàn
xã hội được bảo đảm, quốc phòng, an ninh tiếp tục được giữ vững và tăng cường;
quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đạt nhiều thành tựu nổi
bật. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố; dân chủ xã hội chủ nghĩa
tiếp tục được phát huy. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có nhiều
tiến bộ, hoạt động hiệu lực và hiệu quả hơn; tổ chức bộ máy lập pháp, hành pháp
và tư pháp tiếp tục được hoàn thiện. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ
thống chính trị được đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả rõ
rệt. Việt Nam đang ngày càng chứng tỏ uy tín và tiếng nói có trọng lượng của
mình trong cộng đồng chính trị quốc tế, thúc đẩy vị thế chiến lược mới của nước
ta trong khu vực và trên thế giới.
Tuy nhiên, việc thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có nội dung còn chậm. Kinh tế – xã hội phát triển
chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của đất nước. Việc phát huy sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa có lúc, có nơi chưa được quan
tâm đúng mức. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có mặt
chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và quản lý đất nước trong tình
hình mới.
Hiện nay, thế giới đang trải qua những biến
động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Cục diện thế giới
đa cực, đa trung tâm hình thành ngày càng rõ nét hơn; cạnh tranh chiến lược giữa
các nước lớn ngày càng gay gắt, toàn diện, thậm chí đối đầu. Sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bên cạnh thời cơ, thuận
lợi cũng gặp không ít những khó khăn, thách thức. Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã
từng cảnh báo vẫn còn hiện hữu, có mặt diễn biến phức tạp và gay gắt hơn. Các
thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước cấu
kết, tăng cường chống phá công khai và trực diện, với âm mưu, thủ đoạn
ngày càng tinh vi. Trước bối cảnh đó, để tiếp tục thực hiện tốt hai nhiệm vụ
chiến lược của cách mạng Việt Nam, Ban Chấp hành trung ương (Khóa XIII) đã kịp
thời ban hành Nghị quyết số 44- NQ/TW ngày 24 /11/2023, Về chiến lược bảo vệ Tổ quốc
trong tình hình mới. Nghị quyết chỉ
rõ, phải: Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở bảo vệ vững
chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ
Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng,
sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; bảo vệ nền văn hoá và uy tín,
vị thế quốc tế của đất nước; bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh con người, an
ninh kinh tế, an ninh mạng; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã
hội; triệt tiêu các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong, kiên quyết
không để hình thành các tổ chức chính trị đối lập ở trong nước, dập tắt nguy cơ
xung đột quân sự, chiến tranh; giữ vững, củng cố, tăng cường môi trường hoà
bình để xây dựng, phát triển đất nước; đóng góp tích cực vào gìn giữ hoà bình
khu vực, thế giới.
Để thực hiện tốt Nghị quyết của Trung ương, cấp ủy, chính quyền
các cấp, ngành cần tổ chức nghiêm túc việc nghiên cứu, quán triệt và xây dựng
chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của
từng địa phương, cơ quan, đơn vị; định kỳ kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện
Nghị quyết, đồng thời, chú trọng một số nội dung sau:
Một là, kiên định và vận dụng, phát triển sáng
tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc trong tình
hình mới. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và
đường lối đổi mới, tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đẩy mạnh
học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và thực hiện các
quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Hai là, nâng cao hiệu quả xây dựng, hoàn thiện
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân
dân. Nâng cao năng lực thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng và lãnh đạo,
chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả. Phát huy tốt vai trò giám sát, phản biện
của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, tăng cường sức mạnh đại
đoàn kết dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân trong
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Ba là, tiếp tục hoàn thiện toàn diện, đồng bộ
thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bảo đảm
ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao chất lượng mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền
kinh tế. Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số,
kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Gắn kết hài hoà, hiệu quả thị trường trong
nước và ngoài nước.
Bốn là, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân
dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng,
binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng
Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây
dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện
đại; bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu,
nhiệm vụ trong mọi tình huống.
Năm là, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại
độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa
dạng hóa quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng,
hiệu quả. Ưu tiên quan hệ với các nước láng giềng có chung biên giới. Tích cực
tham gia củng cố, xây dựng, định hình các cơ chế đa phương, luật pháp quốc tế.
Tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ
Tổ quốc.
Cùng với quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện thắng lợi những
chủ trương, quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Đảng về nhiệm vụ bảo
vệ Tổ quốc trong tình hình mới, chúng ta cần nêu cao cảnh giác, đấu tranh làm
thất bại những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt
Nam của các thế lực thù địch. Gắn kết chặt chẽ “ý Đảng” với “lòng dân”, phát
huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào, tự tôn, tinh thần đoàn kết của dân tộc
Việt Nam là con đường duy nhất đúng đắn để bảo vệ vững chắc Tổ quốc và “xây
dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”
theo Di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.
Cảnh giác với luận điệu sai trái về Quân đội
Các thế lực thù địch sử dụng chiến lược “diễn
biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, tiến hành nhiều thủ đoạn, nhiều
hướng tấn công theo phương châm đánh “mềm, ngầm, sâu” trên các lĩnh vực của đời
sống xã hội và tác động đến mọi đối tượng bằng con đường kích động “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa” làm suy yếu nội bộ bên trong nước ta và tiến tới bạo
loạn lật đổ chế độ chính trị. Đặc biệt, chúng tập trung chống phá Quân đội nhân
dân Việt Nam bằng nhiều thủ đoạn thâm độc, như đưa ra luận điệu sai trái:“Quân đội không cần thực hiện
mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Để nhận diện và đấu tranh bác bỏ luận
điệu sai trái này, chúng ta cần làm rõ một số nội dung cơ bản sau:
1. Nhận diện thực chất quan
điểm sai trái, kích động “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội” của các thế lực thù địch.
Các thế lực thù địch thực hiện “diễn biến hòa bình” để chống phá
cách mạng Việt Nam, với mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam, làm chuyển hóa chế độ theo chủ nghĩa tư bản. Chúng tiến hành nhiều thủ
đoạn tinh vi, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, theo lộ trình 5 hóa, trong
đó có “vô hiệu hóa quân đội”. Bởi lẽ, các thế lực thù địch đã đưa ra nhận định
rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam đang nắm chắc “Quân đội, Công an” nên chưa thể lật
đổ được vai trò cầm quyền, lãnh đạo của Đảng được.
Chúng xác định muốn “vô hiệu hóa quân đội” thì phải theo kịch
bản, con đường “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam. Bản chất của âm
mưu, thủ đoạn này là tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam, mà trước hết tập trung kích động để Quân đội không còn trung thành với mục
tiêu lý tưởng “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, góp phần làm biến chất
chính trị của đội quân cách mạng.
2. Nhận diện phương thức tác động
của các thế lực thù địch theo kịch bản làm cho “Quân đội không cần thực hiện
mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.
Trước hết, các thế lực thù địch thực hiện thủ đoạn lấy
tư tưởng là khâu đột phá gây mơ hồ về mục tiêu lý tưởng chiến đấu của Quân đội,
với các luận điểm sai trái: “quân đội là trung lập”, “quân đội đứng ngoài chính
trị”, “quân đội không cần tham gia chính trị”. Hai là, “phủ nhận bản chất giai cấp công nhân của
quân đội”. Ba là, phủ nhận chức
năng, nhiệm vụ giai cấp của Quân đội; đề cao “tính nhân dân, tính dân tộc của
quân đội”. Bốn là, sử dụng con đường
vòng là kích động truyền bá lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, buông thả,
thờ ơ với chính trị để làm suy thoái về đạo đức, lối sống dẫn đến suy thoái về
tư tưởng chính trị và phai nhạt về mục tiêu, lý tưởng trong đội ngũ cán bộ,
chiến sĩ. Năm là, sử dụng một số hình
thức khác như đưa ra kiến nghị với Đảng, Quân ủy Trung ương, Tổng cục Chính trị
để sửa đổi một số văn bản, chế độ mà lâu nay đã trở thành nét đẹp trong truyền
thống của Quân đội ta…
3. Nhận diện đối tượng tác
động, lực lượng và phương tiện tung hô luận điệu: “Quân đội không cần thực hiện
mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.
Về đối tượng, các thế lực thù địch lựa chọn để tác
động làm phai nhạt, xa rời mục tiêu: “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của
Quân đội ta là tập trung vào lực lượng thanh niên quân đội. Bởi lẽ, chúng nhận
định rằng đội ngũ cán bộ, sĩ quan cao cấp của Quân đội là những người được trải
nghiệm qua thực tiễn, có bản lĩnh chính trị vững vàng nên khó làm chuyển hóa về
chính trị. Trái lại, lực lượng thanh niên quân đội là thế hệ trẻ nhưng là nguồn
kế cận thay thế đội ngũ cán bộ cao cấp trong tương lai, nếu tác động làm phai
nhạt lý tưởng chiến đấu ở đối tượng thanh niên quân đội thì dễ chuyển hóa hơn.
Về lực lượng thực hiện thủ đoạn “Quân đội không cần thực
hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Các thế lực thù địch trong
thời gian qua đã kết hợp lực lượng bên ngoài nước với lực lượng bên trong nước
để chống phá Quân đội, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội
ta. Chú trọng xây dựng lực lượng cơ hội chính trị, “ngọn cờ cực đoan”; lôi kéo,
mua chuộc một số ít cán bộ, sĩ quan, quân nhân bị tha hóa về phẩm chất (có cả
cán bộ cấp cao đã nghỉ hưu) và trọng dụng lực lượng tri thức ở hải ngoại viết
bài, đưa tin trên các trang mạng, blog, diễn đàn để “phi chính trị hóa” quân
đội. Với chiêu trò đưa ra các luận điểm sai trái theo phương châm “đúng sai lẫn
lộn”, “đổi trắng thay đen”, “phủ nhận quan điểm mácxít về vai trò, chức năng
của quân đội cách mạng” để gây mơ hồ ảo tưởng về mục tiêu lý tưởng chiến đấu
của Quân đội.
Về phương tiện: Chúng triệt để lợi dụng công nghệ thông tin,
Internet và các trang mạng xã hội nhằm thu hút đông đảo các thành phần xã hội
quan tâm, trong đó có một bộ phận cán bộ, chiến sĩ. Nếu cán bộ, chiến sĩ quân
đội không có bản lĩnh chính trị vững vàng, phân biệt rõ đúng sai mà bị kích
động và nhận thức không đúng đắn về sự thống nhất giữa mục tiêu lý tưởng chiến
đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam với mục tiêu, lý lưởng chiến đấu của Quân đội ta
thì tác hại rất lớn. Tác hại đó không chỉ gây mơ hồ, ảo tưởng về nhận thức tư
tưởng chính trị mà nguy hại hơn nữa là sẽ dẫn đến hành động lệch lạc trong thực
hiện nhiệm vụ chính trị nói chung và thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam trong giai đoạn mới.
4. Để đấu tranh bác bỏ âm mưu,
thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, Quân đội ta phải thường xuyên giữ vững, tăng
cường vai trò lãnh đạo và kiên định với mục tiêu lý tưởng của Đảng Cộng sản
Việt Nam, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của chúng.
Phát huy vai trò chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Quân ủy Trung ương, Ban
Chỉ đạo 35, cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng đối với các cấp ủy đảng trực
thuộc, thường xuyên nắm chắc và nhận diện đúng bản chất, âm mưu, thủ đoạn của
các thế lực thù địch nhằm vô hiệu hóa Quân đội ta về chính trị.
Nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, xây dựng Quân đội tinh
nhuệ về chính trị làm cơ sở để nâng cao nhận thức, tính đảng, tính khoa học
trong tổ chức hoạt động đấu tranh bác bỏ luận điệu sai trái: “Quân đội không
cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của các thế lực thù
địch cho cán bộ, đảng viên và chiến sĩ. Thực hiện tốt công tác quản lý chính
trị nội bộ, ngăn chặn và đập tan các hoạt động chiến tranh tâm lý, tình báo của
các thế lực thù địch. Chú trọng cơ chế phối hợp hoạt động giữa các tổ chức, lực
lượng để vạch trần và đấu tranh bác bỏ luận điểm xuyên tạc trên lĩnh vực tư
tưởng chính trị, nhất là luận điệu sai trái: “Quân đội không cần thực hiện mục
tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của các thế lực thù địch… Theo đó,
khẳng định Quân đội nhân dân Việt Nam – Một Quân đội khó khăn nào cũng vượt
qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng, luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc
và nhân dân, luôn cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện khát vọng xây dựng nước
Việt Nam phồn vinh, nhân dân hạnh phúc./.
NHỮNG THÀNH TỰU PHÁT TRIỂN MỌI MẶT CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
Thời gian qua, Đảng, Nhà nước Việt Nam tiếp tục huy động nguồn lực nhằm phát triển kinh tế,
văn hóa, xã hội trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc
thiểu số đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong bối cảnh hiện nay. Và những thành tựu trên
tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã minh
chứng cho tính đúng đắn trong các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước. Cụ thể
như:
Về chính trị, số đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số ngày càng tăng qua các kỳ bầu cử,
trong đó Quốc hội Khóa XV đã có 89/499 đại biểu là người dân tộc thiểu số, chiếm tỷ lệ 17,84%,
cao nhất trong các khóa Quốc hội. Đồng thời, các dân tộc thiểu số có dân số đông như Tày, Thái,
Mông, Mường, Khmer, Nùng... đều có đại diện qua các khóa của Quốc hội và các dân tộc thiểu
số có dân số dưới 10.000 người đã có đại biểu tham gia Quốc hội khóa XV (như các dân tộc
Mảng, Lự, Brâu...). Đến nay, có 51/53 dân tộc thiểu số đã có đại diện tham gia Quốc hội các
khóa, chỉ còn 2 dân tộc Ơ đu và Ngái là chưa có đại diện tham gia Quốc hội. Đồng thời, tỷ lệ
cán bộ, công chức, viên chức là người dân tộc thiểu số ở các cấp ngày càng chiếm tỷ lệ cao (đến
tháng 5/2023 tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức là người dân tộc thiểu số chiếm 11,5% trên tổng
số cán bộ, công chức, viên chức).
Về kinh tế, văn hóa, xã hội, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được nâng lên rõ
rệt trên tất cả các phương diện. Tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số đến năm 2023 còn khoảng 33%
(giảm 5,62%) so với chỉ tiêu được giao; có 7,9 triệu lao động người dân tộc thiểu số có việc làm,
chiếm 82,1% tổng số người dân tộc thiểu số từ 15 tuổi trở lên; tỷ lệ thất nghiệp của người dân tộc
thiểu số chỉ là 1,4%, thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp chung của toàn quốc; 96,12% người dân tộc thiểu
số được sử dụng thẻ bảo hiểm y tế; số người nghèo, người dân tộc thiểu số tham gia thực hiện
khám chữa bệnh bảo hiểm y tế đạt gần 43 triệu lượt người, chiếm 24% số người tham gia bảo
hiểm y tế toàn quốc. Đồng thời, các chính sách bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, chữ
viết, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội truyền thống, giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các dân
tộc thiểu số được thực hiện hiệu quả. Nhiều lễ hội truyền thống của đồng bào các dân tộc được
phục hồi, phát triển, góp phần giữ gìn bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc trong cộng đồng quốc gia
dân tộc Việt Nam. Theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ và ngành quản lý nhà nước về tôn
giáo, hiện nay nước ta có khoảng 2,8 triệu người dân tộc thiểu số theo tôn giáo (chiếm khoảng
20% dân số là người dân tộc thiểu số) với 16 tôn giáo được nhà nước cấp phép hoạt động.
Do đó, việc Vàng Chỉnh Mình cùng số đối tượng trong tổ chức “Liên minh người Mông vì công
lý” cho rằng “người dân tộc thiểu số ở Việt Nam vẫn bị phân biệt đối xử, bị chính quyền quản
chế khiến không phát triển được, yêu cầu quốc tế can thiệp bằng hình thức khảo sát, phỏng vấn
thực tế vùng đồng bào dân tộc Mông tại Việt Nam, nhất là người Mông tại các tỉnh Tây Nguyên”
là hoàn toàn sai sự thật, không có căn cứ thực tiễn.
NỖ LỰC CỦA VIỆT NAM TRONG ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI
Tôn trọng, bảo đảm quyền con người là quan điểm, chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước
Việt Nam, được quy định trong Hiến pháp, pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ, được cụ thể
trong các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với từng giai đoạn phát triển
của đất nước, luôn được thể hiện tích cực, có trách nhiệm trong quá trình triển khai các nghĩa vụ
và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết về quyền con người.
Hiện nay, các quyền tự do cơ bản của con người được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam năm
2013, được bảo vệ và thúc đẩy bởi các văn bản pháp luật cụ thể và được thể hiện minh chứng
sống động thông qua thực tiễn đời sống của người dân. Trong các lần phát biểu trước cộng đồng
quốc tế, các cơ quan báo chí, lãnh đạo Đảng, Nhà nước hay người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt
Nam luôn khẳng định, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là chính sách nhất quán của Nhà
nước Việt Nam. Việt Nam luôn xem con người là trung tâm, là động lực của quá trình đổi mới và
công cuộc phát triển đất nước, luôn nỗ lực vì mục tiêu nâng cao đời sống, quyền thụ hưởng của
người dân, không để ai bị bỏ lại phía sau.
Thông qua các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quyền
con người về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn
thương đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Thời gian qua, Việt Nam đã nỗ lực rất lớn trong
bảo đảm quyền con người, nhất là trong hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người theo
các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Cụ thể như trong Báo cáo
quốc gia UPR chu kỳ IV của Việt Nam đã được tiến hành một cách nghiêm túc, toàn diện, có sự
tham gia đầy đủ của các bên liên quan cũng như các cơ quan Liên hợp quốc tại Việt Nam. Ngày
10/5/2024, tại trụ sở Liên hợp quốc (Geneva, Thụy Sỹ), nhóm làm việc về Cơ chế rà soát định kỳ
phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (tại phiên họp thứ 46 của
nhóm làm việc về UPR của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc diễn ra từ ngày 29/4 đến ngày
10/5/2024) đã đồng thuận về Báo cáo quốc gia UPR chu kỳ IV của Việt Nam và ghi nhận, đánh
giá cao về vấn đề bảo đảm quyền con người ở Việt Nam trong những năm qua.
Trong đó, những dẫn chứng cụ thể được ghi nhận như thành tựu của Việt Nam về giảm nghèo đa
chiều bền vững, đảm bảo an sinh xã hội (hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp...), nâng cao đời sống của người dân, đảm bảo quyền cho các nhóm dễ bị tổn thương (phụ
nữ, trẻ em, người nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người có
HIV/AIDS...) và các hoạt động đối thoại, hợp tác quốc tế và khu vực về quyền con người mà
Việt Nam đã tham gia. Cụ thể như từ năm 2009 đến nay, GDP theo đầu người ở Việt Nam đã
tăng 25%, tỷ lệ hộ nghèo giảm 1,5% mỗi năm. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng từ 81% (vào
năm 2016) tăng lên 92% (năm 2022). Tỷ lệ hộ dân sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh đạt 98,3%
(tăng gần 1 điểm % so với năm 2018). Đến tháng 9/2023, Việt Nam đã có 78 triệu người sử dụng
Internet (tăng 21% so với số thuê bao năm 2019), 96,6% triệu thuê bao băng rộng di động (tăng
38% so với năm 2019). Đến nay, có 72.000 hội hoạt động ở Việt Nam thường xuyên, tích cực
tham gia đóng góp vào xử lý các vấn đề kinh tế - xã hội quan trọng của đất nước. Các phương
tiện truyền thông, báo chí và Internet phát triển mạnh mẽ và trở thành diễn đàn ngôn luận của
người dân, các tổ chức xã hội, là công cụ giám sát thực thi chính sách, pháp luật, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của người dân.
Về lĩnh vực xây dựng văn bản luật, từ năm 2019 đến năm 2023, Việt Nam đã nỗ lực xây dựng
Nhà nước pháp quyền với 44 luật được thông qua, trong đó có nhiều văn bản luật quan trọng liên
quan đến quyền con người, quyền của công dân như: Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022,
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022, Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023... Đồng
thời, Việt Nam cũng đã gia nhập thêm Công ước thứ 98 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về
quyền tổ chức và thương lượng tập thể, Công ước 105 của ILO về xóa bỏ lao động cưỡng bức và
tham gia đàm phán, chính thức tham gia thỏa thuận toàn cầu về di cư an toàn và trật tự...
Về quan hệ đối ngoại, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao Đối tác chiến lược toàn diện với
8 quốc gia (Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia, Pháp); quan hệ
Đối tác Chiến lược với 11 quốc gia (Tây Ban Nha, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland,
Đức, Ý, Pháp, Indonesia, Thái Lan, Singapore, Malaysia, Philippines, New Zealand) và quan hệ
Đối tác toàn diện với 13 quốc gia (Nam Phi, Venezuela, Chile, Brasil, Argentina, Ukraina, Đan
Mạch, Myanmar, Canada, Hungary, Brunei, Hà Lan).
Không chỉ nỗ lực thực hiện các cam kết quốc tế về bảo đảm quyền con người, thời gian qua Việt
Nam luôn chủ động, tích cực, có nhiều đóng góp trong lĩnh vực thúc đẩy và bảo vệ quyền con
người trong khu vực và trên thế giới. Minh chứng rõ nét nhất cho điều đó là thông qua mức độ
tín nhiệm với tỷ lệ phiếu đồng thuận rất cao khi Việt Nam ứng cử tham gia thành viên Hội đồng
Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025 và đã có nhiều sáng kiến về bảo đảm quyền
con người, quyền lợi của các nước đang phát triển, quyền của các nhóm yếu thế... được cộng
đồng quốc tế và các quốc gia ghi nhận, đánh giá cao. Đó là những minh chứng điển hình về
những thành tựu trong bảo đảm quyền con người của Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Những minh chứng thực tế về nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người
đã phản bác về những luận điệu của Vàng Chỉnh Mình và số đối tượng chống phá khi cho rằng
“tình trạng nhân quyền ở Việt Nam ngày càng tệ đi không thể cải thiện được”. Thật khôi hài khi
các đối tượng phớt lờ sự thật, vẫn cố tình nhắm mắt không thấy, không nghe để vu cáo, xuyên
tạc.
ĐỐI TƯỢNG VÀNG CHÍNH MINH CÔNG KHAI CHỐNG PHÁ TRÊN CÁC SỰ KIỆN, HỘI NGHỊ QUỐC TẾ
Vàng Chỉnh Mình cùng các đối tượng chống phá Nhà nước đã nhiều lần trực tiếp tham gia các sự
kiện, hội nghị quốc tế do Liên hợp quốc chủ trì, Việt Nam là thành viên với tư cách là khách mời
hoặc “nhân chứng sống” để chất vấn, đối thoại với đoàn Việt Nam về tình hình người Mông
trong nước. Tại phiên kiểm điểm tình hình thực hiện Công ước về chống mọi hình thức phân biệt
chủng tộc của Việt Nam trước Ủy ban theo dõi công ước của Liên hợp quốc tại Geneva, Thụy Sĩ
và Hội nghị cấp Bộ trưởng các quốc gia về tự do tôn giáo được tổ chức tại Praha, Cộng hòa Séc,
Vàng Chỉnh Mình cùng các đối tượng đã tổ chức tuyên truyền, tán phát, livestream trên các trang
mạng với các nội dung chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, cho rằng: “Việt Nam không thực
hiện đúng các cam kết với Liên hợp quốc, đại diện Việt Nam báo cáo không trung thực, không
đúng với câu hỏi của Liên hợp quốc về cải thiện tình hình tôn giáo, cũng như chống mọi hình
thức phân biệt chủng tộc”; “người dân tộc thiểu số ở Việt Nam vẫn bị phân biệt đối xử, bị chính
quyền quản chế khiến không phát triển được, yêu cầu quốc tế can thiệp bằng hình thức khảo sát,
phỏng vấn thực tế vùng đồng bào dân tộc Mông tại Việt Nam, nhất là người Mông tại các tỉnh
Tây Nguyên”. Đồng thời, đối tượng còn bình luận, công kích mang tính xúc phạm đối với cá
nhân đồng chí Y Thông, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc, Trưởng đoàn đại diện Việt Nam tại Ủy
ban Công ước CERD.
Gần đây, ngay sau khi đoàn đại biểu Việt Nam do Thứ trưởng Ngoại giao Đỗ Hùng Việt dẫn đầu
tham gia phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát
(UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc tại trụ sở Liên hợp quốc tại Genevea
(Thụy Sĩ) vào ngày 7/5/2024, Vàng Chỉnh Mình, Nguyễn Văn Đài (là đối tượng cầm đầu của
“Hội Anh em dân chủ”, đã từng bị TAND TP Hà Nội tuyên phạt 15 năm tù về tội “Hoạt động
nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”) cùng số đối tượng trong tổ chức Việt Tân đã tổ chức
livestream trên các trang mạng xã hội để tuyên truyền xuyên tạc. Các đối tượng cho rằng “tình
trạng nhân quyền ở Việt Nam ngày càng tệ đi và lần này cũng như vậy, sau buổi báo cáo này tình
trạng nhân quyền vẫn không thể cải thiện được”... Đây là những luận điệu quen thuộc của Vàng
Chỉnh Mình, Nguyễn Văn Đài cùng số đối tượng chống đối nhằm tuyên truyền xuyên tạc tình
hình nhân quyền ở Việt Nam, đồng thời chống phá Đảng, Nhà nước ta, hạ thấp uy tín, vai trò của
Việt Nam trước cộng đồng quốc tế, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
Vấn đề Đức và Tài,
“Hồng” và “Chuyên” của người cán bộ
Cứ đến dịp 19 tháng 5, mỗi người dân Việt Nam
lại nhớ đến Chủ tịch Hồ Chí Minh – Lãnh tụ kính yêu, vĩ đại của dân tộc Việt Nam.
Dù Bác đã đi xa, nhưng đạo đức, phong cách, tư tưởng của Người vẫn luôn gần gũi
với mỗi người dân Việt Nam; định hướng, soi đường cho mỗi cán bộ đảng viên. Đức
và Tài, “Hồng” và “Chuyên” là một trong những tư tưởng như vậy.
Sinh thời, trong quá trình xây dựng
đội ngũ cán bộ, đảng viện, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo bồi dưỡng, giáo
dục rèn luyện về mọi mặt cả phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, cả trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ. Những phẩm chất nhân cách đó của người cán bộ, đảng viên
đã được Hồ Chí Minh khái quát ngắn gọn trong hai chữ Đức và Tài. Từ đó đức và
tài đã trở thành tiêu chuẩn, giá trị cơ bản cho mỗi người cán bộ, đảng viên
phấn đấu, rèn luyện và cũng là tiêu chuẩn cơ bản để xem xét, đánh giá, bồi
dưỡng, sử dụng cán bộ, đảng viên.
Trước
lúc đi xa, Người còn căn dặn: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách
mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội
vừa “hồng” vừa “chuyên”. Ở
đây, Người đã đi đến một sự khái quát mới về những phẩm chất, nhân cách của
người đoàn viên thanh niên và rộng hơn của tất cả những người xã hội chủ nghĩa,
trong đó có đội ngũ cán bộ, đảng viên là vừa “hồng” lại phải vừa “chuyên”.
“Hồng” ở đây có thể được hiểu bao
gồm cả phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, là lòng trung
thành vô hạn đối với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, với chế độ xã hội chủ
nghĩa; là trình độ giác ngộ mục tiêu; lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, sẵn sàng chiến đấu hy sinh cho mục tiêu, lý tưởng cao đẹp đó.
“Hồng” còn thể hiện ở đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư,
thể hiện ở lối sống giản dị, trong sạch, lành mạnh.
“Chuyên” ở đây bao gồm trình độ,
năng lực chuyên môn nghiệp vụ. “Chuyên” không chỉ là làm chủ được tri thức khoa
học, có sự hiểu biết thấu đáo về lĩnh vực chuyên môn mà mình hoạt động, mà
“chuyên” còn bao gồm cả kỹ năng thực hành. Dù hoạt động trên bất cứ lĩnh vực
chuyên môn nào, thì người có “chuyên” phải là người có sự hiểu biết thấu đáo và
thực hành thành thạo các công việc mà mình đảm nhiệm. Người chỉ rõ: Đảng yêu
cầu cán bộ và đảng viên chẳng những thạo về chính trị mà còn giỏi về chuyên
môn, không thể lãnh đạo chung chung.
Trong khi yêu cầu phải đào tạo cán
bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên – những con người xã hội chủ nghĩa phải
vừa “hồng”, vừa “chuyên” không phải ngẫu nhiên mà người đặt chữ “hồng” lên
trước. Cũng như khi nói đến đức và tài, bao giờ người cũng coi “đức” là gốc, và
người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được
nhiệm vụ cách mạng vẻ vang.
Mặt khác, giữa “hồng” và “chuyên” Hồ
Chí Minh không xem nhẹ mặt nào, mà Người yêu cầu cán bộ, đảng viên, đoàn viên,
thanh niên vừa “hồng” vừa “chuyên” không phải chỉ có “hồng” mà không có
“chuyên” càng không phải chỉ có “chuyên” mà không có “hồng” cũng như vừa
có đạo đức, lại phải vừa có tài. Có tài mà không có đức, ví như một anh làm
kinh tế, tài chính rất giỏi, nhưng lại đi đến thụt két, thì chẳng những không
làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà
không có tài, ví như ông bụt không làm hại gì, nhưng cũng không mang lợi ích gì
cho loài người.
Là người Cha thân yêu của các lực
lượng vũ trang nhân dân, trong quá trình giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ
Quân đội ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thường xuyên quan tâm, bồi dưỡng rèn luyện
cả đức và tài, cả “hồng” và “chuyên” để không ngừng hoàn thiện nhân cách “Bộ
đội Cụ Hồ”. Trong thư gửi Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, người căn dặn phải ra
sức thi đua: luyện tập thân thể cho mạnh mẽ, nghiên cứu kỹ thụât cho thông
thạo, trau dồi tinh thần cho vững chắc, hun đúc đạo đức người quân nhân cách
mạng cho vững vàng. Bởi vì, theo Người, nếu anh em tư tưởng, chính trị vững
vàng, thân thể khoẻ mạnh thì ta nhất định thắng.
Nhớ đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi
cán bộ, đảng viên, đoàn viên, cán bộ, chiến sĩ quân đội, cùng toàn thể nhân dân
Việt Nam luôn khắc ghi lời căn dặn của Bác Hồ; nguyện học tập và làm theo tư
tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; kiên quyết đấu tranh phản bác các quan
điểm sai trái, xuyên tạc, bôi nhọ thân thế, sự nghiệp và tư tưởng của Người./.
“LIÊN MINH NGƯỜI MÔNG VÌ CÔNG LÝ” – TỔ CHỨC PHẢN ĐỘNG, CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚC
“Liên minh người Mông vì công lý” – “Hmong United For Jutice - HUJ” là tổ chức được đối
tượng Vàng Chỉnh Mình thành lập vào năm 2016 nhằm tập hợp những trường hợp là người dân
tộc Mông ở Việt Nam có các hoạt động chống phá chính quyền ở bên ngoài. Vàng Chỉnh Mình
cùng Lý A Chà, Giàng A Da và một số đối tượng khác đã nhiều lần tổ chức ra mắt tổ chức trên
dưới các khẩu hiệu cho rằng “Hmong United For Jutice” là tổ chức của những người hoạt động,
đấu tranh về dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo cho người Mông Việt Nam. Vàng Chỉnh Mình
cùng các đối tượng trong “Hmong United For Jutice” đã thành lập một số trang Web, YouTube
như: “Hmong United for Justice”, “Hmong Human Rights Coalition”, “Against Religion
Oppression”, “Xaivcialis CMA”, các trang facebook cá nhân có tên “Kev Vaam Meej”, “Ntsuab
Zoov”, “Johnny Huy”… để tuyên truyền, xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam dưới
chiêu bài dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo.
Trên các trang mạng xã hội này, Vàng Chỉnh Mình cùng số đối tượng cầm đầu trong cái gọi là
“Hmong United For Jutice” đã tuyên truyền xuyên tạc chống phá chế độ, đi ngược lại với chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vu cáo Việt Nam vi phạm dân
chủ, nhân quyền với những luận điệu cho rằng “Người Mông, đặc biệt là người Mông theo đạo
tại Việt Nam bị phân biệt đối xử; bị cướp đất, cướp rừng, bao vây, cô lập, sách nhiễu, bức hại,
thực hiện chế độ diệt chủng, coi người Mông là mối đe dọa nguy hiểm tại khu vực các tỉnh phía
Bắc”… Thậm chí, trên các trang mạng xã hội này, Vàng Chỉnh Mình và đồng bọn còn phủ nhận
phong tục tập quán truyền thống của người Mông, hướng dẫn người Mông theo đạo cách đối phó
với chính quyền, lực lượng Công an khi bị gọi hỏi, làm việc; lôi kéo và hướng dẫn đồng bào dân
tộc cách thu thập thông tin, cách làm báo cáo phản ánh việc cấp ủy, chính quyền đàn áp tôn giáo,
dân tộc gửi cho Vàng Chỉnh Mình và cộng đồng người Mông ở hải ngoại để gửi lên các Thượng
nghị sĩ và Bộ Ngoại giao Mỹ, từ đó gây sức ép đối với Việt Nam. Vàng Chỉnh Mình cho rằng
người Mông ở Việt Nam hãy đồng lòng chung tay đấu tranh đòi quyền lợi, đòi quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo; cùng nhau lập “con đường riêng” tham gia tổ chức “Liên minh người Mông vì
công lý – Hmong United For Jutice”.
Gần đây, trong khi cả hệ thống chính trị và toàn xã hội chung tay góp sức, vào cuộc quyết liệt để
ứng cứu, khắc phục hậu quả của cơn bão số 3, tổ chức “Liên minh người Mông vì công lý” đã
nhân danh mục tiêu “bảo vệ quyền lợi cho người dân tộc Mông” để gây ảnh hưởng, bành trướng
lực lượng, lôi kéo người ủng hộ mà cái đích là thực hiện hành vi chống phá Đảng, Nhà nước Việt
Nam khi cho rằng: “Bão lũ là do cán bộ chặt phá hết rừng”; “tiền quyên góp ủng hộ đồng bào bị
sạt lở sẽ chảy vào túi quan”; “chỉ có lập “Nhà nước Mông”, lúc đó mới có nhiều ruộng, nương,
không có làm cũng có ăn.
Biện pháp ngăn chặn những tin đồn thất thiệt
Tin đồn thất thiệt là những tin đồn không có thật, hoặc những
tin đồn được xem là những lý giải chưa được kiểm chứng về một sự kiện, hiện
tượng, tình huống, hay vấn đề mà công chúng quan tâm, và được truyền từ người
này sang người khác. Đồng thời, tin đồn thất thiệt là những thông tin được
truyền cho nhau một cách không chính thức, chưa nắm rõ nguồn gốc, chưa được bảo
đảm về tính chính xác mà lại được nhiều người quan tâm. Vì vậy, tin đồn thất
thiệt thường được hiểu theo nghĩa tiêu cực và được một số người sử dụng phục vụ
cho mục đích xấu.
Hệ lụy của tin đồn thất thiệt tác động trực tiếp đến tâm lý, gây
căng thẳng trong nhân dân, nhất là những tin đồn ở thời điểm nhạy cảm, gắn với
những sự kiện làm rung động thế giới như động đất, sóng thần, ví dụ như, tin
đồn mưa axít, mây phóng xạ đã khiến nhiều người bỏ bê công việc, học hành,
không dám ra đường. Tin đồn ngân hàng đổi tiền khiến nhiều người tìm cách mua
vàng tích trữ và lo lắng lạm phát. Tin đồn sập cầu khiến nhiều người không dám
qua cầu, họ cũng tìm cách ngăn chặn con em mình đi qua cầu. Tin đồn ăn bưởi, ăn
hạt dưa, trứng, ớt, ăn cá rô đầu vuông bị ung thư cũng làm nhiều người tẩy chay
thực phẩm…
Tác động xã hội của tin đồn thất thiệt còn kéo theo nhiều hệ
lụy, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống người dân: lao động bị đình trệ, đứt
nghẽn các hoạt động hành chính, kinh tế. Nhà sản xuất cũng bị tác động mạnh,
thậm chí nhiều doanh nghiệp rơi vào phá sản vì hàng hóa ế đọng, không thể tiêu
thụ, trong khi người dân điêu đứng (như tin đồn trứng gà giả, thực phẩm chứa
chất gây ung thư). Hay tin đồn ăn bưởi bị ung thư ở đồng bằng sông Cửu Long
cũng khiến người trồng bưởi ở đây nợ nần ngân hàng chồng chất vì bưởi đến mùa
thu hoạch mà không ai mua. Về mặt an ninh, tin đồn có thể gây bất ổn định, tạo
ra tâm lý lo lắng. Tại thủ đô Manila của Philippines, nơi khởi nguồn tin đồn
mưa axít khiến toàn bộ số thuốc Betadine tại các hiệu thuốc bị vét sạch, một
trường đại học phải tạm ngừng giảng dạy do lo lắng. Rõ ràng, tin đồn thất thiệt
ngày nay là một dạng “chiến tranh tâm lý” rất nguy hiểm. Các thế lực thù
địch và những đối tượng xấu còn sử dụng tin đồn thất thiệt như một thứ “vũ khí”
lợi hại để tấn công, hòng gây nhiễu loạn an ninh xã hội.
Để ngăn chặn những tin đồn thất
thiệt cần tập trung thực hiện một số biện pháp sau :
Một là, cơ quan nhà nước phải
chủ động thông tin đúng đắn, chính xác người dân cần phải tỉnh táo trước những
tin đồn thất thiệt
Để ngăn chặn những tin đồn thất thiệt, trước hết các cơ quan
quản lý nhà nước phải nắm bắt thông tin một cách kịp thời, nhanh chóng có phát
ngôn chính thống để bác bỏ các tin đồn thất thiệt. Khi có tin đồn thất thiệt
thuộc lĩnh vực bộ, ngành nào quản lý, nhất thiết phải cử cơ quan chuyên ngành
xác minh kịp thời, truy nguyên nguồn gốc, diễn biến hình thành tin đồn, đưa ra
kết luận để công bố trước công luận, không thể để chậm trễ, nhằm chủ động ngăn
chặn sự lan rộng của nó, hạn chế tác động tiêu cực. Nhanh chóng cung cấp thông
tin đầy đủ, chính xác về sự kiện đang xảy ra tin đồn thất thiệt. Việc công bố
có thể thực hiện ngay thông qua thông cáo báo chí trên các phương tiện truyền
thông để mọi người dân nắm được. Đồng thời có những biện pháp xử lý kiên quyết
những đối tượng cố tình tung tin đồn thất thiệt để trục lợi, phá hoại.
Về phía người dân, cần phải bình tĩnh, tỉnh táo trước những tin
đồn thất thiệt là điều cần thiết. Thực tế, nhiều người do không rõ thông tin
thực hư và cũng không có điều kiện tìm hiểu, đã hành động theo thói quen, theo
cảm tính hoặc theo phong trào. Trước những tin đồn thất thiệt, người dân phải thực
sự bình tĩnh, tự mình thẩm định, đánh giá thông tin hoặc chờ tin chính thống
được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Hai là, cần hình thành, phát triển sự
miễn dịch tâm lý đối với tin đồn thất thiệt trong quần chúng.
Hình thành, phát triển sự miễn dịch tâm lý tức là phải xây dựng
cho mỗi cá nhân cũng như cộng đồng xã hội một nền tảng vững về tri thức, làm
tăng sức đề kháng, làm cho tin đồn thất thiệt không có đất tồn tại. Do vậy, các
cấp, các ngành cần cung cấp thường xuyên, kịp thời, chính xác đường lối, quan
điểm của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước. Yêu cầu thực hiện nhiệm vụ
kinh tế – xã hội của địa phương; thông tin về những vấn đề nổi cộm, được dư
luận quan tâm, chú ý; tình hình âm mưu, thủ đoạn của kẻ xấu… Không đưa tin mập mờ
gây thắc mắc, tò mò, dễ hiểu nhầm. Báo chí và cơ quan chức năng cần thông tin,
hướng dẫn, góp phần ổn định tâm lý xã hội, hình thành dư luận tích cực, củng cố
niềm tin của công chúng. Chỉ khi công chúng tin vào báo chí và thông tin của
các cơ quan chức năng, để tự định hướng và miễn dịch với thông tin ngoài luồng,
không nguồn gốc, thì khi ấy, tin đồn thất thiệt dù có tai ác đến đâu cũng không
thể thâm nhập và gây hại cho đời sống cộng đồng.
Ba là, phát huy vai trò của báo chí
chính thống trong cuộc chiến chống tin đồn thất thiệt.
Một trong những lực lượng đóng vai trò quan trọng trong
việc cung cấp thông tin, định hướng dư luận xã hội đúng đắn là báo chí chính
thống. Song song với việc nâng cao nhận thức, định hướng dư luận xã hội, báo
chí chính thống cần nâng cao chất lượng nội dung thông tin, thông tin đầy đủ,
kịp thời, chính xác và trực diện, nhất là đối với các sự kiện, sự việc “nóng”,
được dư luận đặc biệt quan tâm. Nếu báo chí làm tốt chức năng, kịp thời thông
tin đúng đắn tuyên truyền thì chắc chắn sẽ dẹp bỏ được những thông tin giả,
thông tin thất thiệt. Thông tin giả, thông tin thất thiệt có đất sống hay không
hoàn toàn phụ thuộc vào việc cung cấp thông tin chính thống của các cơ quan báo
chí… Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Trương Minh Tuấn cho rằng: Báo chí
hiện nay đang có tình trạng bị mạng xã hội dẫn dắt, cần phải làm sao để chính
báo chí phải là hạt nhân dẫn dắt thông tin, định hướng những thông tin đúng
trên mạng xã hội, lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy tích cực để đẩy lùi tiêu cực,
định hướng và tuyên truyền thông tin tốt, để thông tin tốt ngày càng phát triển
và hạn chế nhiều hơn những thông tin xấu độc.
Bốn là, kiên quyết xử lý thích
đáng những đối tượng tung tin đồn thất thiệt.
Việc tung tin thất thiệt nhất là thông tin xấu độc gây hoang
mang dư luận xã hội là hành vi vi phạm pháp luật. Tùy thuộc vào nội dung, tính
chất, mức độ, động cơ của hành vi, hậu quả của việc tung tin thất thiệt như thế
nào sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý trách nhiệm hình sự. Theo
Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm,
uy tín như sau: danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và
được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, người nào tung tin đồn thất thiệt xâm phạm đến
danh dự, nhân phẩm, uy tín của một tổ chức, cá nhân cụ thể thì tổ chức, cá nhân
đó có quyền khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu người tung tin đồn phải xin lỗi và
bồi thường thiệt hại đồng thời còn có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm
ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, tổ chức.
Điều 258 Bộ luật hình sự năm
1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 về “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ
xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công
dân” có quy định: “Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo
chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân
chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,
công dân, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc
phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm
đến bảy năm.”
Nếu không xác định được chính xác người tung tin đồn thất thiệt
mà chỉ xác định được người đưa tin thì áp dụng theo quy định tại Điều 226 được
sửa đổi bởi Điều 27 Luật Hình sự sửa đổi năm 2009 về tội sử dụng trái
phép thông tin trên mạng và trong máy tính cụ thể như sau: “Người nào thực hiện
hành vi đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet những thông tin
trái với quy định của pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều
88 và Điều 253 của Bộ luật này xâm phạm lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân,
xâm phạm trật tự, an toàn xã hội gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ
mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc
bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị
phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức
vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
Vì vậy những người tung tin đồn thất thiệt lên mạng để
nhằm câu like hay nhằm thu lợi bất chính hoặc để thu hút sự chú ý nhằm quảng
cáo, bán hàng đều bị nghiêm trị trước pháp luật. Có thể bị xử phạt hành
chính hoặc bị xử lý hình sự tùy theo mức độ ảnh hưởng tới uy tín,
danh dự của cá nhân, tổ chức./.
VÀNG CHÍNH MINH – KẺ PHÁ HOẠI KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
Vàng Chỉnh Mình hay còn có tên gọi khác là Vàng Chẩn Mìn, sinh năm 1975, là người dân tộc
Mông, sinh ra và lớn lên tại thôn Khờ Chà Ván, xã Chí Cà, huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang. Từ
năm 1995, Vàng Chỉnh Mình cùng gia đình di cư đến thôn Nậm Nhừ 3, xã Chà Cang, huyện
Mường Lay, tỉnh Lai Châu cũ (nay là xã Nậm Nhừ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên).
Trong thời gian này, Vàng Chỉnh Mình đã tích cực tham gia các hoạt động tuyên truyền, phát
triển đạo trái pháp luật và bị Công an tỉnh Điện Biên bắt và xử lý hành chính nhiều lần vì có các
hoạt động gây phức tạp tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn. Trong cuộc sống thường ngày,
Vàng Chỉnh Mình đã có hành vi quan hệ bất chính với một phụ nữ đã có chồng, bị bắt quả tang
và sau đó hai bên gia đình tổ chức kiểm điểm, bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại.
Một số tài khoản mạng xã hội mà các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong người dân tộc Mông
ở nước ngoài sử dụng để tán phát các hoạt động tuyên truyền lập “Nhà nước Mông”.
Năm 2005, Vàng Chỉnh Mình từ tỉnh Điện Biên đã trốn sang Lào, sau đó sang Thái Lan và được
tổ chức “Cao ủy Liên hợp quốc về tị nạn – UNHCR” đưa sang Mỹ định cư theo diện tị nạn.
Trong thời gian này, Vàng Chỉnh Mình đã nhiều lần nhập cảnh vào Việt Nam để móc nối, chỉ
đạo cho số đối tượng chống đối ở trong nước tại các địa bàn Cao Bằng, Điện Biên, Lào Cai và
triệt để lợi dụng các trang mạng xã hội như Zalo, Facebook, Youtube, Viber... để tuyên truyền,
chống phá. Vàng Chỉnh Mình còn trực tiếp về khu vực giáp biên giới các tỉnh Điện Biên, Lai
Châu, Hà Giang để móc nối, lôi kéo số theo đạo Tin Lành là người dân tộc thiểu số đưa ra nước
ngoài nhằm huấn luyện đấu tranh “bất bạo động” dưới danh nghĩa tập huấn tôn giáo do tổ chức
“Ủy ban cứu trợ người vượt biển – BPSOS” tổ chức tại Thái Lan, Philippines, Đông Timor.
Vàng Chỉnh Mình còn tuyên truyền cho rằng, tổ chức “Ủy ban cứu trợ người vượt biển –
BPSOS” là tổ chức bảo vệ quyền lợi của người Mông Việt Nam tị nạn tại Thái Lan và kêu gọi
người Mông xuất cảnh ra nước ngoài tham gia các hoạt động tôn giáo. Vàng Chỉnh Mình đã hứa
hẹn sẽ đưa người Mông theo đạo bị đàn áp sang Thái Lan, Philippines để tiếp xúc với quốc tế,
Bộ Ngoại giao các nước, ai muốn sang Thái Lan, sang Mỹ sẽ được sung sướng như Vàng Chỉnh
Mình, nếu ai muốn đi thì Mình sẽ giúp đỡ.
Vàng Chỉnh Mình còn nhiều lần trả lời phỏng vấn Đài Tiếng nói Hoa Kỳ - VOA, gặp gỡ các
nghị sĩ, dân biểu Hoa Kỳ kêu gọi đưa Việt Nam trở lại danh sách “Các quốc gia cần quan tâm
đặc biệt về tự do tôn giáo – CPC”, đòi “tự do tôn giáo” và “quyền con người” và kêu gọi Nhà
nước Việt Nam trả tự do cho số đối tượng mà chúng gọi là “tù nhân lương tâm”.
Để thực hiện âm mưu chống phá Việt Nam, Vàng Chỉnh Mình đã lập nhiều tài khoản website,
email, Youtube, Facebook để thường xuyên đăng tải, chia sẻ các bài viết, hình ảnh, video clip có
nội dung vu cáo chính quyền Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp tôn giáo, xuyên tạc
chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia phản đối
các dự thảo Luật như: Luật An ninh mạng, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo hay đề nghị Mỹ can thiệp
gây sức ép để Việt Nam sửa đổi Điều 116 (Tội phá hoại chính sách đoàn kết) và Điều 331 (Tội
lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của
tổ chức, cá nhân) trong Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Cùng với đó, Vàng Chỉnh Mình đã lôi kéo người Mông theo đạo Tin Lành ở trong nước sang
Thái Lan để tham gia các lớp tập huấn về cái gọi là “xã hội dân sự”, trả lời phỏng vấn và cho
rằng đó là các “nhân chứng sống” để vu cáo chính quyền đàn áp tôn giáo. Vàng Chỉnh Mình
cùng Nguyễn Đình Thắng và một số đối tượng khác đã thông qua các phần mềm ứng dụng trực
tuyến để tham gia huấn luyện, đào tạo cho số đối tượng chống đối trong nước về cách thức đối
phó khi bị chính quyền, lực lượng Công an phát hiện về các vi phạm pháp luật liên quan đến dân
tộc, tôn giáo. Chúng đã tiến hành vận động Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn và chính phủ
các nước thân Mỹ nhằm chấp thuận cho một số người dân tộc thiểu số theo đạo Tin Lành, chủ
yếu là người Mông có hoạt động vi phạm pháp luật mà chúng cho rằng họ là những người “dám
công khai chống Việt Nam về dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo” hiện đang ở Thái Lan đến
định cư theo diện tị nạn.
TÍNH NHÂN VĂN, NHÂN ĐẠO TRONG CHÍNH SÁCH ĐẶC XÁ
Đặc xá là chính sách khoan hồng đặc biệt của Nhà nước đối với phạm nhân; thể hiện sự ghi nhận
kết quả cải tạo, chấp hành tốt các nội quy, quy định của phạm nhân; mở ra cơ hội mới đối với
những người đã từng lầm lỡ, lạc đường nay đã ăn năn, hối cải. Vì vậy, để được hưởng đặc xá,
các phạm nhân phải đáp ứng nhiều điều kiện về ý thức cải tạo, chấp hành án; thời gian chấp hành
án phạt tù; việc chấp hành hình phạt bổ sung, đóng án phí; việc chấp hành nghĩa vụ trả lại tài sản,
bồi thường thiệt hại… Đồng thời, pháp luật cũng quy định rõ các trường hợp không được đặc xá,
đó là các phạm nhân bị kết án phạt tù về tội phản bội Tổ quốc; tội hoạt động nhằm lật đổ chính
quyền nhân dân; tội gián điệp; tội xâm phạm an ninh lãnh thổ; tội khủng bố nhằm chống chính
quyền nhân dân; tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm
chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; tội phá rối an ninh… Đây là cơ sở để sàng lọc, bảo
đảm những người được hưởng đặc xá phải thực xứng đáng, tránh trường hợp sau khi được hưởng
khoan hồng lại tiếp tục thực hiện các hành vi vi phạm, gây hại cho Tổ quốc.
Đặc xá là chính sách thể hiện rõ tính nhân văn, nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta, là minh chứng
khẳng định Việt Nam luôn ưu tiên bảo đảm và thúc đẩy quyền con người. Không chỉ dừng lại ở
việc tha tù trước thời hạn, Đảng, Nhà nước còn thực hiện đồng bộ các giải pháp để những phạm
nhân sau khi được đặc xá có điều kiện thuận lợi trong tái hòa nhập cộng đồng, có việc làm ổn
định, trở thành người có ích cho xã hội, phòng ngừa tái phạm tội, vi phạm pháp luật. Để bảo đảm
công tác đặc xá năm 2024 mang lại hiệu quả cao nhất, cùng với việc rà soát, lập danh sách đề
nghị đặc xá, các cơ quan chức năng cũng đẩy mạnh tuyên truyền các quy định về đặc xá, đặc biệt
chú trọng giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội
và quần chúng nhân dân trong việc xóa bỏ thái độ kỳ thị đối với người được đặc xá. Đây là
những minh chứng rõ ràng về tính nhân văn, khách quan, công minh trong xét đặc xá, phản bác
các luận điệu xuyên tạc công tác đặc xá mà các thế lực thù địch, phản động đang cố tình bôi nhọ,
xuyên tạc.