Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2025

Luận điệu xuyên tạc chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với những thương, phế binh chế độ cũ

 

Mỗi dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30/4/1975, người dân Việt Nam ở trong hay ngoài nước đều bày tỏ sự tri ân, biết ơn sâu sắc sự cống hiến của các thế hệ tiền bối cách mạng, tưởng nhớ biết bao đồng bào, đồng chí đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Tuy nhiên, đi ngược lại với tình cảm của đồng bào thì một số người Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là các đối tượng phản động lưu vong vẫn mang trong lòng sự thù hận với sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam, có những luận điệu cố tình xuyên tạc về Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước cũng như các chính sách hoà hợp, hoà giải dân tộc.

Nhận diện những luận điệu xuyên tạc sự thật

Những ngày qua, các trang tin không thiện chí với Việt Nam như VOA Tiếng Việt, RFA Tiếng Việt và trang web của tổ chức Việt Tân… đã đăng tải thông tin rằng, Liên hợp quốc chất vấn Việt Nam về thương, phế binh Việt Nam Cộng hoà (VNCH) tại phiên bảo vệ báo cáo Công ước Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật (CRPD), tại trụ sở Liên hợp quốc (Geneva) ngày 6-7/3/2025 của phái đoàn Việt Nam. Gọi là chất vấn nhưng thực chất chỉ là việc bà Amalia Gamio, Phó Chủ tịch Ủy ban về quyền của người khuyết tật nêu vấn đề về chế độ nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta đối với những thương, phế binh VNCH.

Phát biểu mở đầu cho phiên bảo vệ, Thứ trưởng Nguyễn Văn Hồi, Trưởng phái đoàn Việt Nam cho biết, Đảng và Nhà nước Việt Nam rất quan tâm đến công tác người khuyết tật, đã ban hành hệ thống chính sách hỗ trợ nhằm khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật thực hiện bình đẳng các quyền về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và phát huy khả năng của mình để ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng, phù hợp với Công ước về quyền của người khuyết tật mà Việt Nam là thành viên.

Qua đó, Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận là điểm sáng trong công tác giảm nghèo và đạt được các mục tiêu phát triển bền vững, tỷ lệ giảm nghèo đa chiều nhanh từ 60% vào những năm 1990, xuống còn 13,5% vào năm 2014, đến năm 2023 còn khoảng 5%. Hệ thống an sinh xã hội không ngừng mở rộng diện bao phủ và nâng cao chất lượng chính sách đối với người khuyết tật: trên 1,6 triệu người khuyết tật nặng được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, 96% người khuyết tật có thẻ bảo hiểm y tế, các bệnh viện đa khoa trung ương, tỉnh và huyện đều có khoa phục hồi chức năng. Trẻ em khuyết tật được hỗ trợ học hòa nhập tại các cơ sở giáo dục; đối với trẻ em không có khả năng học hay hòa nhập sẽ được hỗ trợ tại các cơ sở giáo dục chuyên biệt.

Tuy nhiên, với bản chất chống phá, các tổ chức trên đã thêm thắt và đưa ra những thông tin sai lệch, vu cáo Việt Nam đàn áp, phân biệt đối xử, bỏ mặc những người được cho là thương, phế binh VNCH. Trong nhiều năm qua, các tổ chức phản động lưu vong, tổ chức khủng bố như Việt Tân, Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời... đã lợi dụng thương, phế binh để làm bình phong thực hiện mưu đồ chính trị chống phá với nhiều thủ đoạn, kể cả ép buộc người Việt Nam ở nước ngoài quyên góp tiền để hỗ trợ cho một số thương, phế binh VNCH hòng kích động “dựng lại thây ma quân lực VNCH”, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Một số người bị các đối tượng ép trả lời phỏng vấn trên các trang tin phản động ở nước ngoài với những lời lẽ sai sự thật, xuyên tạc khi cho rằng “bị áp bức”, “bị phân biệt đối xử” hoặc “không có tự do, dân chủ”...

Ngoài việc xuyên tạc về việc Việt Nam đàn áp, bỏ mặc thương, phế binh VNCH, các đối tượng còn tiếp tục đưa ra những lập luận vô căn cứ rằng, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và đại thắng mùa xuân 1975 là “hoàn toàn vô nghĩa, lẽ ra dân tộc Việt Nam đã có thể tránh được cuộc chiến tranh”; tiếp tục vu cáo đây là cuộc “nội chiến”, “huynh đệ tương tàn” giữa hai miền Nam - Bắc. Trên một số trang mạng, website, blog cá nhân của các phần tử cơ hội chính trị đã phát tán nhiều tin, bài xuyên tạc lịch sử. Họ đưa ra luận điệu sai lệch, đòi “định danh lại ngày 30/4 cho phù hợp”, không chấp nhận 30/4 là Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tái diễn luận điệu xuyên tạc “người Việt trẻ gọi 30/4 là một biến cố buồn”; nếu không có ngày 30/4/1975 thì miền Nam Việt Nam ngày nay phát triển không kém gì Hàn Quốc, vượt xa Thái Lan… Rồi Việt Nam đàn áp những người thuộc chế độ cũ, không quan tâm, bỏ mặc thương, phế binh VNCH… Đây là những luận điệu lạc lõng, hoàn toàn sai trái, bịa đặt, cố tình phủ nhận sự thật lịch sử.

Cần nhìn nhận sự thật khách quan

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 kết thúc thắng lợi bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (30/4/1975) đã lật đổ hoàn toàn chế độ tay sai ở miền Nam, làm tan rã các tổ chức, đảng phái chính trị phản động. Trái ngược với luận điệu tuyên truyền cho rằng sẽ có “trả thù, tắm máu” nếu miền Nam được giải phóng thì thực tế cho thấy, với những người từng theo VNCH, các tổ chức chống lại cách mạng thì Đảng, Nhà nước ta đã đối xử một cách khoan hồng, độ lượng bằng chính sách hoà giải, hoà hợp để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Ngày 28/1/1976, Chính phủ cách mạng lâm thời công bố chính sách khoan hồng, độ lượng đối với những binh sĩ ngụy quân, nhân viên ngụy quyền và đảng viên các đảng phái phản động đã đăng ký trình diện và học tập cải tạo tốt.

Sau thời gian cải tạo, những sĩ quan, binh sĩ làm trong quân đội và nhân viên chính quyền Sài Gòn đã được trả về với gia đình sau khi được giáo dục, tuyên truyền với mong muốn họ thay đổi suy nghĩ, xóa bỏ những bất đồng, mặc cảm và đóng góp cho công cuộc tái thiết đất nước. Những người này không bị kỳ thị, khinh rẻ như luận điệu kẻ xấu rêu rao mà còn được chính quyền tạo điều kiện cho công ăn, việc làm cũng như hỗ trợ gia đình. Trong đó, nhiều binh lính, sĩ quan chế độ cũ sau đó đã trực tiếp tham gia vào Quân đội nhân dân Việt Nam trong các cuộc chiến bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế xoá bỏ chế độ diệt chủng Pol Pot tại Campuchia, tham gia vào công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc giai đoạn 1979 - 1988.

Ngoài ra, nhiều trí thức, nhà khoa học đã đóng góp vào công cuộc kiến thiết đất nước sau chiến tranh và xây dựng, phát triển đất nước như KTS Ngô Viết Thụ, Bùi Thị Lang, Bùi Văn Hinh, GS.TS Chu Phạm Ngọc Sơn… Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, bác sĩ Trần Đông A từng có thời gian phục vụ trong quân đội ngụy quyền Sài Gòn trước năm 1975 với vai trò y sĩ quân y, sau này ông đã có nhiều đóng góp cho y học nước nhà. Ông là người đã giữ vai trò điều phối, chỉ huy, phẫu thuật viên chính ca mổ tách cặp song sinh dính liền Nguyễn Việt - Nguyễn Đức thành công vang dội. Đó là ca mổ tách dính thứ 7 trên toàn thế giới và là ca đầu tiên ở Việt Nam năm 1988 và gần đây nhất là ca phẫu thuật hai bé Trúc Nhi - Diệu Nhi đánh dấu sự tiến bộ vượt bậc của nền y tế Việt Nam đối với thế giới về tách dính trẻ song sinh dính liền năm 2020.

Đối với vấn đề thương, phế binh VNCH, Đảng, Nhà nước có nhiều chính sách, đảm bảo an sinh xã hội mà không phân biệt địa vị, thành phần như chính sách y tế cho việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi; chính sách phòng ngừa, giảm thiểu khuyết tật bẩm sinh, khuyết tật do tai nạn thương tích, bệnh tật và nguy cơ khác dẫn đến khuyết tật. Đối với người nghèo, hộ nghèo cũng được áp dụng bình đẳng, không phân biệt yếu tố chính trị trước 30/4/1975 như thế nào, trong đó có các chính sách như: Chính sách hỗ trợ về bảo hiểm y tế, hỗ trợ về giáo dục - đào tạo, hỗ trợ về nhà ở, đất ở, đất sản xuất, hỗ trợ pháp lý, tạo điều kiện để người khuyết tật được chỉnh hình, phục hồi chức năng, khắc phục khó khăn, sống độc lập và hòa nhập cộng đồng… Nhiều người dù là thương, phế binh bên cạnh việc chăm lo cuộc sống gia đình còn tham gia vào các công tác, đoàn thể, tham gia lực lượng dân quân, bảo vệ dân phố góp phần đảm bảo an ninh, trật tự tại nơi mình sinh sống và được cơ quan, ban, ngành, chính quyền sở tại ghi nhận.

Hòa hợp, hòa giải dân tộc phải dựa trên sự tôn trọng lịch sử; bảo đảm lợi ích của quốc gia, dân tộc, xuất phát từ sự chân thành, thiện chí của tất cả các bên. Bản chất cuộc chiến vệ quốc của Việt Nam là sự thật lịch sử. Với cuộc kháng chiến này, quân và dân Việt Nam chiến đấu chống kẻ thù xâm lược là đế quốc Mỹ và lực lượng tay sai chứ không có chuyện miền Bắc xâm lược miền Nam, không có chuyện “nội chiến”, “huynh đệ tương tàn”. Kế thừa truyền thống nhân văn, nhân đạo, hòa hiếu của dân tộc, trên tinh thần “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, Đảng và Nhà nước đã đề ra các chủ trương, chính sách hòa hợp, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc. Theo đó, năm 2003, Hội nghị Trung ương 7 (khóa IX) của Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng như: Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 (khóa IX) của Bộ Chính trị về công tác dân tộc; Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài; Chỉ thị 45-CT/TW ngày 19/5/2015 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.

Chỉ thị 45 đã khẳng định: “Đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung...; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai; xoá bỏ mặc cảm, định kiến; chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Chỉ thị cũng nêu rõ: “Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam… Mọi người Việt Nam ở nước ngoài đều được khuyến khích, tạo điều kiện trở về thăm quê hương, đầu tư sản xuất kinh doanh, góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam”.

Thống nhất non sông gắn liền với thống nhất dân tộc, chỉ có thống nhất dân tộc mới làm nên sức mạnh quốc gia. Đã 50 năm trôi qua kể từ ngày nước nhà thống nhất, non sông quy về một mối, ý nghĩa thiêng liêng trong thời khắc lịch sử ấy luôn khắc sâu trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam dù ở trong nước hay nước ngoài. Từ khát vọng thống nhất non sông ngày ấy, giờ đây khi đất nước bước sang trang mới với khát vọng xây dựng một Việt Nam hùng cường, phát triển.

 

Hội nghị tổng kết công tác tu bổ, tôn tạo các nghĩa trang liệt sĩ Trung Quốc tại Việt Nam

 

Ngày 2-4, tại Hà Nội, Bộ Quốc phòng tổ chức Hội nghị tổng kết công tác tu bổ, tôn tạo các nghĩa trang liệt sĩ Trung Quốc tại Việt Nam. Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì hội nghị.

Dự hội nghị về phía Việt Nam có Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Anh Tuấn; Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Về phía Trung Quốc có Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam Hà Vĩ.

Hơn 50 năm trước, cùng với quân và dân Việt Nam, nhiều chuyên gia quân sự Trung Quốc đã hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Việt Nam, góp phần tô thắm tình hữu nghị “vừa là đồng chí, vừa là anh em” giữa hai nước. Trong đó nhiều chuyên gia Trung Quốc có công giúp cách mạng Việt Nam đã được an táng tại các nghĩa trang trên khắp đất nước Việt Nam. Trải qua thăng trầm của thời gian và ảnh hưởng của điều kiện thời tiết, khí hậu, các nghĩa trang này đã xuống cấp, cần được tu bổ, tôn tạo.

Thực hiện chủ trương của Ban Bí thư Trung ương Đảng, trên cơ sở đồng thuận của phía Trung Quốc, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã ban hành kế hoạch tu bổ, tôn tạo các nghĩa trang chuyên gia Trung Quốc có công giúp cách mạng Việt Nam hiện đang an táng tại Việt Nam; giao nhiệm vụ cho các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp quân đội chủ trì, phối hợp với các đơn vị, địa phương liên quan tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch.

Tổng cộng có 30 nghĩa trang trên địa bàn 14 tỉnh, thành phố, với tổng số 1.460 mộ. Trong đó có 22 nghĩa trang cần tu bổ, tôn tạo. Bộ Quốc phòng đã giao 7 đơn vị, doanh nghiệp quân đội tiến hành tu bổ, tôn tạo các nghĩa trang nêu trên, gồm: Binh đoàn 11, Binh đoàn 12, Binh đoàn 18, Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội, Tổng công ty Đông Bắc, Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn, Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội.

Tính đến ngày 31-3-2025, công tác tu bổ, tôn tạo đã hoàn thành đối với 19/22 nghĩa trang và đã bàn giao cho địa phương quản lý. Dự kiến đến ngày 10-4-2025 sẽ có thêm 2 nghĩa trang nữa tại tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Phú Thọ được phía Việt Nam hoàn thành tu bổ, tôn tạo.

Phát biểu tại hội nghị, thay mặt lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến biểu dương các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đã nỗ lực hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao, góp phần tăng cường, thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc nói chung và Bộ Quốc phòng hai nước nói riêng.

Thời gian tới, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến yêu cầu các quân khu chỉ đạo hoàn thành việc lập hồ sơ các liệt sĩ Trung Quốc tại các nghĩa trang và tiến hành số hóa để lưu trữ lâu dài; phối hợp với chính quyền địa phương thường xuyên chăm lo, tu bổ các nghĩa trang này. Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến cũng yêu cầu Cục Đối ngoại (Bộ Quốc phòng) giao thiệp với phía Trung Quốc về kết quả công tác tu bổ, tôn tạo các nghĩa trang; đồng thời, thông báo chủ trương của Bộ Quốc phòng mời các cựu chiến binh, thân nhân chuyên gia Trung Quốc đang an táng tại Việt Nam sang thăm viếng các nghĩa trang.

Tại hội nghị, Đại sứ Hà Vĩ đã gửi lời cảm ơn chân thành tới Đảng, Nhà nước, Chính phủ và quân đội Việt Nam vì đã coi trọng cao độ, thúc đẩy sớm hoàn thành công tác tu bổ, tôn tạo nghĩa trang liệt sĩ Trung Quốc tại Việt Nam. Đại sứ khẳng định công tác tu bổ, tôn tạo nghĩa trang liệt sĩ Trung Quốc tại Việt Nam đã thể hiện truyền thống tốt đẹp uống nước nhớ nguồn của quân đội cũng như dân tộc Việt Nam, đồng thời góp phần thể hiện tình hữu nghị khăng khít, bền chặt giữa nhân dân hai nước.

Nhân dịp này, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã tặng Bằng khen cho 25 tập thể và 23 cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác tu bổ, tôn tạo các nghĩa trang quân nhân và chuyên gia Trung Quốc có công giúp cách mạng Việt Nam hiện đang an táng tại Việt Nam.

 

Chuyện “Chú Út Biên phòng” ở Kiên Giang

 

Tại xã Phú Lợi, huyện Giang Thành (Kiên Giang), nhiều người biết đến ông Dương Văn Phúc - một lão nông có nhiều năm gắn bó với Bộ đội Biên phòng (BĐBP). Chính vì vậy, tên gọi “Chú Út Biên phòng” cũng xuất phát từ đây. Hơn 10 năm nay, cứ mỗi sáng ra thăm vuông, thăm ruộng lúa là ông Phúc lại tranh thủ đến thăm các cột mốc chủ quyền nằm cạnh đám ruộng nhà mình…

Từ chuyện nhường đất làm cột mốc...

Vài năm trước, khi có chủ trương xây dựng 3 cột mốc biên giới (304/1, 304/2, 304/3) và đường tuần tra biên giới đi qua phần đất, nhiều người dân khu vực biên giới huyện Giang Thành trăn trở vì sợ ảnh hưởng đến việc canh tác, sản xuất, nhưng ông Dương Văn Phúc thì hoàn toàn khác. Ông Phúc suy nghĩ làm cột mốc, đường biên là để đảm bảo cho người dân, trong đó có gia đình mình được an toàn, bình yên, do vậy ông đồng ý ngay.

Bằng uy tín của mình, ông Phúc trực tiếp và phối hợp cùng các lực lượng chức năng vận động bà con trong xóm, ấp ủng hộ việc giao đất để thực hiện các công trình đường biên, cột mốc.

Theo chia sẻ của Thiếu tá Võ Văn Hải, Chính trị viên phó Đồn Biên phòng Phú Mỹ (BĐBP tỉnh Kiên Giang), người dân khu vực biên giới sống chủ yếu bằng nghề nông nên bà con xem đất đai là “nồi cơm” để nuôi sống gia đình. Vì thế khi có chủ trương có 3 cột mốc biên giới và đường tuần tra biên giới đi qua phần đất, nhiều người trăn trở là điều không thể tránh khỏi. “Ông Phúc đã sẵn sàng giao đất để làm cột mốc, đường tuần tra biên giới và vận động bà con nhân dân trong xóm ủng hộ việc giao đất là việc làm hết sức biểu dương. Ông Phúc góp công, góp sức, hiến kế cho ngành chức năng trong quá trình thực hiện các công trình, cũng như lúc nào cũng sẵn sàng đóng góp vì lợi ích chung bảo vệ đường biên, cột mốc, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia”, Thiếu tá Võ Văn Hải cho biết.

Ông Dương Văn Phúc năm nay 69 tuổi, ngụ ấp Rạch Gỗ, xã Phú Lợi, huyện Giang Thành (Kiên Giang) là thế hệ thứ 4 của gia đình gắn bó với vùng đất biên giới, sống chủ yếu bằng nghề nông. Ông là con út trong nhà, nên mọi người hay gọi ông là “chú Út”, “bác Út”, còn gọi “chú Út Biên phòng” là do ông gắn bó với BĐBP.

Ông Phúc vẫn còn nhớ như in những năm chiến tranh biên giới Tây Nam diễn ra, ông phải bỏ nhà, về sống ở nhiều nơi trong tỉnh Kiên Giang. Đến năm 1980, ông quay trở về vùng biên tiếp tục sinh sống. Thời đó, vẫn còn những đối tượng thường lợi dụng đêm tối vượt qua biên giới để cướp trâu, bò, tiền của người dân. Để hỗ trợ bà con, thời điểm đó, BĐBP thường xuống ở nhà người dân để họ yên tâm. Đối với nhà của ông Phúc, BĐBP thường xuyên xuống ở nên tình cảm của gia đình ông với những người lính quân hàm xanh đã gắn bó qua nhiều thế hệ.

Ông Dương Văn Phúc chia sẻ: “Hồi đó đời sống người dân còn khó khăn lắm. Vợ chồng tôi có gạo thì nấu cơm cùng ăn với các chú BĐBP, có nắm rau, con cá chúng tôi cũng chia sẻ. Các chú bộ đội thì không ngại khó khăn, cực khổ luôn gần dân, bám dân để bảo vệ người dân được an toàn; có gì các chú cũng chia sẻ cho các hộ dân trong xóm. Mấy mươi năm gắn bó ở vùng biên, gia đình tôi và nhiều hộ dân khu vực biên giới đã gắn bó với nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ biên phòng công tác ở các đồn, trạm trên khu vực biên giới này”.

Ông Phúc bám vùng biên sản xuất 4 công đất lúa do cha mẹ cho. Ông còn khai phá đất hoang, mua thêm đất để sản xuất. Không ngại vất vả, khó nhọc, vợ chồng ông Phúc tảo tần nuôi 5 người con ăn học. Nhờ chịu khó làm ăn, ông Phúc hiện có hơn 100 công đất, trong đó có đất trồng lúa, nuôi tôm. Ông cũng đi đầu trong đưa giống lúa chất lượng cao ST25 về sản xuất ở khu vực biên giới và chia sẻ với bà con nhân dân kinh nghiệm, kỹ thuật canh tác mới. Nhờ đó, những mùa vàng bội thu đã làm cho vùng biên ngày càng khởi sắc, đời sống người dân ngày càng nâng lên.

Gắn bó với bộ đội, ông Phúc càng yêu quý hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, do vậy ông đã định hướng cho các con của mình được phục vụ trong quân ngũ. “Trong 5 người con thì gia đình tôi có một đứa đã trở thành sĩ quan Quân đội, hiện đang công tác tại Bộ CHQS tỉnh Kiên Giang. Góp sức cho quân đội, cho Tổ quốc, đó là niềm tự hào rất lớn đối với gia đình tôi”, ông Phúc nói.

... đến việc vun đắp tình đoàn kết hữu nghị

Ông Dương Văn Phúc chia sẻ: “5 người con đã lập gia đình riêng, có công ăn việc làm. Tôi không còn nặng chuyện cơm áo gạo tiền nữa, nên khi Đồn Biên phòng Phú Mỹ phát động phong trào toàn dân tự quản đường biên, cột mốc, tôi tham gia nhiệt tình và làm gương để con cháu làm theo”.

Hơn 10 năm nay, cứ mỗi sáng ra đồng thăm lúa là ông Phúc tranh thủ đến thăm 3 cột mốc chủ quyền nằm cạnh đám ruộng nhà mình. Khi thì ông lau bụi, lúc thì dọn cỏ, đắp lại phần đất xung quanh cột mốc. Ông cũng kịp thời thông báo cho Đồn Biên phòng Phú Mỹ về tình hình có liên quan đến các hoạt động xâm hại chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia… Trung úy Lê Chí Nguyện, Trạm trưởng Trạm kiểm soát Biên phòng Rạch Gỗ, Đồn Biên phòng Phú Mỹ cho biết: “Nhiều năm qua, khi phát hiện các tình huống liên quan đến bảo vệ đường biên, cột mốc, phòng chống buôn lậu, xuất nhập biên trái phép… thì bác Út đều báo lên trạm để lực lượng kịp thời xử lý”.

Quá trình sản xuất cặp đường biên, ông Phúc còn xây dựng mối quan tốt đẹp, hệ hữu nghị với người dân bên phía Campuchia. Ông Phúc nói: “Người dân Việt Nam với người dân Campuchia làm ruộng chỉ cách nhau đường biên, vài bước chân, nên chúng tôi trò chuyện, hỏi thăm nhau, xây dựng tình cảm hữu nghị, đoàn kết. Tôi thì không rành tiếng Campuchia lắm, nhưng vợ tôi thì nói tốt nên bà trò chuyện và làm phiên dịch để tôi trao đổi, chuyện trò với bà con bên phía nước bạn cùng nhau giữ gìn đường biên, cột mốc, giữ gìn tình đoàn kết hữu nghị hai bên biên giới Việt Nam - Campuchia”.

Nhớ lại thời gian dịch Covid-19 diễn biến phức tạp (năm 2020, 2021), gia đình ông Phúc đã cho Đồn Biên phòng Phú Mỹ mượn đất để xây dựng chốt phòng, chống đại dịch này. Song song đó, ông còn vận động nhân dân trực tiếp tham gia bảo vệ đường biên, cột mốc quốc giới, phòng, chống các hoạt động xâm hại chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia. Ông cùng người dân tham gia phòng, chống xuất, nhập cảnh trái phép qua biên giới và phòng, chống dịch bệnh, không để dịch bệnh lây lan từ bên kia biên giới vào nội địa… Thấy các lực lượng đóng ở các chốt, điều kiện sinh hoạt vô cùng khó khăn, ông Phúc thường xuyên đem rau, cá, hỗ trợ nhu yếu phẩm cho các lực lượng cùng chung tay đẩy lùi dịch bệnh.

Thượng tá Danh Kim Huôl, Chính trị viên Đồn Biên phòng Phú Mỹ chia sẻ: “Ông Phúc là lão nông tiêu biểu, góp phần lan tỏa sâu rộng trong quần chúng nhân dân ở khu vực biên giới về ý thức tự nguyện tham gia bảo vệ đường biên, cột mốc, gìn giữ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Ông còn là trung tâm hòa giải những mâu thuẫn, mối bất hòa trong xóm ấp. Mỗi khi có gia đình phát sinh mâu thuẫn, bằng tình cảm, lời lẽ chân chất, mộc mạc, ông đến để động viên để họ hàn gắn, kết nối những vết rạn nứt gia đình, nối lại tình làng, nghĩa xóm…”.

Hơn 10 năm góp phần vun đắp bình yên biên giới, nhưng ông Phúc chưa một lần đòi hỏi bất cứ chế độ đãi ngộ nào. Thượng tá Danh Kim Huôl, Chính trị viên Đồn Biên phòng Phú Mỹ cho biết thêm: “Cho dù chỉ là một nông dân, nhưng với tấm lòng và tâm huyết như ông Dương Văn Phúc chính là tấm phên giậu vững chắc, chung tay, góp sức cùng với BĐBP, chính quyền địa phương bảo vệ vững chắc biên giới Tây Nam Tổ quốc”.

Bắt chặt tay chúng tôi khi chia tay, ông Phúc chia sẻ: “Tôi xem cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Phú Mỹ như con em trong nhà, nên khi các em, các cháu cần gì là tôi giúp đỡ ngay”.

 

Bắt tạm giam đối tượng Nguyễn Xuân Bình hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân

 

Cơ quan Công an xác định, Nguyễn Xuân Bình thông qua mạng internet, các ứng dụng công nghệ để tìm hiểu và liên lạc với một số đối tượng là thành viên của tổ chức khủng bố “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời” để được hướng dẫn, viết đơn tham gia và được chấp nhận. Sau đó đối tượng Bình được cấp bí danh, bí số để liên lạc, hoạt động với mục đích lật đổ chính quyền nhân dân.

Ngày 28/3, Thượng tá Dương Văn Thoan, Phó Giám đốc Công an TP Huế cho biết, Cơ quan An ninh điều tra Công an TP Huế đã tống đạt quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam đối với đối tượng Nguyễn Xuân Bình (SN 1976, trú tại phường An Cựu, quận Thuận Hóa, TP Huế) về hành vi “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. 

Khám xét nơi ở của Nguyễn Xuân Bình, cơ quan Công an thu giữ nhiều thiết bị điện tử được đối tượng sử dụng để hoạt động cùng tang chứng, vật chứng liên quan hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng.  

Qua điều tra, cơ quan Công an xác định, Nguyễn Xuân Bình thông qua mạng internet, các ứng dụng công nghệ để tìm hiểu và liên lạc với một số đối tượng là thành viên của tổ chức khủng bố “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời” để được hướng dẫn, viết đơn tham gia và được chấp nhận. Sau đó đối tượng Bình được cấp bí danh, bí số để liên lạc, hoạt động.

Nguyễn Xuân Bình thường xuyên tham gia các buổi huấn luyện trực tuyến do “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” tổ chức, tham gia thực hiện cách thức rải truyền đơn, cách đối phó nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan Công an.

Đối tượng Nguyễn Xuân Bình đã tiến hành thu thập thông tin trái phép của gần 50 người dân để tiến hành hoạt động trưng cầu dân ý. Ngoài ra, thực hiện sự hướng dẫn và chỉ đạo của tổ chức, đối tượng Bình đã thu thập thông tin để cung cấp cho tổ chức nói trên.

Để phô trương thanh thế, thực hiện chỉ đạo của tổ chức, đối tượng Bình đã chuẩn bị truyền đơn với ý đồ sẽ rải vào các dịp kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng Huế (26/3/1975-26/3/2025) và 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Hiện Cơ quan An ninh điều tra Công an TP Huế đang tiếp tục điều tra làm rõ và sẽ xử lý nghiêm hành vi của đối tượng Nguyễn Xuân Bình theo quy định pháp luật.

 

Phát triển nhân lực khoa học, công nghệ Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số

Những năm gần đây, nhân lực khoa học, công nghệ (KHCN) của Việt Nam đã có bước phát triển mạnh về số lượng và chất lượng, đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, so với yêu cầu tăng tốc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhân lực KHCN vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Vì vậy, việc đánh giá thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, từ đó đề xuất những giải pháp “đúng và trúng” cho phát triển nhân lực KHCN ở Việt Nam để tạo sức mạnh tổng thể trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc có vai trò quan trọng.

Thực trạng phát triển nhân lực khoa học, công nghệ ở Việt Nam

Năm 2023, Việt Nam có sự bùng nổ, vươn lên mạnh mẽ về lĩnh vực KHCN, nhiều nhà khoa khoa học được vinh danh ở các giải thưởng, bảng xếp hạng lớn. “Research.com, cổng thông tin điện tử uy tín dành cho các nhà khoa học thế giới công bố xếp hạng ngôi sao khoa học đang lên xuất sắc trên thế giới. Trong số 7 nhà khoa học đang làm việc tại Việt Nam có tên, 5 người trong nước và 2 người ở nước ngoài”.

“Theo thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ, hiện cả nước có 167.746 người tham gia hoạt động nghiên cứu và phát triển. Trong đó, lượng người tham gia hoạt động nghiên cứu và phát triển trong khu vực nhà nước là 141.084 người (chiếm 84,1%), khu vực ngoài nhà nước: 23.183 người (13,8%), khu vực có vốn đầu tư nước ngoài: 3.479 người (2,1%). Đặc biệt, số lượng có trình độ tiến sĩ: 14.376 người, thạc sĩ: 51.128 người, đại học: 60.719 người…”(2). Số cán bộ nghiên cứu tương đương toàn thời gian FTE (Full Time Equivalent) của Việt Nam có 72.991 người. Trung bình 7,6 người nghiên cứu FTE trên 1 vạn dân, đứng thứ 4, sau Singapore (69,2 người), Malaysia (23,6 người) và Thái Lan (12,1 người). Phát triển nhân lực KHCN Việt Nam đã đạt được một số thành tựu nổi bật như:

Số lượng và quy mô nhân lực KHCN tăng nhanh. Số cán bộ nghiên cứu có trình độ trên đại học chiếm tỷ lệ cao. Năm 2020, nhân lực có trình độ đại học, cao đẳng chiếm khoảng 1,5 triệu người, trong đó giáo sư, phó giáo sư khoảng 2.000 người, hơn 14.000 tiến sĩ, hơn 11.000 thạc sĩ. Số cán bộ hoạt động trong lĩnh vực KHCN hơn 34.000 người, hơn 42.000 cán bộ giảng dạy trong các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và hàng vạn cán bộ KHCN làm việc trong các ngành, lĩnh vực kinh tế khác.

Các nhà khoa học hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học tại Khoa Công nghệ dược, Trường Đại học Dược Hà Nội
Ảnh: TTXVN

Việt Nam có bước phát triển trong nghiên cứu cơ bản, tạo tiền đề hình thành một số lĩnh vực KHCN đa ngành mới, như vũ trụ, y sinh, nano, hạt nhân; một số lĩnh vực khoa học tự nhiên, như: toán học, vật lý lý thuyết đạt thứ hạng cao trong khu vực ASEAN. Khoa học xã hội và nhân văn đã kịp thời cung cấp luận cứ cho việc hoạch định đường lối, chủ trương phát triển đất nước, hoàn thiện pháp luật, tạo tiền đề cho đổi mới tư duy kinh tế.

 Chất lượng nhân lực KHCN có bước tiến bộ về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng nghề. Trong lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ, nhân lực KHCN đã nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất vật liệu xây dựng, hàng thủ công mỹ nghệ, bảo quản nông sản sau thu hoạch, góp phần đa dạng hóa sản phẩm, tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm. Trong lĩnh vực y dược, nhân lực KHCN đã nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trong chẩn đoán, phát hiện, phòng và điều trị bệnh, đánh giá thực trạng một số bệnh trong cộng đồng có xu hướng gia tăng cùng với biến động của môi trường, khí hậu. Trong nông nghiệp, nhân lực KHCN nghiên cứu giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao, một số kỹ thuật tiên tiến đã được chuyển giao tới các địa bàn.

Việt Nam có những bước tiến bộ đáng kể trong phát triển nhân lực KHCN so với các nước thu nhập trung bình thấp. Tuy nhiên, nhìn ở góc độ đột phá nhân lực chất lượng cao, nhân lực KHCN Việt Nam còn nhiều yếu kém, bất cập.

Một là, số lượng nhân lực KHCN của Việt Nam chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với yêu cầu (17,5% lao động xã hội), trong khi còn khoảng 2,2% tổng số lao động có trình độ chưa có việc làm hoặc việc làm chưa ổn định. Mức độ phát triển về quy mô chậm, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành KHCN trong giai đoạn chuyển đổi số.

Nhân lực KHCN có trình độ tiến sĩ tuy đông về số lượng nhưng về trình độ vẫn chưa đáp ứng được chuẩn quốc tế, chưa sử dụng thành thạo tiếng Anh hoặc ngoại ngữ chuyên ngành. Hơn 10.000 người có học vị tiến sĩ, nhưng chỉ có khoảng 30% cán bộ có thể sử dụng thành thạo ngoại ngữ và có thể trao đổi chuyên môn với các tổ chức quốc tế. Trong lĩnh vực R&D, đổi mới công nghệ, Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Mặc dù, các nhà khoa học Việt Nam đã nỗ lực phát triển các nghiên cứu theo định hướng ứng dụng, tạo được nhiều công nghệ mới, sản phẩm mới, nhưng vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ. Nhân lực cho R&D công nghệ mỏng, nhất là những lĩnh vực công nghệ mới của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư như kỹ thuật số và công nghệ thông tin, tự động hóa, vật lý và khoa học vật liệu tiên tiến, công nghệ sinh học. Quá trình nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, chuyển giao công nghệ yếu.

Số lượng cán bộ KHCN có trình độ tiến sĩ, thạc sĩ được nâng lên rõ rệt, nhưng vẫn thiếu đội ngũ kế cận, nhất là trong các lĩnh vực KHCN ưu tiên, lĩnh vực công nghệ cao. Dự báo, năm 2025 sẽ thiếu hơn 500.000 nhân lực công nghệ thông tin, chiếm hơn 78% tổng số nhân lực công nghệ thông tin thị trường cần. Lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI) - công nghệ được xác định là “trái tim” của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và là điều kiện không thể thiếu để đưa Việt Nam trở thành quốc gia số - cũng đang thiếu hụt về số lượng. Xu thế biến động theo chiều hướng bất lợi khi số lượng các nhà khoa học giỏi ngày càng giảm do đến tuổi về hưu trong khi đội ngũ kế cận lại thiếu hụt nghiêm trọng.

Hai là, chất lượng nhân lực KHCN thấp, đặc biệt là thiếu các chuyên gia đầu ngành, các tổng công trình sư, các tập thể khoa học mạnh. Không chỉ thiếu hụt về số lượng, vấn đề chất lượng nhân lực công nghệ cao cũng là thách thức lớn trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam. Chất lượng đội ngũ cán bộ KHCN hạn chế, bất cập, thiếu các nhà khoa học giỏi, đầu ngành, chuyên gia trong các lĩnh vực công nghệ cao. Nhân lực KHCN phân bố không đều, một bộ phận sử dụng nhiều thời gian cho công tác quản lý; tinh thần hợp tác nghiên cứu và kỹ năng làm việc nhóm yếu, khó hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh và nhóm nghiên cứu liên ngành hoạt động lâu dài, bền vững.

Việt Nam thiếu nhân lực KHCN ở các ngành mũi nhọn, có tính chất quyết định như công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới. Cấp bằng độc quyền sáng chế của cán bộ KHCN Việt Nam thấp. Theo thống kê của Tập đoàn Công nghệ CMC, nhu cầu về nhân lực số rất cao, nhưng các trường đại học mới đáp ứng khoảng 25% nhu cầu, chất lượng chỉ đáp ứng 30% yêu cầu. Năm 2021, bất chấp dịch COVID-19, nhu cầu nhân lực của Samsung vẫn rất cao. Thực tế này cho thấy, chất lượng nhân lực số của Việt Nam còn thiếu và yếu.

Ba là, cơ cấu nhân lực KHCN mất cân đối theo trình độ, vùng, miền. Cơ cấu nhân lực KHCN chưa hợp lý. Tỷ lệ nhân lực gián tiếp trên tổng số nhân lực KHCN quá cao. Nhân lực trong lĩnh vực KHCN phần đông tập trung ở khu vực nhà nước, thiếu vắng trong doanh nghiệp. Nhân lực công nghệ cao chủ yếu ở một số ngành như công nghệ thông tin, công nghiệp sản xuất thiết bị tự động hóa. Nhân lực KHCN thường tập trung số lượng lớn ở các thành phố lớn, như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng..., trong khi ở các tỉnh khó khăn chiếm tỷ lệ thấp, nhất là các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, dân tộc thiểu số và miền núi. Nhiều địa phương thiếu cả về số lượng và chất lượng đội ngũ nhà khoa học. Trên 90% số tổ chức KHCN có số nhân lực dưới 30 người, trong đó nhiều tổ chức có số nhân lực dưới 10 người.

Bốn là, hiệu quả hoạt động của nhân lực KHCN chưa cao, chưa thực sự đóng góp hữu hiệu để nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Một bộ phận không nhỏ nhân lực KHCN trình độ cao không trực tiếp làm nghiên cứu, do cơ chế bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý đang chủ yếu dựa trên trình độ chuyên môn cao (học hàm, học vị). Đội ngũ cán bộ KHCN phân tán, một bộ phận không nhỏ chưa tận tâm với nghiên cứu khoa học. Việt Nam có nguy cơ thiếu hụt nhà khoa học giỏi, nhà khoa học đầu ngành.

Những hạn chế trong phát triển nhân lực KHCN Việt Nam do một số nguyên nhân cơ bản sau:

Thứ nhất, nhận thức của đội ngũ các nhà nghiên cứu khoa học, các nhà quản lý chưa cao. Đội ngũ cán bộ KHCN tuy có tăng về số lượng nhưng chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu. Thiếu tập thể khoa học mạnh, các chuyên gia đầu ngành có khả năng dẫn dắt các hướng nghiên cứu mới và chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ quốc gia ở trình độ quốc tế. Hiệu quả hoạt động của các tổ chức KHCN công lập chưa cao. Hợp tác quốc tế chưa đi vào chiều sâu, thiếu trọng tâm, chưa chú trọng đến chuyển giao, tiếp thu và làm chủ công nghệ tiên tiến.

Thứ hai, chưa có cơ chế, chính sách đột phá để nhân lực KHCN trở thành nguồn lực cốt yếu cho sự phát triển. Chưa khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện đổi mới, chuyển giao, nâng cao trình độ công nghệ. Hoạt động kết nối nghiên cứu giữa các nhà khoa học với thị trường và doanh nghiệp nhìn chung còn yếu, thiếu thông tin. Vai trò của các tổ chức trung gian, tư vấn chuyển giao công nghệ mờ nhạt, nhất là các tổ chức có chức năng xúc tiến, định giá công nghệ.

Các tổ chức KHCN công lập, kể cả các tổ chức KHCN có tiềm lực mạnh ít có cơ hội tuyển dụng được nguồn nhân lực trẻ, có trình độ khá, giỏi, chuyên tâm nghiên cứu khoa học để đào tạo, kế cận do mức lương và chính sách đãi ngộ của Nhà nước vẫn thấp so với các công ty, các tập đoàn, đặc biệt là các tổ chức quốc tế, các công ty liên doanh.

Thứ ba, đầu tư cho KHCN còn hạn chế. Tỷ lệ chi cho KHCN trên GDP chưa tương xứng với tốc độ phát triển kinh tế của đất nước. Tỷ trọng chi cho hoạt động KHCN chưa thực sự hợp lý, chi đầu tư còn thấp, chi thường xuyên cao. Mức chi cho một số nhiệm vụ KHCN phục vụ thiết thực cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội chưa tới ngưỡng. Đầu tư công cho KHCN chưa tương xứng với yêu cầu đặt ra.

Đầu tư cho KHCN từ ngân sách nhà nước mặc dù đã được tăng, bình quân mỗi năm tăng 16%, đạt 2% tổng chi ngân sách nhà nước nhưng vẫn là một con số quá thấp so với nhu cầu của hoạt động KHCN. Các nước tiên tiến đầu tư cho phát triển KHCN, đặc biệt là nghiên cứu các sản phẩm khoa học ứng dụng luôn đạt từ 3 - 5% tổng chi ngân sách. Sự chênh lệch về vốn đầu tư cho KHCN là thách thức lớn cho phát triển nhân lực KHCN Việt Nam.

Thứ tư, chưa tạo điều kiện và khuyến khích được các nhà khoa học và các doanh nghiệp nghiên cứu, ứng dụng KHCN cũng như chưa tạo ra được thị trường KHCN. Hoạt động KHCN chưa tương xứng với tiềm năng. KHCN và đổi mới sáng tạo chưa thực sự trở thành động lực quan trọng để nâng cao năng suất lao động, khả năng cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Chưa hỗ trợ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư thực hiện đổi mới, chuyển giao, nâng cao trình độ công nghệ; chưa tạo tính tự chủ cho các tổ chức nghiên cứu khoa học.

Thứ năm, thiếu chuyên gia giỏi đầu ngành, trình độ công nghệ của các doanh nghiệp thấp, còn khoảng cách so với nhóm đầu khu vực Đông Nam Á. Trừ một số lĩnh vực có tốc độ đổi mới công nghệ khá nhanh, như công nghệ thông tin, viễn thông, dầu khí, hàng không, tài chính ngân hàng, nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất vẫn đang sử dụng công nghệ lạc hậu so với mức trung bình của thế giới. Năng lực hấp thụ công nghệ, đổi mới công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp trong nước còn nhiều hạn chế. Năng lực nghiên cứu ứng dụng của các viện nghiên cứu, trường đại học còn khiêm tốn.

Lực lượng cán bộ KHCN thiếu các chuyên gia giỏi đầu ngành trong nhiều lĩnh vực, nhất là những lĩnh vực mũi nhọn. Chưa tạo được phong trào đổi mới sáng tạo mạnh mẽ, KHCN chưa thực sự gắn chặt với thị trường. Các công trình nghiên cứu tầm cỡ quốc tế, có đóng góp đột phá đối với phát triển kinh tế - xã hội còn ít. KHCN chưa thực sự trở thành động lực và nền tảng cho phát triển kinh tế, xã hội, cho tăng trưởng, cơ cấu lại kinh tế và tăng năng suất lao động xã hội. Nhiều kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và địa phương chưa dựa trên cơ sở khoa học chuyên sâu, dẫn đến đầu tư dàn trải, thiếu tính khả thi. Một số nhiệm vụ nghiên cứu chưa bám sát yêu cầu sản xuất và đời sống.

Nghiên cứu khoa học tại Viện Công nghệ Nano, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh_Ảnh: TTXVN

Một số giải pháp phát triển nhân lực khoa học, công nghệ ở Việt Nam

Để tạo bước đột phá trong phát triển nhân lực KHCN đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh chuyển đổi số và đáp ứng chỉ tiêu 10 nhân lực KHCN trên một vạn dân năm 2025, tăng lên 12 nhân lực KHCN trên một vạn dân năm 2030, cần thực hiện đồng bộ, toàn diện những giải pháp sau:

Thứ nhất, đổi mới nhận thức và tăng cường công tác giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng nhân lực KHCN. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh, giáo dục - đào tạo cần thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số, do vậy phải đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao. Cơ cấu đào tạo cần chú trọng theo hướng phù hợp với việc áp dụng mô hình kinh tế số. Phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành; chú trong đội ngũ nhân lực kỹ thuật, nhân lực số, nhân lực quản trị công nghệ, nhân lực quản lý, quản trị doanh nghiệp. Chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ cao thuộc các lĩnh vực KHCN ưu tiên. Bên cạnh đó, cần đổi mới mạnh mẽ tư duy, phương pháp quản lý, chấp nhận rủi ro để thúc đẩy triển khai ứng dụng công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới dựa trên KHCN.

Hoàn thiện kế hoạch đào tạo cán bộ KHCN trẻ để tạo ra lượng lao động có năng lực và phẩm chất đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của quá trình chuyển đổi số. Nâng cao chất lượng đào tạo đại học và sau đại học ở các trường đại học, viện nghiên cứu nhằm đáp ứng kịp thời lực lượng lao động có trình độ KHCN cao. Đổi mới chương trình đào tạo cho đối tượng nhân lực KHCN trong các trường cao đẳng, đại học hướng tới đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Tạo kênh kết nối giữa các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp để thống nhất nhu cầu về nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp vì khu vực doanh nghiệp là đơn vị trực tiếp tuyển dụng, thu hút nguồn nhân lực KHCN và phát triển chuyên môn, năng lực cho các học viên. Khuyến khích sinh viên theo đuổi ngành nghề, lĩnh vực có liên quan chặt chẽ đến KHCN thông qua hỗ trợ tài chính, kinh phí đào tạo, học bổng, tìm kiếm việc làm.

 Đầu tư cho nghiên cứu khoa học ở các trường đại học đóng vai trò then chốt trong phát triển KHCN và đổi mới sáng tạo, giúp tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, sẵn sàng làm việc cho quá trình chuyển đổi số đang diễn ra trên toàn thế giới. Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực KHCN là giải pháp quan trọng có ý nghĩa quyết định đến việc phát triển đội ngũ nhân lực KHCN Việt Nam. Đây là giải pháp hiệu quả nhất, mang tính lâu dài mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đang ưu tiên thực hiện.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo môi trường thuận lợi nhằm phát triển nhân lực KHCN trình độ cao. Đầu tư xây dựng đội ngũ nhân lực KHCN trình độ cao, đội ngũ nhà khoa học đầu ngành, từng bước nâng cao tiêu chuẩn nhà khoa học đầu ngành tiệm cận với tiêu chuẩn ở các nước phát triển. Tiếp tục chương trình tuyển chọn, gửi đi đào tạo nhân lực KHCN trình độ cao thuộc các lĩnh vực ưu tiên, trọng điểm tới các nước có nền KHCN tiên tiến. Khuyến khích, hỗ trợ các trường đại học trong nước liên kết với các trường đại học nước ngoài để đào tạo nhân lực KHCN tại Việt Nam. Có chính sách ưu đãi thuế thu nhập cá nhân đối với đội ngũ nhân lực KHCN tham gia thực hiện các nhiệm vụ KHCN cấp quốc gia.

Xác định chiến lược tạo nguồn cán bộ KHCN phải gắn liền với yêu cầu đẩy mạnh hoạt động đổi mới sáng tạo, yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Chú trọng các ngành, lĩnh vực mang tính liên ngành, công nghệ sinh học, công nghệ kỹ thuật số, tự động hóa và đào tạo kỹ năng mang tính toàn cầu. Kế hoạch phát triển nhân lực KHCN phải gắn kết chặt chẽ với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng mối quan hệ ổn định, liên kết giữa doanh nghiệp với nhà khoa học để nâng cao tính ứng dụng của các sản phẩm KHCN.

Thứ ba, hoàn thiện công tác quy hoạch, đào tạo và bồi dưỡng phát triển nhân lực KHCN. Đây là giải pháp quyết định, chi phối các giải phát triển nguồn nhân lực KHCN, bởi công tác xây dựng quy hoạch, chiến lược tác động trực tiếp, tạo nên “nội lực” để nguồn nhân lực KHCN phát triển. Thực hiện tốt công tác quy hoạch phát triển không chỉ bảo đảm cho nguồn nhân lực KHCN có sự phát triển toàn diện về số lượng, chất lượng, cơ cấu mà còn tạo hành lang pháp lý vững chắc để nguồn nhân lực KHCN yên tâm công tác, cống hiến.

Công tác quy hoạch đội ngũ viên chức KHCN cần gắn liền với đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, chuyên gia đầu ngành, chuyên môn hoá ở các lĩnh vực. Hoạt động quy hoạch nhân lực KHCN phải bao quát được cơ cấu nhân lực KHCN theo các chuyên ngành KHCN với các chức danh đảm nhiệm, cơ cấu cụ thể: độ tuổi, trình độ học vấn, nhóm ngành hoạt động, chức danh chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu giới… Ưu tiên đào tạo các chuyên gia, viên chức khoa học và công nghệ có trình độ cao.

Thứ tư, tăng cường thu hút nhân lực KHCN và đổi mới sáng tạo, các chuyên gia hàng đầu từ bên ngoài. Cùng với thu hút, trọng dụng nhân tài trong nước, cần xây dựng cơ chế, chính sách thu hút nhân lực KHCN và đổi mới sáng tạo, các chuyên gia hàng đầu quốc tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, cơ sở vật chất để thu hút các nhà khoa học trên thế giới, các tổ chức nghiên cứu khoa học đến liên kết, hợp tác trong nghiên cứu khoa học, đào tạo nhân tài, chuyển giao công nghệ. Thu hút qua đãi ngộ các nhà khoa học trình độ cao đã trở thành giải pháp được nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng để nâng cao năng lực đội ngũ KHCN quốc gia. Tuy nhiên, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số thì việc thu hút trí thức KHCN giỏi không phải là điều đơn giản.

Tạo lập môi trường, điều kiện làm việc tốt để giữ chân nhân tài với chú trọng trang bị cơ sở vật chất, phòng nghiên cứu, thực hành, thư viện hiện đại… góp phần quan trọng để đào tạo nguồn nhân lực trẻ, trí tuệ cao đáp ứng nhu cầu cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Có chính sách đưa người Việt Nam vào làm việc tại các tập đoàn đa quốc gia, các doanh nghiệp khởi nghiệp ở nước ngoài, sau đó trở về nước làm việc. Tạo thuận lợi cho các giảng viên, cán bộ nghiên cứu thường xuyên tham gia vào hoạt động KHCN và đổi mới sáng tạo tại doanh nghiệp.

Có chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với những cán bộ KHCN có cống hiến to lớn, đóng góp quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cơ chế trả lương cần gắn với kết quả, hiệu quả thực hiện công việc, nhiệm vụ được giao đối với viên chức KHCN. Đây là yếu tố quan trọng không chỉ thu hút, giữ chân được nhân tài, chuyên gia KHCN đầu ngành mà còn giúp giữ gìn phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ làm KHCN. Thành lập quỹ học bổng cho các nhà khoa học trẻ giúp nhân lực KHCN có cơ hội nghiên cứu và ứng dụng các kết quả nghiên cứu một cách hiệu quả.

Thứ năm, thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ và đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong phát triển nhân lực KHCN. Việt Nam hiện đang là thành viên của gần 100 tổ chức quốc tế về KHCN, có quan hệ về hợp tác KHCN với hơn 90 quốc gia, vùng lãnh thổ và tổ chức quốc tế. Để hợp tác quốc tế trong phát triển nhân lực KHCN đạt hiệu quả cần đa dạng hóa, đa phương hoá đối tác và hình thức hợp tác, lựa chọn đối tác chiến lược, gắn kết giữa hợp tác quốc tế về KHCN với hợp tác quốc tế về kinh tế. Bên cạnh các mối quan hệ hợp tác truyền thống với Nga, các nước Đông Âu..., Việt Nam tiếp tục mở rộng, thiết lập và phát triển các mối quan hệ hợp tác mới với các nước Nam Mỹ, châu Phi, Trung Đông. Năm 2023, Việt Nam ghi nhận sự hợp tác với nhiều nhà khoa học, doanh nhân hàng đầu trong lĩnh vực AI toàn cầu, như giáo sư Andrew Ng của Landing AI, CEO Jensen Huang của Nvidia…

Cùng với đó, ban hành chính sách thu hút chuyên gia là người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài có trình độ cao đến Việt Nam tham gia nghiên cứu, giảng dạy, tư vấn, đảm đương các chức vụ quản lý nghiên cứu KHCN. Tăng cường tối đa quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KHCN trong hợp tác quốc tế.

Phát triển nhân lực KHCN là nhiệm vụ cấp bách và quan trọng. Trong bối cảnh của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và phát triển kinh tế số, chuyển đổi số, việc phát triển nhân lực KHCN đòi hỏi các giải pháp khoa học và thực tế, cần phải được thực hiện đồng bộ, có hệ thống. Các giải pháp phải mang tính toàn diện từ tạo nguồn, quy hoạch, bồi dưỡng, sử dụng, trọng dụng nhân lực KHCN./.

ST.

Hoàn thiện thể chế thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp nhà nước - lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước

Doanh nghiệp nhà nước là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Do đó, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế để thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp nhà nước là hết sức cần thiết.

Bảo dưỡng thiết bị tại Khu công nghiệp Khí - Điện - Đạm Cà Mau_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Hạn chế của thể chế thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp nhà nước

Sau năm 1986, nhiều cơ chế, chính sách về thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được ban hành nhằm nâng cao hiệu quả việc sử dụng nguồn lực của Nhà nước đầu tư vào DNNN, từng bước mở cửa nền kinh tế và phù hợp với xu hướng phát triển chung.

Luật Doanh nghiệp nhà nước lần đầu tiên được Quốc hội thông qua năm 1995 (được sửa đổi, bổ sung năm 2003) đã góp phần thúc đẩy tiến trình cải cách DNNN, tăng cường vai trò, trách nhiệm về sử dụng vốn, tài sản của Nhà nước. Sau nhiều năm thực hiện, để tiếp tục phát huy vai trò của DNNN theo định hướng của Đảng và Nhà nước(1), phù hợp với tính đặc thù trong thực tiễn hoạt động và tăng cường quản lý, giám sát đối với DNNN; thực hiện vai trò, nhiệm vụ của đại diện chủ sở hữu nhà nước giao, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước điều tiết kinh tế, ổn định vĩ mô, bảo đảm cân đối lớn của nền kinh tế, ngày 26-11-2014, Quốc hội khóa XIII thông qua Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp.

Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp đã kịp thời bổ sung, điều chỉnh cơ chế, chính sách quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại DNNN phù hợp với yêu cầu đổi mới, hội nhập; cơ chế, chính sách tạo môi trường pháp lý đầy đủ, đồng bộ, ổn định cho hoạt động quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước và doanh nghiệp; cơ chế, chính sách đã bảo đảm tôn trọng và nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp cùng việc tăng cường sự kiểm tra, giám sát của nhà nước trong quản lý, sử dụng vốn và tài sản; cơ chế, chính sách về quản lý vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp được hoàn thiện phù hợp với tiến trình hội nhập, phát triển kinh tế thị trường và yêu cầu thực tiễn phát sinh trong quá trình đổi mới, hội nhập nền kinh tế.

Thực tiễn những năm qua cho thấy, từ khi Quốc hội ban hành Luật số 69/2014/QH13 và Chính phủ ban hành các nghị định hướng dẫn thi hành Luật, các bộ, ngành ban hành các thông tư hướng dẫn nghị định của Chính phủ thì công tác cổ phần hóa, thoái vốn, sắp xếp đổi mới DNNN cơ bản đã được cấu trúc lại toàn diện tạo tiền đề cho phát triển thị trường chứng khoán, là kênh huy động vốn quan trọng trong nền kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước đã thực hiện được vai trò, nhiệm vụ chủ sở hữu giao, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước điều tiết kinh tế, ổn định vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; có sự tăng trưởng đáng kể về quy mô doanh nghiệp và có đóng góp số thu cho ngân sách nhà nước. Ngoài ra, DNNN vẫn tiếp tục đóng vai trò thực hiện nhiệm vụ cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, như năng lượng, kết cấu hạ tầng, dịch vụ viễn thông....

Về mặt xã hội, DNNN đã tạo việc làm cho gần 1 triệu người lao động và có mức thu nhập tương đối ổn định; các tập đoàn, tổng công ty kinh doanh có lãi, đã đóng góp số thu đáng kể cho ngân sách nhà nước; hình thành một cơ chế thu ngân sách nhà nước mang tính ổn định, lâu dài đối với phần lợi nhuận sau thuế còn lại của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và phần cổ tức, lợi nhuận được chia cho phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên...

Bên cạnh kết quả tích cực đạt được, thể chế về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp, trong đó có Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập, vướng mắc chưa được kịp thời tháo gỡ, thể hiện ở một số điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, chưa tách bạch, phân định rõ chức năng quản lý nhà nước với chức năng chủ sở hữu vốn của Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp và chức năng quản trị hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 3-6-2017, của Hội nghị Trung ương 5 khóa XII (chưa tách bạch, phân định rõ chức năng chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước với chức năng quản lý nhà nước đối với mọi loại hình doanh nghiệp, chức năng quản trị kinh doanh của DNNN(2)); chưa bao gồm việc cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp (thực tế trong thời gian qua cũng như giai đoạn tới việc cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp chủ yếu thực hiện dưới hình thức cổ phần hóa), trong khi đó cơ chế cổ phần hóa mới được điều chỉnh bằng nghị định của Chính phủ, một số quy định đã được thực hiện trong thời gian dài, có tính ổn định, nhưng chưa được nâng thành luật.

Thứ hai, việc xác định nội hàm quản lý đối với vốn nhà nước đã đầu tư vào doanh nghiệp chưa được xuyên suốt, còn đồng nhất vốn và tài sản của doanh nghiệp có vốn nhà nước là vốn tài sản của Nhà nước dẫn tới còn cách hiểu khác nhau, còn can thiệp trực tiếp vào hoạt động và quản trị sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, không thông qua cơ quan đại diện chủ sở hữu, người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp, người đại diện vốn để thực hiện quyền của nhà đầu tư vốn (góp vốn) vào doanh nghiệp; còn có quy định làm hạn chế quyền của doanh nghiệp, chưa tạo điều kiện và xây dựng hành lang pháp lý thống nhất để doanh nghiệp chủ động trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, chưa bảo đảm “lợi ích thì hài hòa, rủi ro thì chia sẻ”...

Thứ ba, quy trình, thủ tục báo cáo, phê duyệt còn nhiều tầng nấc, chưa phân cấp triệt để, phải được sự chấp thuận của nhiều cơ quan quản lý trong quyết định vấn đề quản trị kinh doanh. Việc DNNN dành nhiều thời gian để báo cáo, trình cấp có thẩm quyền chấp thuận trước khi quyết định, thực hiện làm cho quyết sách của DNNN không kịp thời, mất cơ hội kinh doanh và không cạnh tranh được với các thành phần kinh tế khác, trong khi đó DNNN phải chịu trách nhiệm toàn diện về bảo toàn, phát triển vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp.

Thứ tư, về chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước chưa bao quát hết trường hợp phát sinh trong thực tiễn, như: 1- Chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước từ doanh nghiệp về cơ quan đại diện chủ sở hữu; 2- Chuyển giao từ cơ quan đại diện chủ sở hữu về tập đoàn, tổng công ty không cùng cơ quan đại diện chủ sở hữu; 3- Chuyển giao tài sản từ doanh nghiệp không có nhu cầu sử dụng sang doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng; 4- Chuyển giao quyền mua cổ phần giữa cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc từ cơ quan đại diện chủ sở hữu sang doanh nghiệp 100% vốn nhà nước; 5- Chưa có cơ chế về hoán đổi cổ phần khi mua bán, sáp nhập DNNN; 6- Chuyển giao doanh nghiệp thuộc tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội về cơ quan đại diện chủ sở hữu.

Thứ năm, thẩm quyền quyết định phương án huy động vốn; xây dựng, mua, bán tài sản cố định; dự án đầu tư ra ngoài doanh nghiệp dựa vào giá trị vốn chủ sở hữu trên báo cáo tài chính và tham chiếu đến mức vốn của dự án nhóm B theo Luật Đầu tư công để phân cấp thẩm quyền đầu tư làm cho hoạt động đầu tư mua cổ phần, trái phiếu không xác định được thẩm quyền (do không thuộc các lĩnh vực của dự án nhóm B theo Luật Đầu tư công); một số quy định liên quan đến quản trị tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ (doanh nghiệp F1) còn bất cập trong thực tiễn, như việc doanh nghiệp F1 cho vay đối với doanh nghiệp có vốn góp của mình (doanh nghiệp F2); quyết định đầu tư của DNNN phải thực hiện theo chiến lược, kế hoạch được phê duyệt. Điều này làm cho DNNN không còn sự linh hoạt trong hoạt động sản xuất, kinh doanh (bao gồm cả mục tiêu lợi nhuận và ổn định kinh tế - xã hội).

Thứ sáu, về chuyển nhượng vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp có quy định phương thức chào bán cạnh tranh sau khi bán đấu giá công khai, nhưng chào bán cạnh tranh về giá để tiếp tục thực hiện chuyển nhượng vốn thực chất là bán đấu giá công khai; việc thoái vốn phải thuê thẩm định giá ngay cả khi đã có giá thị trường niêm yết khiến không tận dụng được cơ hội thị trường.

Thứ bảy, việc trích lập và sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của DNNN (sau đây gọi tắt là “Quỹ”) có một số vướng mắc, khó khăn, cụ thể: 1- Quy định trước đây(3) không cho phép sử dụng Quỹ để mua sắm máy móc, thiết bị, đổi mới công nghệ phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất, kinh doanh; 2- Các quy định về quản lý Quỹ không phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp đối với việc triển khai hoạt động chi của Quỹ; 3- Thủ tục hành chính trong kiểm soát chi của Quỹ chưa linh hoạt và chưa phù hợp với đặc thù của Quỹ, có nội dung chưa được hướng dẫn cụ thể, rõ ràng, thủ tục phức tạp, khó thực hiện.

Thứ tám, thời gian vừa qua nhiều chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng và hệ thống pháp luật có nhiều thay đổi, các cam kết quốc tế do Việt Nam là thành viên(4); một số chính sách liên quan đến quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp còn phân tán, chưa tập trung, như chính sách đặc thù đối với doanh nghiệp quốc phòng - an ninh; chính sách đối với nông lâm trường quốc doanh... nên cần bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện luật để phù hợp với thay đổi, cam kết trong giai đoạn này.

Thứ chín, việc đánh giá, xếp loại doanh nghiệp cũng như việc đánh giá bảo toàn vốn của doanh nghiệp đang được đánh giá chung trên kết quả hoạt động của doanh nghiệp và từng dự án đầu tư (phải có hiệu quả), trong khi đó doanh nghiệp còn phải thực hiện một số nhiệm vụ chính trị do Nhà nước giao (các nhiệm vụ này thường không có hiệu quả kinh tế cao mà chủ yếu thể hiện hiệu quả về mặt xã hội, chính trị).

Thứ mười, về các cơ quan, tổ chức được phân công, phân cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước do Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố thực hiện khi chưa có Ủy ban Quản lý vốn nhà nước là cơ quan chuyên trách thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn, được thành lập từ năm 2018 và Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) thực hiện nhiệm vụ tiếp nhận quyền đại diện chủ sở hữu vốn tại các doanh nghiệp được chuyển giao từ các bộ, ngành, địa phương. Các nội dung quy định thực hiện quyền, trách nhiệm của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước là cơ quan chuyên trách và để cụ thể hóa chủ trương của Bộ Chính trị về “củng cố, phát huy vai trò của SCIC”, SCIC là thiết chế hiện có để hỗ trợ cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp và chủ trương nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC),… theo cơ chế thị trường và quy định của pháp luật và Nghị quyết của Chính phủ về nâng cao vai trò của SCIC, nhất là vai trò là nhà đầu tư của Chính phủ để thu hút thêm nguồn lực tài chính vào doanh nghiệp, dự án lớn, quan trọng đều chưa được quy định trong Luật.

Công nhân ngành điện quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Một số đề xuất về việc hoàn thiện thể chế thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp nhà nước

Qua gần 10 năm thi hành, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo hành lang pháp lý cho việc đầu tư vốn nhà nước vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp, quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu đổi mới, hội nhập, cơ cấu lại doanh nghiệp có vốn nhà nước... Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn trong thực tế đã bộc lộ một số hạn chế, chưa kịp thời tháo gỡ vướng mắc trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, cần được rà soát, sửa đổi cho phù hợp với thực tiễn và định hướng cơ cấu lại doanh nghiệp có vốn nhà nước trong thời gian tới, bảo đảm cho việc phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN.

Qua thực tiễn quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, có thể bước đầu chỉ ra một số khuyến nghị về việc tiếp tục hoàn thiện thể chế đối với lĩnh vực này, cụ thể như sau:

Thứ nhất, việc hoàn thiện pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp cần tiếp tục kế thừa, phát huy và hoàn thiện nội dung, quy định pháp luật còn giá trị, phù hợp với thực tiễn, áp dụng ổn định trong thực tiễn của Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành, loại bỏ quy định không còn phù hợp với thực tiễn; xem xét khắc phục tối đa hạn chế, vướng mắc trong quản lý vốn của DNNN.

Thứ hai, thể chế hóa toàn diện, đầy đủ quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước về đổi mới, cơ cấu lại và phát triển doanh nghiệp nhà nước, phù hợp với Hiến pháp năm 2013, Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 3-6-2017, của Hội nghị Trung ương 5 khóa XII, “Về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước”; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; Nghị quyết số 60/2018/QH14, ngày 15-6-2018, của Quốc hội, “Về tiếp tục hoàn thiện và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước”; phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn hiện nay. Nghiên cứu cụ thể hóa quy định về thực hiện quyền, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức được phân công, phân cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước để thúc đẩy, phát huy vai trò mở đường, dẫn dắt cho DNNN và các thành phần kinh tế khác, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước trong thời kỳ mới (trước thời cơ, thách thức của chuyển đổi số, phát triển khoa học - công nghệ; phát triển bền vững, phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn, đòi hỏi tập trung vào phát triển lĩnh vực mới, cần có lượng vốn đầu tư cao, cần vai trò dẫn dắt của DNNN, như hydrogen xanh, chất bán dẫn, điện gió ngoài khơi...).

Thứ ba, việc hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp cần hướng tới việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tính tự chủ nhiều hơn cho DNNN, gắn với trách nhiệm giải trình và quy định về kiểm tra, giám sát của DNNN; bảo đảm sự kiểm soát của Nhà nước đối với nguồn lực nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp; cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp (quyết định đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp, mua sắm, huy động vốn; phê duyệt chế độ thu nhập, công tác nhân sự…); giảm thiểu thủ tục hành chính, báo cáo của doanh nghiệp; xử lý triệt để vướng mắc hiện nay liên quan đến đầu tư vốn tại doanh nghiệp (không quy định tới dự án Nhóm A, B, C của Luật Đầu tư công mà chỉ xác định tỷ lệ đầu tư, mua, bán tài sản… trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp).

Thứ tư, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp cần xác định vốn, tài sản nhà nước sau khi đã đầu tư vào doanh nghiệp được xác định là tài sản, vốn của doanh nghiệp là pháp nhân; tách bạch, phân định rõ chức năng cơ quan, người đại diện chủ sở hữu với chức năng cơ quan quản lý nhà nước và với chức năng quản trị kinh doanh của doanh nghiệp; đẩy mạnh cải cách, nâng cao quyền tự chủ cho việc phân phối, trả tiền lương, thưởng đối với DNNN, gắn quy mô vốn, mục đích hoạt động của doanh nghiệp, năng suất lao động, kết quả, hiệu quả sản xuất, kinh doanh để xác định tiền lương và tiền thưởng đối với DNNN, bảo đảm thu hút được chuyên gia, nhà quản lý giỏi vào làm việc cho DNNN và tạo động lực phấn đấu cho cán bộ, người lao động trong doanh nghiệp theo tinh thần, nội dung của Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 21-5-2018, Hội nghị Trung ương 7 khóa XII ./.

ST.