Thứ Hai, 21 tháng 2, 2022

 

Tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động theo quan điểm Đại hội XIII của Đảng

 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một thành tố trung tâm của hệ thống chính trị nước ta. Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Đồng thời, tiếp tục xây dựng và đổi mới đồng bộ các thành tố khác của hệ thống chính trị cũng là điều kiện để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Nhà nước vốn là “một trong những vấn đề phức tạp nhất, khó khăn nhất”(1) nhưng “là một vấn đề rất cơ bản, rất mấu chốt trong toàn bộ chính trị”(2). Vì thế, trong đường lối lãnh đạo của mình ở từng thời kỳ cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt coi trọng việc đề ra đường lối xây dựng và hoàn thiện Nhà nước - yếu tố trung tâm của hệ thống chính trị. Trong những năm sắp tới, Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”(3).

Những thành tựu cơ bản

Trước hết, qua hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, nhận thức về mô hình tổ chức quyền lực nhà nước đã có sự phát triển về chất để chỉ đạo quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước. Từ Nhà nước hành chính, quan liêu bao cấp, tổ chức và hoạt động theo mô hình tập quyền xã hội chủ nghĩa sang tổ chức quyền lực nhà nước theo mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với những nguyên tắc tổ chức và hoạt động mới, là một bước đột phá về nhận thức tư duy, lý luận để từng bước chỉ đạo quá trình cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đầu tiên, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 đã đề ra một nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước mới là: Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp với sự phân công rành mạch ba quyền. Tuy trong nguyên tắc này chưa có yếu tố kiểm soát quyền lực nhà nước, nhưng là bước đổi mới rất cơ bản trong tư duy để đề ra chủ trương “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994) khẳng định. Từ đó, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trở thành một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, có tầm chiến lược, bao gồm toàn bộ tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, là một định hướng cho quá trình cải cách bộ máy nhà nước trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo đó, năm 2001, Nhà nước ta đã tiến hành sửa đổi một số điều của Hiến pháp năm 1992 về tổ chức bộ máy nhà nước để thể chế hóa kịp thời các quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và lần đầu tiên trong Hiến pháp nước ta đã trang trọng ghi nhận: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân... Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”(4). Tiếp theo đó, Đại hội XI của Đảng đề cập đến vấn đề này và khẳng định: “Tiếp tục xây dựng, từng bước hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền”(5), trong đó đề cập đến vấn đề xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp. Có thể coi đây là một nhận thức mới, một sự thay đổi về chất trong tư duy, lý luận để tiến tới vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước mà Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) được ghi nhận thành nguyên tắc: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Và sau đó được Hiến pháp năm 2013 thể chế hóa thành nguyên tắc hiến định và hình thành các cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước (cơ chế nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước, cơ chế kiểm soát quyền lực lẫn nhau giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước theo luật định). Những quy định của Đảng và các quy định của Hiến pháp về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân đã đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước hơn 35 năm qua, đặc biệt là trong 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020. Hiến pháp năm 2013 và nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã nâng cao nhận thức, năng lực, hiệu quả quản lý, điều hành và năng lực kiến tạo phát triển của Nhà nước.

Hai là, qua hơn 35 năm đổi mới, đặc biệt là 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có bước phát triển mới, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đã từng bước được đổi mới, phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của đất nước và thông lệ quốc tế. Bộ máy nhà nước được sắp xếp ngày càng tinh gọn, gắn với tinh giản biên chế; hoạt động hiệu lực và hiệu quả hơn trước.

Ba là, cải cách hành chính, cải cách tư pháp trên một số lĩnh vực có bước tiến rõ rệt. Nền hành chính quốc gia đã được cải cách theo hướng phục vụ nhân dân, phục vụ doanh nghiệp. Tổ chức bộ máy của các cơ quan tư pháp, như tòa án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, cơ quan bổ trợ tư pháp tiếp tục được kiện toàn, chất lượng hoạt động có tiến bộ, bảo vệ tốt hơn lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân và doanh nghiệp.

Bốn là, nhận thức về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ngày càng đầy đủ, rõ nét, góp phần đấu tranh có hiệu quả với những biểu hiện lạm dụng, tha hóa quyền lực trong bộ máy Đảng và Nhà nước, mà đặc biệt là tình trạng tham nhũng, tiêu cực, được nhân dân và dư luận xã hội đồng tình và ủng hộ. Cơ chế nhân dân kiểm soát quyền lực được hình thành với chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các thành viên của Mặt trận bằng việc thể chế hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 thành hai chương, 11 điều về giám sát và phản biện xã hội trong Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015. Cơ chế giám sát và phản biện xã hội bước đầu phát huy hiệu quả trong việc góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước. Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước bên trong mỗi quyền và giữa các quyền được tăng cường. Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp tăng cường các hoạt động giám sát đối với việc thực hiện các quyền hành pháp và tư pháp. Bên trong mỗi quyền cũng đều tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để sớm phát hiện những biểu hiện tiêu cực, tham nhũng. Có thể nói, từ sau Hiến pháp năm 2013 đến nay, từ nhận thức đến tổ chức thực hiện, kiểm soát quyền lực đã được coi trọng, góp phần làm trong sạch bộ máy của Đảng và Nhà nước.

Năm là, vai trò của pháp luật và thực thi pháp luật ngày càng được chú trọng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Chỉ trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV vừa qua, Quốc hội đã xem xét và thông qua 72 dự án luật và 18 nghị quyết có quy phạm pháp luật, bao quát hầu khắp các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Từ việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các thiết chế nhà nước, về công chức, công vụ, về bảo đảm quyền tự do, dân chủ của công dân, về thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giáo dục, đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, văn hóa và quốc phòng - an ninh đều có bước nâng lên về chất lượng làm cho hệ thống pháp luật của nước ta ngày càng đồng bộ, khả thi, chứa đựng nhiều giá trị trong nước cũng như của nhân loại. Cùng với việc hoàn thiện pháp luật, việc tổ chức thi hành pháp luật cũng được coi trọng. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật được tăng cường; ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức được nâng lên một bước.

Một số hạn chế, bất cập cần khắc phục

Tuy thành tựu đạt được là cơ bản, nhưng công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong những năm qua cũng còn một số hạn chế, bất cập mà Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng chỉ ra cần phải khắc phục.

Thứ nhất, vấn đề đổi mới đồng bộ, phù hợp giữa kinh tế với chính trị, văn hóa, xã hội, giữa đổi mới kinh tế với đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước có một số mặt còn lúng túng. Ví dụ như, một trong những định hướng đổi mới giáo dục - đào tạo và y tế theo hướng xã hội hóa với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật và tổ chức bộ máy dịch vụ công còn nhiều lúng túng và thiếu đồng bộ.

Thứ hai, cơ chế kiểm soát quyền lực chưa hoàn thiện. Vai trò giám sát của nhân dân chưa được phát huy mạnh mẽ. Theo Hiến pháp năm 2013 thì giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp kiểm soát lẫn nhau trong việc thực hiện quyền lực nhà nước, nhưng mới chỉ coi trọng kiểm soát của quyền lập pháp đối với hành pháp và tư pháp thông qua giám sát tối cao của Quốc hội và giám sát của các cơ quan của Quốc hội. Cơ chế kiểm soát quyền lực bên trong mỗi quyền chưa độc lập và đủ mạnh. Cơ chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp hoạt động chưa thực chất, còn có biểu hiện hình thức.

Thứ ba, hệ thống pháp luật còn có những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu thống nhất, chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội mà thực tiễn đòi hỏi. Chấp hành pháp luật nhìn chung chưa nghiêm; kỷ cương phép nước có nơi, có lúc còn bị xem nhẹ; xử lý vi phạm pháp luật chưa kịp thời, chế tài xử lý chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển đất nước.

Thứ tư, tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở một số nơi chưa được đổi mới một cách mạnh mẽ; chức năng, nhiệm vụ, phân cấp, phân quyền chưa thật rõ ràng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động còn hạn chế. Số lượng cán bộ cấp xã và đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập vẫn còn quá lớn; phẩm chất, năng lực, uy tín còn hạn chế, thiếu tính chuyên nghiệp, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Định hướng tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động trong thời gian tới

Trước tình hình thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và có thể còn kéo dài do tác động của đại dịch COVID-19. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc. Ở trong nước, sau hơn 35 năm đổi mới, thế và lực của nước ta ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, vẫn còn một số khó khăn, như nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém, nguy cơ tụt hậu, rơi vào bẫy thu nhập trung bình vẫn còn lớn. Đứng trước bối cảnh tình hình trong nước và thế giới nói trên; đồng thời, để khắc phục những yếu kém, hạn chế, Đại hội XIII của Đảng đã đề ra các định hướng tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong thời gian tới, trong đó có những điểm mới so với trước đây.

Trước hết, Đại hội XIII của Đảng xác định tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Định hướng chung là: “Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước. Xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững”(6). Theo định hướng đó, Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra trong thời gian tới phải: “Tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tạo đột phá trong cải cách hành chính”(7) là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị trong những năm tới.

Có thể nói lần đầu tiên thuật ngữ: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động” chính thức được sử dụng trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng ta. Đây là sự tiếp tục phát triển và làm sâu sắc hơn bản chất và định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong điều kiện mới. Theo đó, trước hết, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải nâng cao năng lực kiến tạo phát triển tức là năng lực không chỉ nắm bắt và xử lý kịp thời một xã hội tràn ngập thông tin với sự liên kết trên bình diện xã hội rất nhanh chóng và mau lẹ, mà còn phải có khả năng phân tích thông tin, từ đó biết cách sáng tạo và áp dụng các tri thức mới để quản trị quốc gia (tức là năng lực kiến tạo). Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện ngày nay còn là một Nhà nước có một bộ máy quản lý điều hành hướng tới nhu cầu cải tạo môi trường quản lý, bảo đảm sự nhanh nhạy, linh hoạt về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, phương thức hoạt động, vừa kiến tạo bên trong chính mình, vừa kiến tạo môi trường mà nó vận hành. Đó còn là Nhà nước pháp quyền tập trung xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, phục vụ doanh nghiệp; nền hành chính dân chủ, tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền lấy thượng tôn pháp luật, công khai, minh bạch, liêm chính, phục vụ nhân dân, phục vụ doanh nghiệp làm nguyên tắc hàng đầu trong xử lý công việc. Đó là một nền hành chính gồm các công chức có năng lực kiến tạo, xác lập được sự kết nối xã hội, tạo dựng sự thống nhất và bình đẳng trong các mối quan hệ giữa các chủ thể khác nhau.

Hai là, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân theo các nội dung cụ thể sau:

Đối với việc xây dựng và hoàn thiện thiết chế Quốc hội, cần phải: “Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất”(8) theo các định hướng cụ thể và có nhiều điểm mới. Trước hết, hoạt động cơ bản của Quốc hội là hoạt động nghị trường, vì thế đổi mới phương thức hoạt động của Quốc hội, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động nghị trường là nhiệm vụ hàng đầu của đổi mới Quốc hội. Trong đó chủ yếu là phát huy dân chủ và pháp quyền trong việc thực hiện các chức năng lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng lập pháp theo hướng đẩy mạnh tiến độ ban hành các luật trực tiếp triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013. Tập trung xây dựng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân; hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp, cơ chế giám sát, lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội, hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn. Tăng cường công tác giám sát tối cao của Quốc hội và giám sát của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội. Thiết lập đồng bộ, gắn kết cơ chế giám sát tối cao của Quốc hội với giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân.

- Đối với việc xây dựng và hoàn thiện thiết chế Chính phủ: Định hướng tổng quát xây dựng thiết chế Chính phủ trong những năm tới được Đại hội XIII của Đảng xác định là: “Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch”(9). Để thực hiện mục tiêu tổng quát đó, nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Chính phủ trong những năm sắp tới là tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, trên cơ sở tổ chức hợp lý các bộ đa ngành, đa lĩnh vực; phát huy đầy đủ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, trong đó tập trung vào quản lý vĩ mô; xây dựng thể chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; tăng cường năng lực dự báo, phân tích và đề xuất chính sách dựa trên luận cứ khoa học và thực tiễn trong điều kiện mới. “Nhà nước quản lý, điều hành nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết trên cơ sở các quy luật thị trường. Tăng cường công tác giám sát, chủ động điều tiết, giảm các tác động tiêu cực của thị trường, không can thiệp, làm sai lệch các quan hệ thị trường”(10). Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, xác định rõ trách nhiệm giữa Chính phủ với các bộ, ngành; giữa Chính phủ, các bộ, ngành với chính quyền địa phương...; bảo đảm quản lý nhà nước thống nhất. Đồng thời, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của từng cấp, từng ngành. Nâng cao chất lượng dịch vụ công, tiếp tục sắp xếp tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tinh gọn, bảo đảm chất lượng, hoạt động hiệu quả. Thúc đẩy xây dựng chính quyền điện tử, tăng cường sự kết nối, trao đổi thông tin thường xuyên giữa cơ quan các cấp; giữa cơ quan, người dân và doanh nghiệp. Tập trung chỉ đạo quyết liệt, đầu tư hợp lý nguồn lực và các điều kiện để thực hiện tốt các nhiệm vụ, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện có hiệu lực, hiệu quả hệ thống pháp luật; thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, kiện toàn tổ chức, tinh giản hợp lý đầu mối, bỏ cấp trung gian. Gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật.

Đối với việc xây dựng và hoàn thiện các cơ quan tư pháp: Định hướng tổng quát xây dựng nền tư pháp Việt Nam là: “Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”(11). Theo đó, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ ra những nhiệm vụ cần phải làm trong những năm tới là “Nghiên cứu, ban hành Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030 định hướng đến năm 2045, trong đó có Chiến lược pháp luật và cải cách tư pháp. Tiếp tục đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động và uy tín của tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án và các cơ quan, tổ chức tham gia vào quá trình tố tụng tư pháp. Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các loại tranh chấp, khiếu kiện theo luật định”(12). Tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật của người dân và doanh nghiệp.

Đối với việc xây dựng và hoàn thiện chính quyền địa phương, định hướng chung là: “Tiếp tục hoàn thiện tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với địa bàn nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính, kinh tế đặc biệt theo luật định”(13). Theo đó, Đại hội XIII của Đảng chỉ ra các việc cần phải làm trong thời gian tới là tổng kết việc thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị nhằm xây dựng và vận hành các mô hình quản lý chính quyền đô thị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Cải cách phân cấp ngân sách nhà nước theo hướng phân định rõ ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương. Gắn kết và đổi mới tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội ở các cấp.

- Về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức: Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có tính chuyên nghiệp cao, có năng lực sáng tạo dựa trên cơ chế cạnh tranh về tuyển dụng, chế độ đãi ngộ và đề bạt; có phẩm chất đạo đức tốt và bản lĩnh chính trị vững vàng”(14). Theo đó, phải làm tốt các công việc: Tăng cường kỷ luật, kỷ cương đi đôi với cải cách tiền lương, chế độ chính sách đãi ngộ, tạo môi trường điều kiện để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, phục vụ phát triển; xây dựng cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài, khuyến khích bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp./.

(1), (2) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1977, t. 39, tr. 75, 76
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 174
(4) Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 2013, 1992, 1980, 1959, 1946), Nxb. Lao động, Hà Nội, 2014, tr. 67
(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia  Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 247
(6), (7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 174 - 175, 284
(8), (9), (10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 175, 176, 285
(11), (12), (13), (14) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 177, 177 - 178, 178, 288

TÍNH ĐỘC ĐÁO CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ

 

Tính độc đáo trong quan niệm của Hồ Chí Minh về dân chủ, trước hêt được thể hiện ỏ chỗ, với quan niệm dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ, Người không chỉ đặt nhân dân lên vị thê chủ thê xã hội - “địa vị cao nhất là dân”, “nhân dân là người chủ”, mà còn nói rõ môi quan hệ mật thiết, không thể tách rời giữa vị thê chủ thể xã hội của nhân dân với hành động làm chủ xã hội của nhân dân - “dân làm chủ”.

Với Hồ Chí Minh, dân chủ tức là dân làm chủ vận mệnh đât nước, quyền lực thuộc về nhân dân, “bao nhiêu quyền hạn đều của dân”. Nhân dân là người đóng vai trò quyết định đích thực đôi với vân mệnh của đất nước. Theo Hồ Chí Minh, việc để cao dân chủ, quan tâm đến việc đáp ứng nhu cầu dân chủ của ngưòi dân là một trong những chủ trương có tác dụng thúc đẩy một cách hiệu quả sự phát triển kinh tế - xã hội, vì dân chủ chính là lợi ích cao nhất mà moi người dân đều quan tâm và đòi hỏi phải được thực hiện. Vối quan điểm này, Người khẳng định: “Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân”, là lợi ích thiết thực của nhân dân, là cái thúc đẩy nhân dân hành động vì đất nước, vì dân tộc. Điều này cho thấy, với Hồ Chí Minh, dân chủ là động lực không chỉ cho những thành công của cách mạng giải phóng dân tộc, mà còn cho những thành công trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta.

 

MỘT SỐ KẾT QUẢ CỦA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN TRONG THỜI GIAN QUA

 


Tiếp tục làm sáng tỏ hơn lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta phù hợp với điều kiện của đất nước, con người, xã hội Việt Nam và thích ứng với những thay đổi của bối cảnh quốc tế trên cơ sở lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống của văn hoá dân tộc, tham khảo nhưng bài học kinh nghiệm của các nước, tống kết một cách sâu sắc, toàn diện và có hệ thống thực tiễn của công cuộc đổi mới đất nước.

Nghiên cứu làm rõ bản chất của nền kính tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề đổi mới và tạo lập đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đề xuất giải pháp cho một số lĩnh vực có tính chất quyết định trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, năng lực tham gia vào các định chế tài chính - tiền tệ quốc tế, nghiên cứu con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Nghiên cứu sự biến đổi của cơ cấu xã hội và quản lý sự phát triển xã hội ở nước ta trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Nghiên cứu nhằm đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta, đề xuất giải pháp thực hiện và phát huy dân chủ, củng cố vai trò của Đảng cầm quyền, cải cách bộ máy hành chính Nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyển XHCN của dân, do dân và vì dân, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho việc tạo lập và phát triển đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Nghiên cứu cơ bản, toàn diện và có hệ thống về tiến trình lịch sử và diện mạo của nền văn hoá Việt Nam với tư cách là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, sáng tạo những giá trị văn hoá mới của Việt Nam, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Nghiên cứu cơ bản lề con người và nguồn nhân lực với tư cách là chủ thể xã hội, có trình độ học vấn, mang đậm tính nhân văn và các giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa của văn hoá nhân loại, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Nghiên cứu bản chất, đặc điểm, nội dung của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện dại và sự phát triển của kinh tế tri thức trong thế kỷ XX, trong đó chú trọng mặt xã hội và sự tác động của cuộc cách mạng này đến tiến trình phát triển của Việt Nam. Kết hợp và phát huy sức mạnh tổng hợp của khoa học xã hội và nhân văn với khoa học tự nhiên và công nghệ trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, bạo động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội và quốc phòng an ninh của đất nước.

Nghiên cứu các xu thế phát triển chủ yếu của thế giới và khu vực những thập niên đầu thế kỷ XXI. Những tác động nhiều mặt của quá trình toàn cầu hoá. Dự báo xu thế phát triển chủ yếu của khu vực và thế giới, tranh thủ tối đa thời cơ và lợi thế, phòng ngừa và tránh được các bất lợi, rủi ro, tập trung mọi nguồn lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tiếp tục nghiên cứu chủ nghĩa tư bản hiện đại trong bối cảnh toàn cầu hoá, sự tác động về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, quân sự của chủ nghĩa tư bản hiện đại, các chủ thể mới trong quan hệ quốc tế... có ảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược phát triển của Việt Nam nhằm định rõ vị thế, vai trò, bước đi, chính sách hội nhập kinh tế của Việt Nam vào các thể chế toàn cầu và khu vực.

Tiến hành điều tra cơ bản, tổng hợp liên ngành trên những địa bàn và lĩnh vực kinh tế - xã hội trọng điểm nhằm tổng kết thực tiễn, làm cơ sở cho công tác nghiên cứu lý luận, cung cấp luận cứ khoa học cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và các ngành, vùng trọng điểm.

Nghiên cứu cơ bản, toàn diện và có hệ thống những vấn đề lý thuyết của các chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn. Làm sáng tỏ nội dung những vấn đề cơ bản, những vấn đề có tính quy luật của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nghiên cứu quy luật phát triển của khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam. Tổng kết và đánh giá sự phát triển của khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam trong thế kỷ XXI định hướng phát triển trong thế kỷ XXI nhằm nâng cao năng lực dự báo, khả năng phát hiện và lý giải những vấn đề thực tiễn do đất nước đặt ra, góp phần nâng cao chất lượng và trình độ nghiên cứu lý luận.

Tổ chức biên soạn những công trình trọng điểm mang tầm cỡ quốc gia, thuộc các lĩnh vực lịch sử, văn hoá, văn học, ngôn ngữ, dân tộc, tôn giáo... nhằm phục vụ kịp thời các nhu cầu cấp bách của xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG, TĂNG CƯỜNG “SỨC ĐỀ KHÁNG” CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN, ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI

 

Hiện nay các thế lực thù địch cách mạng Việt Nam đang ráo riết tuyên truyền, phê phán đường lối quan điểm của Đảng, xuyên tác bản chất nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân và vì dân. Để đấu tranh chống các quan điểm phản diện, thù địch chúng ta cần:

Cần chú trọng đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập nghị quyết của Đảng. Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp Trung ương; nâng cao chất lượng giáo dục chính trị trong hệ thống các cơ sở giáo dục - đào tạo; đổi mới chương trình, nội dung giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo. Tăng cường giáo dục những nguyên lý cơ bản, giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng sáng tạo, phát triển của Đảng. Tuyên truyền sâu rộng những giá trị văn hóa truyền thống, bài học kinh nghiệm lịch sử trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tinh thần yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Đồng thời, làm cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội; xây dựng văn hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; có lập trường, tư tưởng vững vàng, có tri thức, giàu tình cảm, đạo đức cách mạng trong sáng và lối sống lành mạnh; nhận diện rõ ràng âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động của các thế lực thù địch tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hiện nay.

 

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC SỐNG MÃI

 

Lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác cũng như lý tưởng và sức sống mãnh liệt của Cách mạng Tháng Mười Nga là những giá trị vĩnh hằng, có sức sống trường tồn cùng nhân loại bởi “cái ngày vĩ đại ấy càng cách xa chúng ta thì ý nghĩa của cuộc CMVS Nga càng trở nên rõ rệt, chúng ta cũng càng suy nghĩ sâu về toàn bộ kinh nghiệm thực tiễn của công tác của chúng ta”(1), thấy rõ hơn giá trị và ý nghĩa hiện thực của Cách mạng Tháng Mười Nga; đặc biệt là những cống hiến vĩ đại của Lênin đối với việc khai mở con đường thực hiện tiến bộ xã hội, đưa các dân tộc thuộc địa thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, trở thành chủ nhân xây dựng cuộc sống mới, sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.

Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, phát triển không phải là một đường thẳng mà có lúc sẽ diễn ra quanh co, phức tạp. Sự  ra đời, tồn tại, phát triển và sụp đổ của các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô trong thập kỷ 90 của thế kỷ 20 phần nào đã nói lên sự “dích dắc” đó. Song, không vì thế mà tiến trình lịch sử bị đảo lộn, bị “ngưng đọng”, “thụt lùi”.

Theo quy luật tiến hóa của loài người, lịch sử vẫn tiếp tục vận động và phát triển. Những tổn thất từ sự sụp đổ của một số nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô là đáng tiếc nhưng nó chỉ có thể làm chậm bước tiến của nhân loại trên con đường đi lên CNXH.

ĐẤU TRANH CHỐNG QUAN LIÊU TRONG BỘ MÁY CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

 

Quan liêu là một trong những căn bệnh rất nguy hại trong công tác lãnh đạo. Nó được ví như giặc nội xâm làm suy yếu Đảng và đạo đức cách mạng của Đảng. Quan liêu tiếp tay cho cán bộ yếu kém, thoả hiệp với những kẻ xấu làm tổn hại tới sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nó làm băng hoại đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên. Quan liêu, mệnh lệnh đã trở thành một bức tường ngăn cách, tách rời Đảng, Chính phủ với nhân dân, tách rời lợi ích của nhân dân với chính sách của Đảng và Nhà nước. Quan liêu làm “biến dạng” các tổ chức đảng và cơ quan nhà nước, làm cho những tổ chức này xa dân, đứng trên nhân dân và có những chủ trương, chính sách không sát hợp lòng dân, thậm chí đi ngược lại lợi ích của nhân dân. Kết quả là “quần chúng không tin, không phục, càng không yêu họ. Chung quy là họ không làm nên trò trống gì”, đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ có khi không thấu đến quần chúng hoặc bị thi hành lệch lạc, kết quả là hỏng việc lại mất lòng người. Quan liêu, xa rời quần chúng của một bộ phận cán bộ, đảng viên được Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra là căn bệnh tồn tại khá phổ biến và gây hại trực tiếp đến sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Do vậy, nhận diện căn bệnh này và tìm cách khắc phục nó là một trong những vấn đề có ý nghĩa quan trọng, cấp thiết trong công tác xây dựng Đảng hiện nay.

 

Nhận thức vấn đề “Đối tác” và “đối tượng”hiện nay

 


Đại hội XIII của Đảng đưa ra định hướng hoạt động đối ngoại, đó là: “Đẩy mạnh đối ngoại song phương và nâng tầm đối ngoại đa phương... Coi trọng phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị, truyền thống với các nước láng giềng... Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và đối tác quan trọng khác... Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước” theo đó: “đối tác”, là tất cả các chủ thể tôn trọng, thừa nhận, ủng hộ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc  theo đường lối, quan điểm của chúng ta, không can thiệp công việc nội bộ , không chống phá công cuộc, sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta. Có thể dễ dàng nhận thấy ngoài hai nước Lào và Cam-pu-chia có quan hệ “láng giềng đặc biệt”, cho đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 17 nước và đối tác toàn diện với 13 nước. Trong số các đối tác, Việt Nam cũng đặt thứ tự ưu tiên với các nước láng giềng, tiếp đó là các đối tác chiến lược và đối tác toàn diện.Tuy nhiên, quan hệ đối tác của Việt Nam không chỉ dừng lại ở những đối tác truyền thống, đối tác chiến lược và đối tác toàn diện, mà còn bao gồm cả các “đối tác quan trọng khác”. Cho đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 189/193 nước thành viên của Liên hợp quốc, là thành viên của nhiều tổ chức khu vực và quốc tế

Đại hội XIII chỉ rõ đó là những lực lượng có “âm mưu, hành động can thiệp... vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước”( cả những thách thức 1- Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp. 2- Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định... là những thách thức rất lớn đối với nước ta trong thời gian tới(12).

ĐẤU TRANH CHỐNG QUAN LIÊU TRONG BỘ MÁY CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

 

Quan liêu là một trong những căn bệnh rất nguy hại trong công tác lãnh đạo. Nó được ví như giặc nội xâm làm suy yếu Đảng và đạo đức cách mạng của Đảng. Quan liêu tiếp tay cho cán bộ yếu kém, thoả hiệp với những kẻ xấu làm tổn hại tới sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nó làm băng hoại đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên. Quan liêu, mệnh lệnh đã trở thành một bức tường ngăn cách, tách rời Đảng, Chính phủ với nhân dân, tách rời lợi ích của nhân dân với chính sách của Đảng và Nhà nước. Quan liêu làm “biến dạng” các tổ chức đảng và cơ quan nhà nước, làm cho những tổ chức này xa dân, đứng trên nhân dân và có những chủ trương, chính sách không sát hợp lòng dân, thậm chí đi ngược lại lợi ích của nhân dân. Kết quả là “quần chúng không tin, không phục, càng không yêu họ. Chung quy là họ không làm nên trò trống gì”, đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ có khi không thấu đến quần chúng hoặc bị thi hành lệch lạc, kết quả là hỏng việc lại mất lòng người. Quan liêu, xa rời quần chúng của một bộ phận cán bộ, đảng viên được Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra là căn bệnh tồn tại khá phổ biến và gây hại trực tiếp đến sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Do vậy, nhận diện căn bệnh này và tìm cách khắc phục nó là một trong những vấn đề có ý nghĩa quan trọng, cấp thiết trong công tác xây dựng Đảng hiện nay.
 

ĐẤU TRANH CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH HIỆN NAY LÀ VẤN ĐỀ CẤP THIẾT

             Chủ nghĩa Đế quốc và các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu xóa bỏ CNXH ở nước ta; Vì vậy, hiện nay và trong những năm tới đấu tranh chng “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập;  “phi chính trị hóa” quân đội …vẫn và luôn là mặt trận nóng bỏng, quyết liệt và vô cùng khó khăn, phức tạp.

Để chống phá ta, các thế lực thù địch và cơ hội chính trị đang triệt để lợi dụng các vấn đề môi sinh, môi trường, những bức xúc của người dân một số địa phương trong giải phóng mặt bằng, tai nạn trong huấn luyện quân sự và giao thông..., để xuyên tạc, bóp méo sự thật, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đôi với Đảng, Nhà nước, quân đội ta. Họ kích động tâm lý, tập hợp đông người ký đơn, khiếu kiện tập thể, tổ chức biểu tình, lãn công, bãi công, làm rối loạn trật tự an toàn xã hội, gây mất ôn định chính trị, tạo áp lực lốn lên Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương.

Chúng tiến công, phản bác chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với hy vọng hạ bệ và thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng hệ tư tưởng tư sản. Họ xuyên tạc: Con đưòng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta lựa chọn, đang đi là không phù hợp, chỉ đưa đất nước “luẩn quẩn trong cảnh đói nghèo”...; và cho rằng, cần tiến hành cuộc cách mạng dân chủ theo kiêu phương Tây, tạo ra “cuộc chuyển giao quyền lực êm thâm, không đổ máu”. Họ chống phá Đảng, Nhà nưốc, chế độ ta rất quyết liệt với mọi thủ đoạn nham hiểm, tinh vi, với đa dạng hình thức, biện pháp: sử dụng hệ thống phương tiện truyền thông; không gian mạng, in ấn…sách báo,...truyên truyền, xuyên tạc, kích động…. nhằm làm cho một bộ phận người dân hoài nghi về tính đúng đắn của lý luận Mác - Lênin, tư tưỏng Hồ Chí Minh, dao động, hoang mang vê' tư tưởng, dẫn đến mất phương hướng chính trị, cả về tư tưỗng, lý luận và văn hóa. Đó là cách chúng tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưỏng Hồ Chí Minh, phá võ trận địa tư tưỏng vô sản, thiết lập sự thống trị của hệ tư tưởng tư sản trong xã hội ta.

Chống phá chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Họ xuyên tạc, phê phán các vấn đề cốt lõi trong  học thuyết như phủ nhận lý luận hình thái kinh tế xã hội của Mác; Xuyên tạc học thuyết giá trị thặng dư; phê phán lý luận về thời đại ngày nay, phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, các nguyên lý về Đảng kiểu mới của Lê-nin; bôi nhọ lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác – lênin; cổ súy, ca ngợi chủ nghĩa tư bản, xuyên tạc, bóp méo sự thật, phủ nhận những giá trị khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm đổi mới hiện nay ở nước ta…thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ Đảng viên và nhân dân.

Tình hình đó làm cho cuộc đấu tranh chông “diễn biến hòa bình” càng trở nên khó khăn, phức tạp hơn…..

Bên cạnh sự tiến công toàn diện và quyết liệt của các thê lực thù địch, thì trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những biểu hiện mới, rất phức tạp. Đây thực sự là một nguy cơ đối với vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng.

Vì vậy, đấu tranh với âm mưu DBHB,BLLĐ là nhiệm vụ hết sức quan trọng cần thiết lúc này……….Nếu không chống được thì sẽ bất ổn chính trị…..không tập trung cho phát triển kinh tế….Làm rối loạn xã hội…..

Nâng cao hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong đấu tranh chống “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch

 


Âm mưu "phi chính trị hoá quân đội" là một thủ đoạn thâm độc trong chiến lược "diễn biến hoà bình" của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm chống phá chủ nghĩa xã hội ở nước ta, nhằm làm cho quân đội  ta đứng ngoài chính trị, mất phương hướng và mục tiêu chiến đấu; là mưu đồ tước bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội - vô hiệu hoá vai trò quân đội - công cụ bạo lực sắc bén của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Để đấu tranh làm thất bại âm mưu "phi chính trị hoá quân đội" của thế lực thù địch, yêu cầu đặt ra đối với nhiệm vụ công tác đảng, công tác chính trị trong tình hình hiện nay cần làm tốt một số nội dung cơ bản sau:

Một là, công tác đảng, công tác chính trị phải thường xuyên coi trọng công tác giáo dục giác ngộ lập trường giai cấp cho cán bộ chiến sỹ.

Quân đội bao giờ cũng mang bản chất của một giai cấp nhất định, không có quân đội đứng trên, đứng ngoài giai cấp, quân đội phi giai cấp, siêu giai cấp. Quân đội ta do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, tổ chức , lãnh đạo và giáo dục. Đó là quân đội kiểu mới mang bản chất giai cấp công nhân, chiến đấu vì lý tưởng cách mạng của Đảng, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam. Vì vậy giáo dục giác ngộ giai cấp trở thành một nội dung quan trọng, nhằm trang bị tri thức về chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, mục tiêu lý tưởng, đường lối quan diểm của Đảng, nhiệm vụ của cách mạng, nhiệm vụ của quân đội và âm mưu thủ đoạn của kẻ thù cho cán bộ chiến sỹ. Trên cơ sở đó, xây dựng bản lĩnh chính trị, lập trường giai cấp, củng cố niềm tin cho cán bộ, chiến sỹ vào sự lãnh đạo của Đảng, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Sự giác ngộ giai cấp sâu sắc của cán bộ chiến sỹ có tác dụng trực tiếp góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị tư tưởng, ngăn chặn sự xâm nhập lây lan của tư tưởng thù địch, phản động, làm thất bại âm mưu phi chính trị hoá của kẻ thù. Coi trọng giác ngộ giai cấp phải đi đôi với giáo dục chủ nghĩa yêu nước, bồi dưõng tình cảm đối với quê hương đất nước, con người Việt Nam cho cán bộ chiến sỹ quân đội. Có như vậy mới bảo đảm cho quân đội ta gắn bó với Tổ quốc, với nhân dân, với chế độ xã hội chủ nghĩa, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, nhân dân giao phó.

Hai là, công tác đảng, công tác chính trị phải góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ quân đội đủ sức đấu tranh chống âm mưu phi chính trị hoá của kẻ thù.

Đội ngũ cán bộ mạnh không chỉ có giác ngộ tốt mà còn phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ trong mọi hoàn cảnh. Trong điều kiện kinh tế thị trường và sự chống phá quyết liệt của kẻ thù hiện nay, vấn đề nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ quân đội không chỉ đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội về chính trị mà còn có ý nghĩa trực tiếp quyết định đánh bại âm mưu phi chính trị hoá quân đội của kẻ thù. Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ quân đội hiện nay được thể hiện ở sự kiên định con đường cách mạng của Đảng và Bác Hồ đã chọn, kiên trì hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; thấm nhuần chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước; tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới; có ý chí quyết tâm cao, nhạy bén sắc xảo về chính trị, có năng lực hoạt động thực tiễn và phương pháp tác phong công tác tốt; có lối sống trong sạch, giản dị, khiêm nhường, không bị cám dỗ bởi lối sống cá nhân chủ nghĩa, thực dụng chạy theo đồng tiền, chạy theo lợi ích vật chất tầm thường; không ngại khó, ngại khổ, ngại học, ngại rèn, thiết thực nâng cao trình độ, năng lực toàn diện, đáp ứng với đòi hỏi của thời kỳ mới. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không để cho kẻ thù mua chuộc, lôi kéo làm biến chất đội ngũ cán bộ, biến chất quân đội về chính trị.

Ba là, công tác đảng, công tác chính trị phải làm tốt cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị tư tưởng và văn hoá.

Để làm thất bại âm mưu phi chính trị hoá quân đội của kẻ thù, đòi hỏi chúng ta phải củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong quân đội. Mặt khác phải đặc biệt quan tâm theo dõi tích cực, chủ động và bằng mọi biện pháp, hình thức khác nhau với cơ chế thích hợp để chống hệ tư tưởng và lối sống tư sản với mọi biểu hiện đa dạng, tinh vi, hàng ngày hàng giờ xâm nhập vào quân đội ta. Đấu tranh trên lĩnh vực chính trị tư tưởng và văn hoá trở thành mặt trận xung yếu, nóng bỏng, gay go quyết liệt, phức tạp với cường độ ngày càng gia tăng. Hiệu quả của cuộc đấu tranh này quyết định bản chất chính trị giai cấp, vai trò của quân đội ta trong giai đoạn cách mạng mới.

Bốn là, nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục, đào tạo trang bị kiến thức cơ bản cho bộ đội nhất là lý luận Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, nhiệm vụ của quân đội trong tình hình mới.

Thực hiện tốt nội dung này nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ và cương vị chức trách được giao. Đồng thời phải thường xuyên chăm lo xây dựng quân đội, xây dựng từng đơn vị vững mạnh về mọi mặt, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống tốt, nhạy bén sắc sảo về chính trị, đủ sức làm nòng cốt trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị tư tưởng hiện nay.

Năm là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với mọi hoạt động của đơn vị, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Bản chất trong âm mưu "phi chính trị hoá quân đội" của kẻ thù là sự tước bỏ quyền lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, trước hết là các cấp ủy đảng ở cơ sở. Do đó, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng ở cơ sở có ý nghĩa quyết định làm thất bại âm mưu "phi chính trị hoá quân đội" của kẻ thù. Cần tập trung xây dựng các tổ chức đảng thật sự trong sạch vững mạnh, có sức chiến đấu cao; xây dựng cấp ủy viên, trước hết là bí thư cấp ủy ở cơ sở có đủ phẩm chất, năng lực lãnh đạo mọi mặt của đơn vị. Tiếp tục quán triệt sâu sắc, tổ chức thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, tiến hành tự phê bình và phê bình thẳng thắn, trung thực trong đảng bộ cơ sở; xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên tiền phong gương mẫu về mọi mặt, thực sự là hạt nhân đoàn kết, tổ chức lãnh đạo đơn vị chấp hành nghiêm túc đường lối của Đảng và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao./.

 

Đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc Quy định số 37-QĐ/TW, của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về “Những điều đảng viên không được làm”


 Ngày 25/10/2021, Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam (khóa XIII) ký ban hành Quy định số 37-QĐ/TW về “Những điều Đảng viên không được làm” (3) (sau đây gọi là Quy định số 37), nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới.

Thế nhưng, với thái độ hằn học, dã tâm thâm độc, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã đưa ra những lời lẽ xuyên tạc, với thủ đoạn “kẻ tung, người hứng”. Một số đài báo nước ngoài và các trang mạng xã hội, như: “Việt Tân”, “Việt Nam thời báo”, “Tiếng dân”… đã dùng những luận điệu dối trá để dẫn dắt dư luận rằng: “Quy định số 37 là không cần thiết, lấn sân sang cơ quan hành pháp; vì những điều trong Quy định số 37 pháp luật cũng cấm rồi, chỉ những đảng viên đứng trên pháp luật, nằm ngoài pháp luật thì mới cần quy định này”. Thực chất, những luận điệu xuyên tạc trên nhằm mục đích hạ thấp vị trí, vai trò, ý nghĩa quan trọng của Quy định số 37; phủ nhận những thành tựu to lớn của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tạo ra tình trạng “tự diễn biến tư tưởng” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng Nhân dân; đồng thời, gây dư luận tiêu cực để hạ thấp uy tín của Đảng với động cơ đen tối, nhằm chống phá Đảng ta. Do đó, chúng ta cần khẳng định rằng, trong bối cảnh hiện nay, việc Đảng ta ban hành Quy định số 37 về “Những điều đảng viên không được làm” là rất cần thiết, mang tính cấp bách bởi một số lý do sau đây:

Thứ nhất, quy định về kỷ luật Đảng là công việc hệ trọng, nhằm xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với niềm tin của Nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng; góp phần ngăn chặn từ sớm, từ xa sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; phòng ngừa “tự diễn biến, tự chuyển hóa”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn chúng ta: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” (4).

Thứ hai, sau 10 năm thực hiện Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 về “Những điều đảng viên không được làm” (2) đã tạo sự chuyển biến rõ rệt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đội ngũ cán bộ, đảng viên đã nhận thức rõ hơn về nhiệm vụ, trách nhiệm đối với công tác xây dựng Đảng và việc tự tu dưỡng, tự rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống. Tuy nhiên, quá trình tổ chức thực hiện, một số nội dung trong Quy định số 47 đã xuất hiện những bất cập trong công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đảng viên hiện nay. Chính vì vậy, việc Đảng ta ban hành Quy định số 37 thay thế Quy định số 47 là để tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Thứ ba, Quy định số 37-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) được ban hành chính là cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Hiến pháp năm 2013, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII), Kết luận số 21-KL/TW “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”…

Như vậy, việc Đảng ta ban hành Quy định số 37 là hết sức cần thiết, nhằm tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước và giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên; từ đó, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Điều đó hoàn toàn trái ngược với những luận điệu bóp méo sự thật của các thế lực thù địch cho rằng: “Đảng đang suy yếu và rệu rã nên phải ban hành Quy định số 37”.

Ngoài những luận điệu chống phá trên, các thế lực thù địch còn công kích, xuyên tạc vào một số điểm mới bổ sung trong Quy định. Đáng chú ý, tại Điều 3 đã quy định: “Cấm đảng viên phản bác, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh…”. Các thế lực thù địch cho rằng: “việc Đảng ta bổ sung điều này chứng tỏ Đảng đang đứng bên bờ suy vong, chế độ sắp suy tàn do sự tha hóa biến chất của cán bộ, đảng viên”. Điển hình như đối tượng Nguyễn Huy Vũ cố tình suy diễn rằng: “mục đích duy nhất hiện nay của đảng viên chỉ vì lợi ích vật chất và địa vị; đã qua rồi cái thời mà người ta tham gia vào Đảng Cộng sản vì lý tưởng thơ ngây”. Đây là những luận điệu phản động, thù địch, nhằm ý đồ quy chụp, phủ nhận bản chất cách mạng của Đảng ta. Bởi vì, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, nên mỗi quần chúng ưu tú khi vào Đảng đều phải phấn đấu, rèn luyện vì mục đích lý tưởng cách mạng của Đảng; kiên định, trung thành với nền tảng tư tưởng, chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ Đảng. Vì vậy, việc bổ sung, phát triển quy định trên là yêu cầu, đòi hỏi khách quan trong công tác xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị.

Trong Điều 9 của Quy định số 37, Đảng ta cấm: “… đảng viên không được nhập quốc tịch, chuyển tiền, tài sản ra nước ngoài, mở tài khoản và mua bán tài sản ở nước ngoài trái quy định”. Bằng sự suy diễn vô căn cứ, nhìn nhận vấn đề phiến diện, các thế lực thù địch cho rằng: “việc cấm đảng viên mở tài khoản và mua bán tài sản ở nước ngoài là vi phạm quyền công dân mà Hiến pháp Việt Nam đã quy định”; chúng viện dẫn một số vụ tham nhũng, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên để đánh đồng hiện tượng tham nhũng là bản chất của chế độ ta, nên Đảng mới bổ sung điều cấm này vào Quy định. Chúng ta thấy rõ, luận điệu trên của các thế lực thù địch đã cố tình lờ câu cuối của điều này, đó là: “trái quy định của pháp luật, trái quy định của Đảng” để công kích, chống phá.

Tại Điều 1, Quy định số 15-QĐ/TW, ngày 28/8/2006 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) về “Đảng viên làm kinh tế tư nhân” đã nêu rõ: “Đảng viên làm kinh tế tư nhân phải trực tiếp tham gia lao động; có quyền kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật không cấm…” (1). Như vậy, quan điểm nhất quán của Đảng ta là động viên, khuyến khích mọi công dân Việt Nam; trong đó, có đội ngũ đảng viên tham gia phát triển kinh tế, làm giàu chính đáng, làm giàu đúng pháp luật. Hơn nữa, trong thực tế, chỉ những đảng viên tha hóa, thiếu niềm tin, thiếu trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân mới nhập quốc tịch nước ngoài; những đảng viên chuyển tiền ra nước ngoài là biểu hiện cho sự suy thoái, phải làm như vậy để che đậy tài sản làm ăn phi pháp. Vì thế, đây là điều cấm thể hiện quyết tâm cao của Đảng trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, lãng phí; đáp ứng tốt hơn yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong bối cảnh hiện nay.

Có thể khẳng định, Quy định số 37 ra đời được ví như “chiếc gương” để mỗi tổ chức đảng, đảng viên “tự soi, tự sửa”, không để mình bị tha hóa, biến chất. Thực hiện tốt những điều đảng viên không được làm trong Quy định số 37-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) sẽ góp phần xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng “là đạo đức, là văn minh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn. Để phòng, chống, đấu tranh có hiệu quả những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch; trước hết, mỗi cơ quan, đơn vị cần quản lý, nắm chắc tình hình hoạt động trên các trang mạng xã hội; chủ động đề ra các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn từ sớm, từ xa với những luồng dư luận trái chiều. Cùng với đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng trong đơn vị nắm chắc và thực hiện nghiêm những nội dung trong Quy định số 37, gắn với vạch trần tính chất nguy hiểm của chiêu trò thổi phồng mặt trái, khuyết điểm mà các thế lực thù địch đang tiến hành, nhằm chống phá cách mạng Việt Nam nói chung, chống phá Đảng ta nói riêng.

Đối với mỗi cá nhân, nhất là những người tham gia mạng xã hội cần hết sức cảnh giác, tỉnh táo để không “nối giáo cho giặc”. Trước mọi thông tin cần có nhãn quan chính trị rõ ràng; nhìn nhận vấn đề phải khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển; phân tích thông tin một cách đa chiều, tìm ra bản chất của vấn đề, tránh mắc mưu địch. Khi tiếp cận thông tin, cần phải phân biệt được: đâu là thông tin chính thống; đâu là những thông tin sai trái, xuyên tạc, phản động; tuyệt đối không chia sẻ những thông tin xấu độc trên các trang mạng xã hội; kiên quyết phê phán, đấu tranh để bảo vệ cái đúng, loại trừ cái sai trái, tiêu cực. Đó chính là biện pháp hữu hiệu để mỗi cán bộ, đảng viên tự miễn dịch trước những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch./.

Tài liệu tham khảo:

1. Ban Chấp hành Trung ương, Quy định số 15-QĐ/TW, ngày 28/8/2006 về “Đảng viên làm kinh tế tư nhân”, Hà Nội, 2006.

2. Ban Chấp hành Trung ương, Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 về “Những điều đảng viên không được làm”, Hà Nội, 2011.

3. Ban Chấp hành Trung ương, Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 về “Những điều đảng viên không được làm”, Hà Nội, 2021.

4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.260.

 


Sắt son niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

 


Ngày 03/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Kể từ đây, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, dân tộc Việt Nam đại đã từ đêm trường nô lệ, lầm than bước ra ánh sáng “Đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Suốt dặm trường chinh tiến hành cách mạng, đánh đuổi thực dân, đế quốc, giành độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc và ấm no cho Nhân dân, Đảng ta luôn thể hiện rõ vai trò lãnh đạo, trí tuệ sáng suốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và mục tiêu, lý tưởng cao đẹp đã xác định, luôn gắn bó mật thiết với Nhân dân, thủy chung, trong sáng với bạn bè quốc tế. Rất nhiều cán bộ, đảng viên ưu tú của Đảng đã cống hiến trọn đời mình cho Tổ quốc và Nhân dân, anh dũng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng, thực sự là những tấm gương sáng để mọi người noi theo.

 

Đất nước bước vào thời kỳ mới, bối cảnh thế giới và khu vực vừa tạo ra cơ hội thuận lợi và khó khăn thách thức đan xen, hội nhập quốc tế sâu rộng và cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư tác động đa chiều đến sự phát triển của đất nước. Các thế lực phản động, thù địch, cơ hội chính trị chống phá nước ta quyết liệt, trực diện hơn. Đại dịch Covid – 19 bùng phát trên thế giới và trong nước rất nghiêm trọng, ảnh hưởng nặng nề đến mọi mặt đời sống xã hội, sức khỏe và tính mạng của Nhân dân. Tình trạng tham nhũng, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ còn diễn biến rất phức tạp…

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, thời gian qua, nước ta đã và đang gặt hái được những thành tựu to lớn, đáng trân trọng và tự hào trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đại hội đảng các cấp, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp thành công rất tốt đẹp đã cho thấy niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, Chính phủ và chế độ Xã hội chủ nghĩa được nâng cao. Nền kinh tế liên tục tăng trưởng cao so với thế giới và khu vực; chính trị ổn định; văn hóa – xã hội có bước phát triển mới; quốc phòng – an ninh được củng cố ngày càng vững chắc; đối ngoại được mở rộng và tăng cường… Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, sự quản lý và điều hành của Nhà nước, Chính phủ, cả hệ thống chính trị chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi mục tiêu kép. Vừa phòng chống dịch khá hiệu quả, vừa phát triển kinh tế – xã hội, năm 2021 vừa qua, tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt mốc 2,58%, nằm trong TOP 20 nền kinh tế đứng đầu thế giới về thương mại, là điểm sáng trong bức tranh kinh tế toàn cầu. Trong thời gian qua, chúng ta đã đấu tranh làm thất bại mọi mưu đồ đen tối của các thế lực phản động, thù địch, cơ hội chống đối chính trị; tình trạng suy thoái, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từng bước được kiềm chế, ngăn chặn và đẩy lùi. Có thể khẳng định rằng, chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó càng củng cố niềm tin của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vào mục tiêu, lý tưởng, con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn; tạo động lực, khí thế mới đưa nước ta bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Đảng đã mang lại 92 mùa Xuân tươi đẹp cho đất nước ta. Tự hào về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, dân tộc anh hùng, các tổ chức Công đoàn, Phụ nữ, Đoàn Thanh niên Học viện Lục quân nói chung và mỗi đoàn viên, hội viên của các tổ chức quần chúng Hệ Quốc tế nói riêng hướng tới kỷ niệm 92 năm ngày Thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam (03/2/1930 – 03/2/2022) với niềm tự hào to lớn, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, ra sức phấn đấu, học tập, rèn luyện, thi đua thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng các tổ chức quần chúng vững mạnh toàn diện, xây dựng Đảng bộ Học viện trong sạch vững mạnh, cơ quan, đơn vị và Học viện vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”./.

AI ĐANG THẮC MẮC PHẠM MINH VŨ LÀ AI MÀ LƯỢT TƯƠNG TÁC FB KHỦNG THẾ THÌ HÃY ĐỌC BÀI NÀY NHA. CON "NGỰA NON" HÁU ĐÁ CỦA LÀNG RẬN CHỦ!

         Phạm Minh Vũ - từ một sinh viên vô kỷ luật đến trượt dài trên hành trình phạm tội.

Phạm Minh Vũ sinh năm 1992 tại Quảng Trị, từng là sinh viên Trường Cao đẳng Phát thanh và Truyền hình 1 tại tỉnh Hà Nam. Không như những sinh viên khác luôn nỗ lực học tập để thành tài, Phạm Minh Vũ lại dành thời gian quý báu để truy cập vào những trang phản động và bị tiêm nhiễm những tư tưởng chống đối, rồi tham gia vào những hoạt động tội lỗi, đi ngược lại những quy định của nhà trường và bị đuổi học.

Được sự lôi kéo của các đối tượng thuộc tổ chức phản động “Hội anh em dân chủ của Nguyễn Văn Đài, Phạm Minh Vũ đã tham gia điều hành trang phản động của tổ chức này và liên kết với các đối tượng Đỗ Nam Trung, Lê Thị Phương Anh tham gia vào các hoạt động tụ tập đông người, tuần hành gây rối an ninh trật tự.

Thông qua đối tượng Nguyễn Thái Học, thành viên tổ chức khủng bố Việt Tân, chúng đã chuyển cho Phạm Minh Vũ tiền để thu thập tài liệu, biên soạn bịa đặt, kích động và kêu gọi công nhân trong các khu công nghiệp nghỉ việc, tụ tập biểu tình phá rối an ninh trật tự tại các tỉnh phía Nam.

Tiền án: 18 tháng tù giam về hành vi lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích Nhà nước.

      Trong quá trình chống phá đất nước, Phạm Minh Vũ đã được các tổ chức phản động nhiều lần chuyển tiền, điện thoại và máy ảnh làm phương tiện phục vụ cho việc thu thập, phát tán tin tức, tài liệu xuyên tạc tình hình đất nước, thông qua các đối tượng chống đối như Nguyễn Thái Học, Trần Bửu Thọ, Ngô Duy Quyền.

Phạm Minh Vũ đã sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook “Sep Pham” và địa chỉ hộp thư điện tử “vuemail” để phát tán nhiều trang, tài liệu có nội dung đả kích chế độ, kích động biểu tình, xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Sau khi ra tù, không chịu hoàn lương trở thành người có ích, Phạm Minh Vũ tiếp tục có nhiều hoạt động chống phá Việt Nam thông qua việc sử dụng tài khoản trên mạng xã hội để phát tán nhiều thông tin xuyên tạc, nói xấu các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cán bộ chủ chốt các cấp và lực lượng vũ trang; xuyên tạc tình hình chính trị, các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, tự do báo chí và tự do ngôn luận, công tác phòng, chống đại dịch COVID-19 của Việt Nam. Lo sợ bị bắt, bị xử lý, Phạm Minh Vũ đã chạy trốn ra nước ngoài và tiếp tục hành trình xuyên tạc, bịa đặt nói xấu quê hương, đất nước trên các trang mạng xã hội./.

Yêu nước ST.

“ĐỘC TÀI, ĐỘC ĐOÁN, MẤT DÂN CHỦ” - LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC BẢN CHẤT ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH!

         Trang facebook của tổ chức khủng bố Việt Tân, và các trang mạng phản động khác đang điên cuồng bôi nhọ, nói xấu Đảng, nói xấu chế độ, kích động gây lòng thù hận dân tộc, xuyên tạc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là độc tài…

 Đảng cộng sản Việt Nam độc tài? Chúng ta hãy cùng nhìn lại quá trình lãnh đạo Nhân dân, lãnh đạo đất nước của Đảng cộng sản Việt Nam kể từ khi được thành lập (03/02/1930 - 03/02/2022):

 Từ một dân tộc, một đất nước không có tên trên bản đồ, nhân dân lầm than, các cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc đều bị thực dân, phong kiến dìm trong biển máu, khi Đảng ra đời đã lãnh đạo nhân dân cả nước lần lượt đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, xóa bỏ chế độ ngụy quyền miền Nam Việt Nam, non sông thu về một mối, đất nước ta được độc lập, nhân dân ta được tự do, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.

 Sau 35 năm đổi mới của Đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ dệt, cụ thể quy mô nền kinh tế năm 1989 mới đạt 6,3 tỷ USD/ năm thì năm 2020 đạt khoảng 268,4 tỷ USĐ/ năm, thu nhập bình quân trên đầu người năm 1985 là 159 USD/ năm, năm 2020 là 2.750 USD/năm; có nền kinh tế xếp thứ 42/131 nền kinh tế và xếp thứ 3 ASEAN. 

 Khi cả thế giới và Việt Nam bị đại dịch Covid - 19 hoành hành thì với chủ trương ngoại giao vắc xin dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, chúng ta đã bao phủ 100% vắc xin cho người trên 18 tuổi, các cháu học sinh từ 12 đến 18 tuổi cũng đã được tiêm phong đầy đủ, góp phần quan trọng trong việc đảm bảo tính mạng cho nhân dân trước đại dịch của nhân loại, quan trọng hơn nữa đã góp phần quan trọng trong việc hồi phục kinh tế, đem lại cuộc sống ấm no cho nhân dân.

 Nếu nói Đảng cộng sản Việt Nam độc tài, thì có làm được những điều như trên cho đất nước, nhân dân hay không, hay Đảng có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của quốc gia, dân tộc không, xin thưa là không. Mọi hoạt động lãnh đạo của Đảng luôn hướng tới lợi ích của quốc gia, dân tộc, đem lại cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc cho nhân dân, để được như lời Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày hôm nay”./.



Yêu nước ST.

NƯỚC MỸ!

         Các tập đoàn tư bản tạo dựng lên sức mạnh nước Mỹ, một tiềm lực kinh tế, SX vũ khí, khoa học công nghệ, giáo dục đỉnh cao, nông nghiệp công nghệ, một dân tộc đa chủng tộc nhưng được hệ thống kinh tế tư bản tư nhân duy trì gìn giữ. Chiến tranh chỉ xẩy ra rất xa với nước Mỹ, ở châu Á, ở châu Phi, và bây giờ đang nguy cơ là châu Âu. Trước khi liên bang Xô Viết sụp đổ hai hệ thống quân sự VACRZAWA và NATO làm đối trọng dăn đe nhau giữa hai hệ thống Tư Bản và XHCN giờ chỉ còn hai nước Nga và Trung Quốc đối trọng với Mỹ, Mỹ đang dùng Ukraine kiềm chế Nga cũng như muốn dùng Việt Nam kiềm chế Trung Quốc nhưng ta không mắc mưu, luôn thực hiện ba không “không liên minh quân sự, không cùng nước khác chống nước thứ ba, không cho mượn lãnh thổ chống lại nước khác” với khẩu hiệu của Bác Hồ “không có gì quí hơn độc lập tự do”. Thế giới đã phẳng không còn khác ý thức hệ, phát triển kinh tế toàn thế giới đều giống nhau “kinh tế thị trường” vậy tại sao vẫn còn thi nhau phát triển vũ khí và dăn đe nhau

   Mỗi quốc gia là một Giang Sơn riêng, văn hoá riêng, hình thành theo lịch sử tạo nên tính độc lập tự chủ của từng quốc gia, đấu tranh bảo vệ nhân quyền, phẩm giá của từng dân tộc. Mỹ đã đứng đầu thế giới muốn duy trì vị trí này mãi mãi Vĩnh viễn, các nước Châu Âu dựa nhờ vào Mỹ, Mỹ lợi dụng những nước này củng cố vị trí đối trọi với Nga, một nước không còn khác ý thức hệ nhưng đang vươn lên thách thức kinh tế, quân sự vị thế với Mỹ. Những nước nhỏ cạnh với Nga là những quân cờ của Mỹ, NATO là công cụ của Mỹ, chiến tranh nếu xẩy ra Nga và các nước châu Âu sẽ tan nát toàn bộ sẽ về thời kỳ đồ đá, sẽ hoàn toàn phụ thuộc càng sâu và Vĩnh viễn vào Mỹ, Mỹ có cơ hội cho các tập đoàn SX vũ khí làm giầu trên xương máu nhân loại. Hỏi Mỹ có sao không? Có, tên lửa Nga bay tới Mỹ, còn Trung Quốc, Triều Tiên, IRan cũng có tên lửa sẽ bao trùm nước Mỹ, và liệu chỉ dừng ở vũ khí thông thường hay cả vũ khí Hạt nhân lúc đó sẽ ra sao? Trái đất sẽ nổ tung, toàn nhân loại bị hủy diệt hoàn toàn.

  Tại sao phải đánh nhau, để được cái tiếng bá chủ đứng đầu thế giới  thì đã có rồi, nhiều tiền, thật nhiều tiền nhưng đời là hữu hạn, những ông chủ tư bản đến lúc 100 tuổi chết có mang được gì đi không? Dân giầu đến 100 nghìn tỷ USD đầu người vẫn phải lao động là thể thao, con người tạo hoá sinh ra  là để vận động, vui chơi giải trí là hạnh phúc vậy để thỏa mãn cái tôi, cái Tham, cái Sân, đều do Si mà ra hại cả toàn nhân loại. Ta phải chấp nhận thế giới đa cực sự khác nhau về dân tộc, màu sắc, văn hoá đó là tạo hoá đã cho chúng ta vườn hoa muôn màu đẹp hơn vườn hoa chỉ có một màu, mới hấp dẫn cho nhau, tìm hiểu sự  khác nhau về địa lý, phong cảnh, văn hoá, ngôn ngữ đó là thú vị của tạo hoá ban cho chúng ta, bổ sung cho nhau thành một vườn hoa muôn màu sắc trong một vườn Liên Hợp Quốc, mọi quốc gia phải tôn trọng hiến chương liên hợp quốc, luật lệ LHQ do chính  tay từng nước đã ký. Lợi ích của nhau phải được tôn trọng, mâu thuẫn lợi ích phải ngồi cùng bàn, cùng thiện trí, cùng nhường nhịn chịu thiệt một chút cho lợi ích chung toàn vườn hoa. Kinh tế phát triển giống nhau, hưởng thụ giống nhau, bổ sung cho nhau bằng SX, mua bán, trao đổi đầu tư hai bên cùng có lợi, cho cả một vườn hoa thì hãy chấm dứt sản xuất vũ khí giết người, vũ khí hạt nhân gây hủy diệt nhân loại, hủy diệt hành tinh, hủy diệt ngôi nhà chung là trái đất của chúng ta đang sống, hãy vì một hành tinh xanh, một vườn hoa muôn màu đang nở rộ./.

Yêu nước ST.

NGUYỄN THÚY HẠNH LÀ “ĐÓA HỒNG DÂN CHỦ”?


          Sáng ngày 20/2/2022, Huỳnh Ngọc Chênh (“người tình’ của Nguyễn Thúy Hạnh) đã chia sẻ bài viết của facebook “Hoang Le Thanh” với tiêu đề “Đóa hồng dân chủ” và không ngạc nhiên khi xuyên suốt bài viết ngoài những nội dung xuyên tạc sự thật nhằm “tẩy tội” cho Nguyễn Thúy Hạnh và tôn vinh Nguyễn Thúy Hạnh như một “đóa hồng dân chủ”. Trong bài viết, Hoang Le Thanh khen ngợi Nguyễn Thúy Hạnh với những mỹ từ như “Chị có khuôn mặt rất xinh đẹp, nhưng trên hết, chị là người có tấm lòng nhân hậu hiếm có, một tấm lòng yêu nước sắt son và ý chí rất mạnh mẽ”. Đồng thời, bài viết cũng đưa ra “bảng thành tích” của Nguyễn Thúy Hạnh trong việc tham biểu tình, gây rối tại bờ Hồ Hoàn Kiếm trong khoảng thời gian từ năm 2011-2015, hậu thuẫn cho số “dân oan Dương Nội” rồi đến việc thủ lĩnh của “Quỹ 50K”, chuyên hỗ trợ cho những gia đình “tù nhân lương tâm” để đánh bóng tên tuổi, trong đó có cả vụ việc xảy ra tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.

          Vậy thực sự Nguyễn Thúy Hạnh có thực sự là ‘đóa hồng dân chủ” hay không?

          Việc các các nhân, tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam đăng tải các bài viết hay trả lời phỏng vấn đê nhằm tẩy tội cho Nguyễn Thúy Hạnh hay xuyên tạc về viêc Nguyễn Thúy Hạnh bị bắt, xử lý cũng là điều được chúng tiến hành trong thời gian qua. RFA đã từng xuyên tạc cho rằng; “Vụ bắt giữ bà Nguyễn Thuý Hạnh có tính chất trơ trẽn và mang động cơ chính trị nhằm bịt miệng một trong những nhà hoạt động nhân quyền tiêu biểu nhất ở Việt Nam.” Thậm chí, họ còn xuyên tạc, vu cáo tội danh của Nguyễn Thúy Hạnh “làm, tàng trữ, phát tát hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 117 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đã bị nhiều tổ chức nhân quyền trên thế giới chỉ trích là công cụ để Nhà nước trấn áp và trừng phạt những người bất đồng chính kiến và nhà hoạt động trong nước.

          Thực tế cho thấy việc họ cho rằng Nguyễn Thuý Hạnh là một “tù nhân lương tâm” hay cho rằng Nguyễn Thúy Hạnh bị cầm tù chỉ vì “thực hành các quyền con người của mình một cách ôn hoà và làm các công việc thiện nguyện, và cần phải được trả tự do ngày lập tức và vô điều kiện” là những luận điệu hoàn toàn xuyên tạc, vô căn cứ. Ở Việt Nam không có cái gọi là “tù nhân lương tâm” như những gì mà tổ chức Ân xá quốc tế đã đưa ra mà chỉ có những người vi phạm pháp luật bị xử lý theo đúng pháp luật. Thực tế “Tù nhân lương tâm” là cách mà những kẻ chống phá đất nước gọi những kẻ đã có những hành vi phạm pháp luật Việt Nam, chống phá đất nước đang phải trả giá trong các trại giam.

          Việc Nguyễn Thúy Hạnh bị Cơ quan An ninh điều tra, Công an thành phố Hà Nội thi hành Lệnh bắt bị can để tạm giam ngày 07/4/2021 về tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cũng là điều đã được dự báo từ trước với những hành động vi phạm của mình. Nguyễn Thúy Hạnh được giới “dân chủ” trong và ngoài nước biết đến với biệt danh “nhà kinh doanh dân chủ” khi là thủ lĩnh của cái gọi là “Quỹ 50k” hay đứng ra để gây quỹ, tài trợ tiền cho cái gọi là các “tù nhân lương tâm”, “dân oan”, “thương phế binh VNCH” hay gần đây là các đối tượng chống đối gây ra vụ án đặc biệt nghiêm trọng xảy ra ở xã Đồng Tâm (huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội) do “tổ Đồng thuận” gây ra. Nguyễn Thúy Hạnh cũng là người tích cực trong các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc vụ việc xảy ra ở Đồng Tâm, đồng thời viết bài đăng tải trên facebook cá nhân để kêu gọi ủng hộ quỹ cho gia đình Lê Đình Kình thông qua tài khoản cá nhân của ngân hàng Vietcombank.

          So với các nhà “dân chủ” khác, kể cả những người cùng hoàn cảnh đang phải trả giá cho những hành vi vi phạm pháp luật của mình như Phạm Đoan Trang, Cấn Thị Thêu, Huỳnh Thục Vy, Trần Thị Nga... thì có vẻ như Nguyễn Thúy Hạnh cùng với Huỳnh Thục Vy là người nổi bật hơn về sự “mặn mà”, đặc biệt là hơn hẳn “nữ chúa trang làng dân chủ” Phạm Đoan Trang – người cũng bị xử lý về tội “làm, tàng trữ, phát tát hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, quy định tại Điều 117 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vậy nhưng ông cha ta thường có câu “cái nết đánh chết cái đẹp”, phẩm chất và đức hạnh là chuẩn mực cao nhất trong nhân cách của con người, đáng tiếc thay phẩm chất, đức hạnh của Nguyễn Thúy Hạnh luôn gắn liền và phải trả giá với những hoạt động chống phá đất nước, vi phạm pháp luật bấy lâu nay. Thậm chí để thực hiện chiêu trò “tẩy tội” cho Nguyễn Thúy Hạnh, không chỉ phong cho Nguyễn Thúy Hạnh là “đóa hồng dân chủ” mà cách đây không lâu, Huỳnh Ngọc Chênh còn cho rằng Nguyễn Thúy Hạnh đang phải giám định tâm thần trước khi xét xử.