Thứ Hai, 28 tháng 12, 2020

Tự do tôn giáo ở Việt Nam: Sự thật không thể xuyên tạc

Thời gian gần đây tiếp tục xuất hiện những thông tin sai lệch, tiêu cực, những đánh giá phiến diện về tình hình hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng tại Việt Nam. Thực tế đó càng cần thiết phải lên tiếng bảo vệ sự thật, bảo vệ lẽ phải, tái khẳng định chính sách đúng đắn cũng như những thành tựu mà đất nước ta đã đạt được trong việc bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Chính sách còn nguyên giá trị Thực tế hoạt động của các tôn giáo ở Việt Nam hiện nay cho thấy rõ ràng chính sách nhất quán và đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam là: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên, cũng như các nước khác, Việt Nam không chấp nhận việc lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước hay kích động bạo lực, chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, tôn giáo, gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự và tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân... Chính sách đó đã luôn được Nhà nước Việt Nam khẳng định và thực hiện nhất quán. Cũng có thể khẳng định rằng, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay khá sôi động, đa dạng với nhiều hình thức sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, nhiều tổ chức tôn giáo và mô hình tổ chức tôn giáo. Trong xu thế phát triển của đất nước và xu thế chung của thời đại, các tôn giáo tại Việt Nam luôn được tạo điều kiện hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật. Cụ thể, chức sắc và tín đồ thuộc các tôn giáo đều được tự do sinh hoạt, tự do thực hành các lễ nghi tôn giáo, biểu hiện đức tin, được tạo điều kiện tốt nhất để mở mang cơ sở vật chất, tu sửa nơi thờ tự và mở mang, phát triển quan hệ giao lưu quốc tế. Các ngày lễ trọng, lễ hội truyền thống như Lễ Phật đản của Phật giáo, Lễ Giáng sinh, Lễ Phục sinh của Công giáo và Tin lành... được tổ chức trang nghiêm, thu hút đông đảo không chỉ tín đồ mà cả quần chúng nhân dân tham gia. Cùng với sự phát triển về tổ chức, đăng ký hoạt động cho các tôn giáo đủ điều kiện, số lượng tín đồ và các hoạt động tôn giáo tại Việt Nam cũng không ngừng gia tăng trong những năm gần đây. Tự do tôn giáo ở Việt Nam: Sự thật không thể xuyên tạc Chính sách nhất quán và đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam là: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Ảnh minh họa. TTXVN. Sự ra đời của các tổ chức tôn giáo một mặt phản ánh sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam trong thực hiện nhất quán quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mặt khác khẳng định Việt Nam không phân biệt đối xử giữa người có tín ngưỡng, tôn giáo; không phân biệt hay kỳ thị bất kỳ tôn giáo nào, dù là nội sinh hay truyền từ nước ngoài, tôn giáo đã ổn định hay mới được công nhận, miễn sao hoạt động của họ nằm trong khuôn khổ pháp luật. Dư luận của tuyệt đại bộ phận chức sắc, tín đồ cũng thừa nhận rằng, chính sách, pháp luật về tôn giáo của Nhà nước Việt Nam là đúng đắn, phù hợp, không có cản trở nào trong các hoạt động và sinh hoạt tôn giáo của họ. Sự thật là thế, vậy mà những năm gần đây, trong các báo cáo tự do tôn giáo của một số nước lại đề cập đến Việt Nam với những thông tin sai lệch, vu cáo Việt Nam đàn áp tôn giáo, vi phạm quyền “tự do tôn giáo” của người dân. Họ cho rằng Chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của nhiều tôn giáo, thậm chí có hành động đàn áp một số tín đồ tôn giáo. Bên cạnh đó, còn một bộ phận nhỏ chức sắc, tín đồ của một số tôn giáo cho rằng họ không được hưởng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; rêu rao rằng ở Việt Nam không có tự do tôn giáo, Nhà nước Việt Nam xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của giáo hội... Những đánh giá ấy chẳng những không phản ánh đúng bản chất tình hình mà thậm chí cố tình phớt lờ những thành tựu của Việt Nam trong tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Thực chất đây không chỉ là những nhận thức sai lệch, mà xuất phát từ âm mưu, mục đích chính trị, nhằm lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước ta và chính quyền các cấp. Phải có hàng rào pháp luật Ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới, quyền tự do tôn giáo đều phải diễn ra trong khuôn khổ pháp luật, chứ không thể có sự tự do vô chính phủ, tự do vô nguyên tắc. Và dĩ nhiên, ở Việt Nam cũng vậy! Nói về điều này, trước hết phải nhắc lại Điều 18 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, trong đó nêu rõ, quyền tự do của cá nhân thể hiện tôn giáo hay tín ngưỡng của mình phải chịu các giới hạn, chẳng hạn như các giới hạn được luật pháp quy định và các giới hạn cần thiết để bảo vệ an toàn, trật tự, sức khỏe xã hội, hay tinh thần hoặc các quyền cơ bản và quyền tự do của những người khác. Nói cách khác, quyền tự do tôn giáo hay bất cứ một quyền nào khác trên phương diện pháp lý đều bị giới hạn bởi khuôn khổ luật pháp. Cần phải thấy rằng, quyền tự do tôn giáo là vấn đề gắn với thể chế chính trị-xã hội và điều kiện kinh tế-văn hóa-xã hội ở từng quốc gia cụ thể, không thể tồn tại một khái niệm quyền tự do tôn giáo chung chung, trừu tượng. Cũng không thể đem giá trị, quan niệm về tự do tôn giáo ở một quốc gia này để áp dụng, đo lường hoặc đánh giá mức độ quyền tự do tôn giáo ở một quốc gia khác. Trên phương diện đối ngoại giữa các quốc gia, không thể đem tiêu chuẩn về tự do tôn giáo ở quốc gia này để áp đặt lên một quốc gia khác và buộc các quốc gia khác phải tuân theo. Trở lại với âm mưu, luận điệu vu cáo rằng Việt Nam có các hoạt động đàn áp tôn giáo, một lần nữa cần nhìn vào thực tế để thấy mặt thật của vấn đề. Chẳng hạn, lâu nay tại Việt Nam đã xuất hiện không ít hoạt động tôn giáo trái pháp luật của một số tổ chức Tin lành nước ngoài chưa được cấp phép, điển hình là các tổ chức tà giáo mang danh nghĩa Tin lành truyền vào Việt Nam như Hội thánh của Đức Chúa Trời mẹ, Tân Thiên Địa... Hoạt động của đa phần các tổ chức này đều trái với văn hóa truyền thống Việt Nam, nhuốm màu mê tín dị đoan, hoạt động lén lút, có dấu hiệu trục lợi và nhìn chung là vi phạm pháp luật, bị dư luận lên án. Tuy nhiên, đối với các hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật của các tổ chức tà giáo như vậy, lực lượng chức năng Việt Nam chủ yếu nhắc nhở, chấn chỉnh và xử lý dựa trên quy định pháp luật. Như vậy, một lần nữa chúng ta khẳng định chắc chắn rằng, ở Việt Nam hoàn toàn không có cái gọi là đàn áp tôn giáo. Những luận điệu xuyên tạc, vu cáo chỉ là chiêu trò mà các thế lực thù địch lợi dụng, sử dụng để nhằm phục vụ âm mưu chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Điều đáng mừng là trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh hội nhập quốc tế, chúng ta đã có thêm nhiều kênh quan trọng để đưa ra tiếng nói và khẳng định thực tế tình hình tự do tôn giáo ở đất nước mình. Thông qua các cơ chế và diễn đàn song phương, đa phương, khu vực và quốc tế, đặc biệt là Liên hợp quốc, có một sự thật rõ ràng đang được thừa nhận, đó là Việt Nam đang tích cực cùng các quốc gia khác trên thế giới đấu tranh bảo vệ, phát huy các nguyên tắc, nội dung tiến bộ về tự do tôn giáo, và vẫn sẽ kiên trì bảo vệ lẽ phải trong lĩnh vực này. Nguồn: QĐND.

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tên Người sống mãi với non sông

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người hội tụ, kết tinh trí tuệ và tư tưởng, tình cảm và đạo đức, nhân cách và lối sống của con người và dân tộc Việt Nam. Người tiêu biểu cho cốt cách và bản lĩnh, lương tâm và khí phách của thời đại. Nhà báo người Liên Xô Ô.Man-đen-xtam từng nói: “từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu Châu, mà có lẽ là một nền văn hóa của tương lai”(1) – Đó là nền văn hóa độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam và nhân loại! Vì vậy, khi Người đi vào cõi vĩnh hằng, trong Điếu văn, Tổng Bí thư Lê Duẫn đã đọc trước nhân dân: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch - Người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta”(2). Tên Người sống mãi với non sông Việt Nam, trường tồn cùng dân tộc. Người tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, thành lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam - nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam Tận mắt chứng kiến dân tộc Việt Nam chìm đắm trong “đêm trường nô lệ” và các phong trào đấu tranh yêu nước đều lần lượt thất bại, vì thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn, với lòng yêu nước nồng nàn, nhãn quan chính trị thiên tài, ngày 5-6-1911, với tên gọi Văn Ba, người thanh niên Nguyễn Ái Quốc nhận làm phụ bếp trên con tàu A-mi-ran La-tu-sơ Tơ-rê-vin, rời Cảng Nhà Rồng với quyết tâm phải tìm bằng được con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã hoà mình vào quần chúng cần lao, đến các vùng nông thôn hẻo lánh ở Niu Oóc, Luân-đôn, Pa-ri, Thái Lan, Trung Quốc... để tìm hiểu các phong trào cách mạng thế giới như: cách mạng Mỹ năm 1776, cách mạng Pháp năm 1789 và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, phụ thuộc. Người sớm nhận thấy rằng: “Kách mệnh Mỹ cũng như kách mệnh Pháp nghĩa là kách mệnh tư bản, kách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực thì nó tước đoạt công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”(3). Tháng 11-1917, cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra và giành thắng lợi, phá vỡ mắt xích yếu nhất trong sợi dây chuyền đế quốc chủ nghĩa, lập ra Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới. Cuộc cách mạng vĩ đại năm 1917 đã đưa học thuyết cách mạng của Mác-Lênin trở thành hiện thực đầu tiên ở nước Nga Xô-viết, đưa cách mạng thế giới bước vào thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH. Năm 1920, tại Pa-ri, Pháp đã diễn ra cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Nguyễn Ái Quốc và Chủ nghĩa Mác-Lênin qua Bản Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lê-nin, đăng trên Báo Nhân đạo của Đảng Xã hội Pháp. Luận cương của V.I.Lê-nin đã chỉ ra con đường giải phóng dân tộc, nên Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc: “Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”. Người nói: “Đề cương của Lê-nin làm tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng đến phát khóc lên; ngồi một mình trong buồng mà tôi muốn nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”(4). Với lập trường yêu nước đúng đắn, Người vạch ra chân lí :“Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(5). Và “Chỉ có CNXH, chủ nghĩa Cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức”(6). Kết luận này khẳng định sự chuyển biến sâu sắc trong tư duy của Nguyễn Ái Quốc, từ người yêu nước chân chính trở thành người cộng sản - người đảng viên cộng sản đầu tiên của Việt Nam; Người đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế III và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp; hình thành con đường cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam. Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc bí mật trở về Quảng Châu (Trung Quốc). Trên cương vị mới, Người vừa làm phiên dịch cho đồng chí Bô-rô-din - cố vấn Liên Xô bên cạnh Chính phủ cách mạng Quốc dân đảng - vừa phụ trách mục tuyên truyền trong tờ báo Canon Gazette - Báo viết bằng tiếng Anh của Trung ương Quốc dân đảng. Đây là điều kiện thuận lợi nhất để Người truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam. Người tiếp xúc với những thanh niên yêu nước hăng hái nhất trong nhóm Tâm Tâm Xã như Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong... Tháng 5-1925, Người lập ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên - tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với sự giúp đỡ tận tình của các đồng chí Trung Quốc, Hội bí mật đưa một số thanh niên trong nước sang Quảng Châu tham gia các lớp học chính trị. Hội ra tờ Báo Thanh Niên, bí mật truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào đấu tranh của công nhân và quần chúng nhân dân. Qua đó, Người tích cực chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập một đảng mác-xít ở Việt Nam. Khi Chủ nghĩa Mác-Lênin đã thật sự thâm nhập sâu vào phong trào công nhân và chiếm ưu thế trong phong trào yêu nước Việt Nam, ba tổ chức cộng sản lần lượt ra đời, khẳng định bước phát triển quan trọng của phong trào cách mạng Việt Nam. Trước yêu cầu lịch sử, với tư cách là phái viên của Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất: Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3-2-1930 tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc). Hội nghị thông qua Cương lĩnh đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, chỉ rõ nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi chủ nghĩa thực dân Pháp và phong kiến tay sai, giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày… đã thể hiện rõ mục tiêu duy nhất của cách mạng Việt Nam “làm tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để tiến tới xã hội cộng sản”(7). Lần đầu tiên, cách mạng Việt Nam có một cương lĩnh chính trị phản ánh đúng tình hình và quy luật khách quan của xã hội Việt Nam, phù hợp với xu thế thời đại: “Cương lĩnh ấy rất phù hợp với nguyện vọng thiết tha của đại đa số nhân dân ta là nông dân. Vì vậy, Đảng đã đoàn kết được lực lượng cách mạng to lớn chung quanh giai cấp mình”(8). Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách, liên tiếp giành thắng lợi trong các giai đoạn 1930-1931, 1936-1939, tạo ra thế và lực mới, giành thắng lợi khi có thời cơ. Nguyễn Ái Quốc luôn theo sát từng bước phát triển của cách mạng Việt Nam, tìm mọi cách đề nghị với Quốc tế cộng sản bố trí công tác phù hợp để tham gia trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước. Được sự nhất trí của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc rời Mát-xcơ-va với nhiệm vụ “đến Trung Quốc để công tác trong Đảng Cộng sản Đông Dương”. Đây là điều kiện vô cùng quan trọng, thời điểm khảo sát, tiếp cận và chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho cuộc “đột nội”, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc về tới cột mốc 108, biên giới Việt - Trung thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, Người đứng lặng hồi lâu bồi hồi, xúc động trào dâng “Bao nhiêu năm thương nhớ, đợi chờ, hôm nay mới bước chân về nơi non sông gấm vóc của mình”… Sự kiện lịch sử này đã được thực tiễn cách mạng minh chứng, Cao Bằng, nơi có suối Lê-nin, núi Các Mác đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là trung tâm đầu não của phong trào cách mạng cả nước, mở ra một tương lai sán lạn của cách mạng nước nhà. Người quyết định chọn Cao Bằng là điểm đặt chân đầu tiên và làm trung tâm “cơ quan đầu não” chỉ đạo cách mạng Việt Nam sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước. Người trực tiếp tổ chức, lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành thắng lợi Sau khi khảo sát, nghiên cứu, đánh giá tình hình, ngày 19-5-1941, tại Khuổi Nậm, Pác Pó, Cao Bằng, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8. Trên cơ sở đường lối chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng trong Hội nghị Trung ương 6 và 7, Hội nghị Trung ương 8 phát triển và hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đặt nhiệm vụ chống đế quốc giải phóng dân tộc lên hàng đầu, nhiệm vụ chống phong kiến và các nhiệm vụ dân chủ khác phải rải ra thực hiện từng bước. Người chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng”. Vì vậy, “bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng độc lập”. Đây là sự chuyển hướng quan trọng nhất về chỉ đạo chiến lược. Đảng ta khẳng định: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. Hội nghị Trung ương 8 của Đảng là sự gặp gỡ giữa tư tưởng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc với chủ trương giải phóng dân tộc của Trung ương Đảng. Đường lối này không những khắc phục quan điểm về đấu tranh giai cấp, mà còn tạo điều kiện cho tư tưởng giải phóng dân tộc của Bác Hồ tiếp tục phát triển, đưa lại thắng lợi cho cách mạng Việt Nam. Cũng từ đây, Mặt trận Việt Minh ra đời - một chủ trương mang tính chiến lược, sáng tạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, nhằm đoàn kết hết thảy các lực lượng yêu nước không phân biệt dân tộc, giai cấp, đảng phái, giai cấp, là người Việt Nam đoàn kết trong một mặt trận để cứu nước, giải phóng dân tộc. Thể hiện rõ chính sách “dân tộc tự quyết”, hợp với nguyện vọng của toàn thể nhân dân, giai cấp, các dân tộc Đông Dương, hợp với cuộc đấu tranh chung của toàn thế giới chống phát xít xâm lược, bảo đảm cho cách mạng Đông Dương thành công. Trước sự biến đổi sâu sắc của tình hình, Đảng và Bác Hồ đã đưa ra một vấn đề hết sức cần kíp lúc này là chuẩn bị các lực lượng cách mạng. Trong đó, hướng phát triển lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng và đưa Đảng vào hoạt động bí mật, các đội Cứu quốc quân I, II, III lần lượt ra đời, khẩn trương triển khai xây dựng các đội tự vệ, du kích, huy động nhân dân quyên góp tiền của để mua sắm vũ khí. Ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ra đời đã liên tiếp đánh thắng hai trận Phai Khắt, Nà Ngần. Chiến thắng đầu tiên của Đội cùng với những thắng lợi của Cứu quốc quân, các đội du kích, tự vệ ở các địa phương đã góp phần củng cố, mở rộng khu căn cứ cách mạng Cao - Bắc - Lạng, Thái - Hà - Tuyên, cổ vũ, động viên toàn dân đẩy mạnh phong trào đấu tranh, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang. Ngày 9-5-1945, Đức đầu hàng Đồng minh. Ngày 15-8-1945, Nhật đầu hàng Đồng minh. Trong nước, Chính phủ tay sai Trần Trọng Kim tê liệt, phong trào đấu tranh của quần chúng phát triển mạnh mẽ. Đêm 13-8-1945, khi Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1 - hiệu triệu toàn dân đứng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Lúc Bác ốm nặng ở lán Nà Lừa và đã căn dặn đồng chí Võ Nguyên Giáp: Dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, cả dân tộc muôn người như một vùng lên “chớp thời cơ ngàn năm có một” giành chính quyền về tay mình. Từ ngày 19-8-1945 đến ngày 28-8-1945, chính quyền trên cả nước đã hoàn toàn về tay nhân dân. Ngày 2-9-1945, tại vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, mở ra thời đại mới - Thời đại Hồ Chí Minh! Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ mới ra đời, vận mệnh nước ta lại rơi vào tình thế “như ngàn cân treo sợi tóc”. Trước tình thế đó, với nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng đã bình tĩnh, sáng suốt phân tích tình hình, đề ra đường lối đúng đắn và những cách thức hành động khôn khéo, mềm dẻo, từng bước giải quyết giặc đói, thanh toán giặc dốt, nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân. Lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, Người trực tiếp ký Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946 và Tạm ước Việt - Pháp 14-9-1946, đuổi nhanh quân Tưởng về nước, buộc Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một nước tự do, có chủ quyền, tạo thời gian hòa hoãn cần thiết để xây dựng và phát triển lực lượng, chuẩn bị mọi mặt cho toàn quốc kháng chiến. Những quyết định lịch sử sáng suốt, vừa có tính nguyên tắc, vừa mềm dẻo và linh hoạt của Hồ Chí Minh giúp dân tộc vượt qua thời đoạn hiểm nghèo đã bước đầu phản ánh tầm ảnh hưởng cũng như vai trò dẫn đường của Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam. Trong hai cuộc kháng chiến, Người đã xác định đúng kẻ thù cơ bản, đánh giá đúng so sánh lưc lượng giữa ta và địch. Trong tầng tầng, lớp lớp kẻ thù núp dưới danh nghĩa Đồng minh kéo vào nước ta sau Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh đã nhanh chóng nhận ra kẻ thù cơ bản, chủ yếu của cách mạng Việt Nam. Người đề nghị quốc dân đồng bào: “Nhân dân Việt Nam hoan nghênh quân Đồng minh kéo vào Việt Nam để tước khí giới quân Nhật, nhưng cương quyết phản đối quân Pháp kéo vào Việt Nam, vì mục đích của họ chỉ là hãm dân tộc Việt Nam vào vòng nô lệ một lần nữa”(9). Cũng vì thế Người đã sớm kêu gọi “Đồng bào hãy sẵn sàng đợi lệnh Chính phủ để chiến đấu!”(10). Hồ Chí Minh và Đảng ta đã hoạch định đường lối kháng chiến đúng đắn, phát huy sức mạnh tổng hợp, duy trì và dẫn dắt hai cuộc kháng chiến phát triển tới thắng lợi hoàn toàn. Đó là đường lối “kháng chiến, kiến quốc” không chỉ soi đường, dẫn lối cho cách mạng nước ta từng bước xây dựng mọi tiềm lực, đẩy lùi “giặc đói”, chống “giặc dốt”, mà còn làm nên một Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động đại cầu”, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng do Hồ Chí Minh khởi xướng tại Đại hội III, sau đó cũng đóng vai trò quyết định, dẫn dắt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tới thắng lợi hoàn toàn. Thực hiện chiến lược cách mạng XHCN giúp xây dựng được hậu phương miền Bắc XHCN vững chắc, đóng vai trò quyết định nhất đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến. Tiến hành chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã trực tiếp quyết định thắng lợi của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Chủ trương thắng từng bước với việc “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” là phương hướng kết thúc chiến tranh trong quan điểm chủ đạo của Người. Quan điểm của Người đã dẫn đường cho cách mạng Việt Nam từng bước giành được những thắng lợi vững chắc nhất, làm cho quá trình đi tới thắng lợi hoàn toàn của dân tộc trong mùa Xuân năm 1975 như một tất yếu lịch sử không thể đảo ngược. Thắng lợi vĩ đại của các cuộc kháng chiến, với việc hiện thực hóa mục tiêu độc lập, tự do và CNXH, một lần nữa khẳng định vai trò dẫn đường cùng sức sống mãnh liệt và giá trị trường tồn của Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam. Tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người soi sáng con đường cách mạng Việt Nam Cả cuộc đời bảy mươi chín mùa xuân, Người đã hiến dâng trọn vẹn cho dân, cho nước. Trước lúc đi xa, trong Di chúc thiêng liêng, Người để lại cho dân tộc Việt Nam căn dặn những vẫn đề cốt yếu của cách mạng Việt Nam, trong đó đặc biệt quan tâm đến xây dựng Đảng và con người. “Trước hết nói về Đảng”, “theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng” và “Đầu tiên là công việc đối với con người”(11) là hai nội dung trọng yếu, bức thiết và có mối quan hệ biện chứng được Người đề cập trong Di chúc. Vì vậy, thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn để giữ vững vai trò lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền và sức chiến đấu, đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên, thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Trong mỗi bước của dân tộc, hình ảnh, tư tưởng, tấm gương đạo đức sáng ngời của Người luôn là niềm tin vững chắc, soi sáng con đường đi lên của đất nước. Tại Đại hội VII, Đảng ta đã chính thức đưa vào văn kiện: Lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Nhân kỷ niệm 77 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 - 3-2-2007), Đảng ta phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đến nay Cuộc vận động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Qua đó tạo chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng Đảng đã có sức lan tỏa sâu rộng trong xã hội, định hướng tư tưởng, hành động và bước đầu giành được kết quả cao. Nội dung “làm theo” tư tưởng, đạo đức, tác phong của Bác được biểu hiện bằng những việc làm cụ thể, thiết thực trong công việc, trong đời sống thường ngày “Trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo”, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng “Ý Đảng, lòng dân” trở thành sức mạnh vật chất và tinh thần trong sự nghiệp thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược “xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN”. Tư tưởng, phong cách, tấm gương đạo đức sáng ngời của Người luôn soi sáng con đường đi lên của dân tộc, là niềm tin vững chắc để Đảng và nhân dân ta tiếp tục con đường Người đã lựa chọn, xây dựng đất nước ta “to đẹp hơn, đàng hoàng hơn”, “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” như sinh thời Bác hằng mong muốn. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là tài sản tinh thần vô cùng to lớn của Đảng và dân tộc ta, mà còn “mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”(12). Hơn ba mươi năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp phát triển của nước ta, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta, đất nước ta đã đạt được “những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN”(13). Những thành tựu đó tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới; khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo, con đường đi lên CNXH của đất nước ta mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn là “phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử”(14). Điều đó chứng tỏ, Chủ tịch Hồ Chí Minh không những là người tìm đường, mở đường, dẫn đường mà tư tưởng của Người mãi mãi soi đường, chỉ lối cho cách mạng Việt Nam trong cuộc hành trình tới độc lập, tự do và CNXH, thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới. Nhân dịp kỷ niệm 130 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tất cả niềm tin yêu và lòng biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh - soi sáng con đường chúng ta đi, chúng ta nguyện đoàn kết một lòng, xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hùng cường Thời đại Hồ Chí Minh - Đó là cách học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người thiết thực nhất, cụ thể nhất và hiệu quả nhất. Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta phải biến những điều tiếc nuối, những ham muốn tột bậc, điều mong ước cuối cùng của Người trong Di chúc thành hiện thực, sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn: Xây dựng Đảng.

Hội nghị Ban chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương tổng kết nhiệm vụ năm 2020, triển khai nhiệm vụ năm 2021

 

QĐND Online - Sáng 29-12, Ban Chỉ đạo (BCĐ) 35 Quân ủy Trung ương (QUTƯ) tổ chức Hội nghị tổng kết nhiệm vụ năm 2020, triển khai nhiệm vụ năm 2021. Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (TCCT), Phó trưởng ban Thường trực BCĐ 35 QUTƯ chủ trì hội nghị.

Năm 2020, BCĐ 35, Cơ quan Thường trực BCĐ 35 QUTƯ luôn quán triệt sâu sắc sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, trực tiếp là QUTƯ, BCĐ 35 Trung ương, tập trung triển khai các chủ trương, biện pháp toàn diện, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, đạt hiệu quả thiết thực.

BCĐ 35, Cơ quan Thường trực BCĐ 35 QUTƯ đã chủ động tham mưu với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, QUTƯ các chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý Nhà nước, giữ vững sự ổn định về chính trị, tư tưởng trong Quân đội; ban hành các văn bản chỉ đạo, kế hoạch, hướng dẫn; biên soạn các chuyên đề, tài liệu chuyên khảo phục vụ công tác thông tin tuyên truyền trước các sự kiện chính trị của đất nước, công tác phòng, chống dịch Covid-19, các vấn đề dư luận trong nước và quốc tế quan tâm, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên một số địa bàn; một số vụ án, vụ việc vi phạm pháp luật, kỷ luật của cán bộ, đảng viên; kịp thời định hướng tư tưởng, dư luận trong cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội; tập trung làm tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, giữ vững sự ổn định trong đơn vị; chủ động thông tin tích cực, đẩy mạnh tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, kịp thời phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị, thông tin xấu độc.

Hội nghị Ban chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương tổng kết nhiệm vụ năm 2020, triển khai nhiệm vụ năm 2021
 
Hội nghị Ban chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương tổng kết nhiệm vụ năm 2020, triển khai nhiệm vụ năm 2021
Các đại biểu tham dự hội nghị.

Cơ quan chức năng và các đơn vị đã quán triệt, thực hiện nghiêm các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của trên, duy trì hoạt động nền nếp; chủ động nhạy bén nắm tình hình, tập trung tham mưu và chỉ đạo giải quyết kịp thời các vấn đề nảy sinh; tích cực, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền trên mặt trận tư tưởng, văn hóa.

Các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình quân đội đã bám sát nhiệm vụ chính trị, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan báo, đài Trung ương, địa phương mở rộng các chuyên trang, chuyên mục, triển khai đa dạng hóa các hình thức thông tin, tuyên truyền, định hướng tư tưởng, dư luận kịp thời, hiệu quả…

Hội nghị Ban chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương tổng kết nhiệm vụ năm 2020, triển khai nhiệm vụ năm 2021
Cán bộ Ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương dự hội nghị.

Năm 2021, BCĐ 35, Cơ quan Thường trực BCĐ 35 QUTƯ xác định triển khai toàn diện các nhiệm vụ, trọng tâm là quán triệt và thực hiện Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới; trong đó tập trung định hướng tuyên truyền tạo sự thống nhất cao, niềm tin vào tính đúng đắn của con đường cách mạng Việt Nam do Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, nhất là các nội dung kế thừa đổi mới, sáng tạo thể hiện trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, các tiêu chí, chuẩn mực “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới; đẩy mạnh Phong trào Thi đua Quyết thắng chào mừng Đại hội XIII của Đảng, bầu cử Quốc hội Khóa XV, bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; chủ động phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Hội nghị Ban chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương tổng kết nhiệm vụ năm 2020, triển khai nhiệm vụ năm 2021
Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa phát biểu kết luận hội nghị.

BCĐ 35, Cơ quan Thường trực BCĐ 35 QUTƯ tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu, đánh giá, dự báo chính xác tình hình, kịp thời thông tin, định hướng tư tưởng bộ đội và nhân dân trước các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, những vấn đề phức tạp, nhạy cảm trong nước, khu vực và quốc tế; chủ động bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ, bảo đảm cơ sở vật chất, kỹ thuật và công nghệ, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nghiệp vụ; phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương, đa dạng hóa các nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền, xứng đáng vai trò nòng cốt trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa; tổ chức duy trì nền nếp hoạt động của BCĐ, cơ quan chức năng, lực lượng chuyên môn nghiệp vụ, thống nhất định hướng tư tưởng, triển khai các biện pháp tuyên truyền phù hợp, hiệu quả. Chủ động nắm chắc tình hình cơ sở, địa bàn, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ; phối hợp với các cơ quan chức năng quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, các ấn phẩm văn hóa, văn nghệ, ngăn chặn sự thẩm lậu của tài liệu, sản phẩm độc hại vào đơn vị.

Quan tâm xây dựng, củng cố các tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, không để diễn biến tư tưởng tiêu cực và đơn thư khiếu nại tố cáo nặc danh, mạo danh với dụng ý xấu trong nội bộ; quan tâm, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của bộ đội; phát huy tốt vai trò của các cơ quan nghiên cứu, các học viện, nhà trường, cơ quan báo chí trong biên soạn, phát hành các loại tài liệu, tư liệu về công tác thông tin tuyên truyền giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Nguồn: Quân đội nhân dân.

Bốn chuyến bay đưa hơn 1.000 người Việt về nước

 

Trong 2 ngày 28 và 29-12, đã có 4 chuyến bay đưa khoảng 1.050 người Việt về nước tại các sân bay Tân Sơn Nhất, Vân Đồn, Đà Nẵng.

Trong các ngày 27 đến 29-12, các cơ quan chức năng Việt Nam, các cơ quan đại diện Việt Nam tại Canada, hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) đã phối hợp với các cơ quan chức năng sở tại đưa gần 360 công dân Việt Nam về nước an toàn. Hành khách trên chuyến bay bao gồm trẻ em dưới 18 tuổi, người cao tuổi, người ốm đau, du học sinh đã hoàn thành chương trình học không có nơi lưu trú do ký túc xá đóng cửa và các trường hợp đặc biệt khó khăn khác.

Bốn chuyến bay đưa hơn 1.000 người Việt về nước - Ảnh 1.

Người Việt làm thủ tục tại sân bay Toronto

Đại sứ quán Việt Nam tại Ottawa và Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Vancouver đã tích cực hỗ trợ công dân trong đó có nhiều người ở xa, người cần sự hỗ trợ đặc biệt di chuyển tới các điểm tập trung tại sân bay quốc tế TP Toronto và Vancouver; đồng thời, cử các cán bộ trực tiếp tới sân bay để hỗ trợ công dân hoàn tất các thủ tục và quá trình lên máy bay diễn ra nhanh chóng, an toàn.

Với mục tiêu đảm bảo sức khỏe cho công dân, ngăn ngừa sự lây lan của dịch bệnh, hãng hàng không đã thực hiện nghiêm túc các biện pháp về an ninh, an toàn và vệ sinh dịch tễ trong suốt chuyến bay. Ngay sau khi hạ cánh xuống sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất (TP HCM), những người tham gia chuyến bay đã được giám sát y tế và cách ly tập trung theo đúng quy định.

Bốn chuyến bay đưa hơn 1.000 người Việt về nước - Ảnh 2.

Người Việt làm thủ tục tại sân bay Vancouver

Trước đó, trong ngày 28-12, đã có 3 chuyến bay đưa người Việt Nam về nước.

Chuyến bay của Vietnam Airlines đã đưa hơn 350 công dân Việt Nam từ Nhật Bản về nước đã hạ cánh xuống sân bay quốc tế Vân Đồn (tỉnh Quảng Ninh).

Hai chuyến bay của hãng hàng không Pacific Airlines đã đưa hơn 340 công dân Việt Nam từ Đài Loan (Trung Quốc) về nước tại sân bay quốc tế Đà Nẵng (TP Đà Nẵng), những người tham gia các chuyến bay đã được giám sát y tế và cách ly tập trung theo đúng quy định.

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh cho biết trong năm 2020, một nhiệm vụ hết sức quan trọng của lực lượng làm công tác đối ngoại là bảo hộ công dân trong tình hình mới, khi Covid-19 xảy ra trên thế giới và khu vực khiến nhu cầu bảo vệ, bảo hộ công dân của Việt Nam ở nước ngoài lớn chưa từng có. Chỉ riêng số lượng công dân chúng ta hỏi về các lĩnh vực liên quan đến bảo hộ người dân ở nước ngoài thông qua tổng đài điện thoại bảo hộ công dân đã tăng gần 200% các cuộc gọi trong năm 2020.

Điều đó nói lên nhu cầu bảo hộ công dân ở bên ngoài rất lớn. Nhưng điểm lớn nhất là việc trong Covid-19, Việt Nam có thể nói là một trong số ít các nước đã có các chuyến bay đưa công dân Việt Nam học tập hoặc thăm viếng ở nước ngoài bị mắc kẹt muốn về nước. Chỉ riêng trong năm 2020, chúng ta đã triển khai trên 260 chuyến bay chở 73 ngàn công dân Việt Nam ở 59 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới về nước một cách an toàn.

Thời gian tới, việc đưa công dân có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về nước sẽ được sắp xếp theo nguyện vọng của công dân, phù hợp với tình hình dịch bệnh và năng lực cách ly trong nước.

Nguồn: Người lao động.

NHỮNG THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI ĐẢNG

 


Trở thành quy luật, trước thềm đại hội Đảng các cấp, đặc biệt là Đại Hội Đảng toàn quốc, các thế lực thù địch lại tập trung công kích, chống phá bằng nhiều thủ đoạn và quyết liệt. Bản chất, mục đích của chúng không thay đổi, nhưng cách thức ngày càng tinh vi, xảo quyệt.

Trước hết, dưới chiêu bài xưa cũ chúng phê phán chế độ xã hội chủ nghĩa, và dẫn chứng những mặt trái của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta cổ súy cho “xã hội dân sự”, ca ngợi nền dân chủ phương Tây; tìm mọi cách kích động, thúc đẩy sự xuất hiện các tổ chức chính trị đối lập nhằm hướng tới mục tiêu đa nguyên, đa đảng.

Về vấn đề này, các thế lực thù địch đã không ngừng rêu rao sự sụp đổ mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu; đồng thời, kêu gọi các phần tử cực đoan tập hợp lực lượng, sẵn sàng cho ra đời một bộ lý thuyết mới, dẫn dụ thành công một số cuộc cách mạng màu làm minh chứng cho một sự thay đổi có vẻ như đã tác động đến tâm lý một bộ phận mơ hồ, mất cảnh giác và a dua theo chúng. Sau thời gian dài chống phá không hiệu quả, nước ta vẫn ngày càng phát triển mạnh mẽ, Đảng ta giữ vững bản chất, truyền thống cách mạng và vị thế của mình, các thế lực thù địch lại thay đổi nội dung và hình thức chống phá mới. Họ ra sức cổ súy cho một xã hội mới với mô hình “độc lập về chính trị”. Về thủ đoạn, chúng đánh vào tâm lý của một số người có tư tưởng dao động hoặc bất mãn về thời cuộc; lợi dụng, cổ súy cho các tổ chức nhập nhèm, như: “Văn đoàn độc lập”, “Tổ chức phóng viên không biên giới”, “Trung tâm Văn bút Việt Nam”,… được đám “dân chủ” trong và ngoài nước tung hô như một thứ vũ khí lợi hại trong thời kỳ mới. Những nội dung này vẫn là cách họ chủ quan áp đặt và chẳng có một cơ sở khoa học nào khả dĩ. Đặc biệt là, chúng gắn mác cho một số phần tử gọi là “Nhà hoạt động chính trị”, hoặc “Nhà báo độc lập” để tung tin rằng, ở Việt Nam người dân không được tự do tiếp cận thông tin, hoặc tình hình tự do báo chí ở Việt Nam đang xuống dốc tệ hại (!).

Hai là, lợi dụng công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Ở tất cả các quốc gia với bất kỳ thể chế chính trị nào, nếu không dẹp bỏ được nạn tham nhũng thì đều dẫn tới suy vong. Bài học từ lịch sử cho thấy, phòng, chống tham nhũng là quyết sách chiến lược mang ý nghĩa tồn vong của chế độ ta. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nói: “Kỷ luật một vài người để cứu muôn người”. Và thực tế, từ sự cương quyết của Đảng ta trong việc xử lý các đại án tham nhũng, không ít cán bộ, đảng viên, lãnh đạo cao cấp đã vướng vòng lao lý. Lòng tin của nhân dân với Đảng ngày một tăng cao; uy tín của chế độ chính trị được củng cố. Nhưng các thế lực thù địch cũng căn cứ vào đây để tăng cường xuyên tạc, chống phá. Chúng cho rằng, nếu một xã hội độc đảng cầm quyền thì sẽ thủ tiêu đấu tranh; Đảng, Nhà nước ta đang ở thế “lưỡng nan đối nghịch”, với hàm ý chống tham nhũng nhưng ngại thay đổi thể chế chính trị, v.v. Theo họ, “muốn chống tham nhũng thì phải thay đổi lại thiết chế và xã hội để làm sao cho dân chủ hơn”!

Trước thềm đại hội Đảng, chúng tung tin đồn thổi nhiều đồng chí lãnh đạo các cấp với những nghi án tham nhũng, sân sau, v.v. Chúng ví von hành động bỉ ổi này như một mũi tên trúng hai đích: Làm suy giảm uy tín cá nhân lãnh đạo, gây mất đoàn kết nội bộ; Làm nhiễu loạn thông tin, gây hoang mang dư luận, để cho người dân nhìn vào đâu cũng thấy tham nhũng. Từ đó chúng tăng cường thông tin trên mạng xã hội, ra sức công kích hòng làm giảm sút uy tín của Đảng, lung lạc niềm tin của nhân dân đối với chế độ và hệ thống chính trị.

Ba là, xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng trước Đại hội. Một số trang mạng nước ngoài đang tung tin thất thiệt về nhiều vấn đề của công tác cán bộ, đặc biệt cái gọi là dự đoán nhân sự Đại hội XIII của Đảng. Chúng khẳng định, trong tay nhiều tổ chức nghiên cứu A, B, C… có danh sách đề cử nhân sự chủ chốt của Đại hội. Vấn đề bầu bán chỉ là hình thức! Và rằng, những người có tên trong bản danh sách này sẽ định hướng toàn bộ tương lai của thể chế chính trị Việt Nam... Chiêu bài nham hiểm của các thế lực thù địch là tung ra dư luận mâu thuẫn phe phái trong Đảng ta một cách trắng trợn hòng hạ thấp ý nghĩa của Đại hội. Do vậy, trước thềm Đại hội, chúng ta cần nhận thức rõ âm mưu này, kiên quyết đấu tranh, chủ động phát hiện sớm và kịp thời xử lý các tình huống nảy sinh, bảo đảm cho sự thành công Đại hội.

Trách nhiệm của cán bộ, đảng viên khi tham gia mạng xã hội

Đã thành quy luật, mỗi khi đất nước ta có những sự kiện chính trị, xã hội quan trọng, các thế lực thù địch, phản động lại tăng cường các hoạt động chống phá công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhất là thời gian gần đây, khi gần đến ngày Đại hội XIII của Đảng, chúng lại càng gia tăng các hoạt động chống phá. Thủ đoạn chủ yếu chúng sử dụng là thông qua Internet, các trang mạng xã hội, các diễn đàn trong và ngoài nước để quyết liệt chống phá Đảng và Nhà nước ta với nhiều hình thức, mức độ ngày càng tinh vi, phức tạp hơn. Nội dung chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động thông qua thông tin trên mạng xã hội rất đa dạng, từ kinh tế, xã hội đến văn hóa, giáo dục đào tạo, y tế đến pháp luật, quốc phòng, an ninh, trật tự, thậm chí đến cả diễn biến về tình hình sức khỏe của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước…

Theo số liệu của các cơ quan chức năng, hiện nay số người sử dụng Iternet, mạng xã hội ở nước ta lên đến hàng chục triệu người; trong đó đại đa số có thái độ kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, bịa đặt của lực lượng phản động, nhưng vẫn còn một số người vì nhiều lý do, trong đó có lý do thiếu hiểu biết, đã cố ý hay vô tình tiếp tay cho các thế lực thù địch, phản động.

Để sử dụng, tận dụng mạng xã hội một cách đúng đắn và hiệu quả, biến mạng xã hội thành một phương tiện, một kênh hữu ích để tuyên truyền tính đúng đắn, cách mạng, khoa học của các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, góp phần phòng, chống, ngăn chặn những tư tưởng, quan điểm sai trái, lệch lạc một cách hiệu quả. Đồng thời, tỉnh táo, sáng suốt làm tốt nhiệm vụ đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái, các quan điểm xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, của các thế lực phản động, thù địch trong và ngoài nước trên mạng xã hội, mỗi cấp uỷ đảng, tổ chức chính trị, xã hội,  mỗi đảng viên, cán bộ, cần lưu ý và thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

Một là, tăng cường việc học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để củng cố vững chắc thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật trong nhận thức, phân tích, đánh giá và hoạt động thực tiễn, nhằm đấu tranh chống lại quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động.

Hai là, tích cực học tập, quán triệt Cương lĩnh, đường lối, chiến lược, sách lược của Đảng, Nhà nước trên mọi lĩnh vực; chủ động nghiên cứu nâng cao năng lực chuyên môn, tạo dựng cho bản thân nền tảng tri thức chính trị - xã hội đúng đắn, khoa học, cách mạng, đủ trình độ đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động trên mạng xã hội.

Ba là, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện phong cách tư duy, phong cách ứng xử, phong cách làm việc, phong cách diễn đạt, phong cách sinh hoạt… theo phong cách Hồ Chí Minh, để hình thành kỹ năng phân tích, đánh giá, phản biện, đấu tranh vừa lịch sự, khiêm tốn, trí tuệ, thuyết phục nhẹ nhàng, kiên trì, nhưng vừa kiên quyết, triệt để, cách mạng… bảo đảm giành thắng lợi trên “mặt trận” mạng xã hội trước các thế lực thù địch.

Bốn là, mỗi cấp ủy, tổ chức cơ sở Đảng, chính quyền, đoàn thể trong sinh hoạt, công tác cần thường xuyên tổ chức sinh hoạt nhằm kịp thời trao đổi, làm rõ, vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn từ những thông tin xấu xa, độc hại, ác ý của các thế lực thù địch, phản động. Cần dựa vào những tài liệu, thông tin chính thống, hướng dẫn của cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể cấp trên để tổ chức cung cấp nhanh cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức những luận cứ, thông tin xác đáng và dựa vào đó, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin xấu độc trên mạng internet, mạng xã hội.

Năm là, thực hiện nghiêm những quy định của Đảng, Nhà nước, quân đội, các quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; công tác bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật công tác. Đồng thời, thực hiện đúng quy định của các cơ quan chuyên môn về quy trình, biện pháp tiếp cận thông tin, xử lý thông tin và sử dụng thông tin để phản bác lại các luận điệu sai trái trên mạng xã hội, bảo đảm đúng chức năng, nhiệm vụ, đúng thời điểm, đúng đối tượng, đúng nội dung, đúng mục tiêu đặt ra.

Sáu là, mỗi cán bộ, đảng viên khi tham gia mạng xã hội phải chú trọng thường xuyên nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội trong cán bộ, đảng viên, quần chúng Nhân dân tại địa phương, cơ quan, đơn vị nơi mình sinh sống, công tác, nhất là nắm bắt trên không gian mạng xã hội. Qua đó, kịp thời phát hiện, góp ý, phê bình,… không để đồng chí, đồng nghiệp của mình bị lôi kéo, dụ dỗ mà cố ý hoặc vô tình ủng hộ, chia sẻ, loan truyền những thông tin phản động, độc hại trên mạng xã hội.

Bảy là, phối hợp chặt chẽ, thường xuyên với các cá nhân, tổ chức, cơ quan, đơn vị chuyên môn, hữu quan trong việc cung cấp, chia sẻ thông tin, xử lý thông tin, giúp cho công tác phát hiện, phân tích mức độ, diễn biến, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch được nhanh chóng, chính xác và lựa chọn phương án đấu tranh trên mạng xã hội kịp thời, hiệu quả nhất.

Tám là, trên cơ sở nắm vững và tuân thủ các quy định của Luật An ninh mạng, mỗi cán bộ, đảng viên cần biến trang mạng xã hội của mình thành một kênh thông tin, tuyên truyền thường xuyên những thông tin chính thống về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, chủ động và thường xuyên tham gia phân tích, bình luận, chia sẻ các bài viết về những điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt, những mô hình mới, cách làm hay của các cơ quan, đơn vị, địa phương và cá nhân trong tham gia thực hiện các phong trào thi đua yêu nước.

Chín là, tích cực tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; giữ vững bản lĩnh chính trị, tính tiên phong, gương mẫu của người đảng viên; nêu cao ý thức tự lực, tự cường vượt qua mọi cám dỗ vật chất, danh lợi; kiên gan, bền chí trước mọi thủ đoạn, mưu mô thâm độc của kẻ thù.

Những thành tựu đất nước ta đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng là minh chứng rõ ràng nhất về sự đúng đắn của Đảng và Nhân dân ta lựa chọn, đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kết quả thực hiện các mặt công tác năm 2020 đã đạt được “thành công kép”, chúng ta vừa làm tốt phòng chống dịch Covid-19, vừa xây dựng phát triển đất nước. Vì vậy, hơn bao giờ hết, mỗi đảng viên, cán bộ cần phải tỉnh táo, sáng suốt trong việc thực hiện chức trách của mình; phải trở thành nhân tố nòng cốt trong xây dựng mặt trận đoàn kết toàn dân; phải trí tuệ, bản lĩnh, khôn khéo, linh hoạt, tự tin, bền chí, kiên cường trong đấu tranh trên mạng xã hội. Mỗi đảng viên, cán bộ cần nhận thức đúng đắn về trách nhiệm của mình khi tham gia mạng xã hội, nhằm tạo ra một hợp lực đủ mạnh để ngăn chặn, đẩy lùi những thông tin sai lệch, xấu xa của thế lực phản động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ công cuộc xây dựng phát triển đất nước trong tình hình mới./.


CHẾ ĐỘ VIỆT NAM THẬT LÀ TỐT ĐẸP

Vậy là một kỳ Đại hội Đảng nữa sắp đến gần, những người nông dân như tôi đang hi vọng một kỳ Đại hội thành công với những quyết sách đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam để đưa đất nước tiếp tục vững bước đi lên. Tuy nhiên mấy tuần nay khi đọc báo, nghe thời sự, tôi thấy nhiều thông tin nói rằng nếu còn tồn tại chế độ cộng sản thì nhân dân Việt Nam còn đói khổ và đất nước không có sự phát triển. Là người dân làm ăn lương thiện tôi nghe mà thấy buồn và thất vọng cho những kẻ đi nói xấu chế độ ở Việt Nam. Điều này có gì đó giả dối quá, bản thân tôi đã quá ngũ tuần, cái tuổi mà cổ nhân nói “ngũ thập chi thiên mệnh”, tôi thấy, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới đem lại ấm no hạnh phúc cho nhân dân, độc lập tự do thực sự cho dân tộc Việt Nam. Ta hãy suy nghĩ mà xem, trước khi có Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam phải làm kiếp ngựa trâu cho thực dân đế quốc, Việt Nam không có tên trên bản đồ thế giới. Nhưng sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lãnh đạo nhân dân Việt Nam đã giành chính quyền về tay mình bằng cuộc tổng khởi nghĩa Tháng 8/1945, nhân dân Việt Nam từ kiếp nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, Việt Nam từ xứ thuộc địa dã giành độc lập. Sau đó dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam lại vùng lên đánh bại hai tên đế quốc đầu sỏ là Pháp và Mỹ, đưa non sông thu về một mối, cả nước Việt Nam hòa bình thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Rồi khi đất nước khó khăn do cơ chế bao cấp, Đảng Cộng sản Việt Nam đã mạnh dạn đổi mới đất nước, rồi thực hiện Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 

CUỘC GIẢI CỨU LỊCH SỬ

Tháng 1/2011, Libya chấn động vì làn sóng biểu tình của hàng nghìn người chống chính phủ do đại tá Muammar Gaddafi cầm quyền, nhiều người bị bắn chết. Thời điểm đó, tại Lybia có 10000 lao động Việt Nam đang làm việc, có thể dễ dàng trở thành nạn nhân cho những biến cố chính trị xảy ra ở Lybia. Trước tình hình đó, Bộ Lao động thương binh xã hội, đứng đầu là Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Ngân đã tham mưu cho Chính phủ thành lập Ban chỉ đạo giải quyết tình hình công dân Việt Nam tại Trung Đông và Bắc Phi để nhanh chóng đưa các lao động ở Lybia về nước. Nhắc đến sự kiện này, người ta nhắc đến phát biểu nổi tiếng của người nữ Bộ trưởng nổi tiếng quyết đoán "Trong cuộc giải cứu này không có chuyện mặc cả tiền bạc, điều kiện với các nước trong khu vực mà mục đích là nhanh chóng đưa người lao động về nước an toàn",

Với sự chỉ đạo trực tiếp từ Chính phủ, trong đó có sự quyết liệt của Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Ngân, ngày 26/2, những lao động Việt Nam đầu tiên về đến sân bay Nội Bài. Ngày 9/3, chuyên cơ cuối cùng đưa 209 công nhân ở Libya về nước; hơn 1.000 người đi tàu biển cập cảng Cái Lân một tháng sau đó đánh dấu hoàn tất cuộc sơ tán 10.000 lao động người Việt Nam khỏi Lybia. Đây là cuộc di tản lao động lớn thứ hai trong lịch sử (đứng sau vụ sơ tán lao động trong chiến tranh vùng Vịnh năm 1991) và Việt Nam là nước đầu tiên hoàn tất việc đưa số lượng lớn hàng nghìn người về nước. Tất cả lao động về nước đều được hỗ trợ, ưu đãi tìm việc làm mới.
Nói thế để thấy, dù ở hoàn cảnh nào, dù còn trăm ngàn khó khăn phải giải quyết thì việc bảo hộ tính mạng, sức khỏe của công dân là ưu tiên hàng đầu của chính quyền. Làm chính trị chứ có phải tham gia showbiz đâu mà cái gì cũng lên mạng kể xem mình đang làm cái gì cho người dân, mình vất vả như thế nào. Thế nên, hãy nghe và thấu hiểu cho công việc của chính quyền, đừng vì thiếu thông tin mà dễ dàng tin tưởng những điều xảo trá.

TINH THẦN DÂN TỘC VIỆT NAM TRỖI DẬY TRONG NHỮNG LÚC KHÓ KHĂN NHẤT

Mặc dù chịu tác động tiêu cực của COVID-19 nhưng triển vọng kinh tế Việt Nam là một trong những điểm sáng nhất khu vực. Năm 2020 dù trong muôn vàn khó khăn, kinh tế nước ta vẫn kiên cường duy trì tăng trưởng dương.

Phát biểu khai mạc Hội nghị Chính phủ với các địa phương với quy mô toàn quốc sáng nay (28/12/2020), Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cho biết, đến thời điểm này có thể khẳng định chúng ta đạt được mục tiêu kép trong việc phòng chống dịch Covid-19 và duy trì tăng trưởng kinh tế. Chúng ta không chỉ thành công về phát triển kinh tế mà công tác xây dựng Đảng, phòng chống tham nhũng cũng được Đảng, Nhà nước ta đẩy mạnh qua đó thiết lập lại kỉ cương đất nước, góp phần làm trong sạch đội ngũ cán bộ các cấp.

Thành công của Việt Nam không chỉ đo được bằng những gì đạt được, mà ở cả những trở ngại mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đã vượt qua, với những thành quả đặc biệt đó năm 2020 có thể được xem là năm thành công nhất trong 5 năm nhiệm kỳ, đó là ý chí, tinh thần vượt khó vươn lên, là niềm tin của nhân dân với Đảng, tương lai của đất nước, cơ đồ dân tộc không ngừng được củng cố vững chắc. Theo Thủ tướng, “những lúc khó khăn nhất, gai góc nhất là lúc bản sắc, tinh thần dân tộc trỗi dậy đó chính là sự đoàn kết, đồng thanh tương ứng, đồng chí tương cầu”.
Trong 5 năm qua toàn Đảng, toàn dân toàn quân đã cùng nhau tạo ra 120 tỷ USD giá trị GDP. Riêng năm 2020 dù trong muôn vàn khó khăn kinh tế nước ta vẫn kiên cường duy trì tăng trưởng dương 3%. Kết thúc năm 2020, bức tranh kinh tế Việt Nam nhìn chung đã được khắc họa rõ nét. Việt Nam đã ghi nhận nhiều dấu hiệu phục hồi, điển hình như các động lực tăng trưởng chính đã cơ bản vận hành trở lại. Nhiều tổ chức trong nước và quốc tế đã đưa ra các dự báo tăng trưởng tích cực đối với Việt Nam. Điển hình, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã nâng mức dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam lên mức 2,3% trong năm 2020. Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) dự báo Việt Nam có thể đạt mức tăng trưởng cả năm 2,8%. Tháng 11, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng nâng mức dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2020 lên 2,4%, thuộc nhóm cao nhất thế giới. Tạp chí The Economist tháng 8/2020 đã xếp Việt Nam trong top 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, với tăng trưởng kinh tế bình quân 6,8% một năm giai đoạn 2016-2019, Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia tăng trưởng cao nhất.

Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có sự đóng góp từ tăng trưởng ấn tượng của nhiều địa phương mới nổi và không phụ thuộc nhiều vào riêng thành phần kinh tế nào, đây là nhân tố truyền cảm hứng khác cho nhiều địa phương khác vượt lên chính mình.

Hơn lúc nào, đây là thời điểm củng cố niềm tin, nền kinh tế, đất nước ta đang tiến nhanh về phía trước và chắc chắn dân tộc ta sẽ tiến nhanh hơn nữa về phía trước. Chúng ta không được chủ quan và chúng ta còn có thể làm tốt hơn nữa./.

CHÚNG TA HOÀN TOÀN CÓ THỂ TỰ HÀO VỀ ĐẤT NƯỚC NĂM 2020

Một năm cũ sắp qua, một năm mới đang chờ đón chúng ta với rất nhiều khó khăn, song cũng trần đầy hi vọng. Biết mình là ai, cả mặt mạnh lẫn mặt yếu sẽ "trăm trận, trăm thắng".

Thiên tai được khắc phục. Dịch bệnh được khống chế. Kinh tế phát triển. Đời sống xã hội ổn định. Những gia đình có hoàn cảnh khó khăn luôn được sự quan tâm hết lòng, hết sức của cộng đồng. Tệ nạn tham nhũng, lãng phí được trừng trị.
Tình hình chính trị thế giới diễn biến phức tạp, nhất là cuộc đối đầu giữa hai cường quốc cũng như những diễn biến tại Biển Đông đã đặt chúng ta vào tình thế không dễ hóa giải. Song, bằng chính sách ngoại giao đúng đắn cùng với sự chân thành, chúng ta luôn kiên định lập trường của mình trong các mối quan hệ…
Đó là những gì nhân dân ta, đất nước ta đã và đang làm trong năm 2020 lịch sử.
Tại Hội nghị Chính phủ sáng 28/12, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhận định, năm 2020 thành công hơn 2019. Theo đó, mỗi người có thể nói về cơ đồ, vị thế đất nước đầy tự hào, không bị ngượng!
Đây là nhận định chính xác, song có phần khiêm tốn bởi nhìn lại những gì đất nước đã trải qua trong năm 2020, chúng ta hoàn toàn có quyền ngẩng cao đầu.
Thứ nhất, về dịch bệnh, trong khi cả thế giới đã và vẫn đang lao đao thì ở Việt Nam, cho đến giờ phút này, tuy có những tổn thất cả về người và của nhưng có thể khẳng định là vùng an toàn hiếm hoi trên thế giới.
Chúng ta đã và đang chiến thắng đại dịch Covid 19 với kinh phí thấp nhất, chủ động và hiệu quả nhất. Đó là một thực tế.
Về thiên tai, có thể nói năm 2020 cũng là năm chúng ta hứng chịu sự bất thường của biến đổi khí hậu. Mưa bão liên miên. Lũ cuốn, nhà trôi, người và tài sản thiệt hại to lớn. Song, cũng chính trong cơn hoạn nạn là lúc tinh thần yêu thương, đùm bọc lan tỏa. Những khó khăn tuy vẫn còn, nhưng đã và đang từng bước được khắc phục. Những tổn thất có thể bù đắp, đã và đang từng bước đắp bù.
Mặc dù do ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, đời sống người dân gặp nhiều khó khăn, song, an ninh trật tự xã hội về cơ bản vẫn ổn định. Công tác xóa đói, giảm nghèo vẫn được duy trì. An sinh xã hội, gia đình khó khăn và gia đình chính sách vẫn nhận được sự quan tâm rất lớn của Nhà nước và cộng đồng.
Một trong những thành tựu rất đáng tự hào, đó là trong khi gần như cả thế giới đang vật lộn với suy giảm thì tại Việt Nam, kinh tế vẫn phát triển ở mức 2,91%, thuộc nhóm cao nhất thế giới. Có thể nói, đây là một thành tựu ngoài sự mong đợi.
Cùng với đó, công cuộc chỉnh đốn Đảng, thanh lọc bộ máy và phòng chống tham nhũng hiệu quả rất nhiều so với thời gian trước. Chưa bao giờ "lò" chống tham nhũng lại nóng bỏng như thời gian vừa qua.
Tất cả những thành tựu trên, đã chứng tỏ bản lĩnh lãnh đạo cũng như tinh thần đoàn kết, ý chí và nghị lực Việt Nam.
Nói như thế, không có nghĩa là chúng ta không có những sai lầm, thiếu sót. Song, một cộng đồng, một dân tộc cũng giống như một con người, khó có thể đòi hỏi sự hoàn hảo "nhân vô thập toàn".
Vấn đề là ở chỗ nhìn thấy được những yếu kém và có quyết tâm sửa chữa, khắc phục đồng thời cũng biết nhìn vào mặt tốt đẹp để nhân lên.
Xin dẫn chứng một ví dụ nhỏ, đã và đang diễn ra ở nhiều đô thị, đó là nạn tắc đường.
Nếu chỉ nhìn thấy tắc đường ở mặt xấu, với nhiều phiền toái, là sự bất cập của qui hoạch đô thị, là vân vân và vân vân thì không sai. Nhưng sẽ thiếu đầy đủ nếu như không nhận thấy tắc đường là sản phẩm của phát triển (đành rằng chưa đồng bộ) của đất nước bởi lý do tắc đường chính là thành quả của sự nghiệp công nghiệp hóa. Cùng với sự thông thoáng về quyền cư trú cũng như sự phát triển mạnh mẽ của các khu công nghiệp, luồng dân cư đổ về các trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa là điều tất yếu.
Tắc đường còn là chỉ số về đời sống người dân được nâng lên. Nếu cách đây dăm, mười năm, ô tô là một tài sản lớn, không dành cho người dân bình thường thì giờ đây, việc mua sắm một chiếc xe 4 chỗ không còn là niềm mơ ước xa vời với nhiều người như trước nữa.
Một năm cũ sắp qua, một năm mới đang chờ đón chúng ta với rất nhiều khó khăn, song cũng trần đầy hi vọng. Biết mình là ai, cả mặt mạnh lẫn mặt yếu sẽ "trăm trận, trăm thắng".
Những ngày vui này, xin hãy "mở sâm banh" tạm biệt một năm cũ nhiều thành tựu và chào đón một năm mới với nhiều thách thức bằng tâm thế "thắng không kiêu, bại không nản", cùng nắm tay nhau đưa đất nước ta "Sánh vai với các cường quốc năm châu" như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn.

SUY BỤNG TA RA BỤNG NGƯỜI

Xưa có câu ca rằng, “suy bụng ta ra bụng người”, rất chí lí. Đó là cách áp đặt cách suy nghĩ của mình, điều suy nghĩ của mình lên người khác. Vậy là chẳng biện chứng chút nào.

Mấy ngày vừa qua tôi đọc vài dòng trạng thái (status), rồi vài lời bình luận (comments) của mấy bạn trên facebook, tôi rút ra một kết luận rằng, người luôn có suy nghĩ tiêu cực về một hiện tượng xã hội nào đó, dù tốt hay xấu, đều không bao giờ có được những bình luận tích cực.
Cụ thể là thế này, một bạn nêu dòng trạng thái nói về hiện tình đất nước, thì lập tức có một bạn bình luận rằng, ngày nay người tốt và người giỏi chẳng còn mấy. Bạn ấy bảo người học giỏi chạy sang các nước rồi. Có thật vậy không, và nếu thật thì có bao nhiêu người, chiếm bao nhiêu phần trăm, rồi có thật đó là những người tài giỏi? Tôi thì không dám nói số người tốt và người không tốt, người giỏi và người không giỏi là bao nhiêu, vì có ai thống kê được đâu? Từ thực tế, tôi có nhận xét:
Chúng ta cứ vào mấy trang của những youtubers trẻ tuổi (thú thực là tôi thích họ lắm) nói về lịch sử nước nhà, nói về cuộc những mặt tích cực của đất nước như chống những việc làm trái đạo đức, trái thuần phong mỹ tục… bao giờ số người tặng biểu tượng thích (like) nhiều gấp trăm lần những kẻ đặt biểu tượng không thích (dislike). Từ đó tôi suy ra, người tốt chung quanh ta còn nhiều lắm.
Trên báo chí hàng ngày, ngoài việc phê phán các biểu hiện tiêu cực thì bao giờ cũng có nhiều thông tin tích cực. Tỷ như ở nơi cách ly nọ, người dân đem đến khá nhiều thực phẩm tiếp tế cho các gia đình phải cách ly, thậm chí có một cụ già chỉ đem theo một bó rau, song giá trị không phải ở bó rau mà là cả một tấm lòng.
Cô cháu gái tôi vừa từ Úc trở về, phải cách ly 14 ngày trong một doanh trại quân đội, được ở miễn phí đã đành, ngay cả tiền ăn hàng ngày cũng không phải đóng góp. Cảm động trước tấm lòng của các chiến sĩ, những người trong khu cách ly đã gom góp được trên 80 triệu để ủng hộ cho đơn vị quân đội. Đó là gì nhỉ? Phải chăng đáp lại điều tích cực bằng một hành động tích cực. Tốt đó chứ?
Chúng ta đang tổng kết một năm 2020 đầy khó khăn và biến động. Dịch bệnh đã ảnh hưởng đến xây dựng và phát triển kinh tế. Rất nhiều nền kinh tế trên thế giới có mức tăng trưởng âm (-), chỉ có 10 nước, trong đó có nước ta đạt GDP dương (2,91%), đứng đầu trong mười nước ASEAN.
Thành tựu này đâu phải chỉ là của mấy ông trong Chính phủ, trong Bộ Chính trị mà là của cả xã hội. Nếu không có các nhân viên y tế giỏi thì liệu ta có thể chống dịch thành công? Nếu không có những người nông dân giỏi liệu ta có thể đứng đầu những nước xuất khẩu gạo về chất lượng và giá? Liệu chúng ta có thu về hàng chục tỷ USD trong việc xuất khẩu nông hải sản trong hoàn cảnh đang có dịch bệnh, nếu không có người tài trong lãnh vực này?
Ai đã đưa Việt Nam vào trong số ba mươi lăm nước sản xuất vacine ngừa covid, và là năm nước đầu tiên thử nghiệm vacine trê người, nếu không phải là các nhà khoa học về y, sinh? Ai ở nước ta đang đưa thiết bị viễn thông thế hệ thứ 5 (5G) - trong số chưa tới một chục nước, vào ứng dụng, nếu không phải là các nhà khoa học Việt Nam?
Nghe nhiều chuyên gia nước ngoài nói nên xếp Việt Nam vào hàng “các cường quốc tầm trung”. Nếu một đất nước toàn người xấu và người bất tài thì lệu có được thế giới đánh giá như vậy không?
Thế rồi công ty định giá thương hiệu quốc gia trên toàn cầu Brand Finance đã xếp Việt Nam năm 2020 đã tăng 9 bậc so với năm trước, đứng thứ 33 trong tốp 100 nước có thương hiệu quốc gia giá trị nhất. Thành tựu đó đâu phải ngẫu nhiên mà đạt được, đúng không?
Vân vân và vân vân. Một khi chúng ta chỉ nói về mặt chưa được của một xã hội, đó là một người luôn mang đến cho những người chung quanh, cho xã hội một năng lượng tiêu cực. Lan tỏa suy nghĩ tiêu cực và hành động tiêu cực thì đó là một sự thiển cận.
Ta phải tự hỏi, cái gì đã làm nên một xã hội đáng sống, một đất nước đáng sống như nhiều người trên thế giới đang nói về chúng ta? Nếu không có rất nhiều người tốt và người giỏi trong xã hội ta thì liệu chúng ta có thể đạt được điều đó./