Thứ Năm, 3 tháng 4, 2025

Phát huy vai trò của lực lượng tác chiến không gian mạng trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc

 Trước sự phát triển mạnh mẽ của chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng và âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, đòi hỏi lực lượng tác chiến không gian mạng cần nắm chắc chức năng, nhiệm vụ, tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, góp phần quan trọng cùng các lực lượng bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Lực lượng tác chiến không gian mạng là bộ phận quan trọng của Quân đội nhân dân Việt Nam, có chức năng, nhiệm vụ bảo vệ hệ thống thông tin quân sự, quốc phòng; tham gia bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng của quốc gia; sẵn sàng đáp trả đối phương, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Mặc dù mới thành lập theo yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, nhưng lực lượng tác chiến không gian mạng luôn nêu cao cảnh giác; trau dồi tinh thông nghiệp vụ; chủ động khắc phục khó khăn; đoàn kết, sáng tạo, hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ, khẳng định vai trò nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng.

Trên cơ sở quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về bảo vệ Tổ quốc, trọng tâm là Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 25/7/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng”, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh 86 triển khai đồng bộ, toàn diện các chủ trương, giải pháp nâng cao hiệu quả tác chiến trên không gian mạng và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Công tác xây dựng, phát triển lực lượng, quy hoạch, bảo đảm vũ khí, trang bị,... được lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ ở các cấp; hiệu lực, hiệu quả công tác tham mưu, quản lý nhà nước đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng không ngừng được nâng cao. Việc xây dựng, phát triển, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, quản lý, bảo vệ an ninh, an toàn mạng được chú trọng; năng lực đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái thù địch, chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng từng bước được nâng cao, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng được bảo vệ vững chắc1. Công tác nghiên cứu, phát triển khoa học, công nghệ thông tin, an ninh mạng quân sự, quốc phòng và hợp tác quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu, nền nếp, hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội trong tình hình mới.

Thời gian tới, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc nói chung, trên không gian mạng nói riêng đặt ra yêu cầu rất cao, trong khi lực lượng, phương tiện tác chiến trên môi trường này còn hạn hẹp. Các thế lực thù địch đẩy mạnh chống phá; cạnh tranh chiến lược, chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng cũng như việc làm chủ không gian mạng giữa các cường quốc ngày càng quyết liệt,... đòi hỏi lực lượng tác chiến không gian mạng cần phát huy vai trò nòng cốt, thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nội dung, giải pháp, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.

Trước hếttập trung nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác tham mưu, quản lý nhà nước về bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Trên cơ sở rút kinh nghiệm những tồn tại, hạn chế chỉ ra trong tổng kết 05 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng”, lực lượng tác chiến không gian mạng toàn quân, trực tiếp là Bộ Tư lệnh 86 tiếp tục nâng cao chất lượng nghiên cứu, đánh giá, dự báo tình hình, nhất là các phương thức tác chiến thông tin, điện tử, không gian mạng trong các cuộc chiến tranh gần đây trên thế giới; âm mưu, thủ đoạn, phương pháp hoạt động chống phá, tấn công mới của các thế lực thù địch, các loại tội phạm mạng; lực lượng, phương tiện, khả năng phản ứng, xử lý, tác chiến, các yếu tố tác động, cản trở nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng cả trong thời bình và thời chiến, v.v. Trên cơ sở đó, đề xuất Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tham mưu với Đảng, Nhà nước hoạch định chủ trương, đối sách, phương án xử trí kịp thời, hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ. Trong đó, tập trung tham mưu các giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý không gian mạng bằng cơ chế, chính sách, pháp luật gắn với sử dụng biện pháp kinh tế, hành chính và giáo dục, thuyết phục. Thường xuyên củng cố, kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về công nghệ thông tin, viễn thông, an toàn thông tin, an ninh mạng và tác chiến không gian mạng. Xây dựng, hoàn thiện cơ chế phối hợp trao đổi, chia sẻ thông tin và quy trình phối hợp xử lý các tình huống trên không gian mạng với các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương. Cụ thể hóa, triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nghị quyết, kết luận, nghị định, chiến lược, luật,… liên quan nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, nhất là Nghị định số 01/2023/NĐ-CP, ngày 15/8/2023 của Chính phủ Quy định biện pháp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng trên không gian mạng. Siết chặt quản lý, tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện, phối hợp ngăn chặn, xử lý kịp thời thông tin xấu độc, hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, nhất là các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thông tin xuyên biên giới. Nâng cao năng lực tham mưu, quản lý nhà nước của cơ quan chức năng và chính quyền các cấp, góp phần bảo đảm an toàn, an ninh mạng và hoạt động tác chiến không gian mạng.

Hai làxây dựng, phát triển lực lượng tác chiến không gian mạng ngang tầm nhiệm vụ. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ trong bối cảnh Quân đội đang đẩy mạnh điều chỉnh lực lượng theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, các cơ quan, đơn vị thuộc lực lượng tác chiến không gian mạng cần tiếp tục, quán triệt, thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17/01/2022 của Bộ Chính trị; Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 02/4/2022 của Quân ủy Trung ương về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo gắn với thực hiện Nghị định số 98/2015/NĐ-CP, ngày 19/10/2015 của Chính phủ về Tổ chức, hoạt động của lực lượng tác chiến không gian mạng, v.v. Tập trung xây dựng lực lượng tác chiến không gian mạng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; lực lượng bảo đảm an toàn, an ninh mạng hiện đại, chuyên nghiệp, có chất lượng cao “thực sự trung thành, kỷ luật, trí tuệ, nhạy bén, hiệu quả, để đủ sức mạnh chiến đấu và chiến thắng, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng”. Trong đó, chú trọng kiện toàn tổ chức, biên chế, xây dựng hệ thống tổ chức chỉ huy vững mạnh gắn với xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, các tổ chức quần chúng, đoàn thể vững mạnh xuất sắc; nghiên cứu hoàn thiện các đề án, đề tài chuyên sâu về phát triển tổ chức, biên chế, duy trì hoạt động lực lượng tác chiến không gian mạng chuyên trách, bảo đảm đầy đủ, đồng bộ, thống nhất trong toàn quân; trang bị vũ khí, phương tiện chuyên ngành hiện đại. Tổ chức huấn luyện, giáo dục, đào tạo xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao; tăng cường luyện tập, diễn tập các phương án tác chiến không gian mạng độc lập và tác chiến không gian mạng trong các loại hình tác chiến, bảo đảm cho Tổ quốc luôn giành thế chủ động, không bị bất ngờ trước mọi tình huống trên không gian mạng. Tiếp tục xây dựng, mở rộng, phát huy vai trò đấu tranh của lực lượng kiêm nhiệm trên không gian mạng trong toàn quân, toàn quốc, nhất là lực lượng 47. Coi trọng đầu tư bảo đảm đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, cơ sở dữ liệu quốc gia, phương tiện công nghệ thông tin hiện đại; hoàn thiện hệ thống tự động hóa chỉ huy; tích cực nghiên cứu, phát triển khoa học, công nghệ và hợp tác quốc tế, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Ba làphát huy vai trò nòng cốt, chuyên trách trong đấu tranh, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Đây là vấn đề cốt lõi nhằm phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh, tạo sức mạnh tổng hợp giành thắng lợi trong tác chiến ở môi trường mới, đặc thù nhưng rất quan trọng này. Vì thế, lực lượng tác chiến không gian mạng cần tiếp tục bám sát phương châm: “Trinh sát kịp thời, ngăn chặn hiệu quả, phòng thủ vững chắc” triển khai đồng bộ các phương án trinh sát, phòng thủ, tấn công đáp trả, bảo vệ an toàn hệ thống thông tin quân sự, quốc phòng và hệ thống thông tin quốc gia. Tăng cường các biện pháp nghiệp vụ chuyên ngành quản lý, giám sát, phát hiện, ứng cứu, ngăn chặn, xử lý kịp thời các lỗ hổng bảo mật, phần mềm gián điệp, mã độc; vô hiệu hóa hoạt động tấn công mạng, tội phạm công nghệ cao lợi dụng không gian mạng phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, cũng như thực hiện các hành vi trái pháp luật, xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Tích cực tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm của lực lượng tác chiến không gian mạng chuyên trách toàn quân và lực lượng kiêm nhiệm rộng rãi; đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số trên phạm vi cả nước, xây dựng hạ tầng thông tin quốc gia, quốc phòng, an ninh hiện đại, đồng bộ; ưu tiên phát triển hệ thống công nghệ thông tin, vũ khí mạng bảo vệ hạ tầng trọng yếu của quốc gia và của quốc phòng, an ninh. Kết hợp tuyên truyền, giáo dục lịch sử, văn hóa dân tộc, xây dựng văn hóa lành mạnh với đẩy mạnh đấu tranh, ngăn chặn văn hóa độc hại, bảo vệ vững chắc nền văn hóa Việt Nam trên không gian mạng. Nghiên cứu hoàn thiện lý luận nghệ thuật tác chiến không gian mạng cả ở cấp chiến thuật, chiến dịch và chiến lược, phù hợp với tổ chức, biên chế, vũ khí, trang bị, phương tiện chuyên ngành hiện đại; xây dựng tiềm lực, thế trận tác chiến không gian mạng, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên không gian mạng vững chắc, hiệu quả. Nâng cao trình độ quản lý, chỉ đạo, điều hành của chỉ huy các cấp trong hoạt động tác chiến thông tin, tác chiến không gian mạng, bảo vệ vững chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.

Bốn làphối hợp chặt chẽ với các lực lượng, tạo sức mạnh tổng hợp hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Để hoàn thành nhiệm vụ nặng nề, phức tạp nhưng rất vẻ vang, lực lượng tác chiến không gian mạng tiếp tục tham mưu giúp Bộ Quốc phòng tăng cường cơ chế phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an toàn thông tin, an ninh mạng; phát triển không gian mạng quốc gia an toàn, rộng khắp; xây dựng văn hóa không gian mạng; ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật, lệch chuẩn, bảo vệ an toàn, lành mạnh môi trường mạng; nâng cao năng lực phòng, chống chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng; phát triển phần mềm ứng dụng, xây dựng, hoàn thiện chính phủ điện tử, chuyển đổi số, v.v. Có cơ chế phối hợp, xây dựng huy động nguồn lực khoa học kỹ thuật và công nghệ của các cấp, ngành cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Cùng với đó, phối hợp chặt chẽ với Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban chỉ đạo 35 các cấp, hệ thống cơ quan thông tấn báo chí trong và ngoài Quân đội xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả cơ chế chỉ đạo, hiệp đồng thống nhất thông tin đồng bộ, tác chiến thường trực, đa dạng, đa tuyến, tạo nền tảng vững chắc để phát huy sức mạnh tổng hợp bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.

 

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu việc bổ sung, sửa đổi quy định pháp luật phải đảm bảo 6 rõ: những nội dung lược bỏ; những nội dung sửa đổi, hoàn thiện; những nội dung bổ sung; những nội dung cắt giảm...

 Ngày 19/3, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì Phiên họp Chính phủ chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 3/2025 để thảo luận và cho ý kiến đối với 6 dự án luật, đề nghị xây dựng luật.


Dự phiên họp có các Phó Thủ tướng Chính phủ; các Phó Bí thư Đảng ủy Chính phủ; các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; lãnh đạo các bộ, ngành, cơ quan Trung ương.

Phát biểu khai mạc phiên họp Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh “thể chế là động lực, nguồn lực của sự phát triển,” “thể chế cũng là điểm nghẽn của điểm nghẽn và là đột phá của đột phá”; đầu tư cho hoàn thiện, xây dựng pháp luật là đầu tư cho phát triển; làm tốt công tác xây dựng pháp luật sẽ tạo cơ hội cho phát triển.

Lưu ý việc xây dựng pháp luật là yêu cầu bắt buộc trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phải trực tiếp chỉ đạo, dành thời gian, công sức, trí tuệ cho xây dựng pháp luật; dành nguồn lực, cơ sở vật chất, sử dụng công nghệ để xây dựng pháp luật đảm bảo nhanh, chất lượng, hiệu quả. Qua đó, giải phóng toàn bộ sức sản xuất gồm tư liệu sản xuất, tài nguyên, nguồn lực con người, truyền thống lịch sử văn hóa… và huy động mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế-xã hội đất nước.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu việc bổ sung, sửa đổi quy định pháp luật phải đảm bảo 6 rõ: những nội dung lược bỏ; những nội dung sửa đổi, hoàn thiện; những nội dung bổ sung; những nội dung cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính; những nội dung phân cấp, phân quyền; những vấn đề còn ý kiến khác nhau và những vấn đề khác cần báo cáo Thường trực Chính phủ, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, chỉ đạo.


 

Cùng với đó, việc xây dựng pháp luật mới phải đảm bảo nguyên tắc: thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước; những nội dung chưa có quy định trong thực tiễn; những nội dung đã có nhưng thực tiễn đã vượt qua; những nội dung cần tháo gỡ vướng mắc; đơn giản hóa, cắt giảm thủ tục hành chính; phân cấp, phân quyền; những vấn đề còn có nhiều ý kiến khác nhau.

Chỉ đạo xây dựng các văn bản pháp luật phải ngắn gọn, rõ ý, dễ hiểu, dễ áp dụng, dễ làm, dễ đánh giá, dễ kiểm tra, giám sát, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu phải triển khai nhanh, “vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, hoàn thiện, mở rộng dần, không cầu toàn, không nóng vội,” “cái gì đã chín đã rõ, được thực tế chứng minh là đúng, đa số đồng tình thì áp dụng, luật hóa; những vấn đề còn đang biến động, diễn biến phức tạp, nhất là vấn đề liên quan kinh tế-xã hội, thì phải để dư địa để hoàn chỉnh, tổng kết, nhân rộng, luật hóa.”

Thủ tướng yêu cầu các thành viên Chính phủ tập trung trí tuệ, phát huy tinh thần trách nhiệm cao trong quá trình trao đổi, thảo luận; trình bày báo cáo, phát biểu rõ ràng ý kiến; tập trung trao đổi về các vấn đề quan trọng, còn ý kiến khác nhau cần xin ý kiến Chính phủ; bảo đảm chất lượng của các dự án Luật được trình Chính phủ xem xét tại phiên họp.

Theo chương trình, tại phiên họp, Chính phủ sẽ xem xét, thảo luận về: Luật Năng lượng nguyên tử (sửa đổi); Luật Cấp thoát nước; Luật Quản lý, phát triển đô thị; Luật Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả và đề nghị xây dựng Luật Doanh nghiệp (sửa đổi)./.

 

CHỦ ĐỘNG ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI ĐẢNG Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang hướng đến đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Lợi dụng sự kiện trọng đại này, các thế lực thù địch, phản động ráo riết đẩy mạnh hoạt động xuyên tạc, chống phá, tập trung vào các lĩnh vực tư tưởng, chính trị, công tác cán bộ và đối ngoại quốc phòng nhằm gây nhiễu loạn xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Ba mũi nhọn chống phá nguy hại 1. Xuyên tạc tư tưởng, chính trị: Các thế lực thù địch không ngừng tuyên truyền luận điệu sai trái nhằm phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Chúng cổ xúy các học thuyết tư bản mới, gieo rắc hoài nghi, làm suy giảm lòng tin vào lý tưởng cách mạng, tác động tiêu cực đến nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân. 2. Bịa đặt, công kích công tác cán bộ: Nhằm gây mất đoàn kết nội bộ, chúng xuyên tạc công tác nhân sự của Đảng, vu cáo đây là cuộc "đấu đá nội bộ", "thanh trừng phe nhóm". Chúng lợi dụng việc xử lý cán bộ sai phạm để bóp méo thông tin, bôi nhọ lãnh đạo, làm xói mòn niềm tin của nhân dân. 3. Phá hoại chính sách đối ngoại quốc phòng: Chúng xuyên tạc chính sách quốc phòng "4 không" của Việt Nam, kích động dư luận, gây hoang mang, làm suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, từng bước phá hoại nền quốc phòng toàn dân, tạo điều kiện để can thiệp từ bên ngoài. Củng cố niềm tin, đập tan luận điệu sai trái - Chủ động nhận diện, phản bác âm mưu thù địch: Cấp ủy, tổ chức đảng cần làm tốt công tác định hướng tư tưởng, cung cấp thông tin chính thống, không để các thế lực thù địch lợi dụng khoảng trống thông tin để xuyên tạc. - Tăng cường giáo dục lý luận chính trị: Cán bộ, đảng viên phải thường xuyên học tập, nâng cao bản lĩnh chính trị, nhận diện rõ thông tin xấu, độc hại để có thái độ đúng đắn, không bị dao động trước các luận điệu sai trái. - Phát huy vai trò báo chí, truyền thông: Cần kịp thời phê phán, đấu tranh với thông tin sai lệch, huy động lực lượng tham gia truyền thông chính thống để củng cố niềm tin của nhân dân. - Xây dựng, chỉnh đốn Đảng vững mạnh: Tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII, XIII), kiên quyết xử lý cán bộ suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Thực hiện hiệu quả các giải pháp trên sẽ góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, tạo sự đồng thuận xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo vệ vững chắc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước./. Ánh sáng niềm tin

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN

 

Làm sao để “người đầy tớ” hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân để từ đó giữ gìn và củng cố niềm tin trong Nhân dân, xứng đáng là người nhận trách nhiệm ủy thác, giao phó từ Nhân dân? Để thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới phải thực hiện tốt những nhóm giải pháp về xây dựng Đảng hiện nay mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) đã xác định: về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; về tự phê bình, phê bình, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cấp trên; về tổ chức, cán bộ và sinh hoạt đảng; về cơ chế chính sách:. Đặc biệt cần tích cực ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là cấp Trung ương đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Theo đó, phải tăng cường công tác giáo dục, đào tạo, nhất là giáo dục chính trị, tư tưởng và công tác quản lý, sử dụng cán bộ; đổi mới cơ chế, chính sách để lựa chọn, thu nạp những người tài đức phục vụ đất nước, kiên quyết loại bỏ những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất ra khỏi bộ máy cơ quan Nhà nước; đồng thời có thiết chế ngăn chặn sự tùy tiện, lạm quyền làm sai pháp luật của cán bộ; xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và mối quan hệ giữa tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị, tránh tình trạng thành tích ai cũng nhận, khuyết điểm thì không.

Cùng với việc xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh phải xây dụng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Để nâng cao hiệu quả xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cần nâng cao hiệu quả cải cách hành chính bộ máy nhà nước nhằm thực hiện tốt các chức năng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa để quản lý, điều hành có hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; hoàn thiện cơ chế lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ sự nghiệp xây dựng, củng cố quốc phòng; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chức năng tổ chức và chức năng trấn áp, cưỡng chế, trong đó chức năng tổ chức xây dựng giữ vai trò quyết định.

Từ những vấn đề trên cho thấy, nếu Đảng không giữ được bản chất cách mạng; không thật vững vàng về chính trị, tư tưởng; không thống nhất cao về ý chí, hành động; không trong sạch về đạo đức, lối sống; không chặt chẽ về tổ chức và không được nhân dân ủng hộ thì không thể đứng vững và đủ sức lãnh đạo đất nước đi lên.

Thứ nhất, tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên.  Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 05 ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị và Kết luận số 01 ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị khóa XIII về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là chủ đề của năm 2021: “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ”; tiếp tục thực hiện Di chúc của Bác “giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân”.

Thứ hai, nêu cao tính tự giác tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, lãnh đạo quản lý, người đứng đầu. Do vậy, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải tích cực học tập; phải luôn có ý thức trau dồi đạo đức cách mạng, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; phải thật sự mẫu mực về đạo đức, lối sống, thẳng thắn, chân thành để nhân dân học tập và làm theo.

Thứ ba, làm tốt công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời nêu gương người tốt việc tốt, có chính sách thỏa đáng với những người có công trong phát hiện và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời đúng pháp luật đối với những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, hoặc có biểu hiện sa đọa về đạo đức, lối sống, tham nhũng, tham nhũng;  đồng thời mỗi cán bộ, đảng viên cần đấu tranh chống diễn biến hoà bình, các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

 

PHÁT HIỆN SỚM VẤN ĐỀ LỢI DỤNG TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ ĐẢNG

 

Tôn giáo là lĩnh vực nhạy cảm, luôn thu hút sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế. Do đó, cùng với vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng vấn đề tôn giáo để kích động chống phá Đảng và chế độ ta.

Các thế lực thù địch âm mưu biến tôn giáo thành “ngòi nổ” gây mất ổn định chính trị - xã hội hoặc thông qua vỏ bọc tôn giáo để tuyên truyền luận điệu xuyên tạc kích động, phá hoại tư tưởng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Chiêu bài tôn giáo là một phần của chiến lược “diễn biến hoà bình” mà các tổ chức, cá nhân thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam thường sử dụng nhằm kích động xu hướng chia rẽ, ly khai, từ đó phát triển thành các cuộc tuần hành, biểu tình, gây rối an ninh, trật tự, tạo sự bất ổn định về chính trị - xã hội, ảnh hưởng không nhỏ sự phát triển toàn diện của xã hội. Đây cũng là cái cớ để họ công khai can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn hiện nay, ngoài những hoạt động chống phá mang tính quy luật thì một trong những thủ đoạn mà số đối tượng chống đối cực đoan ở trong và ngoài nước thường tiến hành là tìm mọi cách lợi dụng vấn đề tôn giáo ở vùng dân tộc thiểu số nhằm kích động tư tưởng ly khai, tự trị tại các địa bàn chiến lược về an ninh, quốc phòng. 

Hiện nay, an ninh xã hội, trọng tâm là an ninh trong tôn giáo, dân tộc, an ninh nông thôn, đô thị, giải quyết các xung đột, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân đang chịu tác động, chi phối bởi rất nhiều các yếu tố khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài. Các yếu tố chủ đạo của an ninh xã hội, các quan hệ xã hội liên quan tôn giáo, dân tộc, nông thôn, đô thị, vấn đề mâu thuẫn, xung đột liên quan đất đai đang trong quá trình biến đổi và chứa đựng rất nhiều yếu tố có khả năng dẫn đến nguy cơ gia tăng bất ổn về an ninh, trật tự.

Trên lĩnh vực tôn giáo, ngoài những đặc điểm chung của tôn giáo vốn rất nhạy cảm, như liên quan đến tính duy tâm, đến tâm linh, đến sự chi phối, tác động sâu sắc của giáo lý, giáo luật, giáo hội và giáo sĩ đối với đời sống tinh thần, tình cảm, sự cố kết cộng đồng của đại bộ phận tín đồ tôn giáo được xác định là một trong những vấn đề tiềm ẩn phức tạp về an ninh, trật tự, đặc biệt là Công giáo. Nhìn chung, tôn giáo ở Việt Nam hoạt động thuần túy tôn giáo, chấp hành pháp luật, đa số quần chúng tín đồ đều tuân thủ việc “sống tốt đời đẹp đạo”, phục vụ xây dựng quê hương, đất nước, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có một bộ phận chức sắc, tín đồ có tư tưởng cực đoan, thường xuyên chống đối chính quyền, coi thường pháp luật, thậm chí móc nối, liên kết số đối tượng phản động, chống đối để chống phá Đảng, Nhà nước, gây mất an ninh, trật tự, ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển của địa phương. Một số tôn giáo cũng đang đẩy mạnh phát triển tín đồ, củng cố đức tin, gây ảnh hưởng trong xã hội, nhất là ở vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số…Đồng thời, triệt để lợi dụng chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, những sơ hở thiếu sót của chính quyền trong công tác quản lý nhà nước về tôn giáo để lấn chiếm, đòi lại, xin lại đất đai, cơ sở vật chất có nguồn gốc tôn giáo,…gây ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình an ninh, trật tự. Do đó, mọi chức sắc, tín đồ tôn giáo nói riêng và mỗi người dân Việt Nam nói chung hãy luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động lên án những mưu đồ xấu của kẻ địch. Đồng thời, tích cực tham gia đấu tranh, đẩy lùi việc lợi dụng vấn đề chính trị để chống phá ra khỏi đời sống tôn giáo, góp phần làm cho các hoạt động tôn giáo trở nên thuần khiết, tốt đẹp như bản chất vốn có. Nâng cao nhận thức, tinh thần cảnh giác của người dân, phân biệt rõ hoạt động tôn giáo đúng nghĩa và hành vi lợi dụng tôn giáo để kích động chống phá của kẻ xấu. Mọi hoạt động tôn giáo phải tuân thủ giáo lý, giáo luật, tuân thủ luật pháp, đem lại đời sống đạo pháp đúng nghĩa, đảm bảo nhu cầu sinh hoạt tôn giáo cho đồng bào trên cơ sở tuân thủ pháp luật của Nhà nước.

TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC NÂNG CAO BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ TRONG QUÂN ĐỘI

 

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng là bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng; mặt hoạt động cơ bản của công tác đảng, công tác chính trị, có ý nghĩa quyết định đến việc xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Quân đội góp phần xây dựng phẩm chất, nhân cách người quân nhân cách mạng; trang bị thế giới quan khoa học, phương pháp luận đúng đắn, niềm tin cộng sản; nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, chiến sĩ; nêu cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, chiến sĩ; kịp thời định hướng tư tưởng cho bộ đội trước những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”; đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động. Xây dựng quân đội về chính trị làm cơ sở để xây dựng quân đội vững mạnh về mọi mặt, là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng quân đội cách mạng; yếu tố quyết định bảo đảm cho quân đội luôn là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Để xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới cần giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội nhân dân nhằm bảo đảm cho quân đội mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, thể hiện đầy đủ, sâu sắc tính nhân dân, tính dân tộc và tính quốc tế, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tiếp tục quán triệt, chấp hành nghiêm, kết hợp nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội theo Nghị quyết số 51-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về Tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong quân đội nhân dân Việt Nam; đổi mới và tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực quân sự, quốc phòng; kiên quyết đấu tranh phòng chống âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Các cơ quan, đơn vị thường xuyên quán triệt, thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XIII) gắn với thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị và cuộc vận động “phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” bằng những việc làm cụ thể, thiết thực.

Nâng cao hiệu lực công tác Đảng, công tác chính trị trong quá trình xây dựng và chiến đấu của quân đội; đặc biệt quan tâm xây dựng và phát huy nhân tố chính trị-tinh thần; chăm lo xây dựng các tổ chức, các lực lượng quân đội vững mạnh; thực hiện tốt công tác chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội; kết hợp xây dựng quân đội về chính trị với xây dựng các yếu tố tạo thành chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội; phát huy vai trò của các đoàn thể chính trị-xã hội và của nhân dân đối với xây dựng quân đội. Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp, phát huy sức mạnh tổng hợp trong tiến hành công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Trước hết, các cấp ủy, tổ chức đảng cần nâng cao nhận thức, xác định việc đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng là một trọng tâm lãnh đạo, chỉ đạo. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Quy chế giáo dục chính trị của Tổng cục Chính trị; kế hoạch, hướng dẫn của trên; nắm vững mục tiêu, yêu cầu công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, kịp thời có chủ trương, biện pháp lãnh đạo phù hợp, bảo đảm đúng đối tượng, nội dung, thời gian, quân số học tập. Việc lãnh đạo, tổ chức giáo dục chính trị, tư tưởng phải được xác định trong nghị quyết lãnh đạo thường kỳ của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp; kế hoạch công tác của chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy; khắc phục triệt để biểu hiện “giao khoán” cho cơ quan chính trị, cán bộ chính trị. Nâng cao năng lực tham mưu, đề xuất của cơ quan chức năng, cơ quan chính trị các cấp giúp Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp trong tổ chức thực hiện công tác giáo dục chính trị, tư tưởng tại đơn vị. Tăng cường kiểm tra, phát hiện những khó khăn, vướng mắc, bất cập của các đơn vị để giải quyết kịp thời, nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Cơ quan chính trị cần nắm chắc tình hình mọi mặt, kịp thời tham mưu cho cấp ủy, chỉ huy về nội dung, chương trình, thời gian, kế hoạch giáo dục chính trị, tư tưởng; giúp lãnh đạo, chỉ huy kiểm tra các đơn vị thực hiện quy chế, kế hoạch, nền nếp chế độ công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Quân đội. Công tác hướng dẫn, chỉ đạo của các đơn vị phải cụ thể, rõ ràng, khoa học; tăng cường kiểm tra, uốn nắn kịp thời những lệch lạc; làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, khen thưởng, đăng ký thống kê theo dõi, quản lý chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng của đơn vị. Hằng năm, lấy kết quả giáo dục chính trị là một nội dung để đánh giá chất lượng cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng; kịp thời biểu dương những tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, có nhiều thành tích trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng tại đơn vị.

KẾT HỢP TUYÊN TRUYỀN VỚI TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG AN NINH BIỂN ĐẢO VỮNG CHẮC

 

Triển khai đồng bộ, hiệu quả các hình thức tuyên truyền, nhất là tuyên truyền miệng ở cơ sở, tuyên truyền qua các tác phẩm văn học - nghệ thuật. Tăng cường thông tin tuyên truyền, cổ động thông qua các phương tiện trực quan (màn hình led, màn hình điện tử, panô, áp phích, băng rôn, tại những nơi tập trung đông người, các tuyến đường mẫu, khu chế xuất, khu công nghiệp, trường học, bệnh viện, siêu thị, nhà ga, bến xe, sân bay, khu dân cư, cao ốc, văn phòng, cơ quan, thang máy chung cư... Tiếp tục phát huy vai trò của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, cán bộ cơ sở; chức sắc tôn giáo; người có uy tín trong cộng đồng; hội viên các tổ chức chính trị - xã hội trong tuyên truyền về biển, đảo. Tích cực tiến hành các hoạt động trao đổi, đối thoại, đấu tranh với các cá nhân, tổ chức có nhận thức chưa đầy đủ về quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về biển, đảo.

Đặc biệt, cần phát huy vai trò, hiệu quả của báo chí truyền thông trong công tác tuyên truyền biển, đảo. Cung cấp các thông tin nhanh chóng, chính xác và tạo điều kiện tốt cho các cơ quan báo chí Việt Nam và nước ngoài. Bên cạnh đó, kiên quyết xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân đưa tin sai lệch về chủ trương, chính sách, lập trường của Đảng, Nhà nước ta trong vấn đề về Biển Đông.

Trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo cần: “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển”. Đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo là vấn đề hệ trọng, nhạy cảm, lâu dài, do đó, quan điểm chung trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo là “kiên quyết, kiên trì”, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, “kiên định nguyên tắc chiến lược, linh hoạt về sách lược”; những gì thuộc về nguyên tắc kiên quyết giữ; những gì thuộc về độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ kiên quyết không nhân nhượng, song phải có đối sách phù hợp, giữ vững chủ quyền biển, đảo nhưng phải ổn định chính trị, giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước. Đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo cần có sự kết hợp sức mạnh trên các mặt trận: Kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa, sự đồng tình, đồng thuận, đại đoàn kết toàn dân tộc và sử ủng hộ quốc tế.

TĂNG CƯỜNG CẢNH GIÁC VỚI MƯU ĐỒ LỢI DỤNG AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG

 

Hiện nay, trong  bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ  tư đang diễn ra mạnh mẽ cùng với sự phát triển, bùng nổ của mạng Internet, các mạng xã hội toàn cầu và những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của nền kinh tế thị trường; các thế  lực thù địch, phản động có những chiêu thức, thủ đoạn mới chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Do đó để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới cần thực hiện các giải pháp sau đây:

          Ứng phó với các nguy cơ đe dọa an ninh phi truyền thống đồng thời phải đi đôi đảm bảo an ninh truyền thống; cảnh giác trước các mưu đồ lợi dụng các vấn đề an ninh phi truyền thống để chống phá cách mạng Việt Nam Tiếp tục quán triệt, nhận thức đầy đủ, sâu sắc về tầm quan trọng của công tác bảo đảm an ninh, trật tự; tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác bảo đảm an ninh, trật tự, Xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở trong sạch, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả gắn với nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Ban hành các chủ trương, giải pháp, có chính sách cụ thể và đồng bộ giúp Nhân dân phát triển kinh tế, cải thiện đời sống.

Tăng cường hợp tác quốc tế, phát huy ngoại lực kết hợp sức mạnh nội lực để ứng phó với các nguy cơ đe dọa an ninh phi truyền thống. Đây là quan điểm, tư tưởng rất phù hợp đã được Đảng, Nhà nước ta xác định từ những năm đầu đổi mới và đến nay vẫn tiếp tục được nhấn mạnh. Cụ thể, Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới xác định rõ quan điểm: “Quán triệt đường lối độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Kiên trì chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa; thêm bạn, bớt thù, vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Tăng cường hợp tác, tạo thế đan xen lợi ích chiến lược giữa nước ta với các nước, nhất là các nước lớn, các đối tác chiến lược, các nước láng giềng và các nước trong khu vực; tránh xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, phụ thuộc”. Đặc biệt, quan điểm tăng cường hợp tác quốc tế, tạo thế đan xen lợi ích giữa Việt Nam với các nước để duy trì hòa bình, ổn định trong tình hình hiện nay.

 

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG NHỮNG HẠN CHẾ TRONG QUẢN LÝ, LÃNH ĐẠO ĐẺ CHỐNG PHÁ

 


Tình hình trong nước xuất hiện nhiều vấn đề về chính trị, nội bộ mà các thế lực thù địch, cơ quan tình báo nước ngoài có thể lợi dụng để đẩy mạnh hoạt động gián điệp. Nội bộ ta bộc lộ một số vấn đề tồn tại và yếu kém. Vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” gia tăng trong nội bộ; nhiều tổ chức Đảng cơ sở buông lỏng tính kỷ luật; tình trạng suy thoái đạo đức, tham nhũng diễn ra nghiêm trọng; nội bộ một số ban, ngành mất đoàn kết; lòng tin của một bộ phận quần chúng vào sự lãnh đạo của Đảng giảm sút. Các thế lực thù địch, cơ quan tình báo nước ngoài thời gian qua đã tập trung nhằm vào số đối tượng này để lôi kéo, tác động, hướng lái hoặc tuyển lựa làm cơ sở gián điệp, hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước.

Công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật nhà nước chưa được quan tâm đúng mức, còn bị buông lỏng và tồn tại nhiều sơ hở, thiếu sót, để xảy ra nhiều vụ việc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Công tác quản lý nhà nước về an ninh quốc gia trên các lĩnh vực còn bộc lộ nhiều hạn chế, sơ hở. Đáng chú ý là nhiều dự án có yếu tố nước ngoài, phức tạp về an ninh - chính trị được triển khai ngay tại các vùng chiến lược; các dự án kinh tế trọng điểm, hoạt động biên mậu dọc biên giới với Trung Quốc, Lào, Campuchia chưa được quản lý chặt chẽ, phát hiện nhiều dấu hiệu nghi vấn có sự phá hoại, hướng lái của cơ quan tình báo nước ngoài. Ngoài ra, công tác quản lý hoạt động xuất, nhập cảnh, cư trú, đi lại của người nước ngoài còn sơ hở và nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp; đường mòn, lối mở tuyến biên giới trên bộ chưa được quản lý chặt chẽ; việc xét duyệt, quản lý hoạt động của các đoàn, đối tượng lâm thời chưa sát; công tác quản lý người nước ngoài tại các địa phương chưa được tiến hành thường xuyên; nhiều địa bàn có hoạt động phức tạp của người nước ngoài chưa được quản lý tốt.

Bên cạnh đó, điều kiện, khả năng, trình độ khoa học - kỹ thuật mới phục vụ bảo vệ an ninh quốc gia còn hạn chế, trong khi đây là thế mạnh hoạt động của nhiều cơ quan tình báo nước ngoài. Mặc dù được Đảng, Nhà nước quan tâm đầu tư nhưng nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra. Cơ chế quản lý nhà nước, kiểm soát của ta còn nhiều sơ hở, bị phụ thuộc lớn vào nước ngoài như: về tỷ lệ thiết bị lõi hạ tầng viễn thông; hệ thống điều khiển tự động, mạng lưới điện quốc gia và các thiết bị điện tử. Tình trạng này đặt Việt Nam đứng trước rất nhiều nguy cơ về an ninh thông tin, an ninh mạng trước khả năng bị nước ngoài xâm nhập, kiểm soát.

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÂY DỰNG THẾ TRẬN QUỐC PHÒNG AN NINH

 

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân nhằm nâng cao sức mạnh quốc phòng của đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ chế độ, bảo vệ mọi thành quả cách mạng, bảo vệ sự nghiệp đổi mới; đồng thời ngăn chặn, đẩy lùi âm mưu, thủ đoạn bạo loạn lật đổ, xung đột vũ trang, chiến tranh xâm lược, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế, xã hội của đất nước và sẵn sàng đánh thắng mọi cuộc chiến tranh xâm lược của các thế lực thù địch.Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân là quá trình bao gồm tổng thể các hoạt động của cả hệ thống chính trị và toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước để khơi dậy, quy tụ, phát huy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí, niềm tin, quyết tâm của toàn dân tộc, tạo thành nền tảng chính trị - tinh thần vững chắc, cho phép huy động sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc. Lực lượng tham gia xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân là các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị, gồm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể; nhân dân và lực lượng vũ trang cả nước. Trong đó, Đảng là chủ thể lãnh đạo, Nhà nước là chủ thể quản lý, điều hành.

Trong quá trình đấu tranh cách mạng của dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa được hình thành và phát triển. Đó là sự kế thừa và phát triển các giá trị, bản sắc của Tổ quốc, đất nước, dân tộc và con người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước. Quản lý nhà nước về an ninh trật tự là sự tác động đồng bộ có mục đích của Nhà nước thông qua hoạt động của một hệ thống các cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội được chức năng hoá bằng hệ thống luật pháp trong lĩnh vực này vào tất cả các yếu tố cấu thành nền an ninh trật tự nhằm tạo nên sự ổn định, an toàn cho đất nước trên tất cả các phương diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội... nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và phát triển đất nước xã hội chủ nghĩa.

Tư tưởng về xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, “thế trận lòng dân” là sự kết hợp nhuần nhuyễn của nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về vai trò của quần chúng nhân dân với tư tưởng “trăm họ đều là binh”, “ngụ binh ư nông”, “dân là gốc”,... của dân tộc Việt Nam ta được hình thành và hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Theo Luật Quốc phòng năm 2018, thế trận quốc phòng toàn dân là việc tổ chức, triển khai bố trí lực lượng, tiềm lực quốc phòng trên toàn bộ lãnh thổ theo kế hoạch thống nhất, phù hợp với chiến lược bảo vệ Tổ quốc để ngăn ngừa, đối phó thắng lợi với mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, sẵn sàng chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến.

  Một là, Các cấp ủy cần tăng cường công tác giáo dục, quán triệt, tuyên truyền trong mọi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân hiểu rõ hơn về mục tiêu, yêu cầu, nội dung, nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong tình hình mới; trong đó chú trọng nâng cao công tác bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho các đối tượng và giáo dục, tuyên truyền kiến thức quốc phòng, an ninh cho học sinh và trong nhân dân, để từ đó nâng cao trình độ nhận thức, ý thức cảnh giác cách mạng cho mọi người, chủ động đấu tranh có hiệu quả với các âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động bất ngờ trong mọi tình huống.

   Hai là, Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, năng lực quản lý, điều hành của chính quyền các cấp, các ngành, nhằm bảo đảm việc thực hiện kết hợp phát triển KT-XH với tăng cường QP-AN đúng định hướng, quan điểm của Đảng. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH gắn với tăng cường QP-AN trên địa bàn. Thường xuyên chú trọng phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, các lực lượng và toàn dân trong triển khai thực hiện kết hợp phát triển KT-XH với tăng cường QP-AN.

   Ba là, Tham mưu xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Phát huy tốt vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang trong giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; nâng cao chất lượng xây dựng và hoạt động của khu vực phòng thủ thành phố vững chắc, làm nòng cốt để xây dựng KVPT tỉnh. Xây dựng lực lượng dự bị động viên, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp. Kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh với thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế và phòng chống thiên tai, dịch bệnh. 

 

PHÒNG CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH LÀ NHIÊM VỤ TRỌNG YẾU THƯỜNG XUYÊN CỦA TOÀN ĐẢNG, TOÀN QUÂN VÀ TOÀN DÂN

 

Các thế lực thù địch, phản động thực hiện “diễn biến hòa bình” kết hợp bạo loạn lật đổ nhằm xóa bỏ chế độ chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Chúng lợi dụng những khó khăn, yếu kém của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn để tuyên truyền, kích động, lôi kéo, mua chuộc quần chúng gây rối, biểu tình, bạo loạn chống chính quyền, chống chế độ; khi có thời cơ và điều kiện sẽ lật đổ chính quyền ở từng địa phương, từng khu vực, tiến tới xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chế độ chủ nghĩa xã hội. Phòng chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch là nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam chủ nghĩa xã hội.

Từ Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3, khóa VII xác định: “Phòng chống bạo loạn lật đổ là cuộc đấu tranh toàn dân, toàn diện, lâu dài nhằm làm thất bại mọi âm mưu, hành động “diễn biến hòa bình” gây bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch”1, đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Nhiệm vụ phòng chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ là nhiệm vụ mang tính cấp bách hàng đầu, thường xuyên và lâu dài ở nước ta. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Chủ động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ”, phòng ngừa, ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Xử lý hài hòa các vấn đề dân tộc, tôn giáo, bức xúc xã hội, không để xảy ra các “điểm nóng”. Kịp thời phát hiện, chủ động xử lý có hiệu quả các vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự, gây bức xúc trong dư luận, củng cố niềm tin của nhân dân”2, làm thất bại mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

Vì vậy, phòng chống diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản lâu dài, là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị-xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, do lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt.

 

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ QUỐC PHÒNG AN NINH

 

Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh là hoạt động chủ động của mọi quốc gia trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật của hai lĩnh vực kinh tế và quốc phòng. Bất kỳ một quốc gia nào, nước giàu cũng như nước nghèo, nước lớn cũng như nước nhỏ đều phải đặt phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh trong một chiến lược chung, đây là vấn đề mang tính quy luật. Phát triển kinh tế xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng an ninh phải toàn diện, cơ bản, lâu dài ngay từ trong chiến lược, quy hoạch kế hoạch phát triển kinh tế xã hội với tăng cường quốc phòng an ninh trên phạm vi cả nước, từng vùng, từng ngành và ở từng địa phương. Phát triển kinh tế xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng an ninh phải tập trung có trọng điểm, quan tâm đầu tư vào những vùng, địa bàn chiến lược trọng yếu, biên giới, hải đảo, những ngành, những lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội quan trọng.

Mục tiêu của sự kết hợp, đó là khai thác, sử dụng mọi tiềm năng về kinh tế, văn hóa, xã hội quốc phòng, an ninh và mọi nguồn lực của đất nước, làm cho kinh tế xã hội và quốc phòng an ninh đều phát triển cân đối, hài hòa và vững chắc. Tạo môi trường quốc tế và trong nước thuận lợi cho phát triển kinh tế, thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền công nghiệp quốc phòng từng bước hiện đại, bảo đảm cho lực lượng vũ trang được trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đại.

Kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường, củng cố quốc phòng an ninh theo vùng lãnh thổ là sự gắn kết chặt chẽ phát triển vùng kinh tế chiến lược, với xây dựng vùng chiến lược quốc phòng, an ninh, nhằm tạo ra thế bố trí chiến lược hợp lý cả về kinh tế lẫn quốc phòng, an ninh trên từng vùng lãnh thổ, trên địa bàn tỉnh, thành phố, theo ý đồ phòng thủ chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam bền vững trên toàn cục và mạnh ở từng trọng điểm.

Hiện nay, nước ta đã phân chia thành các vùng kinh tế lớn và các vùng chiến lược, các quân khu, sự phân vùng chiến lược quốc phòng, an ninh là sự phân vùng theo ý đồ phòng thủ và tác chiến bảo vệ Tổ quốc trên từng chiến trường, từng hướng chiến lược của đất nước. Mỗi vùng đều có vị trí chiến lược về phát triển kinh tế và chiến lược phòng thủ bảo vệ Tổ quốc. Các vùng chiến lược khác nhau có sự khác nhau về đặc điểm và yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế, quốc phòng, an ninh, nên nội dung kết hợp cụ thể trong mỗi vùng có thể có sự khác nhau. Vì vậy, phải thực hiện thật tốt phát triển kinh tế gắn với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh trên các vùng này.

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước và chính quyền các cấp trong việc thực hiện kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh. Đất nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng xây dựng nền công nghiệp quốc phòng. Có nhiều vấn đề thuộc về nhận thức, về cơ chế đòi hỏi phải tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, điều hành của Nhà nước, trong đó trước hết cần nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng, sự quản lí điều hành của chính quyền các cấp trong công tác kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh, phù hợp với điều kiện thực tế của từng ngành và địa phương, đồng thời phát huy vai trò trách nhiệm của các tổ chức và công dân trong thực hiện chủ trương kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, chống tư tưởng và hành động tự do vô chính phủ trong hoạt động kinh tế cũng như trong hoạt động quốc phòng, an ninh, các hành động phương hại đến phát triển kinh tế và sức mạnh quốc phòng của đất nước. Hai là, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kinh nghiệm kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh cho các đối tượng, đặc biệt là cán bộ quản lý. Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định “Kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng an ninh, quốc phòng an ninh với kinh tế trong từng chiến lược quy hoạch kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế xã hội”. Đây là quan điểm thể hiện phát triển nhận thức của Đảng ta về quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước, đồng thời cũng khẳng định việc kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn dân của mọi thành phần kinh tế, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ba là, quán triệt và thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật, cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước có liên quan đến thực hiện kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cố quốc phong, an ninh trong tình hình mới. Đây là nội dung rất quan trọng nhằm cụ thể hoá đường lối, chủ trương của Đảng về mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng và an ninh thành các văn bản, tiến hành quán triệt, tổ chức thực hiện bảo đảm hiệu quả cao, cần quy định rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị trong lãnh đạo chỉ đạo và quản lý. Trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cần tập trung quán triệt nắm chắc hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và cơ chế, chính sách có liên quan đến mối quan hệ này làm cơ sở để giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữa tự bảo vệ và được bảo vệ, phù hợp với thực tiễn đất nước và thông lệ quốc tế.

Một số giải pháp bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới

 

Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; yếu tố quan trọng để đất nước phát triển bền vững. Trong bối cảnh thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó lường, để bảo vệ chủ quyền biển, đảo, vấn đề cần quan tâm hiện nay là tăng cường sức mạnh quốc gia, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển vững mạnh.

Những nhân tố gây mất ổn định, xâm phạm chủ quyền, an ninh vùng biển, đảo Việt Nam vẫn đang diễn ra gay gắt; nguy cơ xung đột vũ trang, tranh chấp trên biển, đảo và thềm lục địa của nước ta vẫn chưa được loại trừ do đang tồn tại những nhận thức khác nhau về chủ quyền; có những yêu sách chủ quyền trái với thông lệ và luật pháp quốc tế; áp đặt tư duy chủ quan, nước lớn trong các hoạt động ở Biển Đông, như: đẩy mạnh việc xây đắp phi pháp các đảo nhân tạo, cải tạo các đảo đã chiếm đóng trái phép, nỗ lực đơn phương nhằm thay đổi hiện trạng trên Biển Đông; tăng cường các hoạt động chống phá, mở rộng vùng hoạt động kinh tế.

Những hoạt động này đã và đang đe dọa, làm ảnh hưởng không chỉ đối với quốc phòng, an ninh của Việt Nam mà cả an ninh, an toàn của nhiều nước trong khu vực. Tiếp tục hoàn thiện, bổ sung, điều chỉnh và tăng cường huấn luyện các phương án tác chiến bảo vệ biển, đảo. Tăng cường tuần tra, kiểm soát, thực thi pháp luật trên biển và bảo vệ vùng trời. Hoàn thiện hệ thống quan sát, trinh sát, chỉ thị mục tiêu, thông tin trên biển, nâng cao khả năng quan sát, theo dõi, phát hiện từ sớm, từ xa để chủ động đối phó với các tình huống, không để bị động, bất ngờ.

Sản xuất, mua sắm vũ khí, trang bị, phương tiện, hiện đại hóa một số quân, binh chủng, lực lượng đáp ứng yêu cầu bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới. Củng cố, hoàn thiện hệ thống công sự trận địa, tổ chức các biện pháp bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, tăng cường khả năng phòng ngự bảo vệ các đảo. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các lực lượng thực thi pháp luật trên biển. Nhận thức đầy đủ, sâu sắc về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Theo đó, quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng pháp luật của Nhà nước với quá trình kinh tế - xã hội, các hoạt động trên biển, đảo nhằm duy trì và phát triển các mối quan hệ, các hoạt động đó trong trật tự, theo đúng định hướng của Nhà nước trong việc thăm dò, khai thác các tiềm năng của biển, thực thi và bảo vệ chủ quyền, các quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, hải đảo và thềm lục địa của quốc gia phù hợp với luật pháp quốc tế và nguyên tắc ứng xử của khu vực. Quản lý, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển còn là bảo vệ các quyền của quốc gia về biển phù hợp với luật pháp quốc tế và các hiệp định mà nước ta đã ký với các nước có liên quan. cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:

Một làxây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, sớm đưa nước ta trở thành quốc gia trong khu vực mạnh về kinh tế biển, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế. Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định: “Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”2. Để kinh tế phát triển tương xứng với tiềm năng của biển, gắn phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo cần phải tổ chức lại hoạt động khai thác hải sản theo hướng giảm khai thác gần bờ, đẩy mạnh khai thác xa bờ; thúc đẩy các hoạt động nuôi trồng, khai thác hải sản bền vững, tăng cường bảo vệ, tái sinh nguồn lợi hải sản và môi trường biển, nghiêm cấm các hoạt động khai thác mang tính hủy diệt.

Phát triển nhanh một số khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp năng lượng, công nghiệp hàng hải, đóng tàu, nuôi trồng, khai thác và chế biến hải sản chất lượng cao. Đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, xây dựng các trung tâm kinh tế ven biển mạnh, tạo thế tiến ra biển, gắn với phát triển đa dạng các ngành dịch vụ, xuất khẩu, du lịch, dịch vụ nghề cá, dầu khí, vận tải biển, v.v. Phát triển kinh tế các đảo, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, thăm dò, khai thác, nuôi trồng thủy sản gắn với bảo vệ, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Xây dựng các chiến lược, quy hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội trên biển, đảo; tăng cường đầu tư các nguồn lực và hoạch định cơ chế chính sách trong phòng, chống thiên tai, thảm họa, bảo vệ môi trường biển.

Hai làxây dựng lực lượng quản lý, bảo vệ biển, đảo vững mạnh về mọi mặt. Việc tập trung nỗ lực xây dựng lực lượng quản lý biển, đảo và các hoạt động kinh tế biển, nhất là lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển, Biên phòng, Dân quân tự vệ biển và lực lượng Kiểm ngư vững mạnh, đủ sức hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao là yêu cầu bức thiết hiện nay. Trong đó, Hải quân nhân dân Việt Nam là lực lượng chuyên trách hoạt động trên biển, giữ vai trò quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ các vùng biển, đảo của Tổ quốc, cần được ưu tiên đầu tư xây dựng theo hướng hiện đại hóa và có chính sách đãi ngộ thỏa đáng, đặc biệt là lực lượng thường xuyên tuần tra trên biển và chốt giữ các đảo xa bờ. Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng chuyên trách quản lý, duy trì thực thi pháp luật trên biển, cần được tiếp tục củng cố, hoàn thiện về tổ chức, biên chế, tăng cường trang bị hiện đại, bảo đảm đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. Bộ đội Biên phòng cần được đầu tư đủ trang thiết bị kỹ thuật, phương tiện cơ động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự, cứu hộ, cứu nạn, chống buôn lậu và các tệ nạn xã hội trên các vùng biển. Dân quân tự vệ biển được xây dựng theo phương châm vững mạnh, rộng khắp, ở đâu có tàu, thuyền, ngư dân hoạt động và dân cư sinh sống trên đảo thì ở đó có dân quân tự vệ biển; lấy doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã làm nòng cốt; tổ chức biên chế phù hợp với đặc điểm của từng địa phương, bảo đảm thành ba tuyến: ven bờ, lộng, khơi; coi trọng lực lượng hoạt động trên biển. Kiểm ngư là lực lượng được tổ chức chặt chẽ, hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ, nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý các vi phạm của tàu thuyền nước ngoài; hỗ trợ ngư dân, đảm bảo an ninh trật tự và có vai trò quan trọng trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên các vùng biển của Tổ quốc.

Ba làkiên quyết, kiên trì giải quyết tranh chấp trên biển, đảo bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Là thành viên của Liên hợp quốc, của UNCLOS cũng như tuyên bố của các bên về cách ứng xử trên biển Đông (DOC), Việt Nam luôn tuân thủ các quy định của luật pháp quốc tế; kiên trì con đường giải quyết các vấn đề nảy sinh bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau; thông qua đàm phán, thương lượng, nhằm tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của tất cả các bên liên quan vì độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, vì hòa bình, ổn định khu vực và quốc tế. Theo tinh thần đó, những vấn đề còn đang bất đồng, tranh chấp song phương thì giải quyết song phương; những vấn đề tranh chấp liên quan đến nhiều bên thì giải quyết đa phương và phải hết sức công khai, minh bạch giữa các bên có liên quan. Trong khi nỗ lực xử lý các vấn đề nảy sinh ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, cần kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ những lợi ích chính đáng của ta trên biển với quyết tâm “Việt Nam quyết không để một tấc đất, tấc biển nào bị xâm phạm”; kiên trì tìm kiếm một giải pháp lâu dài và yêu cầu các bên liên quan kiềm chế, không có hoạt động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, tuân thủ cam kết giải quyết bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, UNCLOS và 05 nguyên tắc chung sống hòa bình, tăng cường nỗ lực xây dựng lòng tin, hợp tác đa phương về an ninh biển, nghiên cứu khoa học, chống tội phạm; cùng nhau thực hiện nghiêm chỉnh DOC, hướng tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử COC để Biển Đông thực sự là vùng biển hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Tại các vùng biển không phải là tranh chấp, hoàn toàn thuộc chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển, Việt Nam có quyền áp dụng các biện pháp cần thiết, phù hợp với quy định của UNCLOS để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng.

 

CỦNG CỐ XÂY DỰNG QUỐC PHÒNG AN NINH VỮNG CHẮC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Trước hết cần phải tạo được chuyển biến rõ rệt trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước; ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; củng cố đoàn kết, thống nhất trong Đảng, lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Tăng cường củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận.

Tập trung thực hiện có hiệu quả tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, đưa nền kinh tế ra khỏi tình trạng khó khăn, tăng trưởng cao, bền vững. Phát triển các ngành cồng nghiệp cơ bản, tạo nền tảng công nghiệp hóa, hiện đại hóa công nghiệp quốc phòng, an ninh. Phát triển nông nghiệp, nông thôn, kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng.

Chủ động ngăn ngừa, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; khắc phục tình trạng sơ hở, mất cảnh giác. Phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả các nguy cơ xung đột, chiến tranh trên biên giới, biển đảo, chiến tranh mạng, không để xảy ra bạo loạn, khủng bố, hình thành các tổ chức chính trị đối lập trong nước. Bảo đảm an ninh trên các lĩnh vực; kiềm chế gia tăng và làm giảm tội phạm, tạo chuyển biến rõ rệt về trật tự xã hội, xây dựng xã hội an toàn, lành mạnh.

Xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh toàn diện, có chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu cao, bảo đảm giành thắng lợi trong mọi tình huống.

Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho sự phát triển đất nước, gia tăng mức độ đan xen lợi ích với các đối tác, nhất là các nước láng giềng, các đối tác quan trong; nâng cao vị thế của Viêt Nam ở khu vực và trên thế giới; giải quyết cơ bản các vấn đề biên giới trên bộ, thúc đẩy giải quyết có kết quả những vấn đề trên biển với các nước láng giềng.

 

THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG CÔNG GIÁO CHỐNG PHÁ VIỆT NAM

 

Trong quá trình thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" chống Việt Nam, các thế lực thù địch, đối tượng phản động trong và ngoài nước luôn chú ý lợi dụng vấn đề tôn giáo, coi đây là một trong những mũi tiến công chủ đạo nhằm thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam. Do đó, việc nhận diện và đấu tranh với hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Bảo vệ ANQG mang “tính phòng ngừa” rất cao; đối tượng bảo vệ ANQG là những lợi ích đặc biệt quan trọng của quốc gia, dân tộc, quan hệ trực tiếp đến vận mệnh đất nước, bản chất, sự tồn vong của chế độ chính trị, quyết định sự thành bại của tiến trình xây dựng, phát triển đất nước.

       Đây là lực lượng duy nhất có khả năng đối trọng với Đảng Cộng sản do có tổ chức, giáo lý, giáo luật chặt chẽ, có lực lượng quần chúng giáo dân đông đảo với “đức vâng lời” rt cao, có nguồn tài chính ngầm, có sự hậu thuẫn của Vaticcan, Mỹ và các nước phương Tây, được bọn phản động lưu vong chấm chọn tranh giành gây ảnh hưởng là thành phần nòng cốt để thực hiện “cách mạng màu” lật đổ chế độ. Tình hình phức tạp trong Công giáo nổi lên là: Hoạt động củng cố đức tin, tập hợp tín đồ, giành giật quần chúng được triển khai hết sức bài bản như: Tăng cường hoạt động xã hội, từ thiện nhằm lôi kéo quần chúng, công khai khẳng định quan điểm muốn tham gia sâu hơn vào lĩnh vực y tế, giáo dục; phục hồi hoặc thành lập mới các hội đoàn trái pháp luật; lợi dụng các sự kiện lớn của Công giáo để tập dượt tập hợp quần chúng; lợi dụng rao giảng giáo lý, giáo luật tại các buổi hành lễ để tuyên truyền xuyên tạc, từng bước hình thành và củng cố tư tưởng chống chế độ kích động giáo dân tuần hành ôn hòa, tập dượt biểu tình chống chế độ khi có thời cơ.

Lợi dụng vấn đề tranh chấp, khiếu kiện nhà, đất liên quan Công giáo; những sơ hở, thiếu sót trong tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước của cấp ủy, chính quyền các cấp, để kích động các hoạt động chống Đảng, Nhà nước. Tiến hành các hoạt động Tôn giáo trái pháp luật nhằm tách Tôn giáo khỏi sự quản lý của nhà nước; bố trí lại đội ngũ linh mục tại những nơi hệ thống chính trị cơ sở của ta yếu kém; lợi dụng giáo lý, giáo luật ngăn cản chức sắc, tín đồ tham gia các tổ chức chính trị của nhà nước.

Bảo vệ an ninh quốc gia thể hiện “tính chiến đấu” thường xuyên, liên tục trong mọi hoàn cảnh; cuộc đấu tranh bảo vệ ninh quốc gia là cuộc đấu tranh cam go, quyết liệt, phức tạp và lâu dài nhằm làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các loại tội phạm.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch không chấp nhận thực tế trên và chúng ráo riết tìm mọi cách lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Đặc biệt, những năm gần đây, lợi dụng chính sách đối ngoại và chính sách tôn giáo của ta ngày càng cởi mở hơn, các đối tượng gia tăng lợi dụng vấn đề tôn giáo để tạo sức ép từ bên ngoài, tìm cách gây mất ổn định an ninh chính trị ở bên trong, nhằm tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nổi lên hiện nay là một số hoạt động sau:

  Một là, tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm quyền tự do tôn giáo. Lợi dụng tính chất nhạy cảm của tôn giáo và một số hạn chế, thiếu sót của chính quyền các địa phương trong công tác tôn giáo, thời gian qua, các thế lực thù địch cùng với bọn phản động trong và ngoài nước đã ra sức tuyên truyền xuyên tạc về tình hình tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Các đối tượng cho rằng, hệ thống chính sách pháp luật về tôn giáo của Việt Nam không tương đồng với luật pháp quốc tế về quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo; thậm chí, chúng còn trắng trợn xuyên tạc việc xây dựng, ban hành quy định pháp luật về tôn giáo là "thòng lọng" đối với hoạt động của các tôn giáo; xuyên tạc việc xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai, xây dựng, hành chính, dân sự… liên quan chức sắc, tín đồ tôn giáo là "đàn áp tôn giáo". Một số cá nhân, tổ chức bên ngoài nhiều lần đơn phương đưa ra cái gọi là "Báo cáo", "Phúc trình" thường niên về tình hình tôn giáo quốc tế; trong đó có nhiều nội dung sai sự thật về tình hình, kết quả công tác tôn giáo tại Việt Nam, qua đó gây áp lực đòi ta phải thay đổi chính sách pháp luật về tôn giáo, lấy vấn đề "tự do tôn giáo" làm điều kiện trong đàm phán hợp tác, đầu tư phát triển tại Việt Nam.

      Đáng chú ý, những năm gần đây, lợi dụng sự phát triển mạnh mẽ trên lĩnh vực thông tin, truyền thông, một số đối tượng cực đoan trong các tôn giáo triệt để lợi dụng Internet, mạng xã hội để tán phát, chia sẻ nhiều tài liệu có nội dung vu cáo Đảng, Nhà nước "đàn áp tôn giáo"; công kích số chức sắc, tín đồ tôn giáo tiến bộ, yêu nước, tham gia các tổ chức chính trị - xã hội; kêu gọi các nước lấy vấn đề tự do tôn giáo để làm điều kiện trong việc đàm phán, ký kết các thỏa thuận hợp tác song phương cũng như đa phương, qua đó tìm cách can thiệp công việc nội bộ của Việt Nam. Đặc biệt, có chức sắc còn công khai đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản tại Việt Nam, tuyên truyền, cổ xúy quan điểm đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, cho rằng "tự do tôn giáo" là quyền, không chịu sự quản lý của Nhà nước, đòi phi chính trị hóa lực lượng vũ trang và xây dựng xã hội dân sự Việt Nam theo mô hình các nước phương Tây.

      Hai là, lợi dụng các vấn đề tiêu cực trong xã hội, các vụ việc phức tạp liên quan tôn giáo để kích động chức sắc, tín đồ gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, bên cạnh những thành tựu là cơ bản, không tránh khỏi một số hạn chế, khiếm khuyết trong công tác điều hành, quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực như: kinh tế, y tế, môi trường, giáo dục, đất đai, tư pháp…

      Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, đối tượng phản động trong và ngoài nước đã và đang ráo riết triển khai nhiều chiến dịch tuyên truyền nhằm thổi phồng các tiêu cực trong xã hội, quy chụp mọi tồn tại, hạn chế hiện nay là do sai lầm trong công tác lãnh đạo của Đảng, yếu kém trong công tác điều hành, quản lý của Chính phủ; từ đó, chúng móc nối, lôi kéo, kích động chức sắc, tín đồ các tôn giáo tổ chức các cuộc tập trung đông người tuần hành, biểu tình với danh nghĩa bảo vệ cuộc sống của người dân, bảo vệ người yếu thế để chống chính quyền; tăng cường phát triển lực lượng chống đối trong các tôn giáo, tạo thế liên tôn, liên kết trong - ngoài nhằm âm mưu tiến hành các cuộc tập dượt cho "cách mạng màu", "cách mạng đường phố" tại Việt Nam.

 

TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ AN NINH TRÊN BIỂN, ĐẢO TỔ QUỐC

 

Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nhiệm vụ "trọng yếu thường xuyên" của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện sự nghiệp xây dụng, củng cố quốc phòng bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta luôn trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bám sát đặc điểm, tình hình, yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng trong bối cảnh thế giới, đất nước có nhiều biến động phức tạp và đã đạt được những thành tựu rất quan trọng cả về nhận thức, quan điểm lý luận cũng như trong tổ chức hoạt động thực tiễn.

Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế và tăng cường đối ngoại nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước và vùng lãnh thổ, các trung tâm chính trị, kinh tế quốc tế lớn, các tổ chức quốc tế và khu vực, góp phần làm thất bại mọi âm mưu, hành động áp đặt và cường quyền. Tăng cường đối ngoại về quốc phòng an ninh với các nước trong khu vực và thế giới trong thi hành pháp luật biển, như: tuần tra chung trên biển với hải quân các nước theo các thỏa thuận đã ký kết; chống các hoạt động buôn lậu, buôn bán ma túy, buôn bán người, chống cướp biển; góp phần giữ gìn trật tự và an ninh trên biển đảo.

          Tổ chức diễn tập tìm kiếm cứu nạn trên biển với một số nước trong khu vực theo thỏa thuận. Ký kết hợp tác với các cơ quan cảnh sát biển của các nước trong khu vực, nhất là hợp tác đào tạo, huấn luyện chuyên ngành cảnh sát biển về lĩnh vực thi hành luật, bảo vệ môi trường biển, hoạt động điều tra tội phạm, phòng chống buôn lậu, thông tin về các thảm họa... Thiết lập các kênh thông tin đa chiều giữa cảnh sát biển nước ta và cảnh sát biển các nước trong khu vực, nhằm trao đổi kịp thời thông tin liên quan tới tình hình trên biển.

          Đẩy mạnh các hoạt động giao lưu với hải quân các nước trong khu vực và thế giới và giao hữu thi đấu thể thao; tổ chức các lớp đào tạo cán bộ quân sự cao cấp và đào tạo Tiếng Việt cho các nước trong khu vực. Tăng cường tính minh bạch và vận dụng các hình thức hợp tác củng cố lòng tin và sự tin cậy giữa các nước thông qua việc tự nguyện thông báo về chính sách quốc phòng; trao đổi các thông tin, tài liệu liên quan tới những vấn đề an ninh cùng quan tâm trong điều kiện và quyền hạn cho phép; đối thoại quan chức quốc phòng, trao đổi quan sát viên trong các cuộc diễn tập quân sự phù hợp với khả năng và điều kiện của Việt Nam.