Thứ Hai, 4 tháng 11, 2024

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân khác hẳn về chất so với sứ mệnh của các giai cấp trước đó

 


Mục tiêu cuối cùng mà sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân thực hiện là xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Giai cấp công nhân làm cách mạng nhằm xoá bỏ hoàn toàn chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, nguồn gốc sinh ra mọi áp bức bóc lột, bất công xã hội, chứ không phải thực hiện sự thay thế chế độ tư hữu này bằng chế độ tư hữu khác, hay thay đổi hình thức bóc lột này bằng hình thức bóc lột khác như trước đây.

Thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân nhằm mang lại lợi ích cho tất cả nhân dân lao động trên toàn thế giới, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Tất cả những phong trào lịch sử từ trước đến nay, đều là do thiểu số thực hiện, hoặc đều do mưu lợi ích cho thiểu số. Phong trào vô sản là phong trào độc lập của tuyệt đi đa số, mưu lợi cho tuyệt đại đa số”[1].

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là sự nghiệp cách mạng vừa mang tính dân tộc, vừa mang tính quốc tế, kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ dân tộc và nghĩa vụ quốc tế. Tính quốc tế do bản chất của giai cấp công nhân và yêu cầu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa quy định. Tuy nhiên, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân phải được giai cấp công nhân ở từng quốc gia dân tộc thực hiện trước hết ở nước mình, qua đó góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của giai cấp công nhân toàn thế giới. Điều đó đã được C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc. Đương nhiên là trước hết, giai cấp vô sản mỗi nước phải thanh toán xong giai cấp tư sản nước mình đã”[2]. Trong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân luôn phải giải quyết đúng đắn các mối quan hệ dân tộc và giai cấp, quốc gia và quốc tế.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 611.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 613.

Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

 


Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân một trong ba phát kiến vĩ đại của chủ nghĩa Mác. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là thực hiện sự chuyển biến cách mạng từ hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa sang hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa trên phạm vi toàn thế giới. Như vậy, thực chất nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi sự áp bức bóc lột, xây dựng xã hội cộng sản văn minh trên toàn thế giới. Ph.Ăng ghen đã viết: “Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy, - đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại”[1]. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là một quá trình kết hợp chặt chẽ và thống nhất biện chứng giữa xóa và xây (giữa cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới). Trong lịch sử, các cuộc cách mạng xã hội đều không xoá bỏ chế độ tư hữu và chỉ kết thúc khi chính quyền đã được chuyển từ tay giai cấp bóc lột cũ sang giai cấp bóc lột mới. Cuộc cách mạng xã hội do giai cấp công nhân thực hiện đoạn tuyệt triệt để nhất với chế độ sở hữu cổ truyền, việc thiết lập được chuyên chính vô sản mới chỉ là thắng lợi bước đầu, giai cấp công nhân và nhân dân lao động còn phải tiếp tục đấu tranh để cải tạo xã hội cũ, xây dựng một xã hội hoàn toàn mới. Trong đó, việc xây dựng xã hội mới có vị trí quan trọng và quyết định nhất đến thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải tiến hành cuộc đấu tranh liên tục bằng cách mạng xã hội chủ nghĩa, trải qua các giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất, giai cấp công nhân phải làm cuộc cách mạng xã hội, lật đổ chính quyền của giai cấp tư sản thiết lập chính quyền vô sản, phải “tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc”[2] và “phải tự nhận lấy sứ mệnh đại biểu cho toàn bộ lợi ích của một dân tộc và do đó lãnh đạo dân tộc ấy về chính trị”[3]. Giai đoạn thứ hai, sau khi giành được chính quyền, giai cấp công nhân phải  lãnh đạo và tổ chức xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa để tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Chưa đạt được mục tiêu cuối cùng này thì giai cấp công nhân cũng như toàn thể nhân dân lao động chưa được giải phóng hoàn toàn.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1994, tr. 393.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 624.

[3] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1993, tr. 530.

Phẩm chất và khả năng cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam

 


Cùng với quá trình phát triển của cách mạng, giai cấp công nhân Việt Nam sớm trở thành bộ phận của đội ngũ giai cấp công nhân quốc tế. Vì vậy, giai cấp công nhân Việt Nam vừa mang phẩm chất, khả năng cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế vừa mang phẩm chất và khả năng riêng có của mình, tựu trung lại ở mấy điểm sau:

Giai cấp công nhân Việt Nam có trí tuệ, bản lĩnh, ý thức tổ chức kỷ luật cao. Từ khi mới ra đời giai cấp công nhân Việt Nam đã sớm tiếp nhận và được trang bị vũ khí lý luận tiên tiến, khoa học, cách mạng là chủ nghĩa Mác - Lênin, hiện nay là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tuy không là sản phẩm trực tiếp của nền đại công nghiệp song được tôi luyện trong sự phát triển của đại công nghiệp, nên giai cấp công nhân Việt Nam mang trong mình ý thức tổ chức, kỷ luật cao. Trong đấu tranh giành chính quyền và xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là trong những bước ngoặt của lịch sử nhân loại và dân tộc, mặc dù bị kẻ thù tìm mọi cách đàn áp và phải đối đầu với vô vàn khó khăn thử thách song giai cấp công nhân Việt Nam vẫn giữ được bản lĩnh, vững vàng chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam giành từ thắng lợi lợi này đến thắng lợi khác.

Là giai cấp có khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mặc dù về số lượng, không chiếm t lệ đa số trong tng s dân cư song giai cấp công nhân Việt Nam đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, giữ vai trò quyết định trong việc phát triển, hoàn thiện phương thức sản xuất mới ở Việt Nam, sớm có hệ tư tưởng độc lập, tiên tiến. Lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân đối lập với lợi ích cơ bản của bè lũ xâm lược và tay sai nhưng phù hợp với lợi ích, khát vọng giải phóng của nhân dân lao động. Do đó, giai cấp công nhân có đủ điều kiện, khả năng trở thành lực lượng duy nhất tổ chức lãnh đạo các giai cấp và tầng lớp lao động khác trong công cuộc xoá bỏ áp bức, bóc lột, xây dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân. Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp công nhân đã tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng và tin cậy nhất của nhân dân”[1]. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, sau hơn 35 năm đổi mới, giai cấp công nhân nước ta đã có những chuyển biến quan trọng. Thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp công nhân là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng, đóng góp trực tiếp to lớn vào sự phát triển của đất nước, thực sự là lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng nước ta thực hiện công cuộc đổi mới và phát triển đất nước theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Giai cấp công nhân Việt Nam có tinh thần cách mạng triệt để. Trong suốt quá trình cách mạng, nỗi đau mất nước cộng với nỗi khổ vì bị áp bức bóc lột bởi giai cấp tư sản thực dân - đế quốc và tay sai, sớm chịu ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga, được tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc thống nhất, xuyên suốt là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội - khiến động cơ, nghị lực và tính triệt để cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam được nhân lên gấp bội.

Là giai cấp đoàn kết rộng rãi với các tầng lớp lao động khác trong xã hội. Giai cấp công nhân Việt Nam phần lớn xuất thân từ nông dân lao động, những tầng lớp lao động khác và là nạn nhân của chính sách chiếm đoạt, bóc lột thậm tệ của thực dân - đế quốc và tay sai thi hành ở nước ta, nên có quan hệ chặt chẽ và mật thiết với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, hình thành khối liên minh vững chắc giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Trong suốt quá trình cách mạng từ trước, trong đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân Việt Nam còn gắn bó mật thiết, có đóng góp quan trọng trong cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân quốc tế, đồng thời cũng nhận được sự giúp đỡ to lớn về nhiều mặt của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 407

Ý nghĩa nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học về lý luận

 


Nghiên cứu Chủ nghĩa xã hội khoa học giúp cho mọi người hiểu được chủ nghĩa Mác - Lênin một cách toàn diện, cân đối, đầy đủ và hoàn chỉnh. Nếu không chú ý nghiên cứu, học tập, vận dụng, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học sẽ làm cho triết học, kinh tế chính trị học Mác - Lênin dễ chệch hướng chính trị - xã hội, trước hết và chủ yếu là chệch hướng bản chất, mục tiêu là xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, giải phóng hoàn toàn xã hội và con người khỏi các chế độ tư hữu, áp bức, bất công, chiến tranh, nghèo nàn lạc hậu và mọi tai họa xã hội khác... mà thực tế lịch sử nhân loại đã từng chứng kiến. Trên cơ sở hiểu biết đầy đủ chủ nghĩa Mác, mỗi người sẽ có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về chủ nghĩa xã hội để có niềm tin, lý tưởng và bản lĩnh cách mạng; để vận dụng sáng tạo và phát triển đúng đắn lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đồng thời, trang bị vũ khí lý luận cho giai cấp công nhân và những người lao động để tìm ra con đường, biện pháp đấu tranh giải phóng mình khỏi chế đ sở hữu tư sản, ách áp bức bóc lột, bất công, xây dựng một xã hội thật sự công bằng, bình đẳng, vì sự tiến bộ của con người

Nghiên cứu, học tập Chủ nghĩa xã hội khoa học trang bị những nhận thức chính trị - xã hội (như đối tượng, chức năng, nhiệm vụ và phương pháp của chủ nghĩa xã hội khoa học) cho các đảng cộng sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân lao động trong quá trình bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội... Vì thế, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin có lý khi xác định rằng, Chủ nghĩa xã hội khoa học là vũ khí lý luận của giai cấp công nhân hiện đại và đảng của nó để thực hiện quá trình giải phóng nhân loại và giải phóng bản thân mình. Cũng như Triết học và Kinh tế chính trị học Mác - Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học không chỉ giải thích thế giới mà căn bản là ở chỗ cải tạo thế giới (cả tự nhiên, xã hội và bản thân con người) theo hướng tiến bộ, văn minh.

Nghiên cứu, học tập Chủ nghĩa xã hội khoa học giúp mỗi người có căn cứ nhận thức khoa học, tăng khả năng miễn dịch trước các quan điểm sai trái. Những kiến thức lý luận Chủ nghĩa xã hội khoa học trở thành nền tảng để cán bộ, nhân dân cảnh giác, phân tích đúng đắn và đấu tranh chống lại những nhận thức sai lệch, những tuyên truyền chống phá của chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động đối với Đảng ta, Nhà nước, chế độ ta; chống chủ nghĩa xã hội, đi ngược lại xu thế và lợi ích của nhân dân, dân tộc và nhân loại tiến bộ.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

 


Chủ nghĩa xã hội khoa học sử dụng phương pháp luận chung nhất của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu, luận giải những quy luật, tính quy luật chính trị - xã hội của quá trình phát sinh, phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Vì vậy, khi nghiên cứu, xem xét các hiện tượng chính trị - xã hội phải luôn quán triệt quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển. Quá trình phân tích các hiện tượng chính trị - xã hội phải gắn với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội nhất định. Phải tôn trọng khách quan, xuất phát từ điều kiện khách quan để tìm ra con đường, biện pháp cách mạng đúng đắn trong cải tạo, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Kiên quyết chống mọi biểu hiện chủ quan, duy ý chí, bất chấp quy luật khách quan; chủ động đề phòng, ngăn chặn khuynh hướng giáo điều, dập khuôn máy móc.

Phương pháp kết hợp lịch sử lôgíc

Trên cơ sở những tư liệu thực tiễn của các sự thật lịch sử mà phân tích để rút ra những nhận định, khái quát về lý luận có kết cấu chặt chẽ, khoa học - tức là rút ra được lôgíc của lịch sử, không dừng lại ở sự liệt kê sự thật lịch sử. Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa xã hội khoa học đã là những tấm gương mẫu mực về sử dụng phương pháp này khi phân tích lịch sử nhân loại, đặc biệt là về sự phát triển các phương thức sản xuất để rút ra được lôgíc của quá trình lịch sử, căn bản là quy luật mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa giai cấp bóc lột và bị bóc lột, quy luật đấu tranh giai cấp dẫn đến các cuộc cách mạng xã hội và do đó, cuối cùng đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản, dẫn đến chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Phương pháp kết hợp giữa lý luận với thực tiễn

Là một học thuyết chính trị - xã hội, Chủ nghĩa xã hội khoa học sử dụng phổ biến phương pháp kết hợp giữa lý luận với thực tiễn. Nếu thoát ly thực tiễn tình hình kinh tế, xã hội, giai cấp và đấu tranh giai cấp trong những giai đoạn lịch sử nhất định thì những nghiên cứu của Chủ nghĩa xã hội khoa học sẽ trở nên chung chung, trừu tượng, tư biện và không có sức thuyết phục, không mang lại hiệu quả, thậm chí phải trả giá đắt cho những quyết sách chính trị sai lầm từ suy diễn chủ quan. Do đó, phải từ thực tiễn chính trị - xã hội rút ra những kết luận về lý luận để từ đó quay lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Đồng thời, mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản phải có cơ sở lý luận thực tiễn đầy đủ, phải bám sát cuộc sống và tình hình chính trị - xã hội trong nước và quốc tế.

Phương pháp khảo sát và phân tích về mặt chính trị - xã hội dựa trên các điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể

Khi nghiên cứu, khảo sát thực tế, thực tiễn một xã hội cụ thể, đặc biệt là trong điều kiện của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội... phải luôn có sự nhạy bén về chính trị - xã hội trước tất cả các hoạt động và quan hệ xã hội, trong nước và quốc tế. Trong thời đại còn giai cấp và đấu tranh giai cấp, còn chính trị thì mọi hoạt động, mọi quan hệ xã hội ở các lĩnh vực, kể cả khoa học công nghệ, tri thức và sử dụng tri thức, các nguồn lực, các lợi ích... đều có nhân tố chính trị chi phối mạnh nhất, nhưng nó lại có vẻ “đứng đằng sau hậu trường” (thậm chí cố tình che đậy như trong các đảng và chính phủ tư sản cầm quyền). Không chú ý phương pháp khảo sát và phân tích về mặt chính trị - xã hội, không có nhạy bén chính trị và lập trường - bản lĩnh chính trị vững vàng thì dễ mơ hồ, nhầm lẫn, sai lệch.

Các phương pháp có tính liên ngành

Chủ nghĩa xã hội khoa học cần phải sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể của các khoa học xã hội khác như: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, điều tra xã hội học, sơ đồ hoá, mô hình hóa… để nghiên cứu những khía cạnh chính trị - xã hội của các mặt hoạt động trong xã hội có giai cấp, đặc biệt là trong chủ nghĩa tư bản và trong chủ nghĩa xã hội, trong đó có thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Đối tượng nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoa học

 


Chủ nghĩa xã hội khoa học trực tiếp nghiên cứu, luận chứng những quy luật và những vấn đề có tính quy luật chính trị - xã hội của quá trình phát sinh, hình thành và phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa; những điều kiện, con đường, hình thức, phương pháp đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, nhằm thực hiện sự chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới.

Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu cả phương diện khách quan và chủ quan của quá trình phát sinh, hình thành, phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Phương diện khách quan, Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu quy luật và tính quy luật chính trị - xã hội của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Quy luật chính trị - xã hội là những quy luật phản ánh mối quan hệ giữa người với người trong lĩnh vực chính trị - xã hội, thông qua các mối quan hệ cơ bản như quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc, quan hệ quốc gia, quan hệ quốc tế. Quy luật chính trị - xã hội, bao gồm quy luật, tính quy luật trong cuộc đấu tranh giành chính quyền của giai cấp công nhân; trong cải tạo, xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản; quá trình cách mạng thế giới trong thời đại hiện nay. Phương diện chủ quan là trên cơ sở quy luật, tính quy luật chính trị - xã hội, Chủ nghĩa xã hội khoa học đề ra con đường, hình thức, phương pháp đấu tranh cách mạng để thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Phạm vi đối tượng nghiên cứu của Chủ nghĩa xã hội khoa học là quá trình phát sinh hình thành phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, nó bao gồm các nhóm quy luật: Quy luật, tính quy luật  trong cuộc đấu tranh giành và giữ chính quyền của giai cấp công nhân; quy luật, tính quy luật trong cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội; quy luật, tính quy luật của quá trình cách mạng thế giới hiện nay; những điều kiện, con đường, phương pháp đấu tranh cách mạng để thực hiện quy luật, tính quy luật của cả ba quá trình trên.

Đối tượng nghiên cứu của Chủ nghĩa xã hội khoa học có sự khác biệt với đối tượng nghiên cứu của một số khoa học liên ngành. Song, sự phân biệt đối tượng nghiên cứu của Chủ nghĩa xã hội khoa học với đối tượng nghiên cứu của một số ngành khoa học khác chỉ có tính chất tương đối vì xã hội là một chỉnh thể thống nhất, các lĩnh vực của đời sống xã hội có quan hệ biện chứng với nhau.

Khái niệm Chủ nghĩa xã hội khoa học

 


Chủ nghĩa xã hội khoa học (hay chủ nghĩa cộng sản khoa học) là một khoa học độc lập thuộc nhóm xã hội - nhân văn, ra đời vào thế kỷ XIX trên cơ sở chín muồi của điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, tiền đề văn hoá tư tưởng và công lao to lớn của C.Mác và Ph.Ăngghen. Chủ nghĩa xã hội khoa học được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa rộng, Chủ nghĩa xã hội khoa học là chủ nghĩa Mác - Lênin, với tư cách là một học thuyết chính trị - xã hội hoàn chỉnh, cân đối, triệt để cách mạng, luận chứng một cách toàn diện dưới góc độ triết học, kinh tế chính trị và xã hội - chính trị về sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời, chiến thắng của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản đều tất yếu như nhau. Theo nghĩa hẹp, Chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác - Lênin, là biểu hiện lý luận của phong trào công nhân, trực tiếp luận chứng khoa học dưới góc độ chính trị - xã hội quá trình đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, nhằm thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Chủ nghĩa xã hội khoa học có đối tượng, chức năng, nhiệm vụ và phương pháp, nghiên cứu riêng; có hệ thống khái niệm, phạm trù, quy luật mang tính độc lập tương đối; có sự kế thừa và phát triển tư tưởng trong lịch sử nhân loại. Chủ nghĩa xã hội khoa học có vị trí, vai trò quan trọng:

Chủ nghĩa xã hội khoa học kế thừa và phát triển tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong lịch sử lên tầm cao mới, chất lượng mới. Sự ra đời, phát triển của Chủ nghĩa xã hội khoa học dựa trên cơ sở hiện thực và khoa học vững chắc, có sự kế thừa và phát triển những giá trị tư tưởng, khắc phục và loại trừ những hạn chế, những yếu tố không hợp lý của các trào lưu tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng trong lịch sử; đồng thời đáp ứng kịp thời những yêu cầu mới mà cuộc sống xã hội đặt ra. Chủ nghĩa xã hội khoa học là một giá trị văn hoá, văn minh nhân loại, đã tìm ra những quy luật, tính quy luật của quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, giải phóng con người, giải phóng xã hội.

Chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác - Lênin, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin thật sự là học thuyết khoa học, cách mạng, cân đối, hoàn bị. Chủ nghĩa xã hội khoa học là hệ quả tất yếu rút ra từ triết học và kinh tế chính trị học Mác - Lênin. Chủ nghĩa xã hội khoa học là lý luận về đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân, là lý luận chính trị - xã hội trực tiếp chỉ đạo hoạt động thực tiễn đấu tranh của giai cấp công nhân. Chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ nhằm nhận thức thế giới một cách đúng đắn, không dừng lại ở việc chỉ ra tính tất yếu khách quan, các nguyên nhân sâu xa của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, mà còn vạch rõ mục tiêu, con đường, lực lượng, các phương pháp cách mạng đúng đắn để hiện thực hoá việc cải tạo thế giới, thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội khoa học là hệ tư tưởng chính trị, cơ sở lý luận chính trị trực tiếp để các Đảng Cộng sản và công nhân đề ra cương lĩnh, đường lối, chiến lược, sách lược cách mạng. Chủ nghĩa xã hội khoa học luôn gắn kết chặt chẽ giữa khoa học và cách mạng, giữa tính khoa học và tính giai cấp, tính đảng; giữa lý luận và thực tiễn phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, thực tiễn xã hội... vì vậy, từ khi ra đời đến nay, Chủ nghĩa xã hội khoa học luôn luôn bị các thế lực thù địch xuyên tạc, phủ nhận và tìm cách loại bỏ. Do đó, luôn kiên định và phát triển, trung thành và vận dụng sáng tạo các nguyên lý của Chủ nghĩa xã hội khoa học là điều kiện cơ bản bảo đảm để giai cấp công nhân, các đảng cộng sản thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa; hạ thấp, từ bỏ và phản bội các nguyên lý Chủ nghĩa xã hội khoa học, chắc chắn gây nên những tổn thất khôn lường đối với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở mỗi nước và thế giới. Chủ nghĩa xã hội khoa học là vũ khí lý luận sắc bén của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trong cuộc đấu tranh tư tưởng - lý luận chống lại chủ nghĩa chống cộng, chủ nghĩa cơ hội, xét lại.

Đối với Việt Nam, Chủ nghĩa xã hội khoa học là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”[1].



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 563

Kích động đồng bào dân tộc thiểu số di cư tự do chống chế độ ta

 


Kích động đồng bào dân tộc thiểu số di cư trái phép đến các khu vực trọng điểm và vượt biên ra nước ngoài nhằm tạo sự bất ổn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo cớ để can thiệp vào nước ta.

Trong những năm qua, hiện tượng di cư ồ ạt của một bộ phận đồng bào Mông ở các tỉnh phía Bắc vào một số huyện biên giới tỉnh Điện Biên, Lai Châu, nhất là vào các tỉnh Tây Nguyên. Hiện tượng này không chỉ thuần tuý là vấn đề kinh tế, mà ẩn chứa sau nó là âm mưu chính trị thâm độc của các thế lực thù địch. Chúng đã triệt để lợi dụng tập quán du canh du cư của đồng bào các dân tộc thiểu số và nhu cầu của sự phát triển kinh tế, xã hội, để tìm cách hỗ trợ, chỉ đạo bọn phản động người dân tộc thúc đẩy, tạo “làn sóng” di cư trái phép đến một số địa bàn “trọng điểm” như: khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cũ của địch, các địa bàn chiến lược... Mặt khác, chúng còn ra sức lợi dụng phong tục tập quán, các mối quan hệ huyết thống dòng tộc, các hoạt động thăm thân, làm ăn buôn bán, sử dụng các đài phát thanh, băng, đĩa hình bằng tiếng dân tộc để tuyên truyền kích động và dùng tiền, vật chất để mua chuộc, lôi kéo người dân tộc vượt biên trái phép. Những hoạt động tuyên truyền, kích động, tổ chức di cư, vượt biên trái phép trên nhằm tạo sự bất ổn về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, vừa có thể “đưa người dân tộc” về từng khu vực theo ý đồ chính trị của chúng để có điều kiện xây dựng căn cứ phản cách mạng, làm cho vấn đề dân tộc trở thành “ngòi nổ”, tạo ra những cái cớ để nước ngoài có thể can thiệp vào công việc nội bộ Việt Nam… Chỉ tính riêng trong 10 năm lại đây, trên cả nước đã xảy ra hơn 500 điểm nóng, trong đó có khoảng 30 điểm nóng lớn liên quan đến vấn đề dân tộc, tôn giáo. Điển hình là các vụ bạo loạn năm 2001, 2004 ở Tây Nguyên, tháng 5 năm 2011 ở Mường Nhé, Điện Biên có hàng ngàn người tham gia biểu tình, bạo loạn, chống đối chính quyền, đòi ly khai, tự trị. Trong thời gian tới, chúng tiếp tục “phát huy” thủ đoạn này để chống phá cách mạng nước ta.

Lợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo đẩy mạnh hoạt động tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam.

 


Trong những năm qua, với chính sách tôn giáo đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đại đa số các chức sắc tôn giáo yên tâm làm việc đạo, có tinh thần dân tộc, đồng tình với đường hướng “tốt đời, đẹp đạo”, có sự điều chỉnh theo hướng thích nghi, hợp tác với chính quyền để tăng cường truyền giáo. Tuy nhiên, có một số người mang tư tưởng cơ hội, vọng ngoại, giữ thái độ cực đoan, quá khích gây tổn hại đến lợi ích dân tộc và khối đại đoàn kết toàn dân, thậm chí một số người ra mặt chống đối pháp luật. Những phần tử này đã lợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng để tiến hành các hoạt động chống phá chính quyền trong vùng đồng bào có đạo. Đặc biệt là việc đòi phục hồi những tổ chức tôn giáo có từ thời Mỹ, Nguỵ, kích động các tín đồ đấu tranh đòi lại đất đai mà trước đây các tổ chức tôn giáo đã hiến cho Nhà nước. Việc khiếu kiện và tranh chấp liên quan đến đất đai, cơ sở thờ tự của tôn giáo ở một số nơi tăng lên, có nơi gay gắt, phức tạp. Bên cạnh đó, các thế lực phản động bên ngoài cũng không ngừng gia tăng hoạt động bảo trợ cho hoạt động truyền đạo trái phép ở Tây Bắc, Tây nguyên và một số địa phương khác, cùng với sự xuất hiện các “đạo lạ”, tà đạo làm cho nhiều nơi mất ổn định xã hội, ảnh hưởng đến cuộc sống, lao động của nhân dân.

Các thế lực thù địch lợi dụng hoạt động tôn giáo để tập hợp lực lượng, kích động đòi ly khai, tự trị, sử dụng hệ thống nhà nguyện làm nơi tụ tập lực lượng, sở chỉ huy để phối hợp hoạt động chống phá. Hiện nay, đáng chú ý là vấn đề “đạo hóa” dân tộc ở nhiều vùng dân tộc thiểu số ở nước ta. Đây là một trong những thủ đoạn thường xuyên, quen thuộc mà các thế lực thù địch đã sử dụng với nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới. Với các dân tộc thiểu số Việt Nam chưa theo một tôn giáo nào thì việc “đạo hóa” càng có ý nghĩa quyết định đến khả năng lôi kéo, tập hợp dân chúng và hình thành các “khung chính quyền” ngầm núp dưới vỏ bọc tôn giáo, sử dụng hệ thống nhà nguyện Tin Lành để hoạt động chống đối chính quyền. Với những toan tính đó, trong những năm tới, các thế lực thù địch sẽ tiếp tục tăng cường đạo hóa dân tộc, nhất là truyền đạo Tin Lành với nhiều hình thức khác nhau nhằm mục đích chuyển hóa ý thức hệ tư tưởng của đồng bào các dân tộc từ lòng tin theo Đảng, theo cách mạng sang lòng tin vào đấng Cứu thế, làm thay đổi nếp sống văn hóa truyền thống bằng thứ văn hóa xa lạ, dùng thần quyền để lừa bịp và tập hợp lực lượng, hình thành các nhóm phản động dưới vỏ bọc tôn giáo, tạo dựng ngọn cờ, chuẩn bị nguồn lực bên trong, khi hội đủ điều kiện thì kích động đồng bào các dân tộc gây bạo loạn, tạo cớ can thiệp vào nước ta, đặc biệt là ở vùng Tây Bắc và Tây Nguyên.

Các thế lực thù địch lợi dụng giáo lý, giáo luật tôn giáo để kích động tín đồ chống lại chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Mỗi tôn giáo đều có những giáo lý, giáo luật cụ thể riêng, theo đó có các quy định tín đồ đến các cơ sở thờ tự để hành lễ, nghe giảng kinh kệ, đạo pháp… các linh mục, mục sư thay Chúa Trời giảng Kinh Thánh trong các ngày hành lễ; các Hòa thượng, Trưởng quản giảng về kinh kệ, Phật pháp… Ở một số nơi đã xuất hiện việc lợi dụng các buổi hành lễ, cầu kinh, giảng đạo, làm sai tôn chỉ hành đạo, lồng các nội dung tuyên truyền nói xấu chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam, làm cho tín đồ giảm lòng tin vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; mức độ cao hơn là làm theo sự điều khiển của các thế lực thù địch xâm hại lợi ích của quốc gia, dân tộc và lợi ích của chính quần chúng tín đồ các tôn giáo.

Lợi dụng và ủng hộ một số chức sắc, tín đồ tôn giáo cực đoan, quá khích để kích động chia rẽ các tôn giáo, giữa tôn giáo với dân tộc, với Đảng và Nhà nước.

 


Chúng ra sức đẩy mạnh các hoạt động ngầm, cổ suý các phần tử cực đoan trong các tôn giáo móc nối với nhau dự định cho ra đời tổ chức liên tôn giáo để hợp sức chống phá cách mạng. Vừa qua, Nguyễn Văn Lý (Công giáo), Thích Quảng Độ (Phật giáo), Lê Quang Liêm (Phật giáo Hòa Hảo)… đã có những hoạt động như vậy nhằm chống phá cách mạng. Chúng kích động số phần tử bất mãn chống đối chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của ta; kích động tư tưởng ly khai, tự trị nhằm mục tiêu tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, biến tôn giáo thành lực lượng chính trị đối trọng với Đảng và Nhà nước, chính quyền; lợi dụng những vấn đề lịch sử để lại như đất đai, nơi thờ tự để kích động các tín đồ đấu tranh đòi lại đất đai, chia rẽ đồng bào có đạo với đồng bào không có đạo v.v…Thủ đoạn này chúng sẽ tiếp tục sử dụng trong thời gian tới.

Xuyên tạc chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, gắn vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” với “tự do tôn giáo” để chống phá nước ta.

 


Bằng mọi con đường, biện pháp, đặc biệt là lợi dụng triệt để phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí… Các thế lực thù địch tổ chức in, ấn, tán phát, truyền bá các tài liệu xuyên tạc chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, dưới danh nghĩa các “Kỷ yếu hội nghị tôn giáo”, “thông điệp", “Lời chứng”… của các tín đồ trong nước hoặc các tổ chức tôn giáo phản động lưu vong ở nước ngoài vu cáo “Việt Nam đàn áp tôn giáo”, xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh Việt Nam, xuyên tạc chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, kích động tín đồ chống lại đường lối, chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước. Những năm tới, các thế lực thù địch ở nước ngoài sẽ tiếp tục móc nối với một số phần tử phản động đội lốt tôn giáo trong nước kích động, gây bạo loạn, làm cho tình hình ở một số nơi đã khó khăn càng thêm phức tạp, nổi lên là ở một số tỉnh thuộc khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ.

Kích động mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo, lôi kéo quần chúng chống đối chính quyền nhằm phá hoại chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.

 

 


Lợi dụng triệt để các vấn đề phức tạp nảy sinh trong quan hệ dân tộc để kích động tạo thành mâu thuẫn dân tộc là mũi nhọn đột phá của các thế lực thù địch. Đây là thủ đoạn có ý nghĩa chiến lược lâu dài, thâm hiểm nhằm chia rẽ các dân tộc Việt Nam, làm cho ta không tạo được sức mạnh tổng hợp, tiến tới tự suy yếu và đẩy mâu thuẫn giữa các dân tộc Việt Nam đến tình trạng căng thẳng, từ đó kích động xung đột dân tộc, sắc tộc ở nước ta.

 Hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục dùng nhiều hình thức, thủ đoạn khác nhau, tập trung vào việc kích động gây chia rẽ các dân tộc thiểu số với nhau và với người Kinh, lôi kéo tập hợp bọn phản động, cơ hội, bất mãn trong các dân tộc để chống phá cách mạng Việt Nam, dùng “người dân tộc cai quản người dân tộc”; lôi kéo, mua chuộc tầng lớp trên, người cầm đầu các dòng họ lớn làm “ngọn cờ” tập hợp lực lượng, khống chế quần chúng tiến bộ và chống đối chính quyền cơ sở; lợi dụng trình độ hiểu biết có hạn, đặc điểm tâm lý và lịch sử hình thành, phát triển của mỗi dân tộc để tìm cách khoét sâu những mâu thuẫn, gây nghi kỵ, hận thù, chia rẽ; tuyên truyền tư tưởng dân tộc lớn, tư tưởng dân tộc hẹp hòi; lợi dụng khó khăn (chủ yếu về kinh tế) và những tồn tại trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước để kích động, tạo ra sự đối lập giữa các dân tộc với nhau và với cách mạng. Kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, ly khai dân tộc; kích động chia rẽ quan hệ dân tộc, quan hệ lương - giáo và giữa các tôn giáo với nhau như: đòi “tự do tôn giáo”, “tự trị”, thành lập “Vương quốc Mông độc lập”, “nhà nước Đề Ga”, “quốc gia Khơmer Crôm”… hòng làm chia rẽ, phá hoại, suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam.

Âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá Việt Nam

 


 Âm mưu cơ bản xuyên suốt: Lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo làm “ngòi nổ” nhằm chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động đồng bào các dân tộc, tôn giáo chống lại đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, gây mất ổn định chính trị - xã hội, thúc đẩy “tự diễn biến, tự chuyển hoá” hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Âm mưu chủ đạo của các thế lực thù địch là tìm mọi thủ đoạn nhằm đạt được mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng với toàn xã hội, chuyển hóa, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời, một nội dung quan trọng của chiến lược “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch sử dụng để chống phá cách mạng nước ta. Phương châm của các thế lực thù địch trong “diễn biến hòa bình”: lấy chống phá về chính trị, tư tưởng làm hàng đầu, kinh tế là mũi nhọn, ngoại giao làm hậu thuẫn, tôn giáo, dân tộc làm ngòi nổ, kết hợp với bạo loạn lật đổ, uy hiếp, răn đe, gây sức ép về quân sự.

Mục tiêu cụ thể: Trực tiếp phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ dân tộc đa số với dân tộc thiểu số và giữa các dân tộc thiểu số với nhau, chia rẽ đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, hòng làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc. Kích động các dân tộc thiểu số, tín đồ, chức sắc các tôn giáo chống lại chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước; đối lập các dân tộc, các tôn giáo với sự lãnh đạo của Đảng nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam; vô hiệu hóa sự quản lí của Nhà nước đối với các lĩnh vực đời sống xã hội, gây mất ổn định chính trị - xã hội, nhất là vùng dân tộc, tôn giáo. Xây dựng lực lượng chống đối, hình thành các tổ chức phản động trong các dân tộc, tôn giáo chống đối Đảng, Nhà nước, chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam.

“Quân dân đoàn kết một lòng/ Kháng chiến thắng lợi, cờ hồng tung bay”

Câu thơ trên trích trong bài thơ “Kế hoạch Na va đầu voi đuôi chó” của Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh “C.B”; Báo Nhân dân, đăng số 408, từ ngày 16 đến ngày 20 tháng 11 năm 1953.

Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đang diễn ra quyết liệt, quân và dân ta liên tiếp giành được những thắng lợi lớn trên các chiến trường, thực dân Pháp thất bại thảm hại phải liên tiếp thay quân, đổi tướng với nhiều kế hoạch tác chiến khác nhau nhằm cứu vãn tình thế, nhưng chúng đều thất bại thảm hại trước sức mạnh đoàn kết quân và dân ta cùng sát cánh trên mọi chiến trường, với quyết tâm sắt đá phải giành cho được độc lập dân tộc.

 Thực hiện lời Bác Hồ kính yêu căn dặn, quân và dân ta đã phát huy truyền thống đoàn kết, gắn bó máu thịt, nhân dân đã đồng tâm, hiệp lực, nuôi dưỡng, giúp đỡ, cung cấp sức người, sức của cho bộ đội. Ở đâu có dân, ở đó có dấu chân bộ đội, bộ đội đánh giặc, bảo vệ nhân dân. Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Bộ đội của ta là bộ đội Cụ Hồ, bộ đội của dân sống giữa lòng dân; bộ đội không quản ngại khó khăn, gian khổ, chiến đấu anh dũng, kiên cường, chấp nhận hy sinh để giải phóng đất nước, giải phóng nhân dân khỏi ách đô hộ, bóc lột của đế quốc, thực dân xâm lược. Tình quân dân cá nước, quân với dân một ý chí đã tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, đất nước hòa bình, độc lập, nhân dân được tự do, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Ngày nay, đất nước hòa bình, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đất nước đang đứng trước thời cơ mới và cả những thách thức mới; đặc biệt là sự chống phá của các thế lực thù địch với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trong đó chúng tập trung chống phá mối quan hệ gắn bó máu thịt quân dân. Tình hình đó, đòi hỏi Quân đội ta phải tập trung xây dựng nâng cao sức mạnh tổng hợp, là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân, sẵn sàng đánh thắng mọi kiểu loại chiến tranh xâm lược. Quân đội cần  tích cực tham gia vào các chương trình phát triển kinh tế – xã hội; “xóa đói, giảm nghèo”, “đền ơn, đáp nghĩa”, xây dựng cơ sở chính trị ở các địa phương; là lực lượng chủ lực trong cứu hộ, cứu nạn, phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai; sẵn sàng hy sinh vì sự bình yên của đất nước, vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Sưu tầm

“Học hành là vô cùng. Học càng nhiều biết càng nhiều càng tốt…”

Sau hơn hai năm Trung ương Đảng và Chính phủ phát động toàn dân thực hiện phong trào diệt giặc dốt, phong trào đã đạt được những kết quả quan trọng, hàng triệu người dân Việt Nam đã biết đọc, biết viết. Bác Hồ rất vui mừng khi nhận được báo cáo về kết quả kỳ thi ngày 06 tháng 9 năm 1947, toàn dân xã Duyên Trang từ 8 tuổi trở lên đều thoát nạn mù chữ. Bác đã thay mặt Chính phủ gửi lời khen ngợi đến đồng bào toàn xã, nhất là cảm ơn các phụ lão, thân hào đã ra sức giúp đỡ, các cán bộ bình dân học vụ đã cố gắng dạy dỗ bà con nhân dân trong xã.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là tấm gương sáng về tinh thần tự học. Người không những là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, mà còn là một nhà giáo dục, một tấm gương “suốt đời tự học” để trưởng thành, để đi lên, để tiến bộ. Theo Người, muốn trở thành người có đức, có tài để phục vụ và cống hiến nhiều cho Đảng, cho nhân dân thì “suốt đời phải học tập”. Chỉ có học tập, con người mới nâng cao sự hiểu biết về mọi mặt và phục vụ cho quê hương, đất nước nhiều hơn, tốt hơn.

Thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào diệt giặc dốt đã được toàn dân đồng lòng, đồng sức triển khai với quyết tâm cao, toàn dân, toàn quân ra sức học tập, lao động sản xuất để chiến đấu và phục vụ chiến đấu, giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế tri thức, khoa học – công nghệ phát triển mạnh mẽ, công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang đi vào chiều sâu, lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn nguyên giá trị, nhất là đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo của nước nhà. Đảng, Nhà nước ta luôn coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Để thực hiện được mục tiêu đó, mỗi người dân Việt Nam cần nêu cao tinh thần tự học, tự rèn, tích cực “học tập suốt đời” theo gương Bác để phục vụ tốt hơn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Đối với Quân đội ta, thực hiện lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, chiến sĩ cần nhận thức sâu sắc việc học tập, rèn luyện vừa là nghĩa vụ, vừa là trách nhiệm, là vinh dự của mỗi quân nhân; phải coi việc học tập là một nhu cầu tự thân, nó thấm sâu vào mỗi quân nhân, trở thành cách nghĩ và hành động trong cuộc sống của mỗi người. Cần chủ động khắc phục mọi khó khăn, sử dụng mọi thời gian, tranh thủ mọi điều kiện để học tập, rèn luyện với tinh thần bền bỉ, kiên trì, cầu tiến bộ.

Sưu tầm

Lời Bác dạy

“Phải luôn thi đua học tập và công tác, mở rộng tự phê bình và phê bình để tiến bộ mãi, để làm cho bộ đội ta càng thêm hùng mạnh, chính quyền ta càng thêm vững chắc”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Thư khen các chiến sĩ và cán bộ của các đơn vị tiếp quản Thủ đô”, đăng trên Báo Nhân dân, số 260, ra ngày 11 tháng 11 năm 1954.

Thư gửi của Người viết trong trong thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vừa mới kết thúc (07/5/1954), Hiệp định Giơnevơ được ký kết (21/7/1954). Sau một thời gian bộ đội ta về tiếp quản Thủ đô và bước đầu đã đạt được những kết quả quan trọng. Để cổ vũ, động viên kịp thời các đơn vị quân đội tiếp quản Thủ đô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư khen ngợi và có những lời căn dặn quý báu đối với các đơn vị thực hiện nhiệm vụ này. Lời căn dặn của Bác là sự nhắc nhở sâu sắc đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta khi thực hiện nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô cần ra sức thi đua trong học tập và công tác, tích cực tu dưỡng và rèn luyện, giữ vững phẩm chất, đạo đức, khí tiết của người quân nhân cách mạng; gương mẫu trong mọi lời nói, hành động và việc làm; phải thường xuyên mở rộng và nêu cao tự phê bình và phê bình…

Ngày nay, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, lời dạy của Bác có ý nghĩa to lớn, là sự định hướng cho quá trình học tập và công tác của mỗi cán bộ, công chức, viên chức các cấp, nhất là những cán bộ chủ trì các cấp, phải là lực lượng xung kích, đi đầu, phải nêu gương trên mọi lĩnh vực. Muốn vậy, mỗi cán bộ, công chức, viên chức các cấp cần tích cực học tập để nâng cao trình độ, năng lực, phương pháp tác phong công tác; không ngừng tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất đạo đức, lối sống; có thái độ giao tiếp, ứng xử chuẩn mực, có năng lực và tính chuyên nghiệp cao trong thực thi công vụ, nhiệm vụ được giao; thường xuyên nêu cao tự phê bình và phê bình, khắc phục những hạn chế, yếu kém để hoàn thiện bản thân. Đặc biệt, cần kiên quyết đấu tranh phòng, chống và khắc phục kịp thời sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn khắc ghi lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ra sức học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ chính trị, quân sự, chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu chức trách, nhiệm vụ được giao. Chủ động sáng tạo, quyết đoán, tự lực, tự cường, mưu trí, dũng cảm trong thực hiện nhiệm vụ. Chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội; gương mẫu trong thực hiện các quy định, nền nếp chế độ công tác, sinh hoạt, học tập, rèn luyện của đơn vị. Nói đi đôi với làm, tự phê bình và phê bình nghiêm túc, thẳng thắn, kiên quyết sửa chữa, khắc phục khuyết điểm; đấu tranh với mọi biểu hiện quan liêu, tham nhũng, lãng phí, gia trưởng, quân phiệt và những biểu hiện tiêu cực khác.

Sưu tầm


“… Cán bộ và bộ đội nhất định phải đi sát với nhân dân vì lực lượng của nhân dân là vô cùng mạnh mẽ…”

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Thư gửi đồng bào và bộ đội (Vệ Quốc quân và dân quân du kích Tả Ngạn, Liên khu 3”, Người viết ngày 10 tháng 11 năm 1951, đăng trên Báo Quân đội nhân dân, số 34, ra ngày 01 tháng 12 năm 1951, trong bối cảnh sau khi nhận được báo cáo của đồng bào và bộ đội Tả Ngạn, Liên khu 3 về thành tích tiêu diệt địch, Bác đã gửi thư khen ngợi đồng bào, bộ đội và cán bộ, quân, dân, chính thuộc Liên khu 3.

Với tư duy chiến lược và tầm nhìn xa trông rộng, Người đã chỉ ra được cội nguồn sức mạnh, sự trưởng thành và chiến thắng của quân đội đều bắt nguồn từ sức mạnh của nhân dân; từ cơm ăn, áo mặc, xe cộ đi lại đến vũ khí đánh giặc đều do mồ hôi công sức nhân dân mà có. Người khẳng định: “Không có dân thì không có bộ đội”, “Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội”. Chỉ có đoàn kết chặt chẽ với nhân dân, dựa vào dân, được nhân dân tin yêu như con em ruột thịt thì quân đội mới có được những thuận lợi trong chiến đấu, công tác, sản xuất cũng như trong mọi sinh hoạt của cuộc sống. Cách xa dân, không gắn bó với nhân dân, không liên hệ mật thiết với nhân dân, không dựa vào dân thì quân đội không thể có sức mạnh, không thể hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Thực tiễn hơn 70 năm xây dựng, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của quân đội ta đã cho thấy, nguồn gốc sức mạnh của quân đội không chỉ bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự quan tâm của các tổ chức chính trị xã hội, từ sức mạnh bên trong của quân đội, mà còn bắt nguồn từ sự đoàn kết giữa quân đội với nhân dân, sự yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân đối quân đội.

Lời dạy của Bác năm xưa đến nay vẫn còn nguyên giá trị về lý luận và thực tiễn đối với mọi cấp, mọi ngành, mọi người, cần được triển khai sâu rộng trong toàn xã hội và toàn quân. Đối với quân đội, phải phát huy bản chất cách mạng, phẩm chất cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên trì xây dựng, phát triển mối quan hệ đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân; tôn trọng, giúp đỡ, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; một lòng, một dạ chiến đấu bảo vệ nhân dân, luôn luôn giữ nghiêm kỷ luật quan hệ quân – dân, không phụ lòng tin yêu của nhân dân; tích cực giúp đỡ nhân dân phát triển kinh tế – xã hội, “xóa đói giảm nghèo”, xây dựng nông thôn mới, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa; giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tham gia phong trào “Đền ở đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”… Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải không ngừng học tập, rèn luyện, quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận, thực hiện tốt lời dạy của Người: “phải dựa vào nhân dân, không được xa rời dân, nếu không thế thì sẽ thất bại”.

Sưu tầm

 VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH 

Với phương châm lấy “xây” để “chống”, báo chí cách mạng đã chủ động, tích cực tham gia tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đưa Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống. Báo chí cũng là lực lượng chủ công tuyên truyền làm nổi bật những thành tựu của đất nước, tính ưu việt của chế độ và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn.

Báo chí cách mạng cũng tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lên án những hành vi coi thường kỷ cương, phép nước. Qua đó, báo chí không những góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà còn góp phần củng cố niềm tin, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Đặc biệt, bằng sự tương tác đa chiều với bạn đọc, báo chí cách mạng đang tham gia mạnh mẽ, có hiệu quả vào công tác đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, góp phần định hướng dư luận, củng cố niềm tin trong nhân dân. Với nhiều bài viết sắc sảo, lập luận chặt chẽ, có luận cứ, luận điểm sắc bén bảo vệ tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; sự đúng đắn, sáng tạo trong quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; kịp thời phản bác những luận điệu sai trái góp phần quan trọng đấu tranh ngăn chặn sự phá hoại về tư tưởng nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” chống đất nước ta của các thế lực thù địch.

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp, đòi hỏi các cơ quan báo chí phải luôn đề cao tính thận trọng. Báo chí phải tăng cường khả năng “bút chiến”, sự sắc sảo, sức thuyết phục, nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn. Trước mỗi luận điểm, vấn đề, các nhà báo cần cố gắng tìm tòi, khai thác thông tin để chứng minh làm rõ vấn đề một cách thuyết phục.

Đấu tranh phản bác những quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch, phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là cuộc đấu tranh lâu dài, phức tạp, đòi hỏi mỗi chúng ta phải thực sự chủ động, quyết liệt, kiên trì và bền bỉ. Chỉ có phát huy được sức mạnh tổng hợp của các cơ quan báo chí, truyền thông, các tổ chức, các lực lượng tuyên truyền trong hệ thống chính trị, chúng ta mới đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; phòng ngừa, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”  trong nội bộ.