Thứ Năm, 31 tháng 7, 2025

LUẬN ĐIỆU PHẢN ĐỘNG CỦA NHỮNG KẺ MẠO DANH LỰC LƯỢNG CỨU QUỐC!

     Trên trang “Radiodls” đã đăng bài của “Lực lượng cứu quốc” với tựa đề: “Phải sửa đổi hoặc hủy bỏ Điều 331 trong Bộ luật Hình sự của Việt Nam”. Bài viết đã cố tình cổ súy cho hoạt động vi phạm, lợi dụng quyền tự do dân chủ khi cho rằng “… Nhà Nước CSVN đã lạm dụng điều 331 để xử lý hành chính hoặc hình sự hóa các ý kiến trái chiều của người dân một cách tùy tiện. Với những lý lẽ nêu trên, nhà nước CSVN cần phải hủy bỏ Điều 331 khỏi bộ Luật Hình sự của Việt Nam". Đây là những luận điệu phản động của những kẻ mạo danh “Lực lượng cứu quốc”, cần nhận diện, đấu tranh bác bỏ. Bởi vì:
1. Áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về tội lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân là một yêu cầu mang tính khách quan.
Hiện nay, các quyền tự do dân chủ liên quan đến tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân được quy định tại Điều 331 Bộ luật Hình sự đó là: Mọi công dân có quyền được tự do tín ngưỡng, tôn giáo, công dân có thể lựa chọn theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Không một ai được phép xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật; Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. 
Điều 331 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cũng quy định về "Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân" là sự cụ thể hóa Hiến pháp, tôn trọng và bảo vệ nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân; giúp điều chỉnh, ngăn chặn, có chế tài đối với các hành vi vi phạm, lệch chuẩn trong các quan hệ xã hội, ngăn ngừa những hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân... Điều này vừa thể hiện rõ tính nghiêm minh của pháp luật, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với các hành vi vi phạm pháp luật, răn đe, trừng phạt thích đáng đối với những đối tượng có hành vi vi phạm, vừa mang tính nhân văn, nhân đạo tạo cơ hội cho người mắc sai lầm, vi phạm có cơ hội cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội. Qua đó, cho thấy ban hành quy định tại Điều 331 Bộ luật hình sự là hoàn toàn mang tính khách quan nhằm đáp ứng yêu cầu phòng ngừa, đấu tranh với loại tội phạm này trong xã hội, không để các thế lực thù địch và phần tử xấu lợi dụng vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền. 
Do vậy, việc “lực lượng cứu quốc” kêu gọi xóa bỏ Điều 331 Bộ luật Hình sự là nhằm đưa các đối tượng chống phá ra ngoài vòng pháp luật; xuyên tạc hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng để hạ bệ, bôi nhọ hệ thống pháp luật Việt Nam, chính quyền các cấp, hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với cơ quan công quyền, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước. 
2. Ở Việt Nam, các quyền tự do dân chủ của công dân luôn được Nhà nước bảo vệ và tôn trọng.
Trong lịch sử lập pháp Việt Nam hiện đại từ năm 1945 đến nay, quá trình hình thành quy định về tội lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân gắn liền với việc ghi nhận và cụ thể hóa các quyền cơ bản của công dân. Quyền và nghĩa vụ của công dân phải được quy định song hành với nhau. Nhà nước công nhận và bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân, đồng thời cũng yêu cầu công dân thực hiện các quyền ấy với tinh thần xây dựng, không lợi dụng quyền để xâm hại lợi ích của người khác và lợi ích công cộng.
Nhà nước luôn đặt quyền tự do dân chủ của công dân lên hàng đầu, sự tôn trọng và đảm bảo được quy định rõ trong Hiến pháp và các quy định của pháp luật. Điều 15, Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: "Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội. Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác". Điều luật đã thể hiện được quyền bình đẳng, dân chủ, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển sáng tạo của xã hội; Nhà nước ta luôn luôn coi trọng các quyền tự do cơ bản của công dân và coi đó là một trong những nguyên tắc xây dựng pháp luật Nhà nước. Mặt khác, điều luật được xây dựng nhằm duy trì xã hội trật tự, ổn định, trong đó không chỉ công dân, mỗi tổ chức, mà bản thân Nhà nước và những người đứng đầu chính quyền cũng phải tôn trọng pháp luật. 
Tóm lại, những luận điệu nêu ra trong bài viết của những kẻ mạo danh lực lượng cứu quốc đã bộc lộ dã tâm thâm độc, xuyên tạc sự thật về tội lợi dụng quyền tự do dân chủ đã được quy định tại Điều 331 của Bộ luật Hình sự, làm giảm lòng tin của Nhân dân với Đảng và chế độ. Do vậy, chúng ta cần hết sức cảnh giác, kiên quyết đấu tranh bác bỏ âm mưu, thủ đoạn trên./.
Khuyết danh ST.

KHÔNG NGỪNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN ĐỂ ĐẢNG NGÀY CÀNG VỮNG MẠNH!

     Đất nước ta đang bước vào một giai đoạn cách mạng mới, dân tộc đang đứng trước những thời cơ, vận hội to lớn để phát triển. Để hiện thực hóa được “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên, liên tục rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng. 

Không thể có một hình thức, phương thức tối ưu, duy nhất để giáo dục đạo đức, cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Đó phải là một quá trình, là sự kết hợp bởi nhiều yếu tố, nhưng quan trọng hơn hết là sự “tự nhận thức”, “thẩm thấu chủ động”, thường xuyên “tự răn, tự rèn” để đạo đức cách mạng trở thành “cốt cách”, là “lẽ sống” của mỗi cán bộ, đảng viên./.
Yêu nước ST.

Thứ Tư, 30 tháng 7, 2025

 

NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ
CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 Từ quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin và truyền thống của dân tộc luôn coi con người là nhân tố trung tâm, quyết định sự phát triển lịch sử. Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không trừu tượng mà là con người hiện thực, cụ thể. Con người ở đây bao hàm cả “đồng bào” trong nước và “đồng bào” trên thế giới theo nghĩa “Bốn bể là nhà, bốn phương vô sản đều là anh em”.

Theo Hồ Chí Minh: “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng hơn là cả loài người”[1]. Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng tuyệt đối ở khả năng tự giải phóng của con người và không ngừng rèn luyện, phát huy khả năng ấy thành sức mạnh để lật đổ giai cấp thống trị, giành lấy độc lập, tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Để thực hiện mục tiêu cao cả ấy, nhất thiết phải dùng sức mạnh của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Người khẳng định: "Trong công cuộc kháng chiến kiến quốc, lực lượng chính là ở dân"[2]. Đây là nét nổi bật xuyên suốt trong tư tưởng cách mạng và tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh. Khác hẳn với các quan điểm quân sự phong kiến, tư sản thường nhấn mạnh vai trò tài năng tướng lĩnh, dựa vào quân đội nhà nghề, binh khí kỹ thuật tối tân, hiện đại. Hồ Chí Minh dựa chắc vào dân, khơi nguồn lực lượng và sức sáng tạo của nhân dân. Người khẳng định có dân là có tất cả. Dân khí mạnh thì không súng ống nào chống lại nổi. Cách mạng phải động viên, giác ngộ con người để họ đứng lên tự giải phóng và đem lại hạnh phúc cho mình. Không sức mạnh nào có thể tiêu diệt được sức mạnh của quần chúng nhân dân khi họ đã được tổ chức, lãnh đạo nhất tề đứng lên để tự giải phóng mình.

Hồ Chí Minh coi khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng là sản phẩm của sức mạnh, sức sáng tạo của quần chúng nhân dân; sự vùng dậy của quần chúng lao động dưới ngọn cờ của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi trong sự nghiệp chống lại áp bức, bóc lột và nô dịch của chủ nghĩa đế quốc. Người nói: Cách mệnh là việc chung của dân chúng chứ không phải việc của một, hai người. Cách mệnh thì phải đoàn kết dân chúng bị áp bức để đánh đổ cả cái giai cấp áp bức mình, chứ không phải chỉ chờ năm, bảy người giết hai, ba anh vua, chín, mười anh quan là được. Người phê phán những xu hướng manh động, phiêu lưu, khủng bố cá nhân. Bởi vì, ám sát là làm liều và kết quả ít, vì giết thằng này còn thằng khác, giết sao cho hết.

Nêu cao ngọn cờ đại nghĩa, Người chăm lo giáo dục toàn dân hiểu tại sao phải làm cách mạng, tại sao phải kháng chiến. Người nói: Thà chết được tự do còn hơn sống làm nô lệ. Người xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tập hợp mọi tầng lớp nhân dân trong mặt trận dân tộc thống nhất trên cơ sở liên minh công nông, động viên sức mạnh của toàn dân vào công cuộc kháng chiến cứu quốc. Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trò của quần chúng nhân dân trong khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng. Người tin tưởng vững chắc vào ý chí quyết tâm, khả năng vô tận, sức mạnh vô địch của quần chúng nhân dân. Để tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, Người kêu gọi: “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.

Trong kháng chiến chống Pháp, Người nêu rõ: Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại. Người kêu gọi: bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Trong kháng chiến chống Mỹ, Người nêu rõ: chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước. Ba mươi mốt triệu đồng bào ta ở cả hai miền, bất kỳ già, trẻ, gái, trai phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ, cứu nước, quyết giành thắng lợi cuối cùng.

Công việc quân sự không phải chỉ là việc riêng của quân đội mà được đồng bào cả nước thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đấu tranh vũ trang, chiến tranh cách mạng, chiến tranh yêu nước không còn là lĩnh vực riêng của quân đội, mà toàn dân tộc ta đã tự giác đứng lên chiến đấu vì độc lập, tự do, vì thống nhất Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Coi sức mạnh giải phóng là sức mạnh của cả dân tộc đứng lên "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta". Khởi nghĩa vũ trang là khởi nghĩa toàn dân, chiến tranh yêu nước là chiến tranh nhân dân, đó là sự thể hiện sâu sắc tính nhân văn, dân chủ, nhân đạo trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.

Mặt khác, phương thức tiến hành khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng của Hồ Chí Minh mang đậm tinh thần dân chủ, sáng tạo trong việc động viên toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến. Từ góc độ triết lý nhân văn, kháng chiến toàn dân chính là sự giải phóng động lực nội tại của một cộng đồng dân tộc, quốc gia, giải phóng năng lực trí tuệ, sức sáng tạo của toàn thể những con người có khát vọng sống trong tự do, độc lập. Toàn dân kháng chiến gắn với toàn diện kháng chiến, chủ trương trên nhằm phát huy hết mọi sức mạnh của toàn dân. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, không chỉ kháng chiến bằng quân sự mà cả bằng chính trị, địch vận, ngoại giao, kinh tế và văn hoá, tăng gia, sản xuất hay tản cư, phá hoại “làm vườn không nhà trống” cũng là kháng chiến.

Trải qua hơn nửa thế kỷ đấu tranh cách mạng, Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý giá về sử dụng sức mạnh của quần chúng nhân dân với các hình thức đấu tranh cách mạng. Đối với quân đội, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo và bổ sung, phát triển nhiều nội dung quan trọng của Học thuyết Mác - Lênin về quân đội phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của cách mạng nước ta. Trên cơ sở xây dựng lực lượng chính trị rộng khắp của quần chúng để xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân từ thấp đến cao, từ thô sơ đến hiện đại. Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Quán triệt quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về bản chất quân đội, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: quân sự không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại. Quân đội nhân dân Việt Nam phải được xây dựng thành một đội quân cách mạng, mang bản chất giai cấp công nhân, có tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc; quân đội của nhân dân, do nhân dân xây dựng, vì nhân dân mà chiến đấu; một đội quân chiến đấu, sản xuất, công tác.

Hồ Chí Minh giải quyết hết sức đúng đắn, sáng tạo mối quan hệ giữa con người và vũ khí. Với quan điểm “người trước, súng sau”, “vũ khí là cần, nhưng quan trọng hơn là người vác súng”. Do đó, Người hết sức quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội, Người chỉ thị cho ngành cung cấp (hậu cần) là phải làm thế nào để một bát gạo, một đồng tiền, một viên đạn, một viên thuốc, một tấc vải, phải đi thẳng đến chiến sỹ. Người yêu cầu cán bộ phải hết sức chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của cấp dưới và chiến sĩ. Cùng với khẳng định vai trò quyết định của nhân tố con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội, Hồ Chí Minh không hề coi nhẹ vai trò vũ khí, kỹ thuật. Ngay từ khi thành lập quân đội, Người đã chọn nhiều cán bộ khoa học có phẩm chất, năng lực, trí tuệ, đặt nền móng vững chắc xây dựng và phát triển ngành quân giới để bảo đảm vũ khí, kỹ thuật cho chiến đấu; xây dựng cơ quan, đơn vị, nhà trường quân đội; xây dựng các quân chủng, binh chủng ngày càng hiện đại, đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc giải phóng đất nước trước đây cũng như sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngày nay.

  Đặc biệt, Hồ Chí Minh đã giải quyết thành công mối quan hệ giữa chính trị và quân sự; trong mối quan hệ ấy “quân sự phục tùng chính trị” và “chính trị biểu hiện ra trong lúc đánh giặc”[3]. Do đó, trong xây dựng quân đội và lực lượng vũ trang phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tăng cường công tác đảng, công tác chính trị; tăng cường huấn luyện, rèn luyện để bộ đội phải tinh, sức chiến đấu phải mạnh; xây dựng kỷ luật; xây dựng đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế.. Đồng thời, Người căn dặn cán bộ phải học tư tưởng chiến lược, chiến thuật, học cách dạy bộ đội đánh giặc, học phương pháp chỉ huy chiến đấu; phải kế thừa truyền thống, kinh nghiệm quý báu của dân tộc, tinh hoa quân sự thế giới, khoa học - nghệ thuật quân sự của giai cấp vô sản.

Hồ Chí Minh đã giáo dục cho quân đội ta phải giúp đỡ mọi mặt đối với cách mạng các nước anh em. Người viết thư động viên và nhắc nhở bộ đội: giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình. Phải coi việc giúp bạn như chính việc của mình, phải tôn trọng, kính yêu bạn, không được có tư tưởng ban ơn, bao biện làm thay.

Đối với nhân dân và quân đội các nước xã hội chủ nghĩa, quân đội ta luôn thể hiện tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng. Những lời huấn thị của Người luôn nhắc nhở quân đội ta làm tốt nhiệm vụ quốc tế của mình. Đó là những biểu hiện rực rỡ của tính quốc tế và tính thời đại của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong xây dựng, lãnh đạo Quân đội nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.

  Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quân đội mãi mãi soi sáng quá trình xây dựng, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của quân đội ta, một quân đội luôn trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Cán bộ, chiến sỹ thương yêu nhau như ruột thịt, chia ngọt, xẻ bùi. Quân với dân như cá với nước, đoàn kết, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau. Quân đội ta có tinh thần yêu nước chân chính và tinh thần quốc tế cao cả.

 Quân đội nhân dân Việt Nam trong suốt gần 80 năm chiến đấu, xây dựng, trưởng thành xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng ta, Nhà nước ta; là đội quân chiến đấu, đội quân sản xuất, đội quân công tác; giữ vững và tăng cường sự đoàn kết giữa Đảng với nhân dân, quân đội với nhân dân. Quân đội nhân dân Việt nam mãi mãi là của dân, do dân, vì dân, vì nhân dân mà chiến đấu; mãi mãi là “Bộ đội Cụ Hồ”; Quân đội nhân dân Việt Nam trở thành một di sản quân sự mang đậm tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.

[1] . Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb,CTQG, H, 2000, tập 5, tr.644
[2] . Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb, CTQG, H. 2000, tập 5, tr.409
[3]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb, CTQG, H. 2000, tập 6, tr. 319.

 

NHẬN DIỆN BẢN CHẤT CỦA “BẤT TUÂN DÂN SỰ”

TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Rạng sáng 11/6/ 2023 Nhóm đối tượng dùng vũ khí tấn công trụ sở UBND xã Ea Tiêu, Ea Ktur, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk đã gây ra tổn thất nghiêm trọng về người và ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương...Đây là một hành động hết sức dã man cần được phân tích sâu rộng, chỉ rõ nguồn gốc, bản chất  của hành động mà ngay cả những kẻ trực tiếp hành động cũng phải được biết.

Có thể khẳng định đây là một trong những hành động “Bất tuân dân sự”. Vậy bản chất của “Bất tuân dân sự”tại Việt Nam hiện nay là gì? Bài viết sau đây làm rõ vấn đề cần đề cập ở trên.

“Bất tuân dân sự” là khái niệm quen thuộc được sử dụng trong đời sống chính trị các nước phươmg Tây. “Bất tuân dân sự” ra đời từ cách đây hơn 2000 năm, trải qua thời gian dài được nghiên cứu, bổ sung, áp dụng vào thực tiễn nên nội hàm của khái niệm này ngày càng được hoàn thiện. Trong những năm gần đây, “Bất tuân dân sự” đã hiện diện trên thực tế tại Việt Nam. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, cả chủ quan và khách quan, “Bất tuân dân sự” đã trở thành một trào lưu nguy hiểm trong xã hội khi nó đã và đang kháng cự lại sự quản lý của chính quyền các câp. Đặc biệt nguy hiểm hơn, khi “Bất tuân dân sự” đã có dấu hiệu sự can dự, hướng lái của các thế lực thù địch, tiềm ẩn nguy cơ đe dọa đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Nhận diện bản chất của “Bất tuân dân sự” không chỉ giúp lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, các cơ quan chức năng, cán bộ, đảng viên, mọi quân nhân, công nhân viên chức, người lao động nhận diện, phân biệt rõ ràng về bản chất các hoạt động chống đối chính quyền của “Bất tuân dân sự”, mà còn giúp xây dựng các biện pháp phòng ngừa, đối phó hiệu quả, kịp thời là vấn đề cấp thiết hiện nay.

Qua nghiên cứu các quan điểm, hoạt động và quá trình hình thành “Bất tuân dân sự”, có thể rút ra: “Bất tuân dân sự” tại Việt Nam là hành động phản kháng của người dân khi quyền và lợi ích bị xâm hại, bị các thế lực thù địch lợi dụng kích động tạo thành mâu thuẫn đối kháng giữa người dân với chính quỵền, từ đó hình thành các phong trào phản kháng Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ XHCN ở nước ta. “Bất tuân dân sự” tại Việt Nam hiện nay đã ở mức nguy hiểm, có xu hướng phát triển thành phong trào, trở thành nguy cơ tiềm ẩn đe dọa đến sự tồn vong của chế độ.

Về bản chất, “Bất tuân dân sự” tại Việt Nam là những hoạt động nhằm vô hiệu hóa một hoặc nhiều quyết sách của chính quyền bằng “sức mạnh hòa bình” của quần chúng; vô hiệu hoặc làm giảm khả năng sử dụng công cụ bạo lực của chính quyền; thường được bắt đầu một cách “tự phát”, “vô hại”, nhỏ lẻ, nhưng sau đó lây lan và được tổ chức khá chặt chẽ. “Bất tuân dân sự” tại Việt Nam là hệ quả của quá trình tác động, thẩm thấu, “chuyển hóa” lâu dài. Trong đó, các thế lực thù địch đã thẩm thấu các giá trị, tư tưởng trái ngược lại quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước Việt Nam khiến cho quần chúng nhân dân “nhờn luật”, hình thành tư tưởng “phản kháng ý thức hệ” khi bị kích động hoặc xung đột về lợi ích và sự nhũng nhiễu của một bộ phận tha hóa trong bộ máy công quyền…

Tăng cường dân chủ hóa đời sống xã hội


Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã nhận thức rõ vai trò của dân chủ và tập trung xây dựng thiết chế, hoàn thiện thể chế, đổi mới cơ chế và chính sách để bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân. Nhận thức ngày càng rõ vai trò, sức mạnh của dân chủ, tại Đại hội XII, lần đầu tiên “Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa” đã trở thành một thành tố của chủ đề Đại hội và tiêu đề của Báo cáo Chính trị.

Phát huy nguồn lực con người và dân chủ hóa đời sống xã hội có mối quan hệ và tác động biện chứng lẫn nhau. Đó là hai vấn đề có chung một mục đích là tôn trọng con người, vì sự phát triển toàn diện của con người. Dân chủ chủ hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo ra một môi trường xã hội lành mạnh, tự do để con người hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Dân chủ hóa đời sống xã hội, tác động vào nhu cầu chủ đạo của con người, vào khát vọng ngàn đời của người lao động là tự do và công bằng xã hội. Thực tiễn lịch sử đã có không ít những bằng chứng hùng hồn về sức mạnh rời non, lấp biển từ nhu cầu tự do của con người, của các giai cấp, các dân tộc. Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, nhu cầu đó cũng có những yêu cầu và nội dung khác nhau. Vấn đề ở chỗ, muốn huy động được tối đa năng lực của nhân dân lao động vào sự nghiệp cách mạng, các Đảng Cộng sản phải luôn luôn quan tâm đến nhu cầu hàng đầu đó của người lao động.

Dân chủ hóa đời sống xã hội, góp phần quan trọng vào việc khắc phục, hạn chế những tiêu cực kìm hãm sự phát triển của con người, xâm phạm quyền con người, coi thường nhân phẩm con người, do đó, kích thích tính tích cực, chủ động của con người, làm cho con người và hoạt động của họ hướng tới cái thiện, cái đẹp và tính nhân đạo trong cuộc sống của mình; có tinh thần trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm công dân cao hơn trong lời nói và việc làm của họ. Một xã hội dân chủ thực sự của người lao động vừa là điều kiện cơ bản, vừa đặt ra yêu cầu cao đối với việc không ngừng hoàn thiện nhân cách của mỗi con người.

Cùng với tiến trình đổi mới, quá trình dân chủ hóa đã diễn ra trong mọi lĩnh vực của đất nước. Về kinh tế, mô hình kinh tế quan liêu bao cấp từng bước được thay thế bằng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế là giá đỡ vật chất cho dân chủ và quá trình dân chủ hóa. Trong nền kinh tế thị trường, người dân được tự do kinh doanh những gì mà pháp luật không cấm và được khuyến khích làm giàu hợp pháp, đảng viên cũng được làm kinh tế tư nhân. Xung lực to lớn mà dân chủ trong kinh tế mang lại đã góp phần giải phóng tiềm lực trong dân, đưa nước ta thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội và danh sách nước nghèo.

Về chính trị, việc đổi mới chính trị được tiến hành đồng bộ với đổi mới kinh tế đã tạo ra quá trình dân chủ hóa của hệ thống chính trị. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là một đặc trưng và cũng là một phương hướng cơ bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Theo đó, Nhà nước đảm nhiệm vai trò tạo dựng hành lang pháp lý và quản lý vĩ mô, còn quản lý sản xuất và kinh doanh thuộc về các doanh nghiệp. Nền hành chính quốc gia đã từng bước theo hướng nhà nước phục vụ, nhà nước kiến tạo. Quốc hội không chỉ đóng vai trò là cơ quan lập pháp mà còn ngày càng thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện chính sách. Hoạt động của Tòa án và Viện Kiểm sát cũng có nhiều đổi mới như tăng cường vai trò của luật sư và sự tranh tụng tại tòa để hạn chế sự oan sai.

Để quá trình dân chủ hóa tiếp tục được thực thi trên thực tế, cần tập trung giải quyết tốt một số nội dung, biện pháp, đó là: Nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về vấn đề dân chủ. Đổi mới công tác tổ chức cán bộ; tránh các hiện tượng “mua quan, bán tước”, minh bạch hóa công tác cán bộ, phải đổi mới hơn nữa công tác bầu cử, đẩy mạnh công tác tranh cử, phải coi trọng sự đánh giá của nhân dân về cán bộ và phát huy vai trò gương mẫu của người đứng đầu. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra và truyền thông để kịp thời ngăn chặn các hiện tượng phản dân chủ. Hoàn thiện thiết chế, chế tài phù hợp để hiện thực hóa vai trò, trách nhiệm phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. 

Thực hiện chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người

 


Chính sách xã hội được coi là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước; là động lực to lớn, phát huy tính năng động, sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng ta khẳng định: “Chính sách xã hội là chính sách chăm lo cho con người, vì con người, lấy con người làm trung tâm, là chủ thể, mục tiêu, động lực, nguồn lực để phát triển bền vững đất nước; là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn xã hội; thể hiện đặc trưng, bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa; tăng trưởng kinh tế gắn với bảo đảm chính sách xã hội; tạo điều kiện để Nhân dân được thụ hưởng thành quả của sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc[1].

Thực hiện chính sách xã hội đúng đắn, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của chủ nghĩa xã hội, trước hết, có tác dụng kích thích tính tích cực, sáng tạo của con người. Động lực quan trọng và chủ yếu nhất, thúc đẩy tính tích cực và sáng tạo của con người là lợi ích. Phạm trù lợi ích ở đây được hiểu theo nghĩa rộng rãi nhất, bao gồm lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, lợi ích của mỗi cá nhân và lợi ích tập thể, cộng đồng. Con người hoạt động tích cực để cải tạo thế giới quan xung quanh mình, tác động vào tự nhiên và xã hội là do sự thúc đẩy của lợi ích sống còn của họ, C. Mác chỉ rõ, mọi tư tưởng sẽ tự làm nhục mình nếu tách rời khỏi lợi ích. Bất cứ lĩnh vực hoạt động sống nào của con người mà ở đó họ không tìm thấy lợi ích của mình thì ở đó không thể có bất cứ một thái độ tích cực và sáng tạo nào có tính chất bền vững. Chính sách xã hội không chỉ quan tâm đến lợi ích của xã hội và tập thể lao động nói chung, mà còn quan tâm đến lợi ích của mỗi con người cụ thể trong mối quan hệ với lợi ích tập thể, lợi ích xã hội. Hoạt động tích cực và sáng tạo của nhân dân lao động là vì lợi ích của mỗi con người trong mối quan hệ với lợi ích tập thể và xã hội. Sự tuyệt đối hoá lợi ích tập thể và xã hội trước đây, đã làm hạn chế tính tích cực, chủ động, sáng tạo của con người trong chủ nghĩa xã hội.

Để phát huy tốt hơn nữa nguồn lực con người, cần tập trung thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, chính sách xoá đói, giảm nghèo nhằm giảm dần khoảng cách chênh lệch giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng miền. Tập trung giải quyết những vấn đề cấp bách về lao động, việc làm, thu nhập, để người lao động có điều kiện nâng cao trình độ tri thức, tay nghề, có môi trường rèn luyện phấn đấu, cống hiến và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần. Phát triển và lành mạnh hóa xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp. Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm an toàn và vệ sinh lao động, phòng chống tai nạn và bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Thực hiện đồng bộ chính sách bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ, nếp sống, nhằm tăng tuổi thọ và phát triển giống nòi.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ Tám, Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2023

 

Đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

 


Nhận thức rõ sự tác động của kinh tế đối với phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay, Đảng ta đã chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thông qua phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; củng cố niềm tin của nhân dân vào chế độ xã hội chủ nghĩa, khích lệ nhân dân ngày càng tích cực tham gia đóng góp sức lực, trí tuệ vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn góp phần nâng cao vị thế của người lao động trong quá trình sản xuất. Tạo điều kiện cho mọi người dân làm chủ tư liệu sản xuất của toàn xã hội, ở mọi thành phần kinh tế. Nền kinh tế thị trường tạo ra những thuận lợi, giúp con người thay đổi những quan niệm và thói quen cũ gắn liền với nền sản xuất tự cấp tự túc. Nói cụ thể hơn, quan niệm tự cấp, tự túc trong vòng khép kín bảo thủ chuyển thành quan niệm giao lưu, khai thác, tìm tòi và mở ra cái mới; quan niệm bình quân, cào bằng chuyển thành quan niệm thi đua, cạnh tranh tạo nên những động lực tinh thần để phát triển… Những chuyển biến đó sẽ góp phần tăng cường thêm một bước ý thức của mỗi cá nhân, thúc đẩy sự hình thành những cá nhân tự giác và đưa xã hội lên một trình độ mới. Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn huy động rộng rãi nhân dân đóng góp ý kiến xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của địa phương, đóng góp ý kiến xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, của đơn vị; đã tạo ra môi trường thuận lợi để phát huy nguồn lực con người trong lĩnh vực kinh tế.

Phát huy sáng kiến của người lao động, chăm lo đời sống vật chất tinh thần của họ, thực hiện phân phối công bằng, công khai, dân chủ. Động viên mọi người dân bỏ vốn để sản xuất kinh doanh, khai thác thế mạnh của các địa phương, phát triển ngành nghề truyền thống, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy trình độ tay nghề, năng lực quản lý kinh doanh của mỗi thành viên trong xã hội, để cùng với Nhà nước giải quyết những khó khăn của đất nước.

Tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống, khơi dậy lương tâm nghề nghiệp, nêu cao trách nhiệm của mỗi người dân trong hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Làm cho mọi người thấy được trách nhiệm của mình phải lao động nghiêm túc, có chất lượng, có hiệu quả, tạo ra hàng hóa tốt, nâng cao chất lượng dịch vụ. Điều đó vừa tạo điều kiện cho xã hội phát triển, vừa là điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả. Phê phán mạnh mẽ thói lười biếng, làm bừa, làm ẩu; ngăn chặn làm ăn phi pháp, phi đạo lý.

Phát huy hơn nữa nguồn lực con người trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Nguồn lực con người là tổng hoà các yếu tố về số lượng, chất lượng và cơ cấu của một cộng đồng người, có thể huy động được vào hoạt động thực tiễn vì sự tiến bộ và phát triển xã hội.

Về mặt số lượng, nguồn lực con người được xác định trên quy mô dân số, cơ cấu độ tuổi, sự tiếp nối các thế hệ, giới tính và sự phân bố dân cư giữa các vùng, các miền, giữa các ngành kinh tế, giữa các lĩnh vực đời sống xã hội.

Về mặt chất lượng, nguồn lực con người phản ánh chất lượng dân số, đặc biệt là chất lượng của lực lượng lao động hiện tại và trong tương lai gần (dưới dạng tiềm năng), thể hiện qua các yếu tố như: Sức khoẻ cơ thể và sức khoẻ tâm thần, mức sống, tuổi thọ, trình độ học vấn và chuyên môn nghề nghiệp, trình độ phát triển trí tuệ, năng lực sáng tạo, khả năng thích nghi, kỹ năng lao động, văn hóa lao động, các khía cạnh tâm lý, ý thức, đạo đức, tư tưởng, tình cảm, tính cách, lối sống trong đó, trí lực, thể lực, đạo đức là những yếu tố quan trọng nhất.

Về mặt cơ cấu, nguồn lực con người phản ánh ở khía cạnh cơ cấu dân cư và cơ cấu lao động trong các ngành, các vùng; cơ cấu lao động đã qua đào tạo trong các lĩnh vực và khu vực kinh tế; cơ cấu trình độ lao động; cơ cấu độ tuổi trong lực lượng lao động; cơ cấu nguồn lao động dự trữ... Cơ cấu dân cư và lao động ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và sức mạnh của nguồn lực con người.

Con người được xem xét với tư cách là một nguồn lực, nguồn lực nội tại, cơ bản trong hệ thống các nguồn lực của sự phát triển xã hội. Là một nguồn lực, cũng như các nguồn lực khác, con người tạo ra sức mạnh và tham gia vào quá trình thúc đẩy sự phát triển của một quốc gia, dân tộc. Song, nguồn lực con người khác các nguồn lực khác ở chỗ, có nó, các nguồn lực khác mới phát huy được tác dụng và có ý nghĩa tích cực, vì thế nó là nguồn lực của mọi nguồn lực. Mặt khác, nó không chỉ là chủ thể quyết định sự vận động và phát triển xã hội, mà còn là khách thể của các quá trình kinh tế - xã hội. Sức mạnh của nguồn lực con người biểu hiện qua sức mạnh của thể lực, trí lực, niềm tin, ý chí... của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng không chỉ trong thực tế mà còn ở dạng tiềm năng. Những nhân tố trên có quan hệ hữu cơ và trong điều kiện ngày nay, trí lực có vai trò đặc biệt quan trọng. Vì vậy, cần xem xét con người với tất cả hiện trạng, tiềm năng, đặc điểm và sức mạnh của nó đối với sự phát triển xã hội.

Phát huy nguồn lực con người trong xây dựng chủ nghĩa xã hội là quá trình khơi dậy, sử dụng và phát triển tính tích cực chính trị - xã hội cùng với năng lực sáng tạo của nhân dân lao động vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Thực chất của phát huy nguồn lực con người trong xây đựng chủ nghĩa xã hội chính là thực hiện một cách đồng bộ, có hệ thống các biện pháp kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội nhằm khơi dậy, sử dụng, phát triển tất cả các yếu tố số lượng, chất lượng, cơ cấu của nguồn lực con người, đáp ứng với đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; quá trình đó bao gồm những nội dung chủ yếu:

Khơi dậy tính tích cực chính trị - xã hội, năng lực sáng tạo của nhân dân. Đây thực chất là quá trình “đánh thức” những tiềm năng vốn có nhưng chưa bộc lộ hoặc bộc lộ chưa đầy đủ của từng cá nhân và tập thể… để phục vụ cho việc khai thác, sử dụng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là khơi dậy tính tích cực chính trị - xã hội (biểu hiện: tình yêu đất nước, yêu con người, ý thức trách nhiệm đối với xã hội, ý chí quyết tâm, tinh thần say mê, sáng tạo trong lao động) của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Sử dụng những tiềm năng, tính tích cực chính trị - xã hội và năng lực sáng tạo của nhân dân. Đây là quá trình tổ chức hoạt động thực tiễn để nhân dân tham gia; thông qua đó để phát huy tính tích cực chính trị - xã hội và năng lực sáng tạo của mỗi người. Thực chất của khâu này là tìm ra các cách thức, cơ chế, chính sách tốt nhất để tác động vào những đột phá nhằm tạo động lực, làm tăng tính tích cực, tự giác, năng động, sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Phát triển tính tích cực chính trị - xã hội, năng lực sáng tạo của nhân dân. Thực chất là quá trình phát triển về số lượng, hoàn thiện về cơ cấu và làm gia tăng giá trị của con người trên các mặt: phẩm chất đạo đức, năng lực trí tuệ, khả năng lao động sáng tạo, thể lực… làm cho họ trở thành những người lao động vừa hồng vừa chuyên, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Quá trình này được tiến hành liên tục, thường xuyên nhằm tăng cường sức mạnh, tạo cơ sở, tiền đề tiếp tục khơi dậy và sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Cần phát huy hơn nữa gái trị con người xã hội chủ nghĩa hiện nay

 


Con người xã hội chủ nghĩa là sản phẩm tất yếu của quá trình phát triển lịch sử tự nhiên, là tổng hợp các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, đạo đức và trình độ phát triển của chủ nghĩa xã hội, đồng thời là chủ thể của các quan hệ xã hội đó.

Con người xã hội chủ nghĩa là con người có ý thức, trình độ và năng lực làm chủ tự nhiên, xã hội và chính bản thân. Đó là con người luôn đề cao trách nhiệm cá nhân đối với tương lai của đất nước, dân tộc; tích cực phấn đấu vươn lên để góp công sức vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa; tham gia tích cực vào quá trình quản lý nhà nước, quản lý xã hội; đấu tranh chống mọi quan điểm, thái độ tiêu cực trong xã hội. Con người xã hội chủ nghĩa còn phải có năng lực nhận thức để nắm bắt các quy luật vận động của tự nhiên, xã hội; đồng thời phát huy tính tích cực, sáng tạo, thúc đẩy xã hội ngày càng phát triển, tiến bộ.

Con người xã hội chủ nghĩa là con người lao động mới, có tri thức, có ý thức kỷ luật, có tinh thần hợp tác với đồng nghiệp, biết đánh giá chất lượng lao động, hiệu quả lao động của bản thân. Con người xã hội chủ nghĩa kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện lười lao động, thích hưởng thụ; tích cực học tập nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề, ứng dụng khoa học công nghệ vào lao động sản xuất để làm giàu cho xã hội, cho gia đình và bản thân.

Con người xã hội chủ nghĩa là con người sống có văn hóa, có tình nghĩa; giải quyết đúng đắn các quan hệ xã hội; có ý thức nâng cao trình độ tri thức mọi mặt, ra sức rèn luyện sức khoẻ, bảo đảm phát triển toàn diện cá nhân. Họ không chỉ là những người có tri thức, có sức khỏe, tích cực hăng say lao động để cống hiến cho xã hội mà còn là những người có lối sống lành mạnh, giàu lòng nhân ái, vị tha, yêu thương con người; sẵn sàng giúp đỡ nhau trong cuộc sống; luôn tin tưởng, tôn trọng nhau; giải quyết hài hòa giữa lợi ích cá nhân với lợi ích của tập thể, của xã hội.

Con người xã hội chủ nghĩa là con người giàu lòng yêu nước, có tình thương yêu giai cấp, thương yêu đồng loại, có ý thức và kiên quyết đấu tranh bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ những thành quả cách mạng; kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu chống phá của kẻ thù; sẵn sàng chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc; đồng thời luôn nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế, giúp đỡ giai cấp công nhân và nhân dân lao động yêu chuộng hòa bình; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hành động của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản cách mạng.

Xây dựng gia đình quân nhân hiện nay

 


Quân đội, trực tiếp là cán bộ, chiến sĩ, con em của các gia đình làm nhiệm vụ tuyên truyền, vận động gia đình mình và các gia đình khác thực hiện tốt mội chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng gia đình, góp phần xây dựng hậu phương quân đội vững chắc để cán bộ, chiến sĩ yên tâm công tác, thực hiện tốt mọi nhiệm vụ.

Các đơn vị Quân đội trực tiếp giúp đỡ các địa phương và gia đình trên địa bàn đóng quân phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng cơ sở chính trị, bảo vệ tính mạng, tài sản, cuộc sống bình yên cho nhân dân và các gia đình; tham gia phòng chống thiên tai, dịch bệnh. Chăm lo xây dựng gia đình no ấm, hòa thuận, tiến bộ, hạnh phúc. Đấu tranh với những biểu hiện sai trái trong quan hệ quân dân, phá vỡ hạnh phúc gia đình, ảnh hưởng đến phẩm chất “Bộ đội cụ Hồ”, góp phần xây dựng hậu phương quân đội vững chắc.

Xây dựng gia đình gắn chặt với xây dựng khu tập thể dân cư, làng, bản văn hóa


Xây dựng gia đình gắn chặt với xây dựng khu tập thể dân cư, làng bản văn hoá là một biện pháp quan trọng nhằm tạo ra một môi trường xã hội lành mạnh,  mà ở đó phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình. Bởi vì, môi trường, hoàn cảnh xung quanh có tác động rất lớn đến con người và mỗi gia đình. Đoàn kết yêu thương, đùm bọc, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau là nét đẹp truyền thống của dân tộc, gia đình Việt Nam.

Xây dựng khu tập thể dân cư, làng bản văn hoá là nhằm tạo ra một môi trường xã hội trong sạch lành mạnh, an toàn, thuận lợi nhất để các gia đình đoàn kết, động viên, giúp đỡ nhau cùng thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.                        

Cần thực hiện xây dựng khu tập thể dân cư, làng, bản theo tiêu chuẩn văn hóa mới, xây dựng các tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh. Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở làng, xã, đấu tranh đẩy lùi các tệ nạn xã hội và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Nâng cao hiệu quả, tính thiết thực trong xây dựng gia đình văn hóa, gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”. 

Xây dựng các mối quan hệ thực sự bình đẳng trong gia đình

 


Đây là giải pháp quan trọng không thể thiếu trong xây dựng gia đình. Bởi lẽ, một trong những cơ sở quan trọng hình thành nên văn hoá gia đình là các mối quan hệ trong gia đình: quan hệ giữa vợ - chồng, cha mẹ - con cái, anh - chị - em, con cháu - ông bà, cô dì, chú bác. Do vậy, xây dựng các mối quan hệ trong gia đình thực sự bình đẳng trực tiếp góp phần xây dựng gia đình văn hoá, bảo đảm cho gia đình là tế bào lành mạnh của xã hội.

Gia đình mới ở Việt Nam được xây dựng, trên cơ sở các quan hệ bình đẳng, thương yêu, có trách nhiệm cùng chia sẻ, gánh vác công việc của các thành viên để thực hiện các chức năng cơ bản của gia đình và nghĩa vụ xã hội. Trong số các quan hệ giữa các thành viên gia đình, cần đề cập hai quan hệ cơ bản nhất: quan hệ vợ chồng, quan hệ cha mẹ - các con. Việc hình thành và từng bước phát triển gia đình mới, cần chú ý đến bình đẳng trong quan hệ vợ - chồng.

Kết hợp nhiều giải pháp, biện pháp, trong đó sự đồng bộ của việc đề ra và thực hiện các chính sách kinh tế, văn hoá, giáo dục... góp phần quan trọng tạo ra và từng bước củng cố quan hệ bình đẳng vợ - chồng trong tham gia quyết định các vấn đề trọng đại của gia đình cũng như tham gia các hoạt động xã hội. Trong gia đình mới, vợ chồng thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau cần tiến bộ. Đặc biệt phải quan tâm đến đặc điểm giới tính để tạo điều kiện phù hợp cho vợ chồng hoàn thành được nhiệm vụ gia đình và công tác xã hội. Chung thủy vẫn là nét bản chất của tình yêu sau hôn nhân; đồng thời là yêu cầu của hình thức hôn nhân mới. Chung thủy là yếu tố quan trọng để gia đình có hạnh phúc bền vững.

Cùng với quan hệ vợ chồng, trong xây dựng gia đình mới cần chú ý đến quan hệ cha, mẹ - con cái. Bố mẹ yêu thương và không phân biệt đối xử với các con, tôn trọng và hướng dẫn những nhu cầu chính đáng của các con. Nuôi dạy các con thành người có ích cho xã hội là nghĩa vụ của bố mẹ. Các con phải biết ơn, kính trọng, nghe lời khuyên nhủ của bố mẹ và không ngừng học hỏi vươn lên giữ vững truyền thống tốt đẹp của gia đình. Trong gia đình, việc mâu thuẫn và khác biệt giữa các thế hệ là điều khó có thể tránh khỏi. Giải quyết những mâu thuẫn và khác biệt để không dẫn tới những xung đột trên cơ sở tôn trọng những nét riêng cần thiết, tâm lý lứa tuổi, hạn chế những mặt yếu, kết hợp những mặt mạnh của các thế hệ là trách nhiệm thường xuyên của gia đình và xã hội.

Ngoài ra, trong gia đình cần xây dựng những mối quan hệ tốt giữa anh chị em với nhau. Nếu trong gia đình có nhiều thế hệ, phải chú ý đến những mối quan hệ khác, như ông bà và cháu chắt; bố mẹ chồng với con dâu; bố mẹ vợ và con dể; chú bác, cô dì và các cháu các quan hệ này cần được xây dựng trên tinh thần bình đẳng, tình thương và có trách nhiệm để cho gia đình êm ấm, trở thành tế bào lành mạnh của xã hội.

Cùng với đó, cần xây dựng tốt mối quan hệ giữa gia đình với tập thể cộng đồng xã hội. Bởi vì, sự tác động của xã hội đóng vai trò hết sức quan trọng, thông qua các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá - giáo dục, tuyên truyền vận động. Mối quan hệ đó được biểu hiện ra như: quan hệ họ hàng, thân tộc, làng xóm, các tổ chức nơi cư trú. Trong đó cần lưu ý là những tác động ấy sao cho trở thành các nhân tố và điều kiện khách quan, bên ngoài cho quá trình thực hiện tốt các chức năng cơ bản của gia đình và làm tốt trách nhiệm xã hội.

Nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo để phát huy hơn nữa nguồn lực con người


Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo là giải pháp quan trọng hàng đầu để phát huy nguồn lực con người, bởi lẽ, giáo dục và đào tạo là cơ sở hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực hoạt động thực tiễn của mỗi cá nhân và cả cộng động người. Thông qua hoạt động giáo dục và đào tạo, trình độ năng lực của con người ngày càng được nâng cao, giúp cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung và phát triển năm 2011) Đảng ta nhấn mạnh: Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ có sức mạnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển. Đến đại hội lần thứ XII của Đảng (năm 2016) khẳng định: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học, phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Để đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau:

Đổi mới tư duy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý để tạo được chuyển biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nước nhà, tiếp cận với trình độ giáo dục của khu vực và thế giới; khắc phục cách đổi mới chắp vá, thiếu tầm nhìn tổng thể, thiếu kế hoạch đồng bộ. Đổi mới chương trình, nội dung phương pháp giảng dạy và học tập, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế.

Tăng cường các nguồn lực cho giáo dục - đào tạo. Ngân sách Nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực cho giáo dục - đào tạo. Cùng với đó, cần tích cực huy động các nguồn lực ngoài ngân sách. Khuyến khích và tạo điều kiện để cho người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài giúp đỡ, đầu tư vào lĩnh vực giáo dục - đào tạo theo quy định của Nhà nước. Xây dựng đội ngũ giáo viên có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu giáo dục - đào tạo trong điều kiện mới. Tăng cường thực hiện chương trình bồi dưỡng giáo viên, bồi dưỡng chuẩn hóa, nâng cao phẩm chất và năng lực cho đội ngũ giáo viên.

Đổi mới và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo. Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý giáo dục theo tinh thần tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục - đào tạo. Nhà nước thực hiện đúng chức năng định hướng phát triển, tạo lập khung pháp lý và kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực thi pháp luật, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong giáo dục - đào tạo, chống bệnh thành tích. Đổi mới tổ chức và hoạt động, đề cao và bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của nhà trường, nhất là trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. 

Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới

 


Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Hội nghị Trung ương 9 (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước khẳng định: Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021-2030), Đảng đã đưa ra mục tiêu tổng quát về xây dựng, phát triển con người như sau: “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có sức khỏe, năng lực, trình độ, có ý thức, trách nhiệm cao đối với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc”[1]. Đảng ta đã gắn nhân tố con người gắn với xây dựng văn hóa làm nền tảng tinh thần với hàm ý văn hóa và con người là cặp đôi biện chứng, trong đó con người là chủ thể sáng tạo văn hóa và thụ hưởng các giá trị, sản phẩm văn hóa. Đảng ta cũng đã nêu ra những tiêu chí, những chuẩn mực của con người Việt Nam trong giai đoạn mới đó là: Giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khoẻ, lao động giỏi, sống có văn hoá, nghĩa tình, có tinh thần quốc tế chân chính, có khả năng sáng tạo và ứng dụng khoa học - công nghệ vào quá trình lao động sản xuất và quản lý; có nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực, kỹ năng, trách nhiệm xã hội… việc xây dựng con người phải thông qua hoạt động thực tiễn, cụ thể của từng người.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 231.

Phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao được coi là khâu đột phá chiến lược, là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững

 


Trong bối cảnh toàn cầu hoá và kinh tế tri thức, nguồn nhân lực chất lượng cao đang trở thành nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với bất cứ quốc gia nào thì việc lựa chọn phát triển nhanh nguồn nhân lực là khâu đột phá là tất yếu, khách quan và phù hợp. Nhận thức rõ điều đó, Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã khẳng định, phát triển nhanh nguồn nhân lực là một trong ba “khâu đột phá” chiến lược; trong đó phải: “Chú trọng đào tạo nhân lực chất lượng cao, phát hiện và bồi dưỡng nhân tài; có chính sách vượt trội để thu hút, trọng dụng nhân tài, chuyên gia cả trong và ngoài nước”2 để hiện thực hóa mục tiêu: Đến năm 2025, nước ta là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Theo đó, phát triển nguồn nhân lực là cơ sở để xây dựng đất nước có nền kinh tế phát triển cao; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển nhanh, bền vững trong những năm tiếp theo.

Phát huy nguồn lực con người là nhiệm vụ chiến lược; vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Việt Nam

 


Bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi sự phát triển và coi việc phát huy nguồn lực con người là một trong những nhiệm vụ chiến lược; vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Việt Nam. Mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội phải hướng vào việc phát huy nguồn lực con người và lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất. Nước ta xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện nhân tố vật chất, kỹ thuật hết sức thiếu thốn và ở trình độ thấp; trong khi mục tiêu xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh lại đòi hỏi chúng ta phải có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại. Vì vậy, phát huy nguồn lực con người được xác định là nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Đảng ta khẳng định: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”[1].

Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nguồn lực con người là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất - nhân tố quyết định tốc độ và sự phát triển bền vững của phương thức sản xuất mới ở nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế. Chiến lược con người phải nằm ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, là chủ nhân thực sự của xã hội, là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và mục tiêu của toàn bộ sự nghiệp cách mạng nên mọi chủ trương, chính sách nhằm phát huy nguồn lực con người đều phục vụ nhân dân.



[1],2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 115-116, 221.

Kinh nghiệm thực tiễn các nước trên thế giới và Việt Nam về phát huy nguồn lực con người

 


Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã xóa bỏ tận gốc áp bức, bất công, lật đổ sự thống trị của giai cấp bóc lột, giải phóng con người, mang lại lợi ích cho nhân dân lao động; cùng với sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Bônsêvích đã phát huy cao độ vai trò quần chúng nhân dân, làm nên thắng lợi của cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, quan điểm của Đảng ta luôn lấy con người làm trung tâm của sự phát triển; công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986) đã giành được những kết quả vô cùng to lớn. Nguồn nội lực, sự sáng tạo trong mỗi người dân được giải phóng cùng với sự phát triển mạnh mẽ và hiệu quả của các thành phần kinh tế, đã làm cho đất nước ta từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội tạo những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Những thành tựu đó càng chứng tỏ vai trò to lớn của con người Việt Nam, của việc phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đối với phát huy nguồn lực con người

 


Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong khi đó, bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước thời cơ và thách thức đan xen. Nước ta đã trải qua hơn 35 năm đổi mới với những thành tựu rất quan trọng; đã hoàn thành chặng đường đầu của công cuộc đổi mới, đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, đời sống nhân dân có nhiều cải thiện tích cực; sức mạnh quốc gia được tăng cường, độc lập, tự chủ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vị thế và uy tín của của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, tạo điều kiện, tiền đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn trong giai đoạn mới. 

Tuy nhiên, nước ta vẫn đang đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau và diễn biến phức tạp. Sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế đang đặt ra yêu cầu phải phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng sự phát triển của kinh tế tri thức. Mặc dù đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triển nguồn nhân lực, nhưng trên thực tế nguồn nhân lực của nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu; chưa đáp ứng được yêu cầu của hội nhập quốc tế và kinh tế tri thức. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới đang đặt ra yêu cầu, đòi hỏi phải phát huy vai trò của nguồn lực con người, huy động sức mạnh của toàn dân vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc được đặt ra ngày càng cấp thiết.

con người và nguồn lực con người có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển xã hội.


Theo các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, con người không chỉ là sản phẩm của tự nhiên và xã hội mà còn là chủ thể tích cực cải biến tự nhiên và xã hội; chính con người vừa là điểm khởi đầu nhưng cũng là điểm kết thúc của mọi quá trình biến đổi lịch sử. Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người sáng tạo ra lịch sử của chính mình, lịch sử của xã hội loài người.

Vai trò con người thực ra chính là vai trò của quần chúng nhân dân, người sáng tạo ra lịch sử, biểu hiện qua các hoạt động thực tiễn cơ bản nhất là lao động sản xuất, đấu tranh cách mạng và sáng tạo các giá trị văn hóa - tinh thần. V.I.Lênin khẳng định: “Cách mạng là ngày hội của những người bị áp bức và bóc lột. Không lúc nào quần chúng nhân dân có thể tỏ ra là người sáng tạo trật tự xã hội mới tích cực như trong thời kỳ cách mạng. trong những thời kỳ như thế… thì nhân dân có thể làm được những kỳ công”[1]. xét đến cùng, yếu tố giữ vai trò chi phối, quyết định sự vận động và phát triển của xã hội chính là lực lượng sản xuất. Trong bất cứ xã hội nào, người lao động: luôn là yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất. Đặc biệt ngày nay, khoa học công nghệ ngày càng phát triển, hàm lượng chất xám kết tinh trong giá trị hàng hóa càng cao thì vai trò của người lao động có trí tuệ lại càng quan trọng. Vì con người được đào tạo toàn diện, có kiến thức, trình độ và năng lực, được làm chủ tư liệu sản xuất với năng suất lao động cao.

Không chỉ trên lĩnh vực kinh tế mà trên lĩnh vực khác như: chính trị, văn hóa, xã hội, vai trò của nguồn lực con người cũng được thể hiện rõ khi người lao động có tri thức, có năng lực, thấy được trách nhiệm của mình sẽ tham gia tích cực vào quản lý xã hội, quản lý nhà nước, thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ công dân. Góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa mới, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới để làm phong phú nền văn hóa dân tộc.



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 131. 

Vai trò nguồn lực con người trong xây dựng chủ nghĩa xã hội


Nguồn lực con người là nguồn lực quan trọng nhất, quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vai trò của nguồn lực con người biểu hiện cụ thể trên các lĩnh vực của đời sống xã hội:

Trên lĩnh vực kinh tế. Trong bất cứ xã hội nào, người lao động cũng là yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất. Ngày nay, khoa học và công nghệ ngày càng phát triển, hàm lượng chất xám trong giá trị hàng hóa ngày càng cao, thì vai trò của người lao động có trí tuệ lại càng quan trọng trong lực lượng sản xuất. V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động”[1]. Con người khi được làm chủ những tư liệu sản xuất, được đào tạo một cách chu đáo những kiến thức quản lý kinh tế sẽ có điều kiện khai thác một cách có hiệu quả tiềm năng đất đai, biết kết hợp các yếu tố của quá trình sản xuất như huy động vốn, động viên khuyến khích người lao động làm việc có hiệu quả, quản lý chặt chẽ nguyên liệu vật tư; do vậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ tốt hơn. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, người lao động đã trở thành những người làm chủ đất nước, làm chủ trong quá trình tổ chức quản lý sản xuất, từ việc xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh tới tổ chức sản xuất kinh doanh và làm chủ trong quá trình phân phối sản phẩm. Điều đó tạo ra những điều kiện thuận lợi để phát huy nguồn lực con người, phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, làm cho đất nước ngày càng giàu đẹp.

Trên lĩnh vực chính trị. Nguồn lực con người là yếu tố quan trọng trong xây dựng hệ thống chính trị và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Xét nguồn lực con người trên phương diện chính trị, khi mà người dân có tri thức, có năng lực, thấy được trách nhiệm của mình trong việc lựa chọn những người có đức, có tài vào các cơ quan nhà nước sẽ góp phần xây dựng nhà nước vững mạnh. Cán bộ nhà nước có hiểu biết lý luận, hiểu biết thực tiễn, thấy được trách nhiệm của mình đối với nhân dân, sẽ hết lòng phụng sự nhân dân và thực sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân sẽ được dân mến, dân tin, dân ủng hộ. Cán bộ tích cực tuyên truyền đường lối của đảng, phổ biến luật pháp của nhà nước đến nhân dân, làm cho dân hiểu và có ý thức tôn trọng luật pháp, thực hiện những nghĩa vụ công dân, hiểu rõ quyền lợi của mình, kiên quyết đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Như vậy, nguồn lực con người là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; trong quá trình đấu tranh bảo vệ những thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của kẻ thù.

Trên lĩnh vực văn hóa, xã hội. Dưới chủ nghĩa xã hội nhân dân lao động đã trở thành người làm chủ trong đời sống văn hóa xã hội. Quần chúng nhân dân lao động là những người xây dựng nên những công trình văn hóa, sáng tạo ra các tác phẩm văn hóa nghệ thuật. Những công trình văn hóa, nghệ thuật có tác dụng giáo dục đạo đức, góp phần hình thành nhân cách cho mỗi con người trong xã hội. Hơn nữa, trong điều kiện giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng, mỗi người có điều kiện tiếp cận với nền văn hóa nhiều nước. Tạo tiền đề để họ tiếp nhận những giá trị tốt đẹp của dân tộc khác, loại bỏ những yếu tố không phù hợp để làm giàu cho nền văn hóa dân tộc mình, làm phong phú đời sống tinh thần cá nhân. Bên cạnh đó, nguồn lực con người có đóng vai trò quan trọng giải quyết các vấn đề xã hội như: Lao động việc làm, thực hiện công bằng xã hội, thực hiện xoá đói, giảm nghèo. Muốn giải quyết tốt những vấn đề này, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng nguồn lực con người, tập trung nâng cao sức khoẻ, trình độ học vấn, tay nghề, năng lực quản lý, ý thức chính trị cho người lao động.

Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Nguồn lực con người quyết định đến sức mạnh quốc phòng, an ninh của đất nước. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định, trong các yếu tố cấu thành sức mạnh quân sự của mỗi quốc gia, dân tộc, yếu tố con người bao giờ cũng là yếu tố quyết định nhất. Vũ khí trang bị dù có hiện đại đến đâu cũng do con người sản xuất chế tạo ra và thông qua hoạt động của con người thì các tính năng, sức mạnh của vũ khí đó mới được phát huy. Vì vậy, có thể khẳng định nguồn lực con người quyết định đến tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta luôn phải đối phó với các thế lực thù địch, bọn phản cách mạng. Theo đó, vai trò của nguồn lực con người trên lĩnh vực quốc phòng an ninh được thể hiện trong việc xác định và tổ chức thực hiện quan điểm, đường lối bảo vệ tổ quốc, giữ gìn an ninh quốc gia, phát huy sức mạnh của toàn dân trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 38, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 430. 

Thực hiện hôn nhân tự do, tiến bộ trong gia đình

 


Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu để xây dựng gia đình trong chủ nghĩa xã hội. Bởi vì, hôn nhân là tiền đề của gia đình, nó hướng vào giải quyết mối quan hệ cơ bản nhất của gia đình, quan hệ chồng - vợ, làm cơ sở để giải quyết các mối quan hệ khác cũng như việc thực hiện vai trò, chức năng của gia đình.

Xây dựng gia đình mới ở nước ta hiện nay được thực hiện trên cơ sở quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, bảo đảm quyền tự do kết hôn và ly hôn. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là hôn nhân được xây dựng chủ yếu dựa trên tình yêu chân chính giữa nam và nữ. Tình yêu chân chính là quan hệ tình cảm nẩy sinh trong quá trình gặp gỡ, hiểu biết và cảm thông lẫn nhau, tìm thấy ở nhau những điểm tương đồng, mong muốn chia sẻ những khó khăn, sẵn sàng cùng nhau xây dựng cuộc sống chung hạnh phúc, thương yêu nhau, không thể thiếu nhau. Hôn nhân tự nguyện tiến bộ là bước phát triển tự nhiên của tình yêu chân chính. Từ chỗ yêu thương nhau và thấy cần gắn bó với nhau xây dựng cuộc sống gia đình một cách tự nguyện, họ tình nguyện đến với nhau và được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Sự thừa nhận của pháp luật, một mặt giúp cho mỗi người khi bước vào hôn nhân, ý thức rõ hơn trách nhiệm công dân của mình trong cuộc sống gia đình; đồng thời pháp luật bảo vệ mỗi người khỏi những sự cám dỗ, lợi dụng đối với những người thiếu chín chắn, nhẹ dạ. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ không hề bác bỏ sự quan tâm, hướng dẫn, chia sẻ tâm tư tình cảm của các bậc cha mẹ. Sự quan tâm đúng mức của cha mẹ thường là giúp cho con cái có trách nhiệm hơn, sống đúng mực hơn trong tình yêu, ý thức được đầy đủ hơn về trách nhiệm mỗi người trong hôn nhân và gia đình. Hôn nhân tự nguyện tiến bộ bao giờ cũng gồm hai mặt tự do kết hôn và tự do ly hôn. Nếu tự do kết hôn được xây dựng và là sự phát triển của tình yêu chân chính, thì ly hôn là kết cục khó tránh khỏi khi tình yêu không còn nữa. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, ly hôn dù bất cứ lý do nào, thì hậu quả xã hội của nó cũng hết sức nặng nề. Hơn thế, hôn nhân dựa trên tình yêu chân chính, nhưng tình yêu chân chính bao hàm cả nghĩa vụ trách nhiệm cùng nhau chia sẻ khó khăn, cùng nhau vượt qua những thử thách, những trở ngại... trong cuộc sống chung. Vì vậy, ly hôn chính đáng là cần thiết, nhưng cần có sự bảo đảm của pháp lý, có sự hỗ trợ, hòa giải của các đoàn thể xã hội, của cộng đồng làng xóm, dân phố.

Kế thừa những giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống, đồng thời tiếp thu những tiến bộ của thời đại trong xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay

 


Đây là giải pháp quan trọng bảo đảm cho gia đình Việt Nam vừa giữ gìn được bản sắc dân tộc, vừa có sự tiên tiến hiện đại phù hợp với xu hướng phát triển mới của xã hội hiện nay. Bởi vì đây chính là sự tuân theo quy luật của sự phát triển những giá trị văn hóa tốt đẹp đáng quý của gia đình Việt Nam trước đây vẫn phù hợp cần được trân trọng lưu giữ và phát huy. Đồng thời, cần tiếp thu và làm giàu bằng những giá trị tốt đẹp của thời đại.

Xây dựng gia đình mới ở nước ta hiện nay phải trên cơ sở kế thừa, giữ gìn và phát huy các giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống Việt Nam. Bên cạnh tính chất phụ quyền, gia trưởng, gia đình truyền thống có những giá trị tốt đẹp cần được kế thừa, phát huy trong điều kiện mới. Trong số các giá trị đó phải kể đến truyền thống vừa cố kết trong gia đình lại vừa đoàn kết tình làng nghĩa xóm; tình yêu gia đình gắn chặt với tình yêu dân tộc. Những giá trị ấy của nhân dân ta đã được hun đúc, phát triển thêm trong suốt hơn 90 năm đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng gia đình mới cũng cần chú ý từng bước khắc phục, loại bỏ các giá trị không còn hợp lý của gia đình truyền thống: tính cục bộ theo họ tộc, địa phương, những nghi lễ rườm rà, tốn kém trong ma chay, cưới hỏi, sự bất bình đẳng về giới, bất bình đẳng giữa các thế hệ... Trong điều kiện hiện nay, sự chuyển đổi hệ giá trị từ gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại đang đòi hỏi phải tiếp thu chọn lọc các giá trị văn hoá của nhân loại. Những giá trị văn hoá ấy chỉ có thể được chọn lọc, được tiếp thu một khi các giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống được bảo tồn, được phát huy dung nạp những nội dung giá trị mới phù hợp với văn hoá và đạo lý làm người của dân tộc Việt Nam.

Mặt khác, gia đình còn liên quan và chịu ảnh hưởng của tình hình quốc tế, nhất là ngày nay khi có các phương tiện thông tin hiện đại và mở rộng giao lưu quốc tế. Nhiều hiện tượng tiêu cực ở xảy ra ở nhiều nơi đang gây ra những lo lắng cho mọi người và tác hại đến sự phát triển lành mạnh của gia đình ở nhiều quốc gia. Song thời đại mới cũng đem lại những nội dung tiến bộ đến cho gia đình như: dân chủ hóa các quan hệ trong gia đình, sự tôn trọng nhân cách của các thành viên, hiện đại hóa nhu cầu vật chất và tinh thần của gia đình, cộng đồng hỗ trợ gia đình phát triển, hình thức gia đình hạt nhân tăng lên, thu hẹp quy mô gia đình...

Vì vậy, để xây dựng gia đình mới phải ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, mạnh dạn lựa chọn và xử lý đúng đắn những yếu tố mới nảy sinh, và quan trọng hơn là biết tiếp thu những yếu tố mới, tiến bộ của thời đại; vừa phải phù hợp với truyền thống của dân tộc, của gia đình và sự phát triển chung của xã hội.

Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng và chính quyền; nâng cao nhận thức cộng đồng về xây dựng gia đình Việt Nam

 


Đây là giải pháp hết sức quan trọng bảo đảm công tác xây dựng gia đình văn hóa mới ở nước ta hiện nay theo đúng quan điểm, mục tiêu, phương hướng đã xác định. Xuất phát từ vị trí, vai trò, quan trọng đặc biệt của gia đình và mối quan hệ biện chứng giữa gia đình và xã hội, công tác xây dựng gia đình văn hóa mới ở nước ta hiện nay cần có sự chung tay của mọi cấp, mọi ngành và toàn xã hội. Nhưng trước tiên là vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền các cấp.

Các cấp ủy, tổ chức đảng phải thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng gia đình; xây dựng và lãnh đạo thực hiện các tiêu chí, chuẩn mực gia đình Việt Nam. Phát huy vai trò, trách nhiệm người đứng đầu các cấp về công tác xây dựng gia đình. Cán bộ, đảng viên phải nêu gương và vận động nhân dân tích cực tham gia xây dựng gia đình hạnh phúc.

Với quan điểm: “Gia đình là điểm xuất phát và trở về của các chính sách”, cần nâng cao năng lực quản lý nhà nước về công tác xây dựng gia đình. Xây dựng, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Xây dựng Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam giai đoạn 2021-2030, định hướng đến năm 2045; thường xuyên bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật về gia đình; chương trình giáo dục quốc gia về gia đình, chương trình giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình và các chương trình, dự án hỗ trợ xây dựng gia đình hạnh phúc. Xây dựng dữ liệu số quốc gia về gia đình làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách, chương trình kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

Nâng cao nhận thức của người dân và các gia đình hướng đến thay đổi nhận thức và hành vi phù hợp; mỗi công dân trong xã hội và các gia đình tự giác chấp hành, thực hiện tốt các chức năng của gia đình, biết tổ chức đời sống gia đình một cách khoa học.

Tập trung tuyên truyền Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030; tổ chức tuyên truyền một cách rộng rãi, nhất là cấp cơ sở, chú trọng nêu gương người tốt, việc tốt. Kiên quyết đấu tranh chống lối sống thực dụng, tệ nạn xã hội, bạo lực gia đình, xóa bỏ các hủ tục, tập quán lạc hậu trong hôn nhân và gia đình. Khắc phục bệnh thành tích, hình thức trong công tác xây dựng gia đình.