Thứ Sáu, 18 tháng 2, 2022

BỘ MẶT CỦA KẺ MƯỢN DANH NHÂN QUYỀN ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

 

Việt Nam, các thế lực thù địch sử dụng nhiều phương thức thủ đoạn chống phá, với mức độ ngày càng quyết liệt. Các hội, nhóm chống phá tổ chức nhiều cuộc điều trần, hội thảo, họp báo, ra tuyên bố, ban hành một số nghị quyết, báo cáo… vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam, đòi gắn viện trợ nhân đạo song phương, đa phương với những đòi hỏi về cải thiện dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do báo chí ngôn luận…, hậu thuẫn tổ chức phi chính phủ thông qua việc triển khai các dự án để “thúc đẩy”, “cải thiện nhân quyền”, khích lệ các đối tượng phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài và số đối tượng chống đối trong nước gia tăng hoạt động.

Nhiều tổ chức như Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW), Ân xá quốc tế (AL), Freedom House (FH)… trong báo cáo hàng năm, một mặt thừa nhận Việt Nam có chuyển biến tích cực nhưng vẫn cố ý đánh giá tiêu cực về tình hình nhân quyền Việt Nam.

Một số tổ chức “khoác áo nhân quyền” điển hình

Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW - Human Rights Watch) là một tổ chức phi chính phủ nghiên cứu và cổ vũ cho nhân quyền, có trụ sở tại thành phố New York, Hoa Kỳ cùng văn phòng ở thủ đô và thành phố lớn nhiều nước như Hà Lan, Đức, Bỉ, Thụy Sĩ, Anh, Nga, Pháp, Nhật, Canada... HRW thông qua vấn đề “nhân quyền” hướng tới thành lập các tổ chức hoạt động chống CNXH dưới danh nghĩa “bảo vệ nhân quyền” đã mở ra một điều kiện mới để Mỹ, các nước phương Tây tăng cường hoạt động tác động về tư tưởng, văn hóa, dân chủ, nhân quyền vào các nước Đông Âu, Liên Xô trước đây.

Theo như tuyên bố tôn chỉ, mục đích hoạt động của tổ chức này là vì nhân quyền, tuy nhiên trên thực tế, HRW lại không bảo vệ quyền con người theo đúng nghĩa mà ngược lại, thường tìm cách can thiệp vào việc xử lý của các cơ quan chức năng một số nước.    

Nhiều quốc gia (Nga, Trung Quốc, Đức, Cuba, Sri Lanka...) đã phê phán, công kích tổ chức này hoạt động không đúng tôn chỉ, mục đích. Trung Quốc đã áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với HRW do có những hành động vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, các quy tắc cơ bản của quan hệ quốc tế khi can thiệp vào các vấn đề nội bộ của nước này. Tại Thái Lan, trang web của HRW bị cấm hoạt động. Chính phủ Đức, Cuba, Sri Lanka, Triều Tiên,... ở mức độ khác nhau, đã chỉ trích hoặc phản đối HRW vì đã can thiệp làm phức tạp tình hình, gây khó khăn cho việc bảo đảm nhân quyền tại các nước này.

Đối với Việt Nam, HRW cổ súy, tán dương với những nhân vật hoạt động chống đối Nhà nước, vi phạm pháp luật. Tổ chức này thường xuyên phác thảo ra những bản báo cáo, phúc trình xuyên tạc tình hình nhân quyền và can thiệp vào công việc nội bộ Việt Nam.

Tổ chức Ân xá quốc tế (AI - Amnesty International) là một tổ chức phi chính phủ. Tổ chức này đã có các nhóm hoạt động hoặc thành lập ở nhiều nước như: Đức, Bỉ, Thụy Sĩ, Hà Lan, Na Uy, Thụy Điển, Ireland, Canada, Sri Lanka, Hy Lạp, Australia, Hoa Kỳ… Từ khi thành lập năm 1961 đến nay, AI tự cho mình có “trách nhiệm cao cả” trong bảo vệ quyền con người đã được nêu ra trong bản Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền và các chuẩn mực quốc tế khác.

Đối với Việt Nam, AI thường xuyên đưa ra các luận điệu xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền con người. AI đã núp bóng dưới một tổ chức mang danh nghĩa quốc tế để xác định mục tiêu hoạt động nhằm “giải phóng” cho cái gọi là “tù nhân lương tâm”, đưa ra những nội dung xuyên tạc, vu cáo một cách trắng trợn về tình hình các tù nhân trong các trại giam ở Việt Nam, từ đó lớn tiếng đòi thả tự do cho các “tù nhân lương tâm” - thực chất là số đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam; ra “yêu cầu” bảo đảm các phiên tòa diễn ra công khai và công bằng; giúp đỡ những người tìm chỗ nương náu chính trị…

Việc làm của AI đã can thiệp sâu vào công việc nội bộ các nước. Không riêng gì Việt Nam mà nhiều nước đã chỉ trích Tổ chức Ân xá quốc tế có thái độ thân phương Tây, nhất là có sự phân biệt ý thức hệ; phản đối AI về những báo cáo một chiều, không khách quan, thiếu thực tế.

Freedom House (FH) là một tổ chức phi chính phủ quốc tế có trụ sở tại Washington D.C (Mỹ), tự cho mình là tổ chức nhân quyền có “chức năng theo dõi tiến trình dân chủ hóa toàn cầu, cũng như khảo sát và nghiên cứu về tình trạng thực thi tự do chính trị cũng như các quyền tự do cơ bản của công dân tại các quốc gia trên thế giới”. Tổ chức này tự đặt ra cái gọi là “tiêu chuẩn để đánh giá nhân quyền và tự do của công dân”; từ đó không chỉ sử dụng để đánh giá, xếp hạng, mà còn sử dụng để truyền bá, cổ súy trên toàn thế giới, tự coi mình là “sứ giả dân chủ, nhân quyền” để xuyên tạc, vu cáo các nước mà tổ chức này xem là “chướng tai gai mắt”, cản trở cho lợi ích của họ.

Hình thành từ năm 1941 đến nay, FH thường xuyên có những hoạt động can dự vào công việc nội bộ các nước, đặc biệt tổ chức này luôn thể hiện thái độ thân phương Tây và thù hằn đối với các nước theo con đường XHCN, trong đó có Việt Nam. Trong cách hoạt động về tự do nhân quyền thì những năm gần đây, trước sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự bùng nổ mạnh mẽ của không gian mạng, tổ chức này đưa thêm hạng mục tự do trên Internet để đánh giá, xếp hạng nhân quyền các nước. Điều vô lý là FH đưa Việt Nam vào danh sách các nước không có tự do Internet. FH tán dương cho các hành động chống phá nhà nước, chế độ ở nước ta theo kiểu tự do vô lối “thích viết gì thì viết, thích làm gì thì làm” trên không gian mạng. Một số cá nhân sử dụng Internet để chống phá Việt Nam, nhất là trước các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước thì họ xem đó là “quyền tự do cá nhân” và những đối tượng có hành vi sai phạm trên không gian mạng phải chịu những chế tài của pháp luật lại xuyên tạc Việt Nam không có tự do trên Internet.

Bên cạnh những tổ chức trên còn có một số tổ chức, hội nhóm khác luôn tìm mọi cách để xuyên tạc vấn đề nhân quyền ở Việt Nam, thậm chí xem đó là phương thức tồn tại và hoạt động của tổ chức, hội nhóm mình như: Việt Tân, Chính phủ Việt Nam tự do, Đảng nhân dân hành động, Hiệp hội đoàn kết công nông, Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam, Ủy ban tự do tôn giáo cho Việt Nam... Đặc điểm chung của các tổ chức, hội nhóm trên đều được hậu thuẫn bởi các thế lực cực đoan trong chính giới ở một số cường quốc tư bản, xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam, đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc, nhằm lật đổ chế độ ở nước ta hiện nay.

Biến nhân quyền thành bình phong để chống phá

Các thế lực thù địch sử dụng đa dạng các phương tiện truyền thông đại chúng, các trang mạng xã hội với độ tương tác rộng, lan tỏa nhanh, các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là các mạng xã hội, xuất bản báo chí ở nước ngoài, sản xuất băng, đĩa hình chuyển về trong nước; tài trợ cho một số cơ quan báo chí nước ngoài chống phá Việt Nam (như VOA tiếng Việt, RFA, RFI, BBC Việt ngữ, HRW...) để tuyên truyền quan điểm đa nguyên, đa đảng, hạ bệ thần tượng, gây nghi kỵ, chia rẽ nội bộ, triệt để khai thác các sự kiện chính trị, những vấn đề nhạy cảm để mở các chiến dịch tuyên truyền chống Việt Nam.

Lợi dụng việc chúng ta thực hiện chính sách ngoại giao rộng mở, là bạn với tất cả các nước, các thế lực thù địch đã truyền bá mô hình lập pháp và nền dân chủ, lối sống tư sản phương Tây vào nước ta, thúc đẩy quyền tự do một cách quá trớn. Mặt khác, họ còn lợi dụng sự suy thoái về đạo đức, lối sống, tệ tham ô, quan liêu, tham nhũng và vi phạm pháp luật của một bộ phận cán bộ đảng viên để quy kết, bôi nhọ, đả kích vai trò lãnh đạo của Đảng, hủy hoại niềm tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, nhằm tác động chuyển hoá nội bộ từ bên trong, thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ tại Việt Nam.

Thông qua các hình thức tuyên truyền về chủ trương, sách lược, phương pháp chống Việt Nam, họ vận động một số nghị sĩ cực đoan trong quốc hội, chính phủ một số nước ban hành các dự luật, nghị quyết, báo cáo, phúc trình… bôi đen, xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam, từ đó hợp thức hoá sự ủng hộ, tài trợ kinh phí, móc nối, liên lạc với số bên trong để thu thập thông tin, tạo cớ để vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, tổ chức biểu tình, mít tinh ủng hộ cái gọi là “Tiếng nói đấu tranh đòi dân chủ” của số chống đối bên trong. Đặc biệt, chúng tăng cường lợi dụng vấn đề nhân quyền hòng gây sức ép, can thiệp sâu vào công việc nội bộ của Việt Nam với nhiều phương thức ngày càng nguy hiểm hơn./.

 


VIỆT NAM KHÔNG NGỪNG NỖ LỰC ĐỂ BẢO ĐẢM NHÂN QUYỀN CHO NHÂN DÂN

 

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân là mục tiêu phấn đấu”; “Phát triển con người toàn diện và xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”; “…con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng của đất nước”.

Quyền con người được khẳng định trong bản Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1992 và 2013. Hiến pháp năm 2013 có 11 chương, 120 Điều. Trong đó, chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là chương có điều luật nhiều nhất, gồm 36 điều (từ Điều 14 đến Điều 49).

Để có cơ sở pháp lý thúc đẩy và bảo vệ, bảo đảm quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã có những nỗ lực không ngừng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người. Tính từ năm 2014 đến nay, Quốc hội nước ta đã sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hơn 100 văn bản luật, pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong số đó có những luật cơ bản, quan trọng như: Bộ luật Hình sự 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015, Luật Trưng cầu dân ý 2015, Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016, Luật Trẻ em 2016, Luật Báo chí 2016, Luật Tiếp cận thông tin 2016, Luật An ninh mạng 2018, Luật Đặc xá 2018… Việc hoàn thiện khung pháp luật về quyền con người, quyền công dân nói trên đã phản ánh đúng bản chất của chế độ ta, đó là xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tăng cường cơ chế dân chủ, công khai để mọi cá nhân trong xã hội đều có thể tham gia xây dựng, quản lý xã hội, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước, cũng như tạo ra khuôn khổ pháp lý để các cơ quan nhà nước hoạt động tốt hơn, phục vụ tốt hơn nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân.

Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác ban hành. So với nhiều nước trong khu vực và các nước phát triển, Việt Nam không thua kém về số lượng là thành viên các công ước quốc tế về quyền con người. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản. Việt Nam đã phê chuẩn hoặc tham gia nhiều điều ước quốc tế về nhân quyền. Việt Nam luôn khẳng định trên thực tế là thành viên nỗ lực tham gia các công ước quốc tế với tinh thần, trách nhiệm cao nhất, được nhiều tổ chức quốc tế, các quốc gia đánh giá cao.

Mặc dù nước ta đang gặp không ít những trở ngại, thách thức do thiên tai, dịch bệnh và từ sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị nhưng vấn đề nhân quyền của Việt Nam luôn được thực thi trên thực tế. Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và vững chắc về nhân quyền. Điều đó không chỉ thể hiện ở những nỗ lực của chúng ta trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, mà còn được thể hiện ở việc bảo đảm quyền còn người, quyền công dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Điển hình như, Việt Nam là một trong sáu quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời hạn năm 2015 và được xem là tấm gương điển hình của cộng đồng quốc tế trong thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm, không ai bị bỏ lại phía sau của Liên hợp quốc. Theo Báo cáo “Phát triển con người năm 2019” được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố ngày 9/12/2019, với chỉ số HDI là 0,63, Việt Nam xếp thứ 118 trong tổng số 189 nước… Với những thành tựu trong việc tôn trọng, bảo đảm về quyền của con người, Việt Nam được tín nhiệm là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016). Tại khóa họp lần thứ 73, tại trụ sở Liên hợp quốc vào ngày 7/6/2019, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với số phiếu gần như tuyệt đối (192/193 phiếu). Gần đây, Việt Nam đã thực hiện tốt vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc với nhiều dấu ấn, đóng góp sáng tạo, thiết thực, trong đó có vấn đề bảo đảm quyền con người trước những thách thức do đại dịch COVID-19 gây ra, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao và làm cho vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng tăng trên trường quốc tế.

Thành tựu đảm bảo nhân quyền tại Việt Nam trên các lĩnh vực đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội, đặc biệt là những thành tựu của Việt Nam trong việc phòng, chống dịch COVID-19 và bảo đảm quyền sống là quyền cao nhất trong đại dịch COVID-19 là những minh chứng rõ nét nhất trong bảo đảm quyền của con người trước những biến cố, đại dịch mà người dân trên toàn thế giới phải trải qua.

Đánh giá về nhân quyền cần phải đảm bảo cách nhìn khách quan, toàn diện, không thể phán theo kiểu “thầy bói xem voi”, không thể lấy một số vụ việc tiêu cực, những hiện tượng sai lệch mà quy chụp thành bản chất. Những thông tin để làm căn cứ đánh giá, báo cáo, xếp loại nhân quyền Việt Nam của một số tổ chức quốc tế thiếu thiện chí đều khai thác từ số đối tượng thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị, số này luôn có những hành động hủy hoại mọi nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong vấn đề nhân quyền. Khi không có bất kỳ các hoạt động khảo sát, trải nghiệm vấn đề nhân quyền của một quốc gia thì mọi đánh giá về nhân quyền của quốc gia đó đều mang tính chủ quan, thiếu tính thực tiễn, sai lệch. Mặt khác, không thể mượn danh nhân quyền để tung hô cho lối sống tự do “vô pháp” để biện minh việc làm sai trái, quay lưng lại Tổ quốc, dân tộc./.

Chu Xuân Đại Thắng


NHẬN DIỆN CHIÊU TRÒ CHỐNG PHÁ NHÂN QUYỀN TRÊN MỘT SỐ LĨNH VỰC

 

Trong lĩnh vực pháp lý: Các thế lực thù địch không những đưa ra các luận điệu vô lý để phê phán một số điều luật hay văn bản pháp lý cụ thể của Việt Nam, nhất là họ tập trung đả phá Hiến pháp năm 2013 rồi cho đó là lạc hậu, trái với quy định và luật pháp, thông lệ quốc tế, từ đó lên giọng chỉ trích toàn bộ hệ thống pháp luật của Việt Nam, cho là thiếu hụt, khập khiễng, chưa phù hợp. Đồng thời, họ vin vào việc một số cán bộ, nhân viên Nhà nước vi phạm pháp luật để rêu rao cán bộ, nhân viên Nhà nước đứng ngoài pháp luật, kích động, kêu gọi mọi người không tuân thủ và không thi hành pháp luật. Họ lấy cớ số cá nhân lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để chống phá Nhà nước và chế độ bị cơ quan chức năng bắt giữ, khởi tố, xử lý theo pháp luật để vu khống Việt Nam vi phạm nhân quyền trong khi giải quyết các vấn đề cụ thể liên quan đến tự do cá nhân. 

Trong lĩnh vực văn hóa: Họ cố tình cắt xén, diễn giải một chiều theo ý đồ xấu, dựng chuyện Việt Nam không thực hiện đúng tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền như đã cam kết, đặc biệt là Điều 19 về quyền tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến; vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta rẻ rúng, nghi kỵ trí thức, đàn áp văn nghệ sỹ, bóp nghẹt tự do báo chí, tự do văn học nghệ thuật… Thổi phồng, đề cao, cổ súy cho số phần tử lợi dụng văn học nghệ thuật để bôi đen bức tranh hiện thực đất nước, hà hơi, tiếp sức cho những phần tử mà họ gọi là “dũng cảm lột xác” dám nhìn nhận lại bản chất đích thực của cuộc chiến tranh giải phóng của Việt Nam, xóa nhòa ranh giới giữa kẻ xâm lược và bọn tay sai với quân đội và quần chúng cách mạng, biến cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ thành cuộc “nội chiến” do “tham vọng của cộng sản” gây ra; ca ngợi chính quyền Sài Gòn theo kiểu hoài niệm, nhớ lại; cố tình gây chia rẽ, tạo ra tâm lý phân biệt vùng miền, làm giảm sự quyết tâm, đồng lòng của nhân dân cả nước trước những thách thức của thiên tai, dịch bệnh.

Thậm chí, họ còn phô trương bản chất “đạo đức giả” khi dựng lên các chương trình mang tính nhân văn, nhân đạo kêu gọi mọi người chung tay giúp đỡ nhau nhưng kỳ thực là trò lừa bịp. Các thế lực thù địch còn tuyên truyền, vận động dựng lên những “nhân vật tiêu biểu”, những màn kịch “trao giải thưởng quốc tế” cho những người “tiên phong trong cuộc đấu tranh vì tự do, vì dân chủ”, thực ra đó là những đối tượng chống đối, bất mãn; lợi dụng tình hình dịch COVID -19 đăng bài phỏng vấn liên tục các cá nhân “bất đồng chính kiến”, người lao động nghèo, yếu thế để chống phá.

Trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo: Lợi dụng sự việc các cơ quan chức năng bắt, điều tra, xử lý những đối tượng lợi dụng dân tộc và tôn giáo có hành vi chống đối, vi phạm pháp luật… để xuyên tạc và vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền. Một số cá nhân mượn danh nghĩa chức sắc, tín đồ tôn giáo được sự tiếp tay của các thế lực thù địch đã lợi dụng nhân quyền trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo để chống phá chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Các thế lực thù địch vừa tích cực rêu rao, vừa vu cáo Việt Nam không có tự do tín ngưỡng, không cho tự do hành đạo và đàn áp tôn giáo, chia rẽ các tôn giáo, đồng bào lương, giáo để chống lại chính sách đoàn kết, ổn định phát triển kinh tế…

Trong lĩnh vực thực hiện chính sách với tù nhân: Tù nhân là những cá nhân vi phạm pháp luật Việt Nam, phải chấp hành các chế tài theo luật định. Trong số các tù nhân này có người lợi dụng nhân quyền để chống phá lại chế độ, nhà nước ta. Thời gian qua, đây là một trong những điểm nóng, một mối quan tâm thường xuyên và cũng là một “mảnh đất” của các thế lực thù địch nhằm vào để can thiệp, vu cáo Nhà nước Việt Nam. Thông qua cơ chế của Liên hiệp quốc, qua nghị viện một số nước hoặc tổ chức phi chính phủ hoạt động về lĩnh vực này, số tổ chức, cá nhân phản động lưu vong cung cấp những thông tin sai lệch, xuyên tạc, mang tính quy chụp, dựng chuyện gửi các “kiến nghị”, “thư ngỏ” lên các tổ chức quốc tế thiếu thiện chí với Việt Nam để chống phá; đồng thời, cố tình đánh tráo bản chất, gieo rắc tâm lý bất an, gây hiểu nhầm, hiểu sai trong dư luận./.


LÀM RÕ BỘ MẶT THẬT CỦA ĐẠO “BÀ CÔ DỢ”

 

Vừ Thị Dợ (SN 1978, người Mông, sinh sống ở thành phố Milvvaukee, bang Wilcosin nước Mỹ) thành lập đạo “Bà Cô Dợ” còn gọi là Hội Thánh Đức Chúa trời yêu thương chúng ta và làm Hội trưởng cuối năm 2016. Sau đó, đạo đã được truyền sang các nước khác, trong đó có Việt Nam. Từ tháng 11/2016, đạo “Bà Cô Dợ” xuất hiện ở hai huyện Mường Tè và Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu. Sau đó, ảnh hưởng đến một số huyện của tỉnh Điên Biên với tốc độ phát triển nhanh và thu hút nhiều người dân tham gia, đặc biệt trong đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS).

Đạo “Bà Cô Dợ” không có hiến chương, điều lệ rõ ràng. Đối tượng Vừ Thị Dợ chỉ lợi dụng xuyên tạc một số câu, điều trong Kinh thánh Cựu ước, Tân ước để giảng dạy, tuyên truyền đạo. Vừ Thị Dợ tuyên truyền con trai út Cứ Nu Si Lông chính là Chúa Giê Su tái thế, sẽ cai trị người Mông trong 1.000 năm. Vừ Thị Dợ còn tự nhận mình là người được Chúa Trời chọn để tái lâm lần thứ 2; không phải đóng 10 % thu nhập, ai tin theo đạo “Bà Cô Dợ” sẽ được chia tiền.

Tìm hiểm về Vừ Thị Dợ được biết, trước đây Dợ từng theo Công giáo và hệ phái Tin lành CMA nhưng thường xuyên tạc Kinh thánh nên đã bị trục xuất khỏi giáo hội. Sau khi tách ra, Vừ Thị Dợ tích cực đi tuyên truyền lôi kéo người tham gia. Về mặt tổ chức, Vừ Thị Dợ đóng vai trò làm Hội trưởng, Vù Thị Mỹ - Phó Hội trưởng 1, Sùng Thị Mỷ - Phó Hội trưởng 2, Thào Chứ Lầu - Phó Hội trưởng 3 và Vàng A Páo - Thư ký.

Lễ nghi sinh hoạt của “Bà Cô Dợ” cơ bản giống với các điểm nhóm theo đạo Tin lành. Tuy nhiên, tổ chức Lễ giáng Sinh không cùng thời điểm với đạo Tin lành (23/11 là ngày tái sinh của Nu long - Chúa tái lâm lần thứ hai) và không tổ chức lễ phục sinh. Thời gian đầu, số người theo đạo “Bà Cô Dợ” sinh hoạt từ 21h tối thứ bảy đến 2h sáng hôm sau, hiện nay đã chuyển sang sinh hoạt vào ngày chủ nhật hàng tuần. Các đối tượng và những người tin theo tập trung sinh hoạt tại điểm nhóm. Trong quá trình giảng dạy, các đối tượng sử dụng bài hát về Chúa đã được cải biên trên nền nhạc trẻ. Nội dung chủ yếu các đối tượng tuyên truyền mê tín dị đoan, xuyên tạc Kinh thánh, đả kích các tôn giáo chính thống, chê bai phong tục truyền thống của người dân tộc Mông; tuyên truyền về ngày tận thế, việc mua Mông ra đời… 

Ngoài việc truyền đạo, “Bà Cô Dợ” còn xuyên tạc, lôi kéo người dân thực hiện mục đích chính trị, thành lập nhà nước của người Mông. Từ tháng 11/2016 đến nay, Vừ Thị Dợ đã gửi về nước số tiền 20.000 USD (huyện Mường Tè, huyện Nậm Nhùn) - Lai Châu, 11.977 USD huyện Mường Nhé - Điện Biên số tiền 9.000 USD). Số tiền này được các đối tượng trong nước sử dụng để mua sắm các thiết bị thu phát wifi, máy tính, điện thoại nhằm mục đích quay lại các buổi sinh hoạt rồi gửi cho số đối tượng bên ngoài tài liệu tuyên truyền, ngoài ra mỗi người theo được cấp 600.000-800.000 đồng/tháng. Đáng chú ý, tháng 3/2018 trên địa bàn xã Tà Tổng, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xuất hiện luận điệu trên địa bàn, xuất hiện luận điệu “Chúa sẽ tái lâm, mặt trăng, mặt trời sẽ lặn 3 năm, 6 tháng sẽ xảy ra chiến tranh, gió độc sẽ thổi nên các gia đình người Mông phải tích trữ lương thực, mua than, củi lò, bít lỗ…” gây hoang mang và đã có một số bà con người Mông tin theo, thực hiện. 

 Bản chất của đạo “Bà Cô Dợ” chính là hoạt động lợi dụng đạo Tin lành tuyên truyền thành lập “Nhà nước Mông”. Đạo “Bà Cô Dợ” ảnh hưởng trực tiếp hai tỉnh Lai Châu và Điện Biên, lôi kéo người tin theo. Thành phần chủ yếu là đồng bào người Mông và đã là tín đồ của Hội thánh Tin lành. Thời điểm cao nhất vào năm 2017-2019, tổ chức “Bà Cô Dợ” đã có 19 điểm, nhóm với 773 người. Thời gian sau này, do nhận ra bản chất nên một số trường hợp đã từ bỏ, tính đến tháng 4/2021, tổ chức “Bà Cô Dợ” đã giảm số người. 

Sự khốn cùng của những kẻ dã tâm không dừng lại ở đó, thời gian gần đây, mặc dù tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp nhưng số đối tượng cầm đầu “Bà Cô Dợ” vẫn tìm cách móc nối, lôi kéo quần chúng bằng các phần mềm, ứng dụng trên internet để tổ chức các buổi sinh hoạt, tuyên truyền và chỉ đạo các hoạt động ở trong nước. Hoạt động của Vừ Thị Dợ trong thời gian gần đây, đặc biệt khi dịch COVID-19 diễn biến phức tạp đã một lần nữa vạch trần thủ đoạn của Vừ Thị Dợ. Khi cả thế giới cũng như Việt Nam đang “gồng” mình chống chọi với đại dịch. Và đến thời điểm này, cùng với việc tuân thủ 5K thì vaccine là một trong những biện pháp hữu hiệu và quan trọng để ngăn chặn đại dịch thì đối tượng này luôn có những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc. 

 Cụ thể, Vừ Thị Dợ tuyên tuyền “Không được tiêm vaccine phòng dịch bệnh COVID-19 vì sẽ làm giảm trí nhớ, gây hại sức khoẻ cho con người”. Đồng thời, hướng dẫn cách thức đối phó với cơ quan y tế để không tiêm vaccine phòng COVID-19.

Các đối tượng cầm đầu đồng thời tiếp tục tuyên truyền các nội dung thiếu khoa học như “trái đất sẽ bị huỷ diệt” “ngày tận thế” có liên quan đến dịch COVID 19,... Nội dung tuyên truyền là “Chúa sẽ làm cho trái đất nổ tung hết, sẽ làm cho con người bị diệt vong hết; làm cho trái đất khô cằn, làm cho con người chết dần. Lý do Chúa hủy diệt trái đất là vì con người không làm theo lời của Chúa, không theo ý Chúa, khi Trái đất bị hủy diệt là lúc mà Chúa quay về, cây cối sẽ bị khô héo hết, giống như dịch bệnh COVID-19. Và hiện nay, như mọi người đã biết các quán karaoke, chợ lớn... đều đóng cửa hết, con người không đi lại được, niềm vui của con người sẽ không còn, bây giờ mới là bắt đầu thôi”.

Mặt khác, các đối tượng cho rằng: “Các thành phố sẽ trống rỗng, con người sẽ bị kẹt lại ở trong nhà, không có ai đến mở cửa được. Như mọi người đã thấy, hiện nay có dịch bệnh, họ (chính quyền) đã khóa con người ở trong nhà không đi đâu được, như các địa phương có dịch bệnh không đi mưa thực phẩm được. Cái này mới chỉ là bắt đầu thôi mà đã mạnh như thế này, khi mà có “khó khăn” (nghĩa là có cái gì đó lớn hơn dịch bệnh này) thì trái đất sẽ bị hủy diệt vấn đề này xảy ra ở tất cả các dấn tộc, chứ không riêng người Mông giống như một vụ thu hoạch. Chúa sẽ về thu hoạch sản phẩm của mình, đó là những người theo Chúa (những người theo “Bà Cô Dợ” sẽ được cứu sống) nên bây giờ Chúa mới cho “người mẹ ” về đây cho con người đến với Chúa. Những người ở phía mặt trời lặn gào thét trong sự sung sướng, đó là ở Mỹ và Châu Âu; những người ở phía mặt trời mọc sẽ cảm ơn Chúa, đó là ở Việt Nam, Lào, Thái Lan; những người sót lại sẽ có niềm vui, những người sót lại là những người đến với Chúa (theo Bà Dợ), Chúa sẽ chọn những người sót lại. Trái đất sẽ bị nổ tung thành từng mảnh; Chúa sẽ gom hết con người trên trái đất vào nhốt trong cái hố sâu, hết 1.000 năm Chúa mới phán xét cho. Mặt trời sẽ ngừng sáng, mặt trăng sẽ tối và Chúa sẽ là người cai quản, đó là Chúa Nu Long…”.

Những luận điệu tuyên truyền phản khoa học trên thay lời muốn nói thêm một lần nữa khẳng định, hiện tượng mang màu sắc tôn giáo có tên gọi “Bà Cô Dợ” đã lợi dụng niềm tin tín ngưỡng của chính đồng bào Mông, đi ngược lại mong muốn phát triển, xâm hại trực tiếp truyền thống văn hóa lâu đời, bản sắc tốt đẹp của dân tộc Mông. Đó là hành vi của những kẻ mưu đồ chống phá Nhà nước, lật đổ chính quyền nhân dân, gây chia rẽ đại

Xuân Mai

 


NHẬN DIỆN NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỊ TRÍ, VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

 

Vào mỗi dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động lại gia tăng các hoạt động tuyên truyền chống phá, đưa ra những luận điệu xuyên tạc hòng làm lung lạc về nhận thức, niềm tin đối vai trò, vị trí cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Từ đó, chúng tích cực vận động, tập trung lực lượng, đẩy mạnh hoạt động chống phá hòng làm thay đổi chế độ chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Đây là âm mưu, luận điệu nguy hiểm, cần được nhận diện, đấu tranh, phản bác trong công tác tư tưởng hiện nay. Những luận điệu này tập trung ở những điểm sau đây:

Một là, các đối tượng xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ  nhận cơ sở lý luận về vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam

Những chiêu bài mà chúng sử dụng không mới nhưng ngày càng tinh vi và thâm độc hơn. Các đối tượng lập luận, tuyên truyền, cổ vũ cho việc từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, cho rằng đây là sự sai lầm về ý thức hệ; rêu rao học thuyết Mác - Lênin là một “lý thuyết suông” về CNXH không tưởng, không bao giờ thực hiện được.

Cho rằng sự sụp đổ của CNXH ở Đông Âu, Liên Xô và trên toàn thế giới là một tất yếu, là sự cáo chung đã được báo trước; xuyên tạc lý luận về CNXH đã lỗi thời, không còn phù hợp với thế kỷ XXI, đặc biệt không phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay và cần loại bỏ. Tầm thường hóa, phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh; cố tình xuyên tạc Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin với học thuyết đấu tranh giai cấp là nguyên nhân gây ra cảnh “huynh đệ tương tàn, nồi da nấu thịt” trước đây, làm đất nước nghèo nàn, lạc hậu…

Vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, trong điều kiện khủng hoảng về đường lối cứu nước, đã xuất hiện nhiều khuynh hướng đấu tranh, nhiều lực lượng cách mạng, tuy nhiên đều không thể giành lại độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Chỉ khi Nguyễn Ái Quốc tìm ra chân lý con đường cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác - Lênin, sự ra đời, lãnh đạo, đoàn kết, tập hợp lực lượng của Đảng đã dẫn dắt dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đem lại vị thế, cơ đồ đất nước như ngày hôm nay. Thực tiễn khách quan là minh chứng khẳng định rõ, không thể nói chủ nghĩa Mác - Lênin là sai lầm ý thức hệ, sai lầm lịch sử như các luận điệu chống phá.

Hai là, các đối tượng cố gắng lập luận, quy kết thể chế chính trị ở Việt Nam tạo lập vị trí của Đảng đứng trên Hiến pháp, cho rằng Đảng đã và đang tham nhũng quyền lãnh đạo, cai trị đất nước, chuyên quyền, độc đoán

Chúng ta đều biết, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua bao giông tố, thác ghềnh, đưa dân tộc Việt Nam tới những thắng lợi hiển hách, thống nhất non sông đất nước, mang lại độc lập cho dân tộc. Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Với cơ sở như vậy thì luận điệu rêu rao “trong thể chế chính trị ở Việt Nam, Đảng đứng trên Hiến pháp, tham nhũng quyền lãnh đạo, và bám giữ quyền cai trị đất nước; một thể chế độc đảng là chuyên quyền, độc đoán” là hoàn toàn sai trái. Rõ ràng, luận điệu này nhằm mục đích phá hoại, lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng.

Ba là, dưới chiêu bài góp ý về đổi mới thể chế chính trị Việt Nam, các đối tượng đưa ra những luận điệu chống phá núp dưới dạng kiến nghị, đòi hỏi phải “đổi mới chính trị” bằng cách phải thực hiện thể chế đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập

Trước hết, cần thấy rằng, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nằm trong âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” mà mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị, hướng lái cách mạng Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa. Từ đó, chúng đòi hỏi phải thực hiện xóa bỏ ngay Điều 4 của Hiến pháp. Thực chất luận điệu này là tạo điều kiện, tiền đề cho việc ra đời và công khai hóa, hợp pháp hóa các tổ chức chính trị đối lập, từ đó cạnh tranh vai trò lãnh đạo, tiến tới thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng rêu rao nước ta vẫn còn tình trạng khủng hoảng, đói nghèo là hậu quả của chính sách cai trị độc tài dựa trên nền tảng tư tưởng chính trị là chủ nghĩa Mác-Lênin mà Đảng Cộng sản áp đặt trên đất nước Việt Nam. Chúng tập trung xuyên tạc vào các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ, vu cáo rằng đó là chiếm quyền để cai trị nhân dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền, "độc đoán, đảng trị"… Luận điệu này xuyên tạc bản chất chính trị, hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng, đẩy quần chúng, nhân dân xa rời, đối lập với Đảng, thúc đẩy thể chế đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Lịch sử diễn ra tại Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu đã chỉ ra bài học xương máu, chứng minh rõ âm mưu, ý đồ thâm độc này. Sau khi Điều 6 Hiến pháp Liên Xô bị xóa bỏ, ngay lập tức, các đảng phái xuất hiện “như nấm sau mưa”, ngoài Đảng Cộng sản Liên Xô còn có tới 153 tổ chức đảng phái khác ra đời và cạnh tranh vai trò lãnh đạo với Đảng Cộng sản. Đến đầu năm 1991, sự tồn tại của Đảng Cộng sản Liên Xô chỉ còn trên danh nghĩa và sự sụp đổ của Liên bang Xô viết vào cuối năm 1991 là tất yếu, khi Đảng Cộng sản đã mất quyền lãnh đạo. Không đi theo “vết xe đổ của Liên Xô”, bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, không để hình thành tổ chức chính trị đối lập, đối trọng với Đảng và Nhà nước là yêu cầu có tính nguyên tắc. 

Bốn là, các đối tượng lợi dụng những vấn đề mang tính tiêu cực nảy sinh trong đời sống xã hội như thiếu sót, bất cập trong cơ chế, chính sách, tình trạng tham nhũng... để hướng lái, xuyên tạc bản chất của chế độ, quy tiêu cực do hệ quả sự lãnh đạo của Đảng

Trong quá trình đổi mới, các lĩnh vực của đời sống xã hội vừa được xây dựng, tổng kết, rút kinh nghiệm và từng bước hoàn thiện về mặt lý luận và thực tiễn. Những vấn đề như kinh tế thị trường định hướng XHCN còn những hạn chế, hoàn thiện còn chậm; hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách chưa hoàn chỉnh và đồng bộ; nhiều cơ chế, chính sách chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới. Cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa chưa đạt mục tiêu. Kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước hiệu quả hoạt động chưa cao; công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí mặc dù đạt được những kết quả tích cực song còn nhiều tồn tại, hạn chế; hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước còn những bất cập… Dựa vào những hạn chế, tồn tại nói trên, các thế lực thù địch lợi dụng để suy diễn, xuyên tạc, thổi phồng dưới nhiều hình thức khác nhau. Chúng lập luận, quy chụp bằng những luận điệu chính trị hóa, cho rằng đó là bản chất của chế độ XHCN và là hậu quả của Đảng. Những luận điệu này làm cho những người không có tư tưởng chính trị vững vàng dễ bị lầm tưởng, hồ nghi, thậm chí xét lại, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái về tư tưởng chính trị.

Tổng kết 35 năm đổi mới, Đại hội XIII của Đảng đánh giá:“Đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN”. Có được những thành tựu trên đây là do Đảng ta có đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, phù hợp lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, được nhân dân tin tưởng, kiên định, đấu tranh, hy sinh, thực hiện con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn mình” mà Đảng lựa chọn.

Lê Thế Cương

LỢI DỤNG VẤN ĐỀ TÔN GIÁO CHỐNG ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM CỦA THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" chống Việt Nam, các thế lực thù địch, đối tượng phản động trong và ngoài nước luôn chú ý lợi dụng vấn đề tôn giáo, coi đây là một trong những mũi tiến công chủ đạo nhằm thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam. Do đó, việc nhận diện và đấu tranh với hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Tính đến tháng 9/2021, Việt Nam có 43 tổ chức tôn giáo thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp đăng ký hoạt động, với gần 26 triệu tín đồ, chiếm khoảng 27% dân số cả nước. Ngoài ra, còn có khoảng 140 tổ chức tôn giáo chưa được công nhận tư cách pháp nhân với khoảng 1 triệu tín đồ, đa phần sinh hoạt tại gia hoặc thuê, mượn địa điểm sinh hoạt tôn giáo, không có cơ sở thờ tự. Thời gian qua, Đảng, Nhà nước luôn nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo tại Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả hết sức quan trọng, được dư luận trong nước và quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Hệ thống chính sách, pháp luật về tôn giáo được kịp thời bổ sung, hoàn thiện, đáp ứng thực tiễn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo và phù hợp với những điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Các tổ chức tôn giáo được tạo thuận lợi trong hoạt động và ngày càng phát triển về mọi mặt; đồng bào các tôn giáo ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, gắn bó, đồng hành với dân tộc. Một số lễ trọng của các tôn giáo lớn như: Lễ Phật đản, Lễ Giáng sinh… đã trở thành lễ hội chung của đông đảo nhân dân, góp phần xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch không chấp nhận thực tế trên và chúng ráo riết tìm mọi cách lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Đặc biệt, những năm gần đây, lợi dụng chính sách đối ngoại và chính sách tôn giáo của ta ngày càng cởi mở hơn, các đối tượng gia tăng lợi dụng vấn đề tôn giáo để tạo sức ép từ bên ngoài, tìm cách gây mất ổn định an ninh chính trị ở bên trong, nhằm tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nổi lên hiện nay là một số hoạt động sau:

Một là, tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm quyền tự do tôn giáo. Lợi dụng tính chất nhạy cảm của tôn giáo và một số hạn chế, thiếu sót của chính quyền các địa phương trong công tác tôn giáo, thời gian qua, các thế lực thù địch cùng với bọn phản động trong và ngoài nước đã ra sức tuyên truyền xuyên tạc về tình hình tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Các đối tượng cho rằng, hệ thống chính sách pháp luật về tôn giáo của Việt Nam không tương đồng với luật pháp quốc tế về quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo; thậm chí, chúng còn trắng trợn xuyên tạc việc xây dựng, ban hành quy định pháp luật về tôn giáo là "thòng lọng" đối với hoạt động của các tôn giáo; xuyên tạc việc xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai, xây dựng, hành chính, dân sự… liên quan chức sắc, tín đồ tôn giáo là "đàn áp tôn giáo". Một số cá nhân, tổ chức bên ngoài nhiều lần đơn phương đưa ra cái gọi là "Báo cáo", "Phúc trình" thường niên về tình hình tôn giáo quốc tế; trong đó có nhiều nội dung sai sự thật về tình hình, kết quả công tác tôn giáo tại Việt Nam, qua đó gây áp lực đòi ta phải thay đổi chính sách pháp luật về tôn giáo, lấy vấn đề "tự do tôn giáo" làm điều kiện trong đàm phán hợp tác, đầu tư phát triển tại Việt Nam.

Đáng chú ý, những năm gần đây, lợi dụng sự phát triển mạnh mẽ trên lĩnh vực thông tin, truyền thông, một số đối tượng cực đoan trong các tôn giáo triệt để lợi dụng Internet, mạng xã hội để tán phát, chia sẻ nhiều tài liệu có nội dung vu cáo Đảng, Nhà nước "đàn áp tôn giáo"; công kích số chức sắc, tín đồ tôn giáo tiến bộ, yêu nước, tham gia các tổ chức chính trị - xã hội; kêu gọi các nước lấy vấn đề tự do tôn giáo để làm điều kiện trong việc đàm phán, ký kết các thỏa thuận hợp tác song phương cũng như đa phương, qua đó tìm cách can thiệp công việc nội bộ của Việt Nam. Đặc biệt, có chức sắc còn công khai đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản tại Việt Nam, tuyên truyền, cổ xúy quan điểm đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, cho rằng "tự do tôn giáo" là quyền, không chịu sự quản lý của Nhà nước, đòi phi chính trị hóa lực lượng vũ trang và xây dựng xã hội dân sự Việt Nam theo mô hình các nước phương Tây.

Hai là, lợi dụng các vấn đề tiêu cực trong xã hội, các vụ việc phức tạp liên quan tôn giáo để kích động chức sắc, tín đồ gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, bên cạnh những thành tựu là cơ bản, không tránh khỏi một số hạn chế, khiếm khuyết trong công tác điều hành, quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực như: kinh tế, y tế, môi trường, giáo dục, đất đai, tư pháp…

Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, đối tượng phản động trong và ngoài nước đã và đang ráo riết triển khai nhiều chiến dịch tuyên truyền nhằm thổi phồng các tiêu cực trong xã hội, quy chụp mọi tồn tại, hạn chế hiện nay là do sai lầm trong công tác lãnh đạo của Đảng, yếu kém trong công tác điều hành, quản lý của Chính phủ; từ đó, chúng móc nối, lôi kéo, kích động chức sắc, tín đồ các tôn giáo tổ chức các cuộc tập trung đông người tuần hành, biểu tình với danh nghĩa bảo vệ cuộc sống của người dân, bảo vệ người yếu thế để chống chính quyền; tăng cường phát triển lực lượng chống đối trong các tôn giáo, tạo thế liên tôn, liên kết trong - ngoài nhằm âm mưu tiến hành các cuộc tập dượt cho "cách mạng màu", "cách mạng đường phố" tại Việt Nam.

Điển hình như, lợi dụng sự cố ô nhiễm môi trường biển miền Trung do Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh gây ra năm 2016, một số chức sắc cực đoan trong Công giáo với sự hậu thuẫn của các tổ chức phản động bên ngoài đã tổ chức cho hàng ngàn giáo dân tuần hành, biểu tình gây rối an ninh trật tự, chống người thi hành công vụ, chiếm giữ quốc lộ, tỉnh lộ… Các hoạt động này đã gây tình hình phức tạp nghiêm trọng về an ninh trật tự, trực tiếp xâm hại đến hoạt động bình thường của chính quyền cơ sở, làm giảm sút niềm tin của một bộ phận chức sắc, tín đồ tôn giáo đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, công tác quản lý Nhà nước của các cấp chính quyền.

Đặc biệt, những năm gần đây, trước tình hình tranh chấp, khiếu kiện và vi phạm pháp luật về đất đai, xây dựng liên quan tôn giáo diễn ra phức tạp, một số đối tượng cực đoan trong tôn giáo đã lợi dụng chiêu bài "bảo vệ quyền lợi của giáo hội" để kích động số đông quần chúng tín đồ gây rối an ninh trật tự, chống người thi hành công vụ, gây ảnh hưởng để việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở nhiều địa phương. Thậm chí, nhiều vụ việc bị "chính trị hóa", "quốc tế hóa", từ vụ việc khiếu kiện đất đai đơn thuần đã trở thành điểm nóng về an ninh trật tự, điển hình như vụ 178 Nguyễn Lương Bằng, 42 Nhà Chung (Hà Nội), vụ giáo xứ Cồn Dầu (Đà Nẵng), vụ chùa Liên Trì (TP. Hồ Chí Minh)… đã bị các thế lực thù địch lợi dụng can thiệp công việc nội bộ của Việt Nam.

Ba là, gắn vấn đề tôn giáo với vấn đề dân tộc để kích động tư tưởng ly khai, tự trị. Lợi dụng một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội, trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán lạc hậu…, thời gian qua các thế lực thù địch và bọn phản động lập ra nhiều tổ chức núp bóng dưới danh nghĩa tôn giáo để tập hợp, lôi kéo đồng bào dân tộc; để từ đó, dùng thần quyền, giáo lý chi phối họ tham gia các hoạt động chống Đảng, Nhà nước.

Điển hình như: tại Tây Nguyên, năm 1999, số đối tượng FULRO lưu vong ở Mỹ đã tuyên bố thành lập cái gọi là “Nhà nước Đềga”, đồng thời chúng móc nối với số đối tượng phản động trong các dân tộc thiểu số ở hai tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai lập ra cái gọi là “Tin lành Đề ga” để lôi kéo, tập hợp đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên tham gia “Nhà nước Đề ga” dưới ngọn cờ tôn giáo và dân tộc để kích động ly khai thành lập nhà nước cho người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên; tại Tây Nam Bộ, số đối tượng phản động tăng cường sử dụng Internet, báo, đài nhằm kích động tư tưởng “ly khai” vào vùng đồng bào dân tộc Khmer theo Phật giáo Nam tông, lập “Chính phủ Khmer Krôm lưu vong”, tiến đến thành lập “Nhà nước Khmer Krôm” trên vùng đất Tây Nam Bộ…; tại vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, số đối tượng phản động, cốt cán hoạt động “Nhà nước Mông” chủ trương phát triển cơ sở trong đạo Tin lành để tập hợp lực lượng, ráo riết móc nối, lôi kéo số chức sắc, số cầm đầu các điểm nhóm đạo Tin lành tham gia thành lập “Nhà nước Mông” tự trị…

Trên cơ sở nhận diện hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước nói trên, thời gian tới để góp phần đấu tranh làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, các ban ngành chức năng và cấp ủy, chính quyền các địa phương cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, tăng cường công tác tuyền truyền về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo và âm mưu, hoạt động lợi dụng tôn giáo chống Đảng, Nhà nước để cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân nâng cao cảnh giác, tuân thủ nghiêm pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo cũng như quy định khác liên quan. Công tác tuyên truyền cần được tiến hành thường xuyên, liên tục và với nhiều hình thức đa dạng, đi vào đời sống của người dân.

Hai là, tiếp tục quan tâm củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo. Làm tốt công tác kiểm tra, giám sát thực hiện đường lối, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước về tôn giáo để chủ động phát hiện những sơ hở, thiếu sót và kịp thời có biện pháp khắc phục. Tổ chức tốt việc nắm bắt tâm tư, giải quyết những nguyện vọng chính đáng của đồng bào chức sắc, tín đồ các tôn giáo.

Ba là, đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc, nhất là địa bàn trọng điểm, phức tạp về tôn giáo. Phải coi đây là một công tác trọng tâm, cơ bản đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy Đảng, sự điều hành quản lý của chính quyền và huy động được các ngành, các cấp cùng tham gia.

Bốn là, thực hiện tốt công tác tranh thủ chức sắc, người có uy tín trong các tôn giáo nhằm thúc đẩy xu hướng hoạt động tôn giáo thuần túy, tuân thủ pháp luật và đồng hành cùng dân tộc. Chú trọng phát huy vai trò của chức sắc, người có uy tín trong tôn giáo trong công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước và góp phần giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh trong tôn giáo.

Năm là, kiên quyết đấu tranh với các hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước. Trong đó, tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; kiên quyết xử lý các hành vi lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật, đảm bảo tính thượng tôn pháp luật.

Trong bài  “Nhận diện hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống đảng, nhà nước Việt Thiếu tá Đỗ Xuân An, Cục An ninh nội địa, Bộ Công an

SAU KHÓI LỬA CỦA CHIẾN TRANH VIỆT NAM CHÚNG TA PHÁT TRIỂN VƯỢT BẬC NHƯ THẾ!

         Sau ngày thống nhất, Việt Nam bị cô lập, gặp khó khăn về kinh tế, chính trị, ngoại giao, sự sụp đổ và tan rã của đồng minh Liên Xô cùng Khối Đông Âu, các lệnh trừng phạt, cấm vận từ Mỹ, xung đột tại Campuchia, biên giới giáp Trung Quốc và hậu quả của chính sách kinh tế bao cấp sau nhiều năm duy trì.

Năm 1986, Đảng Cộng sản ban hành một loạt cải cách đổi mới, qua đó cơ bản chấm dứt, xóa bỏ bao cấp, tạo điều kiện cho Việt Nam hình thành kinh tế thị trường và hội nhập sâu rộng.

Cải cách đổi mới kết hợp cùng quy mô dân số lớn đưa Việt Nam trở thành một trong những nước đang phát triển có tốc độ tăng trưởng kinh tế thuộc nhóm nhanh nhất thế giới.

Sau 77 năm kể từ thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, tuy vẫn còn tồn tại những hạn chế, nhưng nước ta đã đạt được những dấu ấn to lớn, toàn diện và có ý nghĩa lịch sử trên các mặt trận kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, làm thay đổi căn bản bộ mặt của đất nước.

Từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, qua quá trình phấn đấu, chuyển đổi mô hình, hoàn thiện môi trường thể chế, kinh doanh, hội nhập kinh tế sâu rộng, đến nay nền kinh tế nước ta từng bước gia tăng về quy mô; được xếp vào hàng ngũ các nền kinh tế có mức tăng trưởng cao trên thế giới; trở thành một nước có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đó là nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục hoàn thiện đường lối xây dựng, phát triển đất nước trong thời kỳ mới./.

Yêu nước ST.

KỶ NIỆM 60 NĂM, ĐẠI HỘI LẦN THỨ NHẤT CỦA MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, VIỆT NAM (16/2/1962).

 Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (phía Ngụy và nhiều tài liệu phương Tây gọi là "Việt Cộng") thành lập ngày 20/12/1960 là một tổ chức liên minh chính trị, dân tộc chủ nghĩa; tập hợp, lãnh đạo khối đại đoàn kết của nhân dân miền Nam đứng lên đấu tranh, đánh bại từng chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, chư hầu (Úc, Hàn Quốc, Thái Lan...)và Ngụy quyền Sài Gòn.

   

CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC

 Bốn ba năm trước, ngày 17/2/1979 tập đoàn phản động "bành trướng bắc kinh" xua quân tiến công trên tuyến biên giới Việt –Trung, gồm các tỉnh Lai Châu, Hoàng Liên Sơn, Lào Cai, Lạng Sơn, Cao Bằng và Quảng Ninh của Việt Nam với chiều dài 1.200km. Cho mãi đến ngày 15/5/1989, cả 2 bên mới thực sự ngừng bắn trên toàn tuyến  biên giới . 

   

KHÔNG THỂ CA NGỢI HAY VINH DANH NGUYỄN ÁNH KẺ MANG TRỌNG TỘI "CÕNG RẮN CẮN GÀ NHÀ"!

         10 tội lỗi của Nguyễn Ánh kẻ bán nước cầu vinh đang được suy tôn và dâng hương tại Huế.

1, Nguyễn Ánh, cắm con (Hoàng tử Cảnh) để bán nước là cha vô tình.

2, Ánh giết con (Hoàng tử Cải) là kẻ bất nhân.

3, Ánh giam vợ đến chết (bà Phi Yến) khi vợ khuyên không nên cầu viện ngoại bang là chồng bất nghĩa bội bạc.

4, Ánh để cho quân Trịnh quật mồ mả tổ tiên moi vàng moi bạc là con mà bất hiếu. 

5, Ánh quỳ mọp dưới chân Vua Xiêm để cầu viện là người hèn mạt. 

6, Ánh đánh Tây Sơn bằng vũ khí Pháp, cố vấn Pháp, chỉ huy Pháp là Tướng bất tài.

7, Ánh cõng rắn cắn gà nhà là kẻ bất trung.

8, Ánh cắt đất cho nước ngoài là kẻ bán nước

9, Ánh trả thù Tây Sơn hèn hạ là kẻ tiểu nhân bất dũng.

 10, Ánh phá Thành Thăng Long chở gạch ngói vào Phú Xuân xây kinh đô Huế là kê vô văn hóa.

 Tây Sơn đánh tan Trịnh Nguyễn thống nhất Đàng Trong - Đàng Ngoài là chính nghĩa. Còn với Ánh chỉ là tội đồ dân tộc vậy mà người ta tôn vinh Nguyễn Ánh thì lịch sử đảo điên, điên đảo thật rồi. 

Truyền thông bẩn đã có cả chiến dịch ra sức bôi nhọ anh hùng Quang Trung - Nguyễn Huệ và nay chúng đang tiến hành ca ngợi Nguyễn Ánh. Chúng đã quên lịch sử dân tộc qua bài thơ "Lịch sử nước ta" mà Bác Hồ đã từng răn dạy. Buồn cho hậu thế!

Yêu nước ST.

KỶ NIỆM 43 NĂM CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC: CHUYỆN CỦA NHÂN CHỨNG SỐNG!

THÁO GHẾ MÁY BAY DÂN DỤNG CHỞ QUÂN & HẠ CÁNH BẰNG ĐÈN DẦU

************************

(Chiến tranh nhân dân bách chiến bách thắng, lịch sử chỉ có ở VN)

         Trong lịch sử hàng không dân dụng thế giới, tôi chưa đọc thấy một tài liệu nào nói dùng máy bay dân dụng để chở quân và cả vũ khí. Vậy mà 1979, việt nam dùng Boeing 707, TU 134 loại chở khách, không chỉ dùng chở quân mà còn chở cả súng ống, đạn dược trên máy bay. Thế thì kẻ thù nào thắng nổi dân tộc Việt nam (?!)

   Boeing 707 thuộc dòng máy bay phản lực chở khách đầu tiên được sản xuất tại Mỹ, là máy bay chở khách lớn nhất lúc bấy giờ với sức chứa 181 hành khách, tốc độ 966km/h.

Và đây là câu chuyện của nhân chứng: 

Năm 1979, Việt Nam chỉ có duy nhất một máy bay Boeing (ảnh dưới). Và người có thể lái Boeing lúc đó chỉ có duy nhất phi công Huỳnh Minh Bon - người của chế độ Sài Gòn được trưng dụng làm việc cho ngành hàng không Việt Nam lúc đó.

Trước năm 1975, ông Huỳnh Minh Bon là phi công của Công ty Hàng không Nam Việt Nam (Air Vietnam). Ông kể:

“Mấy anh lãnh đạo gặp tôi nói: tình hình bây giờ nếu chỉ chở quân bằng An-12, C-119, C-130... thì không kịp. Boeing là máy bay chở được nhiều khách nhất khi đó. Họ hỏi tôi có thể dùng Boeing chở quân không. Tôi nói được.

Lúc đó thiếu tướng Trần Mạnh, đang là phó tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam, hỏi tôi: anh có thể chở được cả vũ khí không vì tới nơi là chúng tôi phải chiến đấu ngay chứ không thể chờ 2-3 ngày, một tuần lễ sau mới có vũ khí chiến đấu.!?"

Khi tôi học ở nước ngoài, vũ khí và chất nổ nghiêm cấm đưa lên máy bay dân dụng.

Tôi biết nhiệm vụ này rất nguy hiểm nhưng đất nước đang cần mình. Tôi trả lời: Tôi làm được! Trước khi về, anh Trần Mạnh dặn tôi: Đây là nhiệm vụ tuyệt mật, không nói cho người thứ hai, kể cả vợ con” - ông Bon kể.

Bình thường Boeing 707 có sức chở gần 200 người. “Tôi nghĩ phải làm sao chở được thật nhiều quân nhưng vẫn đảm bảo an toàn. Tôi đề xuất dỡ bỏ một lượng ghế trên máy bay. Tôi phải trực tiếp chỉ đạo cách tháo ghế, Chỉ tháo ở những vị trí được phép để đảm bảo độ cân bằng cho máy bay” - ông Bon nói.

Khoảng 50 ghế ở phần phía trước, khoang giữa và sau đuôi máy bay được tháo rời. Toàn bộ số ghế tháo rời được mang ra khỏi máy bay.

Những khoảng trống không có ghế được đan bởi những sợi dây. Bộ đội ngồi bệt dưới nền, đấu lưng vào nhau. Còn cột dây là để khi máy bay đi vào vùng thời tiết xấu, bị rung xóc, nghiêng ngả, bộ đội bám vào dây không bị dịch chuyển gây mất an toàn.

Nhờ sáng kiến này của phi công Huỳnh Minh Bon, mỗi chuyến chiếc Boeing 707 đã chở được 300 người (1 tiểu đoàn) của Quân đoàn 2. Phần nguy hiểm nhất là số lượng vũ khí mang lên máy bay. Đạn dược, súng ống đựng trong những thùng rất lớn. Nhân viên mặt đất phải cột dây lại cho thùng dính với ghế để không bị dịch chuyển.

“Các thùng vũ khí không để tập trung một chỗ mà rải rác khắp máy bay, hạn chế va chạm khi rung xóc vì có nguy cơ cháy nổ và thương vong rất cao” - cựu cơ trưởng chuyến bay đặc biệt cho biết: “Bộ đội mang theo súng đạn, balô xếp thành từng phân đội, lên máy bay trong vài chục phút là tôi cất cánh được ngay”.

Lúc đó, Boeing 707 chỉ có duy nhất một tổ bay. Và cơ trưởng luôn luôn là ông Bon. Một ngày phi công Huỳnh Minh Bon cất cánh hai chuyến từ Tân Sơn Nhất ra Hà Nội.


** Thắp đèn dầu ở đường băng

Nếu như các máy bay An-12 của Liên Xô hay C-119, C-130... bay ban ngày thì Boeing 707 lại chủ yếu bay ban đêm. Sau chuyến bay ngày đầu tiên Huỳnh Minh Bon đề xuất bay đêm.

Ông giải thích: “Tôi thấy ban ngày mình bay nhiều quá, cường độ bay rất lớn. Trong khi ban đêm lại không có chuyến nào. Nếu tận dụng khoảng trống ban đêm để chuyển quân thì sẽ nhanh hơn nhưng cái khó là sân bay của ta không sẵn sàng để bay đêm vì đường băng ở Tân Sơn Nhất và Nội Bài lúc đó không có đèn chạy dọc đường băng như bây giờ.

Tôi đề nghị đốt đèn dầu dọc đường băng, đường lăn và bến đậu nhưng đèn phải đảm bảo được độ sáng. Đèn không to quá cũng không nhỏ quá. Kiểu đèn tôi đề xuất phải chứa được 3 lít dầu chứ không cháy nhanh, mau hết dầu. Mà loại đèn đó thì không sản xuất sẵn, phải làm riêng.

Chỉ trong thời gian rất ngắn, các anh ấy đã đáp ứng được loại đèn dầu như yêu cầu. Khi nào thấy còn 15 phút nữa cất cánh, tôi báo “tôi sắp cất cánh” thì ở dưới đường băng mấy ảnh mới thắp đèn dầu.

Đèn để hạ cánh thì khác một chút. Lúc đó có một số xe tải của Liên Xô đèn rất sáng. Tôi đề nghị cần 10 xe tải Liên Xô. Khi chuẩn bị hạ cánh, ôtô phải bật đèn ngay đầu đường băng”.

Chuyến bay đêm đầu tiên của Boeing 707 cất cánh lúc 9h tối. Phi hành đoàn có 1-2 lái phụ đi cùng, trong đó có một người là phi công quân sự hàm đại tá.

Lúc đó Boeing 707 chỉ hạ cánh ở sân bay Nội Bài vì có đường băng dài hơn 3.000m. Sân bay Gia Lâm quá nhỏ, đường băng không đủ dài để Boeing cất hạ cánh.

Ông Bon nhớ lại: “Chuyến bay đêm đầu tiên mọi người rất lo lắng, nhất là anh Trần Mạnh. Anh ấy nói: Tôi ủng hộ anh bay đêm nhưng nếu anh bay không thành công tôi sẽ gặp khó khăn lớn”.

Trên thực tế, một số cựu phi công quân sự tham gia bay chở quân thời điểm cuối tháng 2, đầu tháng 3-1979 cho biết lúc đó mới tiếp thu máy bay nên trình độ của phi công chưa thể bay đêm.

Chuyến bay đêm đầu tiên của Boeing 707 hạ cánh thành công ở sân bay Nội Bài, xóa tan những lo lắng và hoài nghi của nhiều người về khả năng của phi công Huỳnh Minh Bon.

“Tôi bay nhanh lắm. Bay liên tục chỉ gần một tuần là xong nhiệm vụ. Lúc đó chuyển quân gấp mà. Tôi nói bay được là bay, dù mệt cũng bay” - ông Bon kể.

Lái máy bay từ thời Pháp và tới năm 1975 ông Bon có 25 năm kinh nghiệm lái máy bay dân dụng. Khi đất nước thống nhất, ông được mời tiếp tục làm việc, vừa bay vừa đào tạo phi công cho cách mạng.

Ông Bon kể: “Ngày 30-4-1975, tôi đang lái Boeing 707 chở khách chặng Sài Gòn - Hong Kong - Tokyo. Lúc dừng ở Hong Kong thì nghe tin Sài Gòn giải phóng. Lúc đó có nhiều hãng nước ngoài mời tôi ở lại bay cho họ nhưng tôi từ chối. Tôi muốn về nước. Gia đình, vợ con tôi ở Việt Nam. Đó là quê hương tôi. Tôi không đi vì tôi yêu Việt Nam”.

Ngoài Boeing 707, một số máy bay dân dụng khác cũng được huy động cho cuộc chuyển quân khẩn cấp bằng đường hàng không. Ông Huỳnh Minh Phương, 70 tuổi, hiện sống ở Hà Nội, là người đã lái máy bay TU-134 chở bộ đội từ sân bay Phnom Penh về sân bay Tân Sơn Nhất (ảnh). TU-134 cũng được tháo ghế để có thể chở 100 quân thay vì 80 người như bình thường./.


Yêu nước ST.

CĂNG THẲNG Ở UKRAINE, CỘI NGUỒN, CỤC DIỆN, ĐỘNG THÁI MỚI VÀ TIA SÁNG CUỐI ĐƯỜNG HẦM!

Bàn cờ địa chính trị, an ninh châu Âu liên quan đến căng thẳng Ukraine đang ở thế phức tạp, với những nước đi đầy bất ngờ, nhiều toan tính. Nổi lên nhiều câu hỏi, khiến cả người trong và ngoài cuộc khó giải đáp: Đâu là nguồn gốc căng thẳng? Ai 'đạo diễn'? Ai lợi thế? Chuyện gì sẽ xảy ra...


Mỹ và đồng minh, một mũi tên nhằm nhiều đích

Cuộc chiến tranh thông tin về căng thẳng Ukraine-Nga do Mỹ và phương Tây khởi xướng đang vào hồi cao trào. Có cả “dàn đồng ca”, gồm nhà cầm quyền, quan chức, tướng lĩnh, chuyên gia, trên truyền thông, trong hội nghị, trên diễn dàn Liên hợp quốc.

Mọi động thái của Nga đều được quy là chuẩn bị chiến tranh. Cảnh báo, đe dọa xuất hiện với tần suất dày đặc. Không chỉ nói nhiều, mà thông tin rất cụ thể, vẽ ra các kịch bản tạo cớ, ngày giờ, kế hoạch, phương án tiến công... Ảnh vệ tinh, tin tình báo, tuyên bố của quan chức được viện dẫn để tăng độ tin cậy.

Mỹ và phương Tây nói như đinh đóng cột là chiến tranh sẽ nổ ra vào trung tuần hoặc cuối tháng 2. Đó là thời điểm các cuộc diễn tập của Nga ở Crimea, Biển Đen, Biển Baltic, Belarus đang và sẽ kết thúc, muộn nhất ngày 20. Mỹ và đồng minh đánh giá, Nga đã hoàn tất kế hoạch, lực lượng, vũ khí, chỉ cần phát lệnh là 3 hướng tấn công sẽ tiến vào Ukraine.

Hàng chục nước phương Tây khuyến cáo công dân rời Ukraine, chuẩn bị sơ tán nhân viên Đại sứ quán. Mỹ, Anh lệnh rút quân nhân đang có mặt hoạt động ở Ukraine. Hàng ngàn tấn vũ khí của Mỹ, NATO ùn ùn đến Ukraine. Mỹ đặt 8.500 quân vào trạng thái sẵn sàng, điều động binh sĩ, vũ khí hiện đại, cả tên lửa, siêu tiêm kích F35-A đến Đức, Romania, Ba Lan. NATO tăng cường lực lượng phòng thủ, răn đe trên hướng Đông. Không chỉ Ukraine mà cả châu Âu nóng hầm hập.

Câu nói của Bộ trưởng Tuyên truyền Đức quốc xã Joseph Goebbels, cách đây gần 80 năm, sự thật là những điều không có thật (dối trá) được lặp lại rất nhiều lần, đang được áp dụng trong cuộc chiến truyền thông. Động thái đẩy căng thẳng lên cao, khiến dư luận tin Nga đang sẵn sàng chiến tranh là một mũi tên nhằm nhiều đích.

Thứ nhất, kích động làn sóng phản đối quốc tế mạnh mẽ, bó tay, cô lập cao độ, đẩy Nga vào thế bị động, khó khăn. Thứ hai, làm mất tính bất ngờ và chặn mọi lý do biện minh cho hành động quân sự của Nga. Thứ ba, tạo điều kiện để tăng cường bố trí lực lượng quân sự ở Đông Âu. Thứ tư, hàn gắn rạn nứt nội bộ trong chính sách đối phó Nga. Thứ năm, được tiếng ngăn chặn nguy cơ chiến tranh, bảo vệ hòa bình.


Cội nguồn căng thẳng

Mỹ và phương Tây quả quyết việc Nga duy trì gần 150.000 quân gần biên giới Ukraine, tiến hành liên tiếp các cuộc diễn tập quân sự là nhân tố làm bùng phát căng thẳng. Theo họ, một nước đưa nhiều quân tới biên giới, nhằm vào nước khác là động thái bất thường, đe dọa xung đột, chiến tranh.

Lập luận thế cũng là chuyện thường. Nhưng nhiều năm nay, Mỹ vẫn duy trì lực lượng, vũ khí tiến công chiến lược ở châu Âu, tiếp tục triển khai ở các nước thành viên NATO mới và khởi xướng kết nạp Ukraine. Vòng vây dần áp sát xung quanh Nga, là điều khó chối cãi. Đặt trong bối cảnh đó, hành động của Nga cũng được xem là bước đáp trả tương ứng.

Thông tin không được chính thức xác nhận nói Nga có thể phản ứng bằng cách triển khai lực lượng, tên lửa chiến lược ở một số nước khác, như Cuba, Venezuela… Mới nghe, Mỹ đã nhảy dựng lên phản đối, cảnh báo. Có thể coi đó như một phản đề về tiêu chuẩn kép, được với người này, nhưng không được với người khác.

Tổng thống Nga Vladimir Putin cảnh báo trong cuộc gặp Tổng thống Pháp Emmanuel Macron, nếu được kết nạp vào NATO, Ukraine sẽ tấn công Crimea, Donbass, buộc Nga phải đáp trả. NATO sẽ bị lôi kéo vào cuộc chiến tranh tổng lực khủng khiếp mà không ai giành thắng lợi.

Bằng cách cắt lát sự kiện, Mỹ và NATO quy kết Nga là nguyên nhân gây căng thẳng. Nhưng xét một cách tổng thể, toàn diện, không khó để thấy cội nguồn căng thẳng là ở đâu. Bởi an ninh của một, một số quốc gia, không thể tách rời an ninh của các quốc gia khác. Đó là điều Nga mong muốn.

Câu nói của Bộ trưởng Tuyên truyền Đức quốc xã Joseph Goebbels, cách đây gần 80 năm, sự thật là những điều không có thật (dối trá) được lặp lại rất nhiều lần, đang được áp dụng trong cuộc chiến truyền thông.


Đối thủ khó đoán, khó lường

Động thái quân sự gần đây của Nga và tuyên bố cứng rắn về “lằn ranh đỏ”, đưa ra gói điều kiện bảo đảm an ninh…, làm cả Mỹ và châu Âu náo động. Tiền, vũ khí xuất ra, quân đội trong trạng thái sẵn sàng.

Cùng với đó là chiến dịch ngoại giao con thoi, các cuộc điện đàm của Tổng thống Pháp, Tổng thống Mỹ, Thủ tướng Đức, Thủ tướng Anh và nhiều quan chức cấp cao khác nhằm hạ nhiệt căng thẳng ở Ukraine. Như vậy, Mỹ và đồng minh cũng đang căng thẳng.

Tuyên bố không đưa quân trực tiếp tham chiến, rút cố vấn, nhân viên quân sự khỏi Ukraine và một số nước thành viên NATO không muốn viện trợ vũ khí cho Kiev, phần nào cho thấy Mỹ và đồng minh cũng lo ngại chiến tranh với Nga.

Giữa một số thành viên NATO, EU dấy lên tranh cãi về việc Nga chuẩn bị chiến tranh, hay chỉ gây áp lực. Một số chính khách, chuyên gia nói Mỹ thổi phồng nguy cơ chiến tranh, gây căng thẳng.

Tổng thống Pháp Emmanuel Macron thừa nhận, mục đích chính của Nga là đạt được một thỏa thuận an ninh tốt hơn với phương Tây và chưa có dấu hiệu cho thấy Nga sẽ phát động chiến dịch tấn công Ukraine.

Thủ tướng Anh Boris Johnson nói tình hình rất nguy hiểm, nhưng một số bộ trưởng lại cho rằng Nga chưa quyết định tấn công Ukraine và có thể không bao giờ làm điều này.

Động thái của Nga làm lộ rõ “vết rạn” trong lòng NATO, EU.

Trong khi Mỹ và đồng minh đang phấp phỏng nhìn thời gian nhích dần mốc 15-16/2, thì Bộ trưởng Quốc phòng Nga bất ngờ thông báo rút một phần lực lượng quân đội ở Crimea của Quân khu Nam và Quân khu Tây ở gần biên giới về căn cứ sau khi hoàn thành diễn tập.

Đó không khác gì quả bom gây bất ngờ cho Mỹ, phương Tây. Nó vừa thể hiện thiện chí, nói là làm của Nga; vừa là đòn ám chỉ tuyên bố của Mỹ và đồng minh về ngày bùng nổ chiến tranh, 15-16/2 là câu chuyện dối trá ngày “cá tháng Tư”.

Cùng với chủ động rút bớt lực lượng gần biên giới, bày tỏ thiện chí sẵn sàng đàm phán, Bộ Ngoại giao Nga công khai văn bản hồi đáp, cảnh báo sự phớt lờ yêu cầu bảo đảm an ninh của Mỹ và hành động quân sự của Ukraine ở Donbass.

Tổng thống Vladimir Putin tạm treo dự luật của Hạ viện Nga yêu cầu công nhận các vùng ly khai ở miền Đông Ukraine. Bộ trưởng Quốc phòng Nga Sergei Shoigu bất ngờ xuất hiện tại Syria trùng thời gian diễn quân sự ở Địa Trung Hải.

Mỹ và NATO chủ động khởi xướng cuộc chiến thông tin, chiếm ưu thế đông quốc gia, nhiều công cụ. Nhưng thực tế cho thấy Nga sẵn sàng nhiều phương án, là đối thủ khó đoán, khó lường. Nga không dễ bị cuốn theo kịch bản của Mỹ và đồng minh.

Lợi thế, quyền chủ động không hoàn toàn nằm trong tay Mỹ và NATO. Nga không chỉ dừng ở mức yêu cầu Mỹ, NATO chịu lắng nghe, mà còn cho đối phương thấy rủi ro nếu phớt lờ yêu cầu bảo đảm an ninh của mình.

Câu chuyện tiếp theo

Động thái rút một phần lực lượng của Nga không thể hiện thế yếu, mà là một bước đi chủ động, thiện chí giảm căng thẳng, chuyển quả bóng sang sân đối phương. Mỹ và đồng minh tiếp nhận một cách thận trọng, với những ý kiến trái chiều. Họ nói chưa thấy chứng cớ rút quân, là đòn tung hỏa mù, thậm chí còn tăng thêm quân, khẳng định căng thẳng chưa giảm.

Có chuyên gia cho rằng, dù Nga rút quân về căn cứ, thì việc cơ động lực lượng đến Ukraine cũng không mấy khó khăn. Chiến dịch không vận 3 ngày đưa hàng nghìn quân đến Kazakhstan đầu tháng 1 chứng tỏ khả năng cơ động rất cao của Nga.

Với cục diện và tương quan thế lực hiện nay, cuộc chiến tranh tổng lực, nếu xảy ra, sẽ quá rủi ro, tổn thất đến mức hủy diệt, không ai chắc chắn giành thắng lợi. Tình hình đó đòi hỏi các bên nhận thức lại khái niệm an ninh không tách rời. Thời thế không dễ áp đặt, buộc đối phương chấp nhận mọi điều kiện, yêu sách của mình.

Chiến dịch ngoại giao con thoi chưa mang lại kết quả đáng kể, nhưng cũng le lói tia sáng cuối đường hầm. Quan trọng nhất là các bên vẫn muốn tiếp tục đối thoại, đàm phán. Nga đã đi bước nhỏ đầu tiên. Việc rút quân không khó kiểm chứng. Đến lượt Mỹ và đồng minh có hành động tương ứng.

Cần tiếp tục những động thái giảm căng thẳng, tháo gỡ ngòi nổ chiến tranh, trong đó có tạm đóng băng việc NATO kết nạp Ukraine và tuân thủ đầy đủ Thỏa thuận Minsk về giải quyết xung đột ở vùng Donbass. Mỹ, NATO ngừng cung cấp, rút vũ khí, cố vấn, dừng các cuộc diễn tập quân sự với Ukraine, đồng thời Nga tiếp tục giảm bớt lực lượng gần biên giới. Các hành động này cần minh bạch và giám sát quốc tế.

Nếu các bên thực hiện đầy đủ Thỏa thuận Minsk năm 2015, trong đó có công nhận quyền tự trị của vùng Donbass, sẽ tự nhiên tạo cái chốt tạm ngăn giấc mơ của Ukraine mà NATO không phải công khai từ bỏ nguyên tắc. Chính một lãnh đạo phương Tây đã yêu cầu Kiev công khai cam kết không tấn công lực lượng li khai ở Donbass và bắn tin việc kết nạp Ukraine sẽ không diễn ra trong tương lại gần.

Các bước đi đầu tạo không khí thuận lợi, lòng tin để đàm phán về kiểm soát triển khai lực lượng, tên lửa ở châu Âu, minh bạch các hoạt động quân sự, xây dựng cấu trúc an ninh mới phù hợp, mang lại lợi ích chung cho các nước.

Điều này rất cần thiết, nhưng cũng đầy khó khăn, thách thức, vì liên quan đến lợi ích, vị thế, chiến lược, chính sách đối ngoại và đối nội của các nước, nhất là nước lớn.

Vượt qua chính mình là điều rất khó khăn. Cuộc đấu trí, đấu lực sẽ kéo dài, cả năm 2022 và có thể hơn. Nhưng ít nhất, khi các bên chấp nhận ngồi đàm phán thì nguy cơ chiến tranh tạm thời bị đẩy lui./.


Yêu nước ST.

TRUNG QUỐC ĐÃ XUYÊN TẠC CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO?

         Trung Quốc gọi cuộc chiến xâm lược Việt Nam vào đầu năm 1979 là gì? - Cuộc chiến phản công tự vệ chống lại Việt Nam - tên tiếng Trung là 对越自卫反击战. Tại sao lại có cái tên đó? Trung Quốc đã nhào nặn vô lý ra cuộc chiến đó như thế nào.

Trên Baidu Baike - một nền tảng tương tự như Wikipedia được sở hữu, kiểm duyệt bởi chính quyền Trung Quốc viết rằng sau khi Việt Nam hoàn thành công cuộc thống nhất đất nước, Việt Nam ôm mộng thành lập nhà nước Liên Bang Đông Dương và tìm cách thôn tính toàn bộ bán đảo Đông Dương. Quan điểm này cũng được Netease Military đồng ý và trích dẫn từ các tư liệu Trung Quốc. Chính vì quan điểm bá quyền này của Việt Nam, nên Trung Quốc quyết định rằng sẽ phải làm điều gì đó để bảo vệ an ninh Đông Nam Á. Học giả Hai Xingzhou trả lời Netease News cho rằng Việt Nam có “tham vọng thôn tính cả Đông Nam Á”. Chuyên trang lịch sử iFeng nhận định ngoài Đông Dương, Việt Nam còn muốn thôn tính của Myanmar (?).

Sự thực thì Việt Nam không quan tâm đến cái gọi là Liên Bang Đông Dương và chưa từng có việc Việt Nam muốn hợp nhất cùng với Lào và Campuchia thành lập một nhà nước chung từ sau 1975. Quan điểm của cuộc đấu tranh chống Pháp, Nhật, Mỹ trước đó luôn là độc lập dân tộc, thống nhất lãnh thổ. Thực tế, có quan điểm về chủ nghĩa cộng sản sẽ lan rộng ra Đông Nam Á sau khi Việt Nam thống nhất, nhưng đó chỉ là quan điểm từ phía đối lập. Thêm nữa, việc vu cáo cho Việt Nam muốn thôn tính Myanmar và rộng ra cả Đông Nam Á là một luận điểm hơi buồn cười.

Cả trăm năm chiến tranh, muốn yên ổn chẳng được, lại muốn chiếm của Đông Nam Á? Cỏ Trung Quốc à?

Nhiều học giả Trung Quốc cho rằng Việt Nam đã hợp thức hóa thành lập Liên Bang Đông Dương bằng cách quấy rối tấn công trước Campuchia từ năm 1977. Nhưng lịch sử lại cho thấy rằng Khmer Đỏ chủ động nã pháo vào Việt Nam từ 05/1975 - tức là khi Việt Nam vừa hoàn thành thống nhất. Sau đó Khmer Đỏ tấn công Thổ Chu, Phú Quốc trong năm 1975 và tấn công An Giang từ 1975 đến 1977. Vậy thì ai mới là kẻ quấy rối và tấn công trước?

Một luận điệu vô lý khác nữa của Trung Quốc là Trung Quốc tấn công Việt Nam nhằm bảo vệ Campuchia trước cuộc xâm lược của Việt Nam diễn ra trước đó vào 01/1979. “Cuộc chiến của Trung Quốc nhằm động viên nhân dân Campuchia đứng lên chống Việt Nam” - được viết bởi Thời Báo Hoàn Cầu. Nhưng, vấn đề được đặt ra là, “nhân dân Campuchia chống Việt Nam” thời đó chính là Khmer Đỏ - một chính quyền được Trung Quốc ủng hộ nhiệt thành, chứ nhân dân Campuchia đích thực thì đang bị thảm sát rồi. Trong lúc nhân dân Campuchia bị thảm sát thì người Trung Quốc ở đâu? Liên Hợp Quốc ở đâu? Và khi người Việt Nam bị thảm sát, nhưng bằng chứng tố cáo được nộp ra thì đều bị phủ định. Mãi sau này khi các lãnh đạo Khmer Đỏ đứng trước vành móng ngựa, tội ác thảm sát người Việt mới được thừa nhận.

01/1978, Việt Nam bày tỏ mong muốn các nước XHCN hỗ trợ vấn đề Khmer Đỏ. Từ năm 1977, nhiều bằng chứng về Khmer Đỏ thảm sát dân thường Việt Nam, xâm nhập biên giới Việt Nam được đưa ra, nhưng Trung Quốc luôn nói không. Ngay khi Khmer Đỏ tiến hành diệt chủng, Trung Quốc cũng cho rằng các bằng chứng diệt chủng là “mù mờ”.

Lịch sử đã minh chứng rằng Khmer Đỏ là một chế độ diệt chủng tàn ác và quân tình nguyện Việt Nam cùng với nhân dân Campuchia đã đánh tan chế độ này. Không có bất cứ một cuốn sách lịch sử chính thống nào của người dân Campuchia nói Việt Nam xâm lược Campuchia cả. Và mới đây, một nguyên thủ ngoài Trung Quốc nói “Việt Nam xâm lược Campuchia” là Lý Hiển Long đã bị các lãnh đạo Campuchia lên án rất gay gắt vì xuyên tạc lịch sử, gợi nhớ ký ức diệt chủng tàn bạo.

Chính vì luận điệu “bảo vệ Campuchia”, Trung Quốc lại xuyên tạc rằng Việt Nam tuyên bố rằng “có quân đội mạnh thứ ba thế giới” sau Hoa Kỳ và Liên Xô. Báo chí Trung Quốc ghi rõ rằng “Việt Nam tuyên bố là quân đội mạnh thứ ba thế giới nên Trung Quốc đã nhất định phải ngăn chặn đà này”. Trên diễn đàn Zhidao Baidu, có rất nhiều topic được lập ra bởi dân mạng Trung Quốc về việc Việt Nam tuyên bố như trên. Nhưng không có bất cứ một tài liệu trích dẫn nào cho thấy một lãnh đạo, văn kiện, tài liệu nào của Việt Nam từng nói như vậy. Họ chỉ nói chung chung rằng sau khi thống nhất thì Việt Nam nói như trên. Trên Sohu Military, cũng vu cáo rằng Việt Nam tự tin vào “sức mạnh lớn thứ ba thế giới”. Còn Sina viết “Trung Quốc đã đánh bại Việt Nam và Ấn Độ để khẳng định Trung Quốc mới là lực lượng quân sự mạnh thứ ba vào giai đoạn 1970 - 1980”.

Bên cạnh đó, các tư liệu Trung Quốc khẳng định rằng Việt Nam là kẻ khai chiến, xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc qua sự kiện Đình Hào Sơn diễn ra vào 01/11/1978. Nhưng, Việt Nam lại có bằng chứng về các vụ việc Trung Quốc chủ động xâm phạm vào lãnh thổ Việt Nam từ trước đó. Các tư liệu quốc tế cũng chỉ ra Trung Quốc là phía “luôn gây ra những cuộc náo động biên giới” - từ Edward C. O'Dowd. Tại LHQ, Việt Nam nhiều lần đưa các bằng chứng về việc Trung Quốc xâm lấn biên giới, nhưng đều bị phủ quyết.

Lịch sử không được tính bằng thế kỷ, cũng không được tính bằng thiên niên kỷ. Cuộc đời mỗi người, sống được bao nhiêu năm? Lịch sử đã bị Trung Quốc bóp méo mà không dựa trên bất cứ một nguyên tắc, luật lệ và bằng chứng quốc tế nào cả. Khmer Đỏ diệt chủng người Campuchia, Trung Quốc đã làm gì? Không làm gì cả và đến giờ, họ vẫn rêu rao rằng họ đang vì người Campuchia, và nhiều người Campuchia lại tin vào điều đó.

Hai quốc gia đang gần nhau hơn từ quá khứ. Nhưng sự thực vẫn không được xóa nhòa.

Nhưng cuộc chiến chính nghĩa của dân tộc Việt Nam mãi là một cột mốc không phai./.

Môi Trường ST.

CÓ MỘT VIỆT NAM HÀO HÙNG NHƯ THẾ!

         "4 giờ 17 phút ngày 17/2/1979, giữa lúc nhân dân Hoàng Liên Sơn đang ngủ ngon thì bất thình lình hàng loạt viên đ.ại b.ác từ phía Bắc giội tới làm khắp biên giới b.ốc l.ửa ngùn ngụt. Hàng loạt quả đ.ại b.ác thi nhau trút xuống thị xã Lào Cai, Cốc Lếu, nhằm thẳng các cơ quan, nhà máy…"

Thiếu tướng, Anh hùng lực lượng v.ũ tr.ang nhân dân Lê Mã Lương kể lại: Từ mờ sáng 17/2 đến 5/3/1979, Trung Quốc huy động 600.000 quân, mở cuộc t.ấn c.ông quy mô lớn gồm nhiều quân đoàn, tập đoàn quân trên dọc biên giới 6 tỉnh phía Bắc nước ta (Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng đến Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu).


Mặc dù, quân Trung Quốc đông đảo như vậy nhưng những từ "run sợ" hay "lo sợ" chưa bao giờ có trong tư duy quân sự cũng như trong suy nghĩ của người Việt Nam.


Ngày 5-3, Chủ tịch Tôn Đức Thắng công bố Lệnh tổng động viên toàn quốc "để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đánh thắng hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của bọn bành trướng và bá quyền Trung Quốc".


Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi lệnh tổng động viên:


"Hỡi đồng bào và chiến sĩ yêu quý! Quân thù đang gi.ày x.éo non sông, đất nước ta. Độc lập, tự do, chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta đang bị xâm phạm. Hòa bình và ổn định ở Đông Nam châu Á đang bị đ.e d.ọa.


Dân tộc Việt Nam ta phải ra sức chiến đấu để tự vệ...

Toàn thể đồng bào các dân tộc anh em trong cả nước, các tôn giáo, đảng phái, già, trẻ, gái, trai hãy phát huy truyền thống Diên Hồng, triệu người như một, nhất tề đứng lên bảo vệ Tổ quốc".

Không khí sục sôi của những ngày tháng ấy cũng hiện lên rõ nét trong từng nét mặt sống, chiến đấu của quân và dân Việt Nam, hàng vạn, trăm vạn thanh niên đang tuổi 17,18 lập tức dừng bút, tất cả lên đường vì cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc, và vì sự t.ồn v.ong của Dân Tộc Việt Nam Anh Hùng./.
Môi Trường ST.