Thứ Hai, 31 tháng 1, 2022

Ngăn chặn những biến tướng của chúc Tết

 

Chúc Tết, tặng quà vốn là nét văn hóa ứng xử tốt đẹp của dân tộc ta, cần được gìn giữ để gắn bó tình cảm người với người. Song, những năm gần đây, việc chúc Tết đã bị méo mó, nhuốm màu thực dụng, cả trong môi trường công sở. Nhiều người cho rằng, chúc Tết giờ đây là công cụ để một số người trục lợi hoặc hợp thức hóa các hành vi tiêu cực nhằm phục vụ cho mục đích cá nhân.

Nỗi ám ảnh ngày cuối năm

Mỗi khi Tết Nguyên đán cận kề, thị trường hàng Tết tại các cửa hàng, siêu thị và trên mạng lại nhộn nhịp, trăm giá đua chen. Những món hàng trị giá hàng triệu, thậm chí là chục triệu, trăm triệu đồng được nhiều người săn lùng và trở nên đắt khách hơn thường lệ. Không ai nói ra, nhưng tất cả đều ngầm hiểu rằng, người ta mua cho gia đình, bản thân thì ít, mà để biếu xén đối tác, cấp trên thì nhiều. Cũng vì thế mà trên các diễn đàn mạng xã hội chuyên về hàng Tết, người bán giờ đây chẳng ngần ngại tư vấn cho khách hàng một cách công khai, nào là món này độc, lạ, quý hiếm, phù hợp tặng sếp lớn; món kia sang trọng, đẳng cấp chuẩn “gu” của sếp nhỏ...

Ngoài đường là vậy, còn về nhà, các cặp vợ chồng nát óc bàn nhau xem biếu lãnh đạo quà gì sao cho độc đáo, “hoành tráng”. Ở công sở thì đồng nghiệp tìm cách thăm dò nhau xem người ta định biếu sếp thứ giá trị mức nào, phong bì dày cỡ nào để mình biết cách xử thế sao cho không bị “đụng hàng” và quan trọng hơn là không thua anh, kém em. Chọn quà Tết tưởng đơn giản vậy mà lại đau đầu vô cùng!

Thực tế, chúc Tết, tặng quà Tết vốn là phép ứng xử rất bình thường từ ngàn xưa của người Việt. Tết xưa, người ta tặng nhau những món quà nhỏ nhưng đầy ý nghĩa, chẳng hạn như cặp bánh chưng, con gà quê, hộp bánh, gói mứt, cành đào... nhằm thể hiện tình cảm chân thành, sự quý trọng và tri ân sự giúp đỡ của cấp trên, đối tác hay bạn hàng sau một năm công tác, hợp tác buôn bán. Cùng với đó là mong muốn gia chủ có một cái Tết vui vẻ, đầm ấm. Quan trọng hơn, khi trao cho nhau những món quà như thế, cả người nhận và người tặng đều cảm thấy thoải mái, gần gũi.

Thế nhưng, dường như cuộc sống hiện đại đã và đang khiến mỹ tục chúc Tết bị biến tướng. Một bộ phận đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức nghiễm nhiên coi chúc Tết là “cơ chế xin-cho”. Nói trần trụi ra là nhiều cuộc thăm viếng, tặng quà vào dịp Tết chỉ nhằm mục đích hối lộ, chạy chức, chạy quyền, lo lót, nhờ vả hoặc nịnh hót cấp trên; và cả người đến chúc Tết lẫn người nhận đều ngầm hiểu rằng, đó thực chất chỉ là một cuộc mua bán, trao đổi. Dần dà, việc chúc Tết, tặng quà cấp trên cũng trở thành “luật bất thành văn” ở một số cơ quan, tổ chức. Nếu Tết đến mà không biết “thăm hỏi” sếp có khi bị xem là không biết phép tắc, ngoại giao kém. Và, chả biết đã có tiền lệ hay chưa nhưng người ta thường sợ rằng nếu đứng ngoài dòng chảy này có thể bị “đì” hoặc mất cơ hội phát triển trong công việc.

Vô hình trung, Tết ngày nay không còn đúng nghĩa mà đang trở thành gánh nặng, là nỗi ám ảnh với nhiều cán bộ, đảng viên bởi thay vì được nghỉ ngơi, thư giãn, sum họp cùng gia đình sau một năm dài làm việc thì họ phải đắn đo, cân đối xem chúc Tết thủ trưởng nào và “đi” bao nhiêu. Chẳng thế mà một người bạn đang công tác trong cơ quan nhà nước từng nói vui với tôi rằng, hễ cứ Tết đến là anh ta chỉ ước mình được trở thành trẻ con, đơn giản vì trẻ con thì Tết không phải lo biếu sếp này, tặng sếp kia.

Ngăn chặn những biến tướng của chúc Tết
Ngăn chặn những biến tướng của chúc Tết. Ảnh minh họa: diendandoanhnghiep.vn. 

 

Hãy trả lại nét đẹp cho chúc Tết!

Để ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực trong chúc Tết là việc rất khó, nhưng không có nghĩa là không thể.

Trên thực tế, chúng ta vẫn nhìn thấy những nét đẹp vốn có của văn hóa chúc Tết. Bằng chứng là vào mỗi dịp cuối năm, nhiều cơ quan, lãnh đạo, đoàn thể vẫn đến thăm và tặng quà cán bộ đã nghỉ hưu. Cũng là những giỏ quà, những lời thăm hỏi, chúc sức khỏe để thể hiện lòng biết ơn thế hệ đi trước đã có cống hiến cho cơ quan, tổ chức, và tuyệt nhiên không mang màu sắc tiêu cực.

Bên cạnh đó, vẫn còn những vị lãnh đạo, cấp trên kiên quyết từ chối nhận quà Tết, đặc biệt là những món quà giá trị cao. Họ coi đó là hành động hối lộ, đút lót, và thậm chí nhân viên nào đến tặng quà còn bị họ đánh giá thấp. Những người này cho rằng cái họ cần ở cấp dưới là năng lực, trách nhiệm trong công việc chứ không phải những chai rượu ngoại đắt tiền hay những chiếc phong bì đầy sức nặng. Đó thực sự là quan điểm rất đáng trân trọng, thể hiện bản lĩnh và sự gương mẫu của người lãnh đạo.

Chỉ có điều, chẳng phải lãnh đạo, cấp trên nào cũng biết từ chối và kiên quyết từ chối như thế!

Nghiêm cấm, xóa bỏ việc lợi dụng chúc Tết, tặng quà Tết để thực hiện những hành vi trái pháp luật, trái đạo đức và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc là việc cần làm. Cũng vì thế, ngày 1-7-2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 59/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng, trong đó quy định rõ: "Cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn không được trực tiếp hoặc gián tiếp nhận quà tặng dưới mọi hình thức của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình...".

Những năm gần đây, cứ gần tới Tết Nguyên đán, lãnh đạo Đảng, Nhà nước cũng thường quán triệt về việc nghiêm cấm biếu, tặng quà Tết lãnh đạo các cấp dưới mọi hình thức. Gần đây nhất, Thanh tra Chính phủ đã có văn bản gửi các bộ, ngành, các tỉnh, thành phố, các tập đoàn kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước về việc thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 11-CT/TW ngày 8-12-2021 của Ban Bí thư và Chỉ thị số 35/CT-TTg ngày 31-12-2021 của Thủ tướng Chính phủ trong dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022, trong đó nêu rõ không tổ chức thăm, chúc Tết cấp trên và lãnh đạo các cấp. Có thể nói, đây được xem là một trong những giải pháp thiết thực nhằm ngăn chặn nguy cơ dẫn tới nham nhũng, tiêu cực thông qua hoạt động chúc Tết, và sâu xa hơn là góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đồng thời phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Thiết nghĩ, mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị cũng nên đề ra quy định về cách thức chúc Tết và nhận quà Tết phù hợp, lành mạnh, qua đó giải tỏa “áp lực Tết” cho cán bộ, công nhân viên và góp phần tạo không khí vui vẻ, thoải mái, môi trường làm việc chuyên nghiệp cho cơ quan mình.

Nhưng, quan trọng hơn cả vẫn là nhận thức của mỗi người về văn hóa chúc Tết, bởi rất khó kiểm soát, phát hiện những tiêu cực liên quan tới hành động này, nhất là khi việc chúc Tết, tặng quà đang ngày càng đi theo hướng “mỏng, nhẹ nhưng to tiền” và cũng “tế nhị” hơn trước nhiều.

Trong dòng người hối hả mua sắm chuẩn bị cho Tết Nguyên đán đang đến gần, vẫn còn không ít người băn khoăn tự hỏi: Khi nào thì chúc Tết mới hết là gánh nặng, mới trở lại là văn hóa ứng xử tốt đẹp như đúng bản chất của nó?

BÁC HỒ VỚI TẾT CỔ TRUYỀN DÂN TỘC VIỆT NAM

Mỗi khi Tết đến, xuân về, không người Việt Nam nào lại không nhớ đến Bác Hồ - lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam suốt đời hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Vào những ngày Tết cổ truyền, Người luôn dành trọn những ngày nghỉ của mình để đi thăm và chúc Tết đồng bào, chiến sĩ.

Với Bác, mùa xuân có ý nghĩa đặc biệt đối với đất nước, dân tộc và từng người dân Việt Nam. Vì vậy, mỗi khi Tết đến Xuân về, Bác đều dành những lời thơ hay nhất, những lời ân cần nhất và cả những sự quan tâm thiết thực nhất đối với mọi người dân Việt Nam.

Trước Tết hàng tháng Bác đã nhắc các cơ quan, các ngành, các địa phương chuẩn bị chu đáo cho dân đón Tết; nhắc văn phòng chuẩn bị thiếp "Chúc mừng năm mới" để kịp gửi đến những nơi xa xôi nhất, kể cả bộ đội ở các vùng rừng núi, hải đảo xa xôi và cán bộ công tác ở nước ngoài. Còn Bác có chương trình riêng cho mình và Bác thường tự mình chuẩn bị các việc đó.

Đầu tiên, Bác tìm ý thơ cho bài thơ mừng năm mới. Những bản thảo còn lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh cho thấy, viết mỗi bài thơ Người cũng dày công và kỹ lưỡng như thế nào. Có thể vì thế, những bài thơ chúc Tết của Người luôn vượt qua khuôn khổ những bài thơ chúc Tết đơn thuần. Lời thơ của Bác thật dung dị, nhưng sâu lắng hồn sông núi, bật dậy lời hiệu triệu, lời hịch giục giã quân và dân cả nước tiến lên giành thắng lợi, để “xuân này hơn hẳn mấy xuân qua”.

Và cuối cùng là một chương trình đi thăm và chúc Tết đồng bào, chiến sĩ - một chương trình riêng mà chỉ Bác và các đồng chí cảnh vệ biết. Đối với Bác, việc đi thăm và chúc Tết đã thành nếp, bởi Bác cho rằng, đây là cơ hội tốt để hiểu được đầy đủ đời sống của nhân dân và cũng là niềm vui, hạnh phúc của người “đầy tớ của nhân dân” khi được tiếp xúc và nghe họ nói về mơ ước, khát vọng và niềm tin của mình về một năm mới đang gõ cửa từng nhà.

Bác vẫn thường nói: "Đấu tranh giành được độc lập rồi nhưng chỉ độc lập thực sự khi nhân dân được hưởng ấm no hạnh phúc". Vì quan niệm về độc lập, về sự ấm no hạnh phúc của nhân dân đơn giản nhưng sâu sắc ấy mà kể từ khi nước nhà được khai sinh cho đến khi Bác đi vào cõi vĩnh hằng, gần như năm nào Bác cũng đi chúc tết đồng bào. Xuất phát từ tình thương bao la của Người, nhiều cuộc gặp gỡ giữa Bác với người lao động, đặc biệt là người nghèo, đầy xúc động và ấm tình người.

Trong Tết Độc lập đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một nước vừa thoát khỏi hơn 80 năm ách thực dân, Bác đã viết thư gửi thế hệ thanh niên: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân, một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”; và căn dặn các cháu phải thực hành đời sống mới, phải hăng hái, kiên quyết, không sợ khó, không sợ khổ… để trở nên những công dân mới, xứng đáng với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Năm Ất Mùi 1955 là Tết Nguyên đán đầu tiên, Bác ở thủ đô Hà Nội sau chín năm trường kỳ kháng chiến thắng lợi. Ngày mồng 1 Tết, Bác đi thăm công trường xây dựng đập nước Bắc Thái và công trường xây dựng tuyến đường sắt Mục Nam quan.

Nhiều cuộc gặp gỡ giữa Bác với người dân diễn ra đầy xúc động. Điển hình như cuộc gặp của Bác với anh em trường thương binh hỏng mắt Hà Nội trong đêm giao thừa Tết Bính Thân 1956 và cuộc gặp giữa Bác với chị Nguyễn Thị Tín, một lao động nghèo ở phố Hàng Chĩnh, Hà Nội trong đêm 30 Tết Canh Tý 1960.

Hay, đêm giao thừa Tết Đinh Dậu 1957, Bác đã cùng đón Tết với các gia đình công nhân của nhà máy điện Yên Phụ. Cả khu lao động như trong ngày hội với hai niềm vui lớn: được đón Tết trong các căn hộ mới và được vinh dự đón Bác đến thăm.

Những câu chuyện thân tình, cởi mở giữa Bác và công nhân các nhà máy Cơ khí Trần Hưng Đạo, Dệt kim Đông Xuân và Nhà máy Rượu Hà Nội vào đúng sáng mồng một Tết Tân Sửu 1961 đã làm cho Bác rất vui vì biết được đời sống của công nhân ít nhiều đã được cải thiện.

Mồng 1 Tết Kỷ Dậu 1969, Bác đến sân bay Bạch Mai thăm Quân chủng phòng không không quân. Sau đó, Bác đến xã Vật Lại (huyện Ba Vì) khai Xuân và trồng cây trên đồi của xã. Đây là cái Tết cuối cùng nhân dân ta được đón Tết cổ truyền với Bác Hồ kính yêu.

TIA CHỚP 


DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA: PHẢI BIẾT CHÍNH NGỤY QUYỀN, NGỤY QUÂN CŨNG TIÊU DIỆT NHAU NHƯ THẾ NÀO?

Trần Thiện Khiêm mới đích thực là thủ lĩnh đảo chính

         Như đã nói ở phần trước 3 người tin cẩn nhất của CIA là Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm.

Nguyễn Khánh từng cứu giá và được anh em Diệm-Nhu tin cậy, nên nhiều người và cả bà nhà báo viết cuốn "Madame Nhu - Bà Rồng" xuất bản trước đây cũng lầm tưởng Nguyễn Khánh là người "ngoài cuộc".

Nguyễn Khánh lúc đó nằm ở Pleiku, không về Sài gòn...

Nguyễn Văn Thiệu lo tổ chức Sư đoàn 5 bộ binh tấn công Dinh Độc lập, nên không có mặt tại Sở chỉ huy đảo chính.

Sở chỉ huy đảo chính ở đâu?

Đó chính là Bộ Tổng Tham mưu Quân lực VNCH

Cần nói rõ trước một vài chi tiết.. Trung tướng Trần Văn Đôn lúc đó giữ chức vụ Quyền Tổng Tham mưu trưởng, thay Đại tướng Lê Văn Tỵ đang dưỡng bệnh.

Thiếu tướng Trần Thiện Khiêm là Tham mưu trưởng Liên quân Quân đội Việt Nam Cộng hoà

Cả về cấp bậc và chức vụ, rõ ràng Trần Văn Đôn cao hơn Trần Thiện Khiêm.

Nhưng Trần Văn Đôn không có quân, mọi việc điều động quân đội do Trần Thiện Khiêm điều hành. Vì thế anh em Diệm-Nhu để Khiêm ở vị trí quan trọng. Còn Đôn thì bị vô hiệu hoá

Theo hồi ký của Thiếu tá Phạm Hữu Hoa, Trợ lý của Trần Thiện Khiêm thì:

....

Ngày 1 tháng 11 năm 1963, ngày lễ “Các Thánh” (All Saints), quân đội được nghỉ buổi sáng.

Khoảng 7 giờ sáng, chuông điện thoại nhà tôi reo:

- Đại uý Hoa tôi nghe.

- Chú đến nhà tôi ngay.

- Vâng. Tôi đến ngay, thưa Thiếu tướng.

Đó là Thiếu tướng Trần Thiện Khiêm, Tham mưu trưởng Liên quân Quân đội Việt Nam Cộng hoà. Nhà tôi và nhà ông cùng ở trong khuôn viên trại Trần Hưng Đạo - tức Bộ Tổng Tham mưu - cách nhau khoảng vài trăm thước. Ông ở khu nhà lầu, tôi ở khu nhà trệt.

- Chào Thiếu tướng.

- Chú lấy ghế ra sân với tôi.

Hoàn toàn khác lạ với mỗi lần tôi đến nhận lệnh, nên tôi nghĩ ngay đến một vấn đề gì đó phải là quan trọng lắm, bởi thường khi chỉ ngồi trong nhà. Thiếu tướng Khiêm và tôi cùng ngồi ở góc sân sát hàng rào:

- Chú nghe đây. Lệnh mà tôi sắp cho chú là lệnh tối mật, nếu chú tiết lộ thì chú bị đứt đầu trước tôi. Chú không được nói với bất cứ ai, kể cả vợ chú và chú Có. Chú nghe rõ chưa?

- Tôi nghe rõ, thưa Thiếu tướng.

"Chú Có" mà Thiếu tướng Khiêm vừa nói là trung uý Nguyễn Hữu Có, sĩ quan tuỳ viên của Thiếu tướng Khiêm từ năm 1960. (Trung uý Có nói ở đây, trùng họ tên lẫn chữ lót với Đại tá Nguyễn Hữu Có lúc ấy. Năm 1975, Nguyễn Hữu Có là Đại tá, phụ tá Võ Phòng, Phủ thủ tướng).

- Hôm nay, tôi và một số vị tướng lĩnh đảo chính ông Diệm. Và những việc sau đây chú phải làm xong trong buổi sáng. Thứ nhất, đây là danh sách mời dùng cơm trưa tại câu lạc bộ (Bộ Tổng Tham mưu). Thức ăn do chú sắp xếp. Nhớ, các vị được mời phải có mặt tại câu lạc bộ đúng 12 giờ hoặc trước đó chút ít. Thứ nhì, đây là danh sách mời họp tại phòng họp số 1 (tầng trệt trong toà nhà chánh). Yêu cầu các vị này có mặt tại phòng họp chậm nhất là trước 1 giờ trưa. Đúng 1 giờ, chú cho lệnh Quân Cảnh khoá cửa lại và không ai được ra vào bất cứ vì lý do gì khi chưa có lệnh tôi. Cả hai danh sách này, nếu chú không liên lạc được với bất cứ ai hoặc có gì trở ngại thì chú trình ngay cho tôi. Đến đây chú rõ chưa?

- Vâng. Tôi rõ, thưa Thiếu tướng.

- Và thứ ba. Chú tổ chức an ninh chu đáo khuôn viên bộ Tổng Tham mưu, bằng cách sử dụng Đại đội 1 Quân Cảnh (của Tổng Tham mưu) và các thành phần an ninh của Tổng hành dinh (Tổng Tham mưu). Tất cả các cổng đóng lại, tuyệt đối không được mở, riêng cổng số 1 - tức cổng chánh - bất cứ ai ra hay vào đều phải trình tôi. Lệnh của tôi xong, chú có gì cần hỏi không?

- Thưa Thiếu tướng, lý do mời họp tôi phải nói thế nào để không bị ngờ vực?

- Tuỳ chú. Nhớ, chỉ một chút sơ hở là chú đứt đầu đó. Thôi, chú vào văn phòng làm việc đi.

Có hai danh sách được mời đến họp và ăn trưa

Danh sách 1: là những sĩ quan tướng lãnh tham gia đảo chính (họ biết trước nên việc mời cũng là cho phải phép). Những người này đến sớm và tập trung ở tầng trên.

Danh sách 2: là những sĩ quan tướng lãnh thân anh em Diệm-Nhu, bị giam ở tầng trệt để "cách ly" khỏi đảo chính. Một số sẽ bị "thịt" theo danh sách Khiêm đưa ra gồm Đại tá Lê Quang Tung, Đại tá Hải quân Hồ Tấn Quyền, Đại tá Cao Văn Viên...

Đại tá Lê Quang Tung và Đại tá Cao Văn Viên tới, cả hái bị còng nhốt ở tầng trệt.

Đại tá Hải quân Hồ Tấn Quyền do ra sân chơi tennis, không nhận được điện mời. Phe đảo chính cho sĩ quan thân cận của Hồ Tấn Quyền dụ ông Quyền đi ăn cưới ở Thủ Đức và đâm chết ông này trên đường.

Đại tá Lê Quang Tung bị Dương Văn Minh cử Đại uý Nguyễn Văn Nhung "thịt" và chôn ngay phía sân sau.

Đại uý Nguyễn Văn Nhung cũng chính là người "thịt" anh em Diệm-Nhu trên xe M-113./.

Từ trái sang phải của ảnh: Tướng Phạm Xuân Chiều, Đỗ Mậu, Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, Trần Thiên Khiêm và Nguyễn Văn Thiệu.

Yêu nước ST.

PHANH PHUI NHỮNG VỤ ÁN KHÔNG CÓ VÙNG CẤM: CHÌA KHÓA MỞ CỬA LÒNG TIN!

         Dồn dập các vụ đại án tiếp tục được phanh phui, nhiều Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch tỉnh, tướng lĩnh...bị xử lý, bị khởi tố, truy tố, lĩnh án...

Ngày 16/1/2012, Nghị quyết Trung ương (T.Ư) 4, nhìn thẳng vào sự thật: Một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái, biến chất.

Lúc đó, nhiều đảng viên khi quán triệt Nghị quyết đã băn khoăn: Bộ phận ấy nằm ở đâu, là ai? Đến tháng 12/2020, tại Hội nghị toàn quốc về công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng giai đoạn 2013-2020, "bộ phận không nhỏ" hiện ra: Hơn 131.000 đảng viên bị xử lý; trong đó, có hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, có 27 Ủy viên Trung ương Đảng, 4 Ủy viên Bộ Chính trị, hơn 30 tướng lĩnh...

Đã xử lý hình sự 1 Ủy viên Bộ Chính trị, 4 Bộ trưởng, 7 tướng lĩnh với mức án cao nhất là Chung thân. Kết quả đó gắn với sự kiện ngày 1/2/2013, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng (nay là phòng chống tham nhũng, tiêu cực) được thành lập với quyết tâm cũng gây băn khoăn không kém: "không có vùng cấm".

Một năm sau Hội nghị, dồn dập các vụ đại án tiếp tục được phanh phui, nhiều Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch, tướng lĩnh... bị xử lý, bị khởi tố, truy tố, lĩnh án. Giống như "bộ phận không nhỏ", "không có vùng cấm" đã có sức thuyết phục.

Đã rõ hơn một thực tế, tham nhũng và tiêu cực nguy hại ghê gớm và vẫn đang song hành. Vẫn xa hoa, lãng phí, quyền thế, nhũng nhiễu và tha hóa người khác trong các biệt thự, trang trại, sân golf, xe hơi đắt tiền, và thậm chí...cả trong nhà tù.

Vẫn "ăn của dân không từ một thứ gì", kể cả ăn trên sự khốn cùng của người dân trong cơn đại dịch. Vụ Việt Á bất ngờ hiện ra, choáng váng và phẫn nộ. Choáng vì một doanh nghiệp tư nhân đã dùng 800 tỷ đồng "bôi trơn" cả một hệ thống của ngành y tế, nghiền nát y đạo.

Phẫn nộ vì sau nó lại có một nhóm người tạo thành "liên minh ma quỷ" khiến cho toàn dân phải ngửa mặt lên trời cho kít Việt Á "ngoáy mũi" và trục lợi 4.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, đỉnh của đỉnh vẫn chưa hẳn đã là Việt Á.

Dịch bệnh tràn khắp thế giới khiến hàng triệu công dân Việt Nam bị kẹt lại tại nước ngoài trong hoàn cảnh không việc làm, không thu nhập, không bảo hiểm y tế. Vậy là "trọn ổ" 4 quan chức lãnh đạo Cục lãnh sự, Bộ Ngoại giao thò tay nhận hối lộ, cho phép các công ty tổ chức 800 chuyến bay để chở 200.000 công dân mắc kẹt từ 60 quốc gia về nước với giá đương nhiên là phải "lấp tràn" số tiền đã hối lộ.

Chưa biết khoản hối lộ là bao nhiêu, còn chờ kết quả điều tra. Nhưng cứ từ thông tin trên báo chí, có thể thấy con số "móc túi" người hoạn nạn gấp nhiều lần Việt Á. Bộ Công an quyết định khởi tố, bắt tạm giam 4 "mặt nạ quan chức" leo cao, chui sâu vào Bộ Ngoại giao khi thời điểm giao thừa đếm ngược chỉ còn 4 ngày.

Bộ Ngoại giao ngay trong ngày thứ Bảy đã phải tỏ rõ quan điểm: Đây là hành vi trục lợi cá nhân, vi phạm đến đâu xử lý đến đó, không có vùng cấm, không bao che, bất kể là ai. Nếu vụ Việt Á, tham nhũng "liên minh" móc túi người dân khốn khổ vì dịch bệnh trong nước, thì vụ "4 mặt nạ quan chức", tham nhũng vươn vòi bạch tuộc qua biên giới nhắm đến hàng trăm ngàn người dân hoạn nạn nơi "đất khách quê người".

Hai vụ án cuối năm là "giọt nước tràn ly" và đang phát đi thông điệp: Không chỉ đạo đức công vụ mà cả đạo lý cũng đã bị thủng đáy. Một khi nền tảng đạo lý không còn, pháp lý trở nên vô nghĩa. Diễn biến hai vụ án đang tiếp tục thể hiện quyết tâm truy đến cùng và "không có vùng cấm" của Cơ quan Điều tra, Bộ Công an. "Không có vùng cấm" đang trở thành mối quan tâm sâu sắc của người dân và là "chìa khóa" mở ra cánh cửa lòng tin của Nhân dân./.

Môi Trường ST.

GIỮA TỐT VÀ XẤU!

         Thường cái gì cũng có hai mặt tốt và xấu. Điều xấu thì có lẽ là chúng ta đã nhìn thấy rồi, đến cá nhân mình cũng rất bực vì những đã diễn ra trong mấy ngày vừa nó, nó kiểu như là một thứ gì đó tan vỡ. Năm 2020, chúng ta đã từng thành công như thế nào rồi đến năm 2021, nói thất bại thì là nặng nhưng nói chống dịch tệ thì cũng không sai.

Từ vụ Đô đốc Nguyễn Văn Hiến đến Bộ tư lệnh Cảnh sát biển, từ vụ các nghệ sĩ với những bê bối từ thiện, sự xuất hiện của lang băm tồn tại như một điều hiển nhiên không bị trừng phạt. Đến vụ Việt Á như là một cú đấm vào nhân dân cả nước, biết bao nhiêu người đã kỳ vọng vào nó, biết bao báo chí, truyền thông, từ Chính phủ đến sóng truyền hình quốc gia tin vào nó - trong đó có cả mình… Rồi còn vụ những quan chức Cục lãnh sự bị bắt vì nhận hối lộ, cấp phép cho các chuyến bay đưa đón người về nước kể từ đầu những năm 2021. Tại sao những tháng đầu 2020, chúng ta làm tốt như vậy, đưa thai phụ, lao động, người già về nước mà lại trở thành bung bét ra như thế? Tại sao lại có một mức giá trên trời, tình trạng chung chi, cò mồi, gò ép người dân như vậy? Tại sao những cái tốt đẹp vừa mới diễn ra thôi mà những cái tiêu cực lại đến ngay sau đó?

Điều xấu đã trở thành hệ thống chứ không phải là riêng lẻ một vài cá nhân. Mà những hệ thống này tồn tại ở số nhiều chứ không phải số ít. Như “hệ thống” các tướng lĩnh ở Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển, rồi hệ thống các nhân sự Cục lãnh sự Bộ Ngoại giao, các giám đốc CDC dính bê bối...

Nhưng cũng phải thật may vì chúng ta còn những điều tốt. Đó là tình trạng tham nhũng, hối lộ, vô trách nhiệm được đưa ra ánh sáng thay vì bưng bít. Điều đáng sợ nhất là ở thượng tầng không hành động gì cả, không đưa ra ánh sáng những cá nhân suy thoái, không dám làm gì để đấu tranh… mà ru ngủ và mặc kệ dân chúng. Bất cứ ai trong chúng ta cũng cảm thấy bức xúc, nhưng cũng có nhiều người cảm thấy rằng cuộc chiến chống tiêu cực vẫn còn có những người dẫn đầu có tâm.

Bên cạnh cái xấu thì còn có cái tốt, bên cạnh cái bi quan còn có lạc quan.

Để trở nên tốt hơn, điều tiên quyết là ta phải đối mặt với cái xấu trước. Bản chất con người ta là tham lam, mưu cầu danh vọng, việc chặt đứt cái nhu cầu ấy khó hơn cưỡi cá chép lên giời, nhưng kiềm chế nó thì có thể. Nhiều người mất niềm tin vì những sự việc vừa qua. Đó là một điều vô cùng dễ hiểu. Vì chính những người kiên định nhất là mình từng biết, họ cũng có những suy nghĩ như vậy.

Nhưng, đối diện với cái cái tiêu cực là cần một sự đồng lòng. Phanh phui ra những vụ việc trên chứng tỏ rằng thượng tầng của chúng ta không sợ việc mất niềm tin. Công khai tham nhũng trước dân, chấp nhận những cái tốt đẹp có thể bị ảnh hưởng, lụi tàn hoặc biến mất. Nhưng đó là tiền cho một tương lai có lẽ là tốt.

Thà hành động còn hơn là ko làm cái gì cả và mặc kệ.

Mất niềm tin thì người ta có thể lấy lại được. Chứ sợ là không còn thứ gì để mà mất nữa thôi.

Năm mới, chúc cho bác Trọng, bộ máy chống tham nhũng của chúng ta hoạt động tích cực và quyết liệt hơn nữa, khui ra nhiều vụ việc hơn, đúng người đúng tội. Mong cho đất nước chúng ta trở nên hùng cường, mạnh mẽ hơn nữa về nhiều mặt! Tiến hành mở cửa đất nước bình thường hoàn toàn sau đại dịch!

Gác lại vào trưa 29 Tết Nhâm Dần nhé!

Yêu nước ST.

UKRAINA VÀ BÀI HỌC BUỒN KHI ĐI THEO "DÂN CHỦ PHƯƠNG TÂY"!

     Nếu nói về những đắng cay của một đất nước từ bỏ con đường đi theo chủ nghĩa xã hội, ngả hoàn toàn theo phương Tây thì Ukraina là một trường hợp điển hình nhất. Kể từ khi Liên Xô sụp đổ, từ một quốc gia giàu mạnh bậc nhất Đông Âu, Ukraina đã nhanh chóng rơi vào khủng hoảng và trở thành một quốc gia suy yếu về chính trị, kinh tế và bất ổn về chính trị.

Năm 1989, GDP của Ukraine là 82,71 tỷ USD. Cùng năm, GDP của Việt Nam rơi xuống còn 6,3 tỷ USD, bằng 1/13 của Ukraine. Thế rồi Ukraine cùng các nước cộng hoà thuộc Liên Xô cũ cùng theo tư bản, kinh tế vẫn phát triển nhưng liên tục trồi sụt để đến sau gần 1/4 thế kỷ (2013), GDP 2 nước là tương đương, khoảng hơn 184 tỷ USD. Vẫn chưa hài lòng, người Ukraine tạo ra Euro Maidan, bám theo Tây Âu, trở mặt với LB Nga. 5 năm sau, GDP của Ukraine còn gần 120 tỷ USD, bằng non nửa Việt Nam (hơn 240 tỷ USD). 

Đó là cái giá của việc đập bỏ thành quả của CNXH, phản bội đồng minh chiến lược để đu bám theo Phương Tây. Nhiều người bảo đa nguyên đa đảng giúp đất nước phát triển nhưng có lẽ mọi thứ không màu hồng như chiếc bánh vẽ mà phương Tây quảng bá rồi. Trong sự kiện cách mạng Maidan, đa số người Ukraine tụ tập ở quảng trường Maidan nghĩ rằng họ đi vì yêu Tổ quốc mình, hành động vì một đất nước Ukraina công bằng, dân chủ hơn. Nhưng 6 năm sau, đất nước này càng ngày càng chìm trong khủng hoảng, kinh tế trì trệ, phải ngửa tay xin từng đồng của phương Tây, thật sự trở thành con cờ để Mỹ và phương Tây chống Nga. Người Ucraina gần như mất tất cả, một đất nước của thế vận hội xinh đẹp đã hoang tàn dưới đống đổ nát, đất nước nội chiến chia cắt, từng là một cường quốc về quân sự sau không gian hậu Xô viết bây giờ phải đi xin từng khẩu súng của các nước phương tây, giấc mộng hão huyền gia nhập EU coi như thành công cốc, và giọt nước mắt đã rơi trên những người dân Ucraina sau tiếng gọi của " Mùa xuân dân chủ".

Ukraina và Nga đang đứng trước thùng thuốc súng khổng lồ. Chiến tranh có thể không nổ ra, nhưng căng thẳng ngoại giao vẫn luôn thường trực, đi đôi với đó là những mâu thuẫn có thể bùng nổ bất cứ lúc nào. Xét về mọi khía cạnh, trong cuộc đọ sức này, phần thua chắc chắn sẽ thuộc về Ukraina.

Họ không phải bây giờ mới thua, mà thua ngay từ khi quyết định ngả theo phương Tây để từ bỏ các giá trị cốt lõi về an ninh quốc gia của dân tộc mình./.
Yêu nước ST

NAM DU HỌC SINH VIỆT TỰ NGUYỆN DỌN VỆ SINH KHU VỰC TƯỢNG BÁC HỒ MỖI TUẦN Ở SINGAPORE!

         Được biết, anh chàng này tên Dương Đoàn (Tiktok @duongdoan787), là du học, sinh sống và làm việc ở Singapore.

Theo thông tin trên TikTok của nam sinh này, mỗi tuần anh lại ghé thăm tượng Bác Hồ một lần, sau đó lau chùi và dọn dẹp sạch sẽ xung quanh tượng. Vào những ngày lễ lớn ở Việt Nam, chẳng hạn như vào ngày 02/9 vừa qua, anh Dương còn mang lẵng hoa tới để cạnh tượng Bác.

Hành động đẹp của anh chàng đã nhận được rất nhiều lời khen, sự cảm kích từ cộng đồng mạng trong và ngoài nước. Người Việt Nam từ trước đến giờ đều vậy, dù có đi đâu, về đâu thì chỉ cần bắt gặp hình ảnh của Bác đều cảm nhận thấy xúc động, tự hào. Đây cũng được xem là một hành động đáng để chúng ta lan tỏa, sẻ chia về niềm tự hào dân tộc trỗi dậy tình yêu đất nước, lòng thành kính đối với vị lãnh tụ kính yêu vĩ đại của dân tộc.

Được biết, bức bia tưởng niệm Bác Hồ này chính là tượng đài đầu tiên trong chương trình tôn vinh “Những người bạn đến bờ biển chúng ta” của Singapore. Bức tượng được đặt ở công viên Bảo tàng Văn minh châu Á - một trong những địa điểm thu hút nhiều khách tham quan. Trong suốt chặng đường hoạt động cách mạng của mình, Bác Hồ đã hai lần đến Singapore, trong đó lần đầu vào tháng 5/1930 và lần thứ hai là tháng 01/1933./.

Ảnh: Mỗi tuần anh lại ghé thăm tượng đài Bác Hồ một lần, sau đó lau và dọn dẹp sạch sẽ xung quanh tượng.

Yêu nước ST.

BẢO VẬT QUỐC GIA: MÁY BAY MIG 21, SỐ HIỆU 4324!

         Từ khi vào Việt Nam, máy bay Mig 21, số hiệu 4324 đã được 9 người lái chiến đấu, bắn rơi 14 máy bay địch. 8/9 phi công được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân khi lái chiếc máy bay này. Với thành tích đó, nhiều người gọi chiếc máy bay này là “thần chết” của bầu trời, gieo nỗi khiếp sợ cho không quân của đế quốc Mỹ trong mỗi trận không chiến.

Về nguồn gốc của các ngôi sao được in trên máy bay:

thời gian khoảng 1966 - 1967 khi Bác Hồ thăm một đơn vị không quân. Trong buổi gặp gỡ thời gian đó, Bác đề nghị mỗi phi công nếu bắn rơi được 1 máy bay Mỹ thì được tặng một huy hiệu của Người và gắn 1 ngôi sao trên mũi của chiếc máy bay đó, nếu bắn rơi 2 máy bay địch thì được in 2 sao... Kể từ đó, nhiều máy bay của không quân Việt Nam đã chiến đấu dũng cảm, lập công lớn và được in hình ngôi sao trên mũi.

Nguồn gốc của 14 ngôi sao trên máy bay MIG 21 số hiệu 4324:

16 lần xạ kích, 14 lần hạ máy bay Mỹ.Theo Hồ sơ hiện vật của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam thì chiếc Mig 21, số hiệu 4324 đã lập công lớn góp phần đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” bằng việc dùng không quân và hải quân để đánh phá miền Bắc lần thứ nhất. Trong cuộc chiến này, không quân ta đã bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, thuộc 19 chủng loại gồm cả pháo đài bay B52, trong đó có chiến công của chiếc Mig 21, số hiệu 4324. Chỉ trong năm 1967, 9 phi công thuộc Trung đoàn không quân số 921 thay nhau trực chiến, lần lượt lái chiếc 4324 không chiến, bắn rơi 14 máy bay Mỹ các loại. Đáng nói là xác suất tiêu diệt mục tiêu của chiếc Mig 21, số hiệu 4324 nhiều nhất Việt Nam thời đó. Cụ thể, trong năm 1967, chiếc 4324 đã gặp địch 22 lần, xạ kích 16 lần và tiêu diệt tới 14 máy bay Mỹ. Có tới 8/9 phi công lái chiếc 4324 được phong Anh hùng. Các phi công tiêu biểu đã điều khiển máy bay này bao gồm Lê Trọng Huyên, Phạm Thanh Ngân, Nguyễn Hồng Nhị, Nguyễn Văn Cốc, Nguyễn Đăng Kính, Vũ Ngọc Đỉnh, Nguyễn Ngọc Độ, Đặng Ngọc Ngự và Nguyễn Văn Lý.

Đây là biểu tượng của tinh thần bách chiến bách thắng của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Sau những chiến công oanh liệt, ngày 7/12/1974, chiếc máy bay Mig 21, số hiệu 4324 đã được Trung đoàn không quân số 921 bàn giao cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam để làm hiện vật trưng bày, giáo dục tinh thần yêu nước đối với các thế hệ người Việt Nam. Ngày 14/01/ 2015, máy bay này đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận là Bảo vật Quốc gia./.

Môi Trường ST.

THƠ CHÚC TẾT CỦA BÁC HỒ NHỮNG NĂM DẦN!

         Sinh thời, Bác Hồ không bao giờ nhận mình là một nhà thơ hay nhà văn mà chỉ là người bạn của văn chương, người yêu văn nghệ. Mặc dù thơ chúc Tết của Bác Hồ thấm đẫm tư tưởng cách mạng, nhưng ngôn ngữ không cao siêu, khô khan mà giản dị, dễ hiểu, giàu tình thân ái, nghe ngọt ngào như một bài ca xuân mang âm hưởng hùng tráng có sức lay động lòng người. Thơ chúc Tết của Bác luôn ngời sắc xuân, đậm đà chất thép như nhà thơ Hoàng Trung Thông khái quát: “Vần thơ của Bác vần thơ thép/ Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”. 

Và cứ vào dịp đón xuân mới, năm mới, Tết Nguyên đán cổ truyền của dân tộc, vào giờ khắc giao thừa, đồng bào và chiến sĩ cả nước lại hồi hộp nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc thơ chúc Tết.... với bao tình cảm ấm áp thương yêu. Điều này đã trở thành thông lệ, truyền thống và văn hóa của dân tộc Việt Nam ta. Từ các cụ già râu tóc bạc phơ đến bầy em nhỏ, tất cả đều cảm thấy lòng lắng lại khi nghe giọng nói ấm áp, thiết tha qua những vần thơ Bác.

    Thơ chúc Tết Canh Dần -1950, Bác viết:

         “Kính chúc đồng bào nǎm mới,

         Mọi người càng thêm phấn khởi,

         Toàn dân xung phong thi đua,

         Đẩy mạnh cuộc chuẩn bị tới,

         Chuyển mau sang tổng phản công,

         Kháng chiến nhất định thắng lợi”.(1)

    Thơ chúc tết của Bác - Sức mạnh tiềm tàng trong tâm hồn rộng mở, lời thơ cũng là lời kêu gọi sức mạnh đoàn kết và lý tưởng cách mạng cao cả. Ẩn sâu trong những khúc ca hào sảng ấy là một tấm lòng vì nước, vì dân. Lời thơ như lời hiệu triệu, là nguồn cổ vũ, động viên, xốc dậy tinh thần hăng hái chiến đấu và chiến thắng. Nhịp thơ 6/6 mà Bác Hồ sử dụng thật đắc địa, mạnh mẽ, dứt khoát, như nhịp trống chiêng thúc giục đoàn quân ra trận. Nhịp thơ này vào đầu năm mới càng có ý nghĩa nhiều hơn, thể hiện sự lạc quan, tin tưởng, khí thế hào hùng, thực sự mang lại sự “phấn khởi” trong toàn quân, toàn dân ta. Để rồi, Bác Hồ kết lại, dự đoán “Chuyển mau sang tổng phản công/Kháng chiến nhất định thắng lợi”. Đó cũng là “Chất thép” trong thơ của Hồ Chủ tịch đã tạo dáng cho mùa xuân của thời đại một nét rất riêng, khoẻ khoắn, ấm nồng sức trẻ, niềm chung vui chiến thắng của những người chiến sĩ cùng chảy trong mình dòng máu của lý tưởng cộng sản, cùng gánh vai để giải phóng Tổ quốc thân yêu.

    Đến Xuân Nhâm Dần 1962, Bác gửi gắm khát vọng hòa bình qua những vần thơ:

         “Nǎm Dần, mừng Xuân thế giới,

         Cả nǎm châu phấp phới cờ hồng.

         Chúc miền Bắc thi đua phấn khởi,

         Bốn mùa hoa Duyên-hải, Đại-phong.

         Chúc miền Nam đấu tranh tiến tới,

         Sức triệu người hơn sóng biển Đông.

         Chủ nghĩa xã hội càng thắng lợi,


         Hoà bình thống nhất quyết thành công”.(2)

    Lời thơ chân thành, giản dị mừng mùa Xuân mới - Nhâm Dần 1962 của Bác là niềm vui, niềm tin thắng lợi của cách mạng trong nước và thế giới với “Bốn mùa hoa Duyên - hải, Đại - phong/Chúc miền Nam đấu tranh tiến tới” và “Cả nǎm châu phấp phới cờ hồng”. Không có một bài thơ nào Người không đặt vào đó niềm mong mỏi, một sự động viên, cổ vũ dành cho cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân hoặc dự báo trước về tình hình đất nước… Trong từng câu, từng chữ của mình, bên cạnh cái tươi mới và rạng rỡ của không gian mùa xuân được mở ra thì bao giờ Người cũng dành những điều tốt đẹp và những điều Người hằng mong muốn cho non sông, Tổ quốc, cho dân tộc Việt Nam.

    Mỗi bài thơ chúc Tết, mừng Xuân mới là tình cảm chân thành, tấm lòng sắt son, tất cả vì sự nghiệp cách mạng, vì nước của Bác đối với đồng bào, đồng chí, anh em, đối với dân tộc, đối với con người; mỗi bài thơ của Bác là đường lối cách mạng cụ thể của một năm, một giai đoạn. Nếu tổng hợp toàn bộ những bài thơ chúc Tết - mừng Xuân mới của Bác theo trật tự thời gian, thì đó là đường lối cách mạng của Đảng, của Bác qua những chặng đường cụ thể và đường lối cách mạng chung được thể hiện bằng hình thức giản dị, dễ hiểu. Mà trong hai bài thơ chúc Tết - mừng Xuân năm Dần này là một minh chứng việc nước - việc dân trong Bác luôn gắn chặt với nhau. Thơ chúc Tết nhưng trong đó là tư tưởng chính trị, là đường lối cách mạng được lan tỏa nhẹ nhàng mà sâu sắc, là lời hiệu triệu dành cho cả non sông, đất nước và là niềm tin mãnh liệt vào ngày chiến thắng không xa.

    79 mùa Xuân của cuộc đời, Bác Hồ kính yêu đã dành trọn cho dân, cho nước. Xuyên suốt 22 bài thơ chúc Tết, từ bài thơ đầu tiên năm 1942 đến bài thơ cuối cùng năm 1969, Bác đã thể hiện trọn vẹn tinh thần lạc quan, ý chí quyết tâm mạnh mẽ cùng niềm tin tất thắng vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của nước nhà. Đã hơn 50 mùa xuân vắng giọng đọc thơ chúc Tết ấm áp, thân thương của Người trong thời khắc giao thừa. Thế nhưng, những bài thơ chúc Tết ngày xưa của Bác, khi đọc lại vẫn thấy còn vẹn nguyên niềm hân hoan, rạo rực của hơi thở ngày xuân mới; vẫn thấy ngập tràn niềm tin, phơi phới hy vọng cho một năm mới thành công, thắng lợi. Và như nhà thơ Tố Hữu từng viết, cả khi Người không còn nữa, Tết đến mọi nhà vẫn ước mong:

         “Bác ơi!

           Tết đến. Giao thừa đó

         Vẫn đón nghe thơ Bác mọi lần

         Ríu rít đàn em vui pháo nổ

         Tưởng nghìn tay Bác vỗ sang xuân ...”

(Tố Hữu)

    Xuân mới đang về - Xuân Nhâm Dần 2022, mỗi cán bộ, Đảng viên và các thế hệ người dân Việt Nam càng trân quý hơn những bài thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đều nguyện nỗ lực phấn đấu, phát huy tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường, khắc phục khó khăn, nhất là nỗ lực vượt qua đại dịch COVID-19, cùng chung sức, chung lòng xây dựng, bảo vệ quê hương, đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc như mong ước của Người:“Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”./.

(1) Báo Sự thật, số: 128, ngày 19/2/1950); Hồ Chí Minh, Toàn tập, T6, NXb. Chính trị Quốc gia, HN, 2000.

(2) Báo Nhân Dân, số: 2876, ngày 5/2/1962); Hồ Chí Minh, Toàn tập, T10, NXb. Chính trị Quốc gia, HN, 2000.

Môi Trường ST

VUI XUÂN MỚI, THÊM TIN YÊU ĐẢNG!

 CHÚC MỪNG NĂM MỚI!

Đã thành nét đẹp văn hóa mang tính phong tục suốt nhiều thập kỷ qua, mỗi dịp Tết đến, Xuân về, nhân dân cả nước và kiều bào yêu nước trên khắp thế giới lại dành những tình cảm thiêng liêng, cao quý hướng về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại. Điều này không chỉ vì ngày thành lập Đảng ta trùng vào dịp đón Tết cổ truyền của dân tộc, mà bởi tình cảm thiêng liêng, cao quý ấy đã kết nối suốt chiều dài lịch sử, ngưng đọng thành giá trị văn hóa đậm đà bản sắc Việt Nam.

Trong những giai đoạn đất nước có chiến tranh, nhân dân ta phải thể hiện tình yêu Đảng trong bí mật, trong gian khổ, hiểm nguy. Chính nhờ ánh sáng chân lý ấy soi rọi đã giúp chúng ta kết nối sức mạnh của cả dân tộc, chiến đấu giành độc lập cho Tổ quốc, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ. Hình ảnh cờ Đảng, cờ Tổ quốc, chân dung Bác Hồ được vẽ bằng than, gạch non, thậm chí bằng máu của các chiến sĩ cách mạng trong lao tù, thể hiện sinh động khát vọng, lý tưởng cách mạng cao cả của các thế hệ ông, cha, anh chúng ta. Ngày nay, đất nước ta do nhân dân ta làm chủ. Nhân dân và kiều bào yêu nước được tự do bày tỏ niềm tin, chính kiến đối với Đảng, tình cảm thiêng liêng đối với Bác Hồ và truyền thống tổ tiên theo truyền thống văn hóa, phong tục cổ truyền, cùng với sự tiếp thu cái hay, cái mới của văn hóa, văn minh nhân loại. Trong tất cả các vốn quý của bản thân, gia đình, dòng họ, quê hương, được sống dưới bầu trời hòa bình, tự do, độc lập của Tổ quốc là vốn quý nhất. Đúng như Bác Hồ kính yêu từng dạy: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Đất nước hòa bình là hồng phúc trăm họ.

TIA CHỚP 


Chủ Nhật, 30 tháng 1, 2022

Thực tiễn và nghị trường

 


Một trong những sự kiện thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhân dân cả nước tuần qua là Kỳ họp bất thường lần đầu tiên của Quốc hội, được tổ chức nhằm giải quyết những vấn đề rất cấp bách, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn.

Tác động của đại dịch Covid-19 trong hơn hai năm qua ảnh hưởng nặng nề đến mọi mặt đời sống kinh tế-xã hội; đặc biệt, tốc độ phục hồi kinh tế chậm, nguy cơ lỡ nhịp với kinh tế thế giới... Thực tiễn đó là mệnh lệnh đòi hỏi cần có những quyết sách kịp thời.

Với tinh thần trách nhiệm cao trước đất nước, đồng bào và cử tri cả nước, trên cơ sở các tờ trình, báo cáo của Chính phủ, báo cáo thẩm tra của các cơ quan của Quốc hội, nhiều đại biểu Quốc hội đã tập trung nghiên cứu, thảo luận, xem xét, thông qua các quyết sách để kịp thời hỗ trợ cho chương trình phòng, chống dịch Covid-19 và chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của đất nước, của doanh nghiệp, sinh kế và đời sống của nhân dân. Đây đều là những vấn đề cấp bách mà thực tiễn cuộc sống đặt ra, thuộc thẩm quyền của Quốc hội xem xét, quyết định.

Với vị trí là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của đất nước, Kỳ họp bất thường trong bối cảnh hiện nay cho thấy tinh thần đổi mới không ngừng trong phương thức hoạt động của Quốc hội nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn. Nghị trường đã thực sự mang hơi thở của cuộc sống.

Điều cử tri và nhân dân mong mỏi lúc này là sự lan tỏa nhanh từ nghị trường vào thực tiễn. Các quyết sách của Quốc hội phải đi nhanh vào cuộc sống. Muốn vậy, cần phải đôn đốc, giám sát chặt chẽ việc tổ chức, triển khai thực hiện, bảo đảm đúng quan điểm, mục tiêu, công khai, minh bạch, hiệu quả, khả thi và tiến độ. Không để xảy ra tình trạng trục lợi chính sách. Đây cũng là mệnh lệnh từ thực tiễn đòi hỏi những đại biểu của nhân dân phải làm tròn nhiệm vụ của mình. VD

 

Thời thích ứng với đại dịch

 

Thế giới bước vào năm mới 2022 với tin tức tốt lành: Cuối cùng thì loài người cũng đã có đủ cơ sở để tin rằng sẽ sớm thoát khỏi Covid-19 - cơn đại dịch thế kỷ.

Vào thời điểm sắp chuyển giao giữa năm cũ và mới, bà Maria Van Kerkhove-Trưởng nhóm Kỹ thuật chương trình y tế khẩn cấp của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã khiến cả thế giới phấn chấn khi khẳng định: “Năm 2022 là năm chúng ta có thể chấm dứt đại dịch Covid-19. Hiện đã có các công cụ, chúng ta có thể khiến Covid-19 không còn gây chết chóc nữa”.

Đúng là thế giới không thể để dịch Covid-19 kéo dài mãi trong vô vọng, bởi điều đó đồng nghĩa với dấu chấm hết. Thực tế nghiệt ngã với gần 5,5 triệu người thiệt mạng, gần 300 triệu người nhiễm bệnh cùng hàng nghìn tỷ USD thiệt hại về kinh tế do dịch Covid-19 gây ra không cho phép chúng ta có thể chậm trễ. Viễn cảnh có nhiều người chết đến mức phải chôn chung, nhiều người xấu số không được yên nghỉ trong huyệt riêng của mình không thể được tái hiện.  

Sự hiểu biết ngày càng rõ hơn về cách tiến hóa của virus SARS-CoV-2 cùng chương trình tiêm chủng thần tốc và các biện pháp hạn chế lây nhiễm được triển khai trên quy mô toàn cầu đã ngăn bớt cơn lốc dịch bệnh cũng như quy mô tàn phá của nó. Bên cạnh vaccine, sự xuất hiện của các loại thuốc kháng virus SARS-CoV-2 cũng đang tạo bước đột phá trong điều trị Covid-19. Và dù biến thể Omicron vẫn còn gây lo ngại, làm tan vỡ giấc mơ của nhiều người về một kỳ nghỉ lễ Giáng sinh và năm mới trọn vẹn sau thời gian dài gò bó, có thể thấy “giai đoạn cấp tính” của đại dịch đã qua và Covid-19 đang chuyển dần thành một bệnh đặc hữu trong tương lai. 

Trong bối cảnh đó, “Chung sống an toàn với Covid-19” đã trở thành chiến lược phổ biến ở các nước, thay thế khẩu hiệu đóng cửa thực hiện “Zero Covid” bởi “cấm ra khỏi nhà” kéo dài là sự xa xỉ mà chỉ người giàu mới có được, còn với người nghèo thì đó là con số “0” tròn trĩnh. Nhịp sống trên Trái đất đang bình thường trở lại, chỉ khác là với phương cách hoàn toàn mới. Một cuộc chiến khác thường với vũ khí chủ yếu là xà phòng và thuốc sát trùng cùng chiến thuật “cố thủ trong nhà” thì hệ quả của nó cũng không thể bình thường. Trạng thái “bình thường mới” trong dịch bệnh đã khiến nhiều thứ liên quan đến con người, từ tư duy, nhận thức tới tâm lý, thói quen, lối sống đều phải thay đổi để thích ứng. Giờ đây, hàng loạt sự kiện quan trọng, kể cả chính trị, kinh tế lẫn văn hóa đều diễn ra trực tuyến. Khái niệm làm việc, học tập, thậm chí khám, chữa bệnh từ xa đã trở nên quen thuộc. Giao dịch không dùng tiền mặt, hệ thống thanh toán không tiếp xúc hay thương mại điện tử đang “lên ngôi”.

Những gói kích thích tăng trưởng khổng lồ lên tới hàng nghìn tỷ USD mà các nước liên tục tung ra đang giúp kinh tế thế giới lấy lại sức sống. Mặc dù đà phục hồi có dấu hiệu chững lại trong những tháng cuối năm 2021, khi các làn sóng dịch mới khiến nhiều nước trì hoãn kế hoạch mở cửa, song các thể chế tài chính đều cho rằng kinh tế thế giới năm 2021 sẽ tăng trưởng ở mức 5-6% và dự kiến ở mức 4,9% vào năm 2022. Trong đó, Mỹ, châu Âu và Trung Quốc tiếp tục là đầu tàu cho đà phục hồi và tăng trưởng của kinh tế thế giới trong tương lai.

Nhưng những dòng tiền ồ ạt chảy vào các nền kinh tế cũng đang gây nguy cơ bùng nổ lạm phát. Chính sách nới lỏng tiền tệ của Mỹ và các nước nhằm hồi sinh nền kinh tế sau đại dịch đã khiến giá hàng loạt sản phẩm đua nhau lập kỷ lục, từ gỗ xẻ, quặng sắt, đồng đến ngô, đậu tương, lúa mì và dầu thô. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của khu vực đồng euro (Euzone) chạm 4,9%, mức đỉnh trong 24 năm. Lạm phát ở Mỹ là 6,8%, cao nhất kể từ năm 1982. Tại Trung Quốc, chỉ số giá sản xuất (PPI) và CPI cũng liên tục tăng tốc trong vài tháng qua.

Một nguyên nhân nữa khiến lạm phát tăng cao là nhu cầu tiêu dùng đã phục hồi sớm và mạnh hơn nhiều so với diễn biến thường thấy sau một cuộc suy thoái. Trong khi đó, nguồn cung lại đang bị đứt gãy, khiến sản xuất toàn cầu bị đình trệ. Tình trạng thiếu các thành phần quan trọng như thiết bị bán dẫn cũng như việc các cảng biển bị đóng cửa, thiếu xe chở hàng, thiếu nhân công vì các biện pháp phong tỏa nhằm chống dịch đang xảy ra ở nhiều nơi. Sự mất cân bằng cung-cầu đã khiến giá năng lượng và hàng hóa “leo thang” tạo áp lực lạm phát và đe dọa làm chệch đà phục hồi kinh tế. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo, lạm phát có thể trở lại mức trước khi có dịch vào năm 2022 nếu như tình trạng đứt gãy nguồn cung được ngăn chặn.

Các chuyên gia cũng nhấn mạnh đến một nguy cơ với thế giới sau đại dịch là tình trạng nợ công. Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) cho biết, 72 nền kinh tế đang phát triển hiện ở trong tình trạng “dễ bị tổn thương cao vì nợ”. Còn theo một báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), các chỉ số nợ đang xấu đi ở tất cả các khu vực trên thế giới, cũng như ở tất cả các nước có thu nhập thấp và trung bình. Nhiều nước đang phát triển vốn dễ bị tổn thương về nợ, giờ lại phải chi ngân sách cao chưa từng có để chống dịch và ngăn nền kinh tế rơi vào suy thoái, khiến cho tình trạng khó khăn càng thêm bấp bênh.

Còn nhiều ẩn số khó lường mà thế giới sẽ phải đối mặt sau đại dịch. Nhưng qua cơn dịch bệnh, thế giới mới càng thấy rõ hơn sự ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau, càng thấu hiểu một thực tế Trái đất là ngôi nhà chung mà ở đó, tất cả cùng chung một số phận. Trước đối thủ có tên SARS-CoV-2, mọi sự phân cách về chính trị, giàu-nghèo, màu da, tôn giáo, sắc tộc, tuổi tác đều mất hết ý nghĩa. Điều đó buộc chúng ta phải thay đổi suy nghĩ để xích lại gần nhau, bỏ qua mọi dị biệt để cùng chung tay đối phó với các mối đe dọa chung trong tương lai.  VD

 

Nghị lực và đam mê

 

Trong đội hình Đội quân văn hóa Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, Thượng úy, ca sĩ Lương Nguyệt Anh có dịp giới thiệu đến bạn bè quốc tế khúc hát chầu văn “Cô đôi Thượng ngàn”, nằm trong Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Phần biểu diễn hấp dẫn, có sự tương tác sôi động với khán giả giúp Lương Nguyệt Anh tạo được ấn tượng sâu sắc trước bạn bè quốc tế. Ngoài ra, cô ca sĩ trẻ cũng được ban giám khảo đánh giá cao khi thể hiện xuất sắc các bài hát tiếng Nga.

Có được thành tích đó là một quá trình rèn luyện, phấn đấu không ngừng nghỉ của ca sĩ Lương Nguyệt Anh, người đoạt ngôi vị quán quân Giải Sao Mai toàn quốc, dòng nhạc dân gian năm 2011. Có dịp gặp gỡ, trò chuyện với Nguyệt Anh ngay trước thềm năm mới, chúng tôi được biết, thành viên trong gia đình cô phần lớn là bộ đội.

Từ ông nội, bố đẻ cho đến các bác, các chú đều gắn bó với nghiệp nhà binh nên ngay từ nhỏ, cô học trò Lương Nguyệt Anh yêu thích văn hóa, văn nghệ đã khao khát được phục vụ trong quân đội. Cô cho rằng, đó là môi trường khắc nghiệt nhưng rèn cho con người tính kỷ luật, sự kiên trì, bền bỉ, nhất là tác phong làm việc nghiêm túc, trách nhiệm, qua đó giúp bản thân vững vàng hơn trong công tác cũng như cuộc sống.

Hơn nữa, quân đội còn là môi trường lý tưởng để tuổi trẻ cống hiến và khẳng định bản thân. Niềm mong ước bấy lâu của Lương Nguyệt Anh đã trở thành hiện thực khi cô được tuyển dụng vào quân đội với quân hàm thượng úy ngay trước thềm Army Games 2021. Đây là niềm vinh dự lớn đối với Lương Nguyệt Anh cũng như cả gia đình.

Mang theo động lực tinh thần đặc biệt ấy sang Liên bang Nga tham dự Army Games 2021, Lương Nguyệt Anh luôn tự tin vào bản thân. Cô tự nhủ, muốn có được chiến thắng, mang vinh quang về cho Tổ quốc, không còn cách nào khác là phải nỗ lực luyện tập, khắc phục khó khăn về điều kiện thời tiết, dịch Covid-19 để bước lên sân khấu với tâm thế của một chiến binh trên mặt trận văn hóa, góp phần quảng bá hình ảnh, đất nước, con người Việt Nam. Bên cạnh đó, cô muốn bạn bè quốc tế thấy được rằng, QĐND Việt Nam không chỉ là đội quân anh dũng trong chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà còn là một đội quân văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.

Với chất giọng nữ cao linh hoạt, mượt mà, đằm thắm, đượm chất dân gian, kết hợp với vốn kỹ thuật thanh nhạc đỉnh cao được đào tạo cơ bản tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, những năm gần đây, ca sĩ Lương Nguyệt Anh đã sớm khẳng định được phong cách âm nhạc riêng cho mình. Ngoài ra, kinh nghiệm tham gia các cuộc thi và biểu diễn trong nhiều chương trình lớn đã tạo cho Lương Nguyệt Anh sự tự tin, chững chạc cùng bản lĩnh vững vàng của một nghệ sĩ-chiến sĩ trên sân khấu. VD

 

Quân đội phòng, chống dịch Covid-19:Tấm huân chương thời bình

 


Tháng 8-2021, tạm rời giảng đường ngay trước lễ khai giảng năm học mới, hai chị em Nguyễn Hà Anh, Nguyễn Hà My xung phong vào tâm dịch. Sự thay đổi môi trường đột ngột và những căng thẳng khi ngày ngày phải đối mặt với dịch bệnh, cùng cường độ làm việc căng như dây đàn, khiến hai chị em Hà Anh, Hà My và các đồng đội nữ bị rụng tóc rất nhiều. Để thuận lợi cho công việc, các chị buộc phải tự cắt ngắn mái tóc của mình. Bởi khi ấy, toàn thành phố bị phong tỏa, không có hiệu làm tóc nào hoạt động. Nhiều bạn nữ đã bật khóc vì nuối tiếc mái tóc dài óng ả mà mình đã nâng niu, chăm sóc. Nhưng ám ảnh nhất là việc phải đeo khẩu trang, găng tay, đồ bảo hộ cả ngày, có khi cả đêm, rồi thường xuyên rửa bằng cồn sát khuẩn, làm da tay ai cũng nhăn nheo, bong tróc... “Suốt thời gian dài không có điều kiện chăm sóc, làm đẹp, nên sau khi kết thúc chiến dịch PCD, bạn nữ nào cũng nổi mụn đầy mặt, da đen sạm lại, không dám soi gương!”-Hà My chia sẻ.

Được biết, động lực để hai chị em Hà Anh, Hà My đăng ký tham gia chống dịch, đồng thời vượt lên khó khăn, thử thách ấy, ngoài lương tâm, trách nhiệm của một người lính quân y, còn xuất phát từ lời động viên, khích lệ của bố-Thượng tá, bác sĩ chuyên khoa II Nguyễn Danh Long, Khoa Răng miệng, Bệnh viện Quân y 103 (Học viện Quân y). Hiểu rõ những khó khăn, gian khổ hai cô con gái phải đối mặt, nhưng anh kiên quyết: “Các con hãy lên đường chống dịch. Đây là dịp để thử thách ý chí, nghị lực, trui rèn y đức, nâng cao y thuật, cần cho bước đường tương lai sau này của các con”.

Việc anh chị em ruột, vợ chồng cùng đăng ký tham gia PCD Covid-19 vừa qua ở Học viện Quân y thực ra không hiếm. Trong lễ tuyên dương các lực lượng tuyến đầu PCD Covid-19 do Bộ Quốc phòng, các đơn vị, địa phương tổ chức, tôi đã ghi lại được rất nhiều tấm gương tiêu biểu, cùng những câu chuyện xúc động. Đó là trường hợp Đại úy, bác sĩ Phan Thị Huyền Linh và chồng là Đại úy QNCN Nguyễn Văn Công, cùng thực hiện nhiệm vụ tại Bệnh viện dã chiến truyền nhiễm số 6, đặt tại Tiểu đoàn 261A, Trung đoàn 2, Sư đoàn 8 (Quân khu 9).

Vợ chồng anh được tuyên dương bởi thành tích điều trị khỏi cho hơn 200 bệnh nhân Covid-19. Là bác sĩ điều trị, mỗi ngày chị Linh trực tiếp thăm khám, lấy hàng trăm mẫu bệnh phẩm trong môi trường có nguy cơ lây nhiễm cao, nhưng chị không nề hà vất vả, mà luôn hết lòng chăm sóc, cứu chữa cho các bệnh nhân, luôn coi họ như người thân trong gia đình. Chồng chị là nhân viên Khoa Dược-Trang bị của bệnh viện dã chiến, luôn nỗ lực làm việc cả ngày lẫn đêm, vừa thiết kế, vừa lắp đặt các trang thiết bị, vật tư phục vụ điều trị bệnh nhân Covid-19, vừa hoàn chỉnh hệ thống kế hoạch, xây dựng danh mục thuốc, vật tư, trang bị, cũng như cấp phát, cung ứng kịp thời thuốc hằng ngày cho bệnh viện.

Đó còn là câu chuyện của Thiếu tá, Thạc sĩ Bùi Thanh Thuyết, Khoa Vi sinh vật, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Suốt thời gian từ khi xuất hiện dịch Covid-19 ở nước ta, cho đến đợt bùng phát dịch lần thứ tư tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam, chị luôn có mặt ở những nơi khó khăn, gian khổ, nơi dịch Covid-19 bùng phát dữ dội nhất.

Ông bà nội, ngoại ở xa, vợ chồng đều công tác trong quân đội, chị phải gửi hai con vào đơn vị của chồng để cùng đồng đội lên đường chống dịch. Thời điểm chồng chị là phi công chiến đấu Su-30MK2, công tác tại Thọ Xuân (Thanh Hóa) thường xuyên đi công tác xa, chị phải gửi hai con trai 10 tuổi và 6 tuổi khi thì quê nội, lúc lại quê ngoại, để yên tâm làm nhiệm vụ.

Có thể nói, trong cuộc chiến đấu diệt “giặc” Covid-19 hết sức khốc liệt vừa qua, sự hy sinh thầm lặng của cán bộ, chiến sĩ quân đội cũng như các lực lượng tuyến đầu được thể hiện trong mọi lúc, mọi nơi; là minh chứng sinh động về truyền thống đồng sức, đồng lòng, đồng cam cộng khổ của dân tộc Việt Nam. Đặc biệt, càng trong gian khó, càng xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu, chấp nhận hy sinh, để lại ấn tượng và tình cảm đặc biệt trong lòng nhân dân.

Trong đó phải kể đến cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu 7, cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 4, nơi tâm đỏ của đại dịch Covid-19, đã được huy động tham gia PCD, hỗ trợ nhân dân, sẵn sàng chấp nhận rủi ro, nguy cơ lây nhiễm. Nhiều tấm gương tiêu biểu về đức hy sinh, sức chịu đựng khi có người thân mất nhưng không thể về chịu tang, cha mẹ ốm đau không thể về phụng dưỡng, chăm sóc, vợ sinh con không thể ở bên.

Đại úy QNCN Lê Minh Sáng, lái xe Tiểu đoàn Thiết giáp, Bộ tư lệnh TP Hồ Chí Minh, không may có tới 3 người thân, gồm: Bố đẻ, mẹ đẻ, bố vợ đều mất vì Covid-19; anh chị em ruột đều dương tính với Covid-19, nhưng đã nén đau thương, xung phong ở lại chống dịch. Thượng tá Bùi Văn Tân, Phó chính ủy Lữ đoàn 71, Quân đoàn 4 khi đang thực hiện nhiệm vụ trong tâm dịch TP Thuận An (Bình Phước), nhận được tin bố đẻ qua đời do nhiễm Covid-19. Mặc dù công tác gần nhà, nhưng do nhiệm vụ anh cũng không thể về chịu tang. Vài ngày sau, vợ anh cũng nhập viện vì nhiễm Covid-19. Gác lại tình riêng, anh dốc sức cho công việc.

Đó còn là trường hợp của Thượng úy QNCN Nguyễn Thanh Binh, nhân viên hàng hải, Hải đội 2, Bộ đội Biên phòng TP Đà Nẵng, xung phong cõng cụ già nhiễm Covid-19 đưa lên xe đi cấp cứu. Hạ sĩ Đào Văn Long, học viên Tiểu đoàn 2, Trường Sĩ quan Lục quân 2, trong thời gian trực PCD Covid-19, hai lần tham gia truy bắt thành công tội phạm; Trung tá, bác sĩ chuyên khoa II Lê Thị Nga, Hệ 1, Học viện Quân y làm đơn tình nguyện vào TP Hồ Chí Minh chống dịch. Trong thời gian hơn hai tháng, chị cùng đồng nghiệp điều trị khỏi cho hơn 700 ca F0...

Cảm kích trước những đóng góp, hy sinh thầm lặng của cán bộ, chiến sĩ quân đội, đồng chí Nguyễn Văn Nên, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh, bày tỏ xúc động: “Chúng ta từng tự hào về Quân đội nhân dân Việt Nam chiến đấu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, nay lại chứng kiến quân đội xung kích trên tuyến đầu chống dịch. Lịch sử hào hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ viết tiếp những trang sử sống động, nhân văn và bi hùng trong cuộc chiến với đại dịch Covid-19”.

Thật tự hào rằng, trong suốt hành trình gần hai năm chiến đấu với đại dịch Covid-19, đất nước ta đã thể hiện sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của sự chia sẻ, tình yêu thương và nhân ái. Từ cuộc chiến đầy cam go, thử thách này, chúng ta cũng có dịp chứng kiến biết bao nghĩa cử cao cả, đẹp đẽ, đức hy sinh của hàng nghìn, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang; hàng nghìn, hàng vạn cán bộ, nhân viên y tế, thầy thuốc trong cả nước...

Họ chính là những bông hoa đẹp góp phần truyền cảm hứng về đức hy sinh, trách nhiệm với đồng bào, truyền niềm tin để vượt lên nghịch cảnh, truyền năng lượng để đi qua những ngày tháng khó khăn, từ đó không ngừng bồi đắp giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, của tình đồng chí, nghĩa đồng bào... Những chiến công to lớn ấy cùng sự ghi nhận, biết ơn của nhân dân đối với cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và các lực lượng tuyến đầu PCD Covid-19 chính là tấm huân chương trong thời bình dành cho họ. Theo báo cáo của Ban chỉ đạo PCD Covid-19 Bộ Quốc phòng, thời điểm cao nhất trên toàn quốc, hơn 230.000 cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang được huy động tham gia PCD (riêng TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam có gần 140.000 người). Quân đội cũng triển khai 13 bệnh viện dã chiến điều trị bệnh nhân Covid-19 với 6.550 giường bệnh; thành lập 660 tổ quân y cơ động, 510 tổ tiêm vaccine; 1.125 tổ lấy mẫu xét nghiệm...

Đến hết ngày 14-10-2021, các bệnh viện dã chiến, cơ sở điều trị do quân đội đảm nhiệm đã tiếp nhận, điều trị 24.302 bệnh nhân; điều trị khỏi 19.834 bệnh nhân. Các bệnh xá, tổ quân y cơ động điều trị khỏi 321.608 ca F0 cộng đồng; cấp thuốc điều trị cho 492.051 người; cấp cứu 41.969 ca; thực hiện lấy mẫu xét nghiệm 2.289.544 người; tiêm vaccine 1.996.852 người. Quân đội còn phối hợp với các lực lượng vận chuyển 25.457 tấn hàng hóa; tích cực ủng hộ, giúp đỡ người lao động, gia đình nghèo trong tâm dịch giảm bớt khó khăn. Đến ngày 14-10-2021, toàn quân đã ủng hộ đồng bào vùng dịch với tổng trị giá hơn 1.003 tỷ đồng.

 

Chuẩn mực văn hóa thời kỳ mới


77 năm qua, xuất hiện ban đầu là tên gọi “Bộ đội ông Ké”, sau đó Bộ đội Cụ Hồ trở thành danh hiệu cao quý đối với những người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, trở thành một giá trị văn hóa quân sự Việt Nam nói riêng và một giá trị độc đáo của văn hóa Việt Nam nói chung.

1. Tên gọi Bộ đội Cụ Hồ là hiện tượng rất độc đáo không chỉ trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc Việt Nam mà còn của văn hóa Việt Nam. Ít thấy có dân tộc nào trên thế giới mà nhân dân lấy tên lãnh tụ tối cao của mình đặt cho quân đội. Đây là sự biểu hiện cao nhất tình yêu và niềm tin của quần chúng dành cho người lính.

77 năm qua, xuất hiện ban đầu là tên gọi “Bộ đội ông Ké”, sau đó Bộ đội Cụ Hồ trở thành danh hiệu cao quý đối với những người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, trở thành một giá trị văn hóa quân sự Việt Nam nói riêng và một giá trị độc đáo của văn hóa Việt Nam nói chung. Danh hiệu đó thấm sâu trong đời sống quân đội, được “truyền dẫn” từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Là một giá trị văn hóa của dân tộc, cũng như lòng yêu nước, ý chí vì độc lập, tự do của Tổ quốc, giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ được giữ gìn, bảo vệ tính bền vững và sự phát triển của nó, dù trong bất kỳ thời kỳ lịch sử nào. Mặt khác, sự ra đời và phát triển một kiểu nhân cách như Bộ đội Cụ Hồ không bao giờ là một quá trình tự nhiên mà có, đó là một cuộc đấu tranh đầy tâm huyết, trí tuệ, một công việc cực kỳ công phu, tinh tế và sâu sắc như nghiệp “trồng người”, cần trăm năm nuôi dưỡng và chăm sóc như Bác Hồ từng căn dặn.

2. Để tiếp tục xây dựng, củng cố và phát triển giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ, chúng ta đang đứng trước những thuận lợi, thời cơ và thách thức mới, từ bên ngoài tác động vào quân đội và từ ngay bên trong quân đội.

Chặng đường lịch sử 77 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn được nhân dân gửi gắm trọn vẹn niềm tin. Đặc biệt khi xảy ra thiên tai, dịch bệnh, quân đội bao giờ cũng là lực lượng xung kích đi đầu. Ví như đại dịch Covid-19 thời gian qua, đã có hàng vạn cán bộ, chiến sĩ ngày đêm thầm lặng, kiên cường vượt qua những thử thách khắc nghiệt nhất, cùng các lực lượng ngăn chặn đại dịch, mang lại cuộc sống yên bình cho nhân dân. Đó là những minh chứng rõ ràng về giá trị văn hóa tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ đang được gìn giữ, phát huy cao độ, được Đảng, Nhà nước và nhân dân tôn vinh, ghi nhận.

Tuy vậy, chúng ta cũng đứng trước những đòi hỏi mới, cao hơn, những thách thức mới phức tạp hơn, đa chiều hơn. Trong văn kiện của Đảng các kỳ đại hội gần đây đã chỉ rõ những biến đổi to lớn, phức tạp, khẩn trương và khó lường của tình hình thế giới, trong nước, đã và đang tác động trực tiếp vào môi trường quân đội, đòi hỏi sự tỉnh táo, bản lĩnh và năng lực đổi mới, sáng tạo trong xây dựng quân đội, nhất là giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ. Đặc biệt, các thế lực thù địch đang ráo riết truyền bá tư tưởng “phi chính trị hóa" quân đội, đối lập quân đội với Đảng và hệ thống chính trị. Âm mưu của kẻ thù hòng xóa bỏ danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ, biến người chiến sĩ trở thành công cụ, tách rời lý tưởng và sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Vì vậy, vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong giai đoạn hiện nay là giáo dục, rèn luyện người chiến sĩ phải tỉnh táo, nắm vững đối tượng tác chiến của quân đội trong tình hình mới. Bởi nếu chệch mục tiêu này, phẩm chất căn cốt nhất của Bộ đội Cụ Hồ không thể giữ vững: “Kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Vấn đề môi trường quân đội đang và sẽ chịu những biến đổi, tác động mạnh mẽ, khác nhiều với môi trường quân đội trong những năm kháng chiến. Sự thu hút, hấp dẫn của nó so với các môi trường khác có phần giảm đi vì thanh niên hiện nay có rất nhiều sự lựa chọn khác. Theo thời gian, đúng với quy luật của nó, số sĩ quan chỉ huy trải qua chiến đấu ngày càng giảm đi, bộ đội tình nguyện không còn nữa, thay vào đó là chiến sĩ thực hiện nghĩa vụ quân sự thuần túy. Những biến đổi trong tư tưởng, suy nghĩ, tình cảm, nguyện vọng... của cán bộ, chiến sĩ đang diễn ra đa chiều, phức tạp hơn. Nhu cầu về đãi ngộ, chế độ, chính sách, nghề nghiệp, quan hệ giữa chỉ huy và phục tùng, cấp trên, cấp dưới, kể cả những biểu hiện tiêu cực xâm nhập vào đơn vị, như: Lợi ích kinh tế, nạn chạy chức, chạy quyền, tham nhũng, hối lội, nhận hối lộ... Chúng ta cần nhìn thẳng vào những thách thức đó để đổi mới sâu sắc và sáng tạo hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị, tư tưởng, văn hóa trong quân đội nhằm xây dựng hiệu quả chuẩn mực văn hóa Bộ đội Cụ Hồ trước những thách thức ngày càng gay gắt.

Một cựu chiến binh từng trải qua những năm tháng cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đã tâm sự trong hồi ký của mình: “Nếu như trong chiến tranh, tình đồng đội là cao cả, giữa chỉ huy và lính tráng sống không có khoảng cách, không có sự phân chia quyền lợi, sống chết có nhau thì sau chiến tranh, khi không còn cái chết cận kề, tình thân giữa cán bộ, chiến sĩ ở nhiều đơn vị như đang có dấu hiệu phai nhạt dần. Người ta đối xử với nhau bằng mệnh lệnh chứ không phải bằng tinh thần đồng đội". Chúng ta biết rằng, tình đồng đội là một giá trị vô cùng quý báu trong phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Sự "phai nhạt dần", “đối xử với nhau bằng mệnh lệnh" được kể lại như trong hồi ký trên rõ ràng là một thách thức mới đối với môi trường quân đội hiện nay.

3. Trước những đòi hỏi và thách thức mới, một câu hỏi tất yếu đặt ra là, làm gì và làm như thế nào để tiếp tục củng cố, giữ gìn, phát huy và phát triển các giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới? Đây là một câu hỏi lớn và những năm qua, trong quân đội, chúng ta đã nỗ lực rất nhiều để giải đáp nó. Song, phía trước còn nhiều vấn đề cần đầu tư suy nghĩ. Trong bài viết này, với gần 25 năm trong quân ngũ và sự trải nghiệm nghiên cứu khoa học của mình, người viết xin nêu vắn tắt mấy đề xuất sau:

Khi nói về công tác giáo dục trong quân đội, Bác Hồ căn dặn: “Người trước, súng sau”. Phải chăng, Người đã chỉ ra một yếu trọng đối với quân đội cách mạng trước hết là phải giáo dục, xây dựng bản lĩnh, trình độ chính trị, lý tưởng cách mạng, phẩm chất đạo đức, vẻ đẹp tinh thần, sự phong phú, lành mạnh của tâm hồn và lối sống... của người cầm súng và chỉ trên cơ sở vững chắc đó mới rèn luyện kỹ, chiến thuật, “cách” sử dụng vũ khí... Mặt khác, cần luôn nghĩ rằng, giáo dục chính trị không bao giờ được coi là đã hoàn thành sau khi lên lớp theo quy định, thậm chí là “rao giảng chay” các bài học về chính trị. Cách làm đó không phải là con đường tối ưu vào được thế giới tinh thần, tình cảm, trí tuệ của người chiến sĩ hôm nay, mà công tác Đảng, công tác chính trị cần nâng cao năng lực, phương pháp, cân bằng toàn bộ hoạt động thực tiễn; cần sự nêu gương để tác động tổng hợp đến bộ đội, để chuyển hóa những nhận thức, yêu cầu về chính trị thành niềm tin tự giác, thành tình yêu, thành phẩm chất bên trong bền vững của từng cán bộ, chiến sĩ.

Trước yêu cầu, đặc điểm của thời kỳ mới, cần nghiên cứu và xác định các giá trị căn bản, cốt lõi, bền vững và đặc thù để tập trung thống nhất trong công tác tuyên truyền, giáo dục cán bộ, chiến sĩ thời kỳ mới; bảo đảm thuyết phục hơn, hấp dẫn hơn trong những bài giảng về các giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ để người chiến sĩ tự hào, tự nguyện, tự giác noi theo, vươn lên như chính nhu cầu, mong ước của bản thân. Đồng thời, để đáp ứng đòi hỏi của thời kỳ mới, cần tổng kết thực tiễn, tiếp cận và bổ sung những chuẩn mực, giá trị mới đang hình thành trong đời sống quân ngũ thời kỳ 4.0 và hội nhập quốc tế, để cán bộ, chiến sĩ vừa đáp ứng tốt nhất nhiệm vụ của mình trong quân đội, vừa có khả năng tiếp cận, nối tiếp nhiệm vụ xã hội khi rời quân ngũ.

Từ nhiều năm qua, môi trường quân đội đã trở thành trường học lớn, cái nôi nuôi dưỡng, hình thành và định hình những phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ. Những năm sắp tới, môi trường đó đang đứng trước những thách thức không nhỏ. Để vượt qua nó, cần kiên quyết, kiên trì, có kế hoạch tập trung củng cố một cách vững chắc môi trường văn hóa trong các đơn vị quân đội, trước hết, chú trọng giảm thiểu tối đa các tác động xấu độc từ bên ngoài; ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực đang xuất hiện trong quân đội. 

Cùng với đó, công tác đào tạo trong quân đội phải luôn giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình "trồng người”. Do đó, bồi dưỡng các chuẩn mực giá trị Bộ đội Cụ Hồ cần thường xuyên được quan tâm, chú trọng. Những năm qua, quy mô, chương trình, nội dung đào tạo trong các học viện, nhà trường quân đội đang được đổi mới, đáp ứng nhu cầu mới của sự phát triển quân đội. Tuy nhiên, cần chú trọng hơn nữa giáo dục khoa học xã hội và nhân văn đối với tất cả các loại hình nhà trường trong quân đội. Cùng với các nội dung cơ bản, cần gắn chặt với thực tiễn và giải đáp những vấn đề mới, thách thức mới và những nhu cầu mới đang đặt ra. VD

 

Hai đối thoại văn hóa của thời đại!


Những bài thơ chúc Tết của Bác Hồ vượt lên trên ý nghĩa của một phong tục văn hóa, mang ý nghĩa kêu gọi, động viên đồng bào, còn là một đối thoại với thế giới, với nhân loại. Thế nên, cứ thường vào dịp Tết đến, xuân về, Bác đều làm thơ chúc Tết, mỗi lời chúc đều tỏa những ánh sáng ý nghĩa văn hóa rất đặc biệt. Bài thơ "Chúc năm mới" năm 1942 có thể xem là bài thơ xuân đầu tiên Bác dành tặng toàn thể đồng bào mình. Cũng năm 1942, Bác còn công bố bài thơ "Lịch sử nước ta", một tác phẩm mang rất nhiều ý nghĩa đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta hiện nay..

Cách đây 80 năm, dịp Tết Nhâm Ngọ 1942, ở hang Cốc Bó, Bác Hồ viết bài thơ “Chúc năm mới” in trên Báo Việt Nam độc lập, số 114, ngày 1-1-1942. Thời điểm này, Chiến tranh thế giới thứ hai đang căng thẳng, phát xít Đức cùng phe xâm lược đang tạm chiếm ưu thế, nhưng với nhãn quan chiến lược toàn cầu, tác giả có lời chúc: “Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong!/ Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi”. Hai câu thơ ở hai thế tương phản trời vực có hai chữ “sẽ” khẳng định chắc chắn một tương lai. Lịch sử chứng minh lời chúc này là lời chúc của chân lý, của chính nghĩa, của lịch sử, của thời đại. Tiếp đó là lời chúc, đồng thời là một nguyên lý chiến lược: “Chúc đồng bào ta đoàn kết mau!/ Chúc Việt Minh ta càng tấn tới!”.

Đáng chú ý, hình tượng Quốc kỳ đã bay phấp phới trong thơ để “nói” với thế giới về một Việt Nam mới sắp ra đời: “Chúc toàn quốc ta trong năm này/ Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới!/ Năm này là năm rất vẻ vang/ Cách mệnh thành công khắp thế giới”. Bài thơ 10 câu là một hình thức phá cách truyền thống (8 câu) để nói về sự phá cách ở nội dung: Sự thay đổi của tình hình thế giới và Việt Nam. Đến đây, ta hiểu lý do lời chúc mở đầu là “chúc năm mới” theo thông lệ phong tục, rồi chúc: “Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong...”, tiếp đó mới là lời chúc “Chúc đồng bào...”: Cách mạng Việt Nam vận động gắn liền, chịu sự chi phối của tình hình đại cục thế giới. Sự tinh tế này chỉ có ở những thiên tài chính trị như Bác Hồ!

Cũng cách nay 80 năm, ngày 1-2-1942, trên Báo Việt Nam độc lập, số 117 có in bài báo "Nên học sử ta". Cùng tháng đó, "Lịch sử nước ta" được Việt Minh Tuyên truyền Bộ xuất bản. Kế thừa truyền thống diễn ca, cụ thể là "Thiên Nam ngữ lục" (viết theo lệnh chúa Trịnh) và "Đại Nam quốc sử diễn ca" (viết theo yêu cầu của triều đình nhà Nguyễn) nhưng đứng trên quan điểm nhân dân, "Lịch sử nước ta" lý giải sự thăng trầm, thành bại của lịch sử là do dân: “Xét trong lịch sử Việt Nam/ Dân ta vốn cũng vẻ vang anh hùng...”. Tác phẩm gồm 208 câu diễn ca lịch sử nước nhà từ thời “Hồng Bàng là tổ nước ta” đến thời điểm công bố tác phẩm-năm 1942, trong tổng số 1.456 chữ, có tới 18 chữ dân.

"Lịch sử nước ta" diễn ca khoảng 30 nhân vật lịch sử nhưng không miêu tả diện mạo ngoại hình mà chú trọng vào phương diện phẩm chất, miêu tả tính cách theo nguyên tắc khái quát hóa cao độ, nhân vật luôn gắn liền với một giai cấp, tầng lớp nào đó. Thánh Gióng gắn liền với “thiếu niên”, “trẻ con” nhưng đã là bậc “cứu nước”: “Thiếu niên ta rất vẻ vang/ Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời/ Tuổi tuy chưa đến chín mười/ Ra tay cứu nước dẹp loài vô lương”. Bà Triệu tiêu biểu cho “tài năng dũng cảm” của phụ nữ: “Tài năng dũng cảm hơn người/ Khởi binh cứu nước muôn đời lưu phương/ Phụ nữ ta chẳng tầm thường/ Đánh Đông, dẹp Bắc làm gương để đời”. Nhân vật lịch sử được đề cập nhiều nhất (6 câu thơ) là Trần Quốc Toản, một tấm gương của “trẻ con Nam Việt”: “Thật là một đấng anh hùng/ Trẻ con Nam Việt nên cùng noi theo...”. Rõ ràng, "Lịch sử nước ta" được viết ra với mục đích khơi gợi niềm tự hào dân tộc, ý thức về giá trị, bổn phận và trách nhiệm của các tầng lớp, giai cấp trong xã hội đối với đất nước.

Có thể coi "Lịch sử nước ta" là một cuốn chính sử rút gọn được viết bằng văn vần thể hiện ở tính chính xác, khoa học, hệ thống, toàn diện, không thiên kiến. Tác phẩm nhấn mạnh cội nguồn sức mạnh của lịch sử là sự đoàn kết toàn dân, có đoàn kết thì có thắng lợi và ngược lại: “Ta không đoàn kết bị người tính thôn.../ Vì dân hăng hái kết đoàn/ Nên khôi phục chóng giang san Lạc Hồng...”. Đặc biệt, ở đoạn cuối, các từ đoàn kết, kết đoàn, đồng lòng được nhắc đi nhắc lại như nhắn nhủ, như tâm tình, như tha thiết kêu gọi: “Người chúng ít, người mình đông/ Dân ta chỉ cốt đồng lòng là nên/ Hỡi ai con cháu Rồng Tiên/ Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau/ Bất kỳ nam nữ, nghèo giàu/ Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn...”.

"Lịch sử nước ta" bám sát vào cái lõi lịch sử, diễn ca đúng với phong cách thơ Hồ Chí Minh, dễ hiểu, ngắn gọn, hàm súc, giàu sức khái quát. Sức lôi cuốn của tác phẩm thể hiện ở sự trung thực với lịch sử; ở quan điểm biện chứng coi dân là nhân tố cơ bản nhất tạo ra, làm nên lịch sử; nhất là ở vấn đề phân tích, lý giải lịch sử thời hiện tại. Các tính từ ngợi ca được dùng với mật độ dày đặc: Rực rỡ, thuận hòa, vẻ vang, tiếng vang, đại tài, tiếng thơm, tạc đá vàng, tài năng, dũng cảm, làm gương, phi thường, hiền thần, quang vinh, hiền minh, hiển vinh... mà tác giả dùng để ghi nhận, khẳng định các bậc tổ tiên đã xứng đáng “Oanh oanh liệt liệt con Rồng cháu Tiên”. Điều này hoàn toàn tương phản với đoạn nói về hiện tình nô lệ: “Ngày nay đến nỗi nghèo hèn/ Vì ta chỉ biết lo yên một mình/ Để người đè nén, xem khinh/ Để người bóc lột ra tình tôi ngươi”. Đoạn thơ mang cấu trúc nhân quả đáng chú ý, chỉ một nguyên nhân: "Vì ta chỉ biết lo yên một mình" nằm ở vị trí giữa đoạn như cái bản lề khép mở 3 kết quả (nghèo hèn; để người đè nén; để người bóc lột) ở 3 câu thơ còn lại. Như vậy, "Lịch sử nước ta" không chỉ tái hiện lịch sử, làm sống lại niềm tự hào dân tộc trong quá khứ, quan trọng hơn là chỉ ra nguyên nhân của bi kịch nô lệ và giải pháp “khôi phục nước nhà tổ tông”. Không chỉ là một công trình khoa học lịch sử, tác phẩm còn là một đề cương chính trị cho cách mạng Việt Nam. Lời diễn ca đã vượt thoát giới hạn lời của một cá nhân để vươn tới tầm là lời của lịch sử, có giá trị phổ quát rộng rãi. Không ngẫu nhiên, trong tài liệu gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, tác giả không đề tên hay bất cứ bút danh nào, trong suốt diễn ca, cái tôi tác giả hoàn toàn vắng bóng. Điều này hoàn toàn khác với diễn ca lịch sử thời trung đại, cái tôi tác giả nhiều khi cứ "nhảy xổ" ra lộ liễu. Vì thế, lời văn trong "Lịch sử nước ta" hướng tới tất cả cộng đồng, ai cũng cảm thấy cá nhân mình có trong đó. Do vậy, chữ “ta”: Nước ta, dân ta, thiếu niên ta, phụ nữ ta, ta, chúng ta mang sắc thái tu từ vừa như ràng buộc, vừa như nhắc nhở mọi người ý thức về bổn phận và nghĩa vụ của mình với cộng đồng.    

Sau phần chính văn "Lịch sử nước ta" là NHỮNG NĂM QUAN TRỌNG (in hoa) ghi lại những sự kiện trọng đại, kết lại là một tiên đoán: 1945-Việt Nam độc lập. Đây là một tiên đoán chỉ có được ở tầm một thiên tài nhờ nắm chắc những diễn biến, quy luật của lịch sử và sự nhạy cảm của một nhãn quan chính trị không chỉ trong một quốc gia, khu vực mà còn của toàn cầu, của cả thời đại. 

Nằm trong mạch diễn ca lịch sử của dân tộc, kế thừa thành tựu có trong truyền thống, "Lịch sử nước ta" kết tinh một đỉnh cao mới. Chất văn của tác phẩm là tình yêu dân, yêu nước tha thiết, là tâm huyết sâu nặng với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đi theo hình thức lục bát quen thuộc dễ đọc, dễ nhớ, dễ truyền khẩu nhưng lại để diễn tả một nội dung mang tính chính luận mạnh mẽ, hấp dẫn, lôi cuốn. Ý nghĩa văn học của tác phẩm còn thể hiện ở hiệu ứng xã hội. Đặt vào thời điểm năm 1942, khi ấy toàn dân ta đang khao khát một cuộc cách mạng. Nhà Nguyễn ngày càng bộc lộ sự thối nát, phản động. Cả xã hội đang mong chờ một tiếng nói phản biện lịch sử với quan điểm sai trái có trong "Đại Nam quốc sử diễn ca": Triều Tây Sơn là giặc, triều Nguyễn có công với nước. Nhất là cả dân tộc đang cần một tiếng nói kêu gọi thức tỉnh... "Lịch sử nước ta" ra đời đáp ứng những đòi hỏi ấy có tác động rất lớn đến mọi người dân yêu nước, đến phong trào cách mạng đang ở thời điểm bản lề có tính quyết định đến vận mệnh cả dân tộc!

Giới nghiên cứu sử học sẽ trả lời giúp chúng ta câu hỏi: Trong hoàn cảnh rất thiếu về tư liệu nhưng tại sao tác phẩm lại có những cứ liệu, những nhận định chính xác, thỏa đáng như vậy? Soi chiếu từ góc nhìn triết học văn hóa, chúng ta khẳng định hai tác phẩm trên là mẫu mực của đối thoại văn hóa cùng một giải pháp văn hóa cách mạng nhất! VD

 

Phố mới mang tên Hoàng Minh Thảo

 Nghị quyết của HĐND TP Hà Nội căn cứ tờ trình của UBND TP Hà Nội, trên cơ sở công văn của Bộ Quốc phòng giới thiệu danh nhân quân đội để đặt tên đường, phố trên địa bàn Hà Nội. Con phố mang tên Thượng tướng, Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hoàng Minh Thảo là một con phố mới mở, dài 2.100m, rộng 60,5m với hai hàng cây thẳng tắp, nối giữa đường Phạm Văn Đồng và đường Võ Chí Công, chạy qua các khu đô thị mới Embassy Garden (Vườn Đại sứ), Tây Hồ Tây, gần Công viên Hòa Bình thuộc quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội.


Cựu chiến binh, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế hệ học trò, cán bộ cấp dưới của ông Hoàng Minh Thảo chắc hẳn đều cảm thấy vui mừng và không khỏi tự hào khi nhận được thông tin này. Bởi tên ông được đặt cho một con phố mới rất đẹp giữa Thủ đô Hà Nội, chính là sự ghi nhận của quân đội, của TP Hà Nội và nhân dân với những đóng góp lớn lao của ông trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, với sự nghiệp đào tạo cán bộ quân sự cho quân đội, cho Đảng ta...

Cuộc đời, sự nghiệp và những đóng góp của ông ở chiến trường nói riêng, với Quân đội ta nói chung đã được công bố trong rất nhiều cuốn sách và các bài viết của những nhà nghiên cứu, các đồng đội và học trò của ông, nhất là trong dịp kỷ niệm 100 năm sinh Giáo sư (1921-2021) vừa qua.

Thượng tướng, Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hoàng Minh Thảo là vị tư lệnh xuất sắc trên chiến trường, đã góp phần đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trong thế kỷ 20. Giai đoạn kháng chiến chống Pháp, ông từng là Tư lệnh Chiến khu 3, Phó tư lệnh Liên khu 3, rồi Tư lệnh Liên khu 4, Tư lệnh Sư đoàn 304 cùng toàn quân lập nhiều chiến công.

Thời kỳ ông đảm trách Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên (B3) trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là những năm bộ đội và nhân dân ta gặp muôn vàn khó khăn khi đương đầu với quân đội Mỹ trang bị hiện đại, ông đã nhanh chóng tìm ra cách đánh buộc những đơn vị sừng sỏ nhất của quân đội Mỹ phải đánh theo cách đánh của ta như “chốt kết hợp vận động tấn công”. Những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trên chiến trường B3 chưa đủ binh khí để công phá các loại công sự vững chắc của địch, ông đã tìm ra cách đánh “bao vây đánh lấn” bằng các bước: “Vây-lấn-tấn-phá-triệt-diệt” buộc quân đội Mỹ chịu nhiều trận thua đau.

Chiến thuật đánh địch ngoài công sự và chiến thuật đánh địch trong công sự vững chắc được ông tổng kết từ chiến trường Tây Nguyên đã phổ biến tới các chiến trường toàn quốc. Tiếp đến các chiến dịch đánh Mỹ, diệt ngụy liên tiếp diễn ra như: Chiến dịch Xuân-Hè năm 1972 diệt lính dù-lực lượng tổng dự bị tinh nhuệ nhất của quân đội ngụy-trên tuyến bờ tây sông Pô Kô.

Trong chiến dịch đập tan cụm cứ điểm Đăk Tô mà Mỹ-ngụy từng huênh hoang tuyên bố: “Bao giờ nước sông Pô Kô chảy ngược, Quân giải phóng mới đến được Đăk Tô”, mặt trận B3 bằng thế trận, bằng mưu lược, bằng hành động bất ngờ đã khiến kẻ địch phải thất bại cay đắng, tướng cố vấn Mỹ John Paul Vann và tư lệnh sư đoàn 22 ngụy Lê Đức Đạt chết trận. Chỉ trong một thời gian ngắn ta đã giải phóng một vùng rộng lớn Bắc Kon Tum, làm bàn đạp để năm 1975 ta mở chiến dịch giải phóng Tây Nguyên, tạo ra đột biến chiến lược đi tới đại thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Trải qua các thời kỳ công tác tại Học viện Quân sự, rồi Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng)... GS Hoàng Minh Thảo đều chuyên tâm đi sâu nghiên cứu các trận đánh, các chiến dịch, các mưu kế, thế trận của tổ tiên ta qua những cuộc chiến tranh chống xâm lược từ phương Bắc; kết hợp với những kinh nghiệm thực tế diễn ra trên chiến trường chống Pháp, đánh Mỹ-ngụy và bài học chiến tranh của các nước trong thế kỷ 20, đúc kết thành tài liệu, giáo trình của nhà trường để trực tiếp giảng dạy cho học viên.

Có những buổi giảng dạy về nghệ thuật quân sự Việt Nam, ông say sưa nói về chiến dịch chống quân Tống của Thái úy Lý Thường Kiệt vào thế kỷ 11, trước khi chuyển vào phòng ngự đã chủ động đưa quân vượt biên giới phá hủy cơ sở vật chất kỹ thuật của quân Tống, rồi quay về lập chiến tuyến trên sông Như Nguyệt (sông Cầu) đánh bại cuộc tấn công quy mô lớn của quân Tống cùng với lời tuyên ngôn độc lập đanh thép: “Nam quốc sơn hà nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/ Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.

Học viên của ông nhiều người là chỉ huy có tài trên chiến trường, nhiều người trở thành tướng lĩnh tiêu biểu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Theo lời của một số học trò của Giáo sư Hoàng Minh Thảo thì ông thuyết trình uyên bác, diễn tả khúc chiết quá trình quân dân Đại Việt đánh bại cuộc xâm lược của đế quốc Mông Cổ lần thứ nhất, lần thứ hai và đánh bại cuộc xâm lược của đế quốc Nguyên Mông lần thứ ba.

Cuối cùng, ông tóm lại, những chiến công oanh liệt như: Đông Bộ Đầu, Hàm Tử, Chương Dương, Thăng Long, Tây Kết, Vạn Kiếp, Bạch Đằng đã khiến kẻ thù ngày càng khiếp sợ. Thắng lợi liên tiếp của 3 cuộc kháng chiến trong 30 năm đã đánh gục hoàn toàn ý đồ xâm lược của đế quốc Nguyên Mông, bảo đảm cho dân tộc ta được sống trong hòa bình hơn 100 năm sau chiến tranh cho đến khi đế quốc Nguyên Mông sụp đổ...

Qua thực tiễn chỉ huy chiến đấu, từ cấp phân đội lên đến cấp chiến dịch, chiến lược và từ công tác nghiên cứu, đào tạo cán bộ quân sự, ông Hoàng Minh Thảo đã rút ra những bài học sâu sắc nhất về nghệ thuật quân sự, truyền dạy cho học trò của ông và cho cả thế hệ kế tiếp bằng ngôn từ quân sự dễ nhớ, dễ hiểu:
Biết địch biết ta trăm trận không nguy
Mưu cao nhất là mưu lừa địch
Kế hay nhất là kế điều địch
Thế tốt nhất là thế chia cắt địch

Thời đẹp nhất là lúc địch thiếu phòng bị

Mưu sinh ra kế-thế sinh ra thời
Đánh bằng mưu kế-thắng bằng thế thời.

Có thể nói, ông Hoàng Minh Thảo là vị giáo sư thông tuệ, tâm huyết, mẫu mực, nhiều kinh nghiệm thực tiễn chiến trường và đã có công lao đào tạo cho đất nước một đội ngũ cán bộ quân sự trung-cao cấp đáp ứng kịp thời xây dựng quân đội tinh nhuệ, thiện chiến đánh thắng kẻ thù, bảo vệ Tổ quốc. Những tác phẩm uyên thâm của ông về nghệ thuật quân sự Việt Nam, những chiến công xuất sắc của ông góp phần đánh thắng hai đế quốc to đã được ghi đậm trong lịch sử quân sự Việt Nam.

Năm 2008, trong bức thư chia buồn với gia quyến khi biết tin Thượng tướng, Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hoàng Minh Thảo đột ngột từ trần, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết mấy dòng như sau: “Đồng chí Hoàng Minh Thảo sớm tham gia cách mạng, là một người cộng sản kiên trung, một vị tướng có đức độ và tài thao lược. Đồng chí đã có nhiều công lao trong cuộc kháng chiến lâu dài giải phóng dân tộc và trong sự nghiệp đào tạo cán bộ, xây dựng quân đội tiến lên chính quy hiện đại, phát triển nền khoa học quân sự Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Suốt cuộc đời, Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo đã hết lòng phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân, phục vụ quân đội, yêu thương đồng chí, đồng đội, hoàn thành mọi nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao phó; nêu một tấm gương sáng mẫu mực cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta. Đối với tôi, đồng chí Hoàng Minh Thảo là một người đồng chí, người bạn chiến đấu rất thân thiết, thủy chung. Tôi luôn đặt niềm tin vào đồng chí trong mọi nhiệm vụ”.

Đầu xuân này, nhân dân phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội sẽ vui mừng đón nhận quyết định gắn tên vị tướng tài ba, đức độ cho một con phố trên địa bàn mình. Một con phố rộng, thoáng giữa khu đô thị mới kiểu mẫu, nối hai con đường lớn mang tên Phạm Văn Đồng-Võ Chí Công. Hy vọng, người dân Thủ đô sẽ góp công sức giữ cho tuyến phố Hoàng Minh Thảo luôn xanh, sạch, đẹp và ngày càng văn minh, hiện đại, xứng đáng với công lao đóng góp của ông cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. VD