Thứ Ba, 1 tháng 3, 2022

Phòng, chống chủ nghĩa cá nhân gắn với nâng cao đạo đức cách mạng


      Thực hiện lời căn dặn và những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, trong gần 90 năm xây dựng và trưởng thành của Đảng, đa số đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng đã nỗ lực rèn luyện đạo đức cách mạng, có phẩm chất chính trị tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức, lối sống trong sáng, gắn bó với nhân dân; luôn nỗ lực phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng quản lý… để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.

     Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã nêu ra những biểu hiện của những người sa vào chủ nghĩa cá nhân như: 1) Sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình. 2) Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền… 4) Mắc bệnh “thành tích”, háo danh, phô trương, che dấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích, “đánh bóng” tên tuổi; thích được đề cao, ca ngợi; “chạy thành tích”, “chạy khen thưởng”, “chạy danh hiệu”. 5) Quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân...”.

     Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng suy thoái này trước hết là do bản thân bộ phận cán bộ, đảng viên đó phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước dân. Trong khi đó, nguyên tắc tập trung dân chủ ở nhiều nơi bị buông lỏng; nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng...

     Do đó, xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế, để thiết thực đấu tranh phòng, chống chủ nghĩa cá nhân, xây dựng và chỉnh đốn Đảng, toàn Đảng đã và đang triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” (Chỉ thị 05); Quy định số 101-QÐ/TW quy định về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp” (Quy định 101); Quy định số 47-QÐ/TW về “Những điều đảng viên không được làm” (Quy định 47)…

     Trên tinh thần phát huy những kết quả đạt được, tiếp tục khắc phục những hạn chế để không ngừng “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” theo di huấn của Hồ Chí Minh, mỗi cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng và cán bộ, đảng viên tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, “phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên. Phải thực hành phê bình và tự phê bình trong Đảng”(7). Theo đó, phải khắc phục bệnh “học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Đồng thời coi việc thực hiện Chỉ thị 03, Chỉ thị 05 và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII và các Quy định 101, 47… trong Đảng vừa là công tác giáo dục và tự giáo dục, vừa đấu tranh và tự đấu tranh trong mỗi tổ chức đảng và từng cá nhân. Đó là trách nhiệm của toàn Đảng, của cả hệ thống chính trị và mỗi cá nhân, thiết thực phòng và chống 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị; đạo đức, lối sống;  “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã chỉ rõ.

     Hai là, thực hiện “chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng chặt chẽ”(8). Đó là điều kiện quan trọng bảo đảm cho Đảng thật sự là một khối đoàn kết, thống nhất trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; bảo đảm cho đường lối, chủ trương của Đảng được chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện thắng lợi. Do đó, phải giữ chế độ, kỷ luật và công tác này nghiêm từ trên xuống dưới, trở thành nền nếp; đồng thời, thực hiện kiểm tra, giám sát có hiệu quả, đồng bộ từ trên xuống và từ dưới lên. Kịp thời phát hiện những cán bộ, đảng viên mắc sai lầm, khuyết điểm để có biện pháp sửa chữa nghiêm túc theo. Kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” để Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức.

     Ba là, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về phòng, chống và tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân đi liền với chống tham ô, tham nhũng, lãng phí và bệnh quan liêu. “Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dường tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật”(9) gắn với thực hiện nghiêm Quy định số 08-QĐi/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII trong các tổ chức cơ sở đảng và cán bộ, đảng viên; đưa việc học và làm theo Bác trở thành nhu cầu tự thân của mỗi người, bảo đảm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên có khả năng “đề kháng” tốt, “miễn dịch” hiệu quả với chủ nghĩa cá nhân. Phát huy tính tiền phong gương mẫu, nói đi đôi với làm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong đấu tranh phòng, chống, tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

      Bốn là, thấm nhuần lời căn dặn “phải đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết”; “phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân”(10) và gắn bó mật thiết với nhân dân. Trước hết, nâng cao nhận thức và thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân, tinh thần tận tụy phục vụ nhân dân. Đồng thời, mở rộng dân chủ trong Đảng, trong toàn xã hội để đoàn kết, động viên và phát huy vai trò của nhân dân trong giám sát cán bộ, đảng viên, các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước. Đổi mới công tác tuyên truyền, biểu dương, nhân rộng các gương điển hình của cá nhân, tập thể trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là theo chủ đề năm 2019 về “Xây dựng ý thức tôn trọng Nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống Nhân dân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

     Năm là, “cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”(11), coi đây là nhu cầu tự thân của mỗi cán bộ, đảng viên trong mọi mặt công tác. Trong đó, tự rèn luyện là sự gắn kết giữa lý luận và thực tiễn, vừa khẳng định tính tự giác, sức mạnh nội sinh vừa là yêu cầu đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu, tinh thần tự phê bình và phê bình của mỗi người. Qua đó, giúp cán bộ, đảng viên không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, trí lực, thể lực và tâm lực để khơi dậy tiềm năng, trí tuệ và phát huy sự sáng tạo trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao./.


Chống kẻ địch “nội xâm” là việc phải làm thường xuyên


     Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân là vết tích xấu xa của xã hội cũ, “là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Mà ai cũng biết rằng xuống dốc thì dễ hơn lên dốc. Vì thế mà càng nguy hiểm”(1). Đó là thứ vi trùng mẹ, đẻ ra nhiều bệnh khác, trái với đạo đức cách mạng và chừng nào chủ nghĩa cá nhân còn tồn tại, dù ít hay nhiều cũng vẫn sẽ “ngăn trở” người cán bộ, đảng viên nỗ lực “một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng”; sẽ dẫn đến sự suy thoái về đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; vẫn sẽ còn xâm nhập vào “nội bộ Đảng”, làm giảm nguồn sức mạnh nội lực, sự đoàn kết thống nhất của Đảng thì chừng đó, vẫn đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Vì “chủ nghĩa cá nhân là kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội”, “là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội… thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân(2), nên nhất định “người cách mạng phải tiêu diệt nó”(3). Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã sớm nói về chủ nghĩa cá nhân, nhấn mạnh yêu cầu phòng, chống, tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân trong mỗi cán bộ, đảng viên và coi đó là một trong những nội dung quan trọng để xây dựng một Đảng Mácxít cách mạng chân chính. Song, cũng chính Người khẳng định, “đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Trong những năm 1925-1927, khi giảng cho những thanh niên Việt Nam yêu nước tại Quảng Châu, Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã yêu cầu mỗi người phải rèn luyện theo “Tư cách người một người cách mệnh”; trong đó có: “hoà mà không tư”, “cả quyết sửa lỗi mình”, “vị công vong tư”, “không hiếu danh, không kiêu ngạo”, “ít lòng ham muốn về vật chất”, “với từng người thì khoan thứ”, “có lòng bày vẽ cho người”, “hay xem xét người” “phục tùng đoàn thể…”(4). Sau đó, Người cũng dành nhiều bài nói, bài viết bàn về vấn đề này. Mùa xuân năm 1969, không chỉ tiên lượng nguy cơ suy thoái đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh còn chỉ rõ trong Đảng “còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém. Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích của riêng mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”(5)

     Khác với những người “rất hăng hái, dũng cảm trong mọi công tác. Đó là những bông hoa tươi thắm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhân dân ta và Đảng ta rất tự hào về những người con xứng đáng như thế” là những con người “do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ…” (6). Đó là những người có những biểu hiện ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa; tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, ngày càng xa rời quần chúng, quan liêu, mệnh lệnh; luôn “dùng của công làm việc tư”, “ham địa vị, hay lên mặt”, chỉ ưa người khác “tâng bốc mình, khen ngợi mình”, “ưa sai khiến người khác”, “tự thấy mình cái gì cũng giỏi”, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, hẹp hòi, ích kỷ, “luôn đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc”, chia rẽ khối đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng, làm mất dân chủ trong Đảng… Kết quả là quần chúng không ưa, không phục, không yêu quý họ, rời xa họ. Theo Hồ Chí Minh, đây là những người đã ỷ thế vào quyền hạn và trách nhiệm được trao, ỷ thế vào quyền lực tại các cơ quan công quyền để kéo bè kéo cánh, chăm chút cho lợi ích của nhóm mình, dòng họ và địa phương mình mà không nhìn đến lợi ích của toàn bộ,v.v.. Những biểu hiện này là một trong những nguyên nhân của suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, gây ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Do đó, để Đảng luôn “là đạo đức, là văn minh”, Hồ Chí Minh đã không chỉ nêu ra những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân; nhấn mạnh yêu cầu phòng, chống và tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân mà Người còn khẳng định: mỗi tổ chức cơ sở đảng nói chung, đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng phải kiên quyết, kiên trì cuộc đấu tranh phòng, chống và quét sạch chủ nghĩa cá nhân để Đảng luôn xứng đáng với vai trò tiền phong.


NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN

 

          Hội nghị Trung ươpng 4 khóa XII đề ra 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp. Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII nhấn mạnh thêm 2 nhóm nhiệm vụ, giải pháp là “xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; và kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm cán bộ sai phạm. Theo đó phải chú trọng nêu gương những người tốt, việc tốt; ngăn ngừa, cảnh báo, phê phán những việc làm sai trái”.

Xuất phát từ những lời dạy của Hồ Chí Minh và các giải pháp Trung ương nêu ra, xin nhấn mạnh, làm rõ mấy điểm như sau:

        Thứ nhất, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và XIII đều đề cập công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Vấn đề đặt ra là phải xem lại chúng ta đã thực hiện nhiệm vụ, giải pháp này đến đâu? Như thế nào? Cái gì làm tốt, cái gì chưa tốt, nguyên nhân, giải pháp? Phải chăng công tác giáo dục chính trị tư tưởng vẫn chưa thật sự thấm sâu vào tim, óc của cán bộ, đảng viên. Cấp ủy đảng các cấp và cán bộ, đảng viên nhận thức và thực hiện nhiệm vụ này chưa thấu.

Trong những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, có một điều rất quan trọng thể hiện tư cách của một Đảng chân chính cách mạng, xuyên suốt trong lãnh đạo của Đảng. Đó là “Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”(9).

        Nhiệm vụ, giải pháp hàng đầu và xuyên suốt là phải xem xét lại việc giáo dục chính trị tư tưởng để có biện pháp ráo riết, triệt để khắc phục những gì làm chưa được, chưa tốt. Bởi vì, có được giáo dục chính trị tư tưởng một cách thật sự mà cụ thể là giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên thì mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao hiểu biết và trình độ chính trị, mới chống được chủ nghĩa cá nhân, làm tốt công tác Đảng giao phó cho mình.

       Không ít cấp ủy, cán bộ, đảng viên xem nhẹ, coi thường việc học tập chính trị tư tưởng. Họ không hiểu rằng nhận thức sai thì hành động sai; nhận thức lệch lạc, méo mó thì hành động lệch lạc, méo mó. Hiểu không thấu thì làm không đúng. Vấn đề là học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn.

       Thứ hai, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII nêu lại, nhấn mạnh việc phát huy vai trò giám sát của nhân dân, của báo chí, của công luận. Đây là nhiệm vụ, giải pháp rất quan trọng và rất cần thiết được Hồ Chí Minh bàn tới rất sớm, sâu sắc, toàn diện. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và XII đã đề cập. Muốn nhân dân, báo chí, công luận thực hiện được vai trò giám sát thì điều quan trọng nhất là xây đắp, vun bồi nền dân chủ. Phát huy quyền làm chủ thật sự của nhân dân. Đây là cốt lõi của giải pháp hoàn thiện tính khoa học của bộ máy và cơ chế.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tại lễ văn khai mạc Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Ðảng 05/09/1960. (Ảnh tư liệu)

Chủ tịch Hồ Chí Minh tại lễ văn khai mạc Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Ðảng 05/09/1960. (Ảnh tư liệu)

        Dân giám sát là một điểm mới, điểm nhấn trong Đại hội XIII. Muốn thực hiện tốt điều này, không gì tốt hơn học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

      Trước hết, cán bộ, đảng viên phải hiểu thấu rằng “nhân dân trăm tai nghìn mắt vẫn có nhiều ý kiến thông minh có thể giúp cho các chú tiến bộ hơn… Công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân”(10). Dân chủ là dựa vào lực lượng quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng, khuyến khích, tạo điều kiện cho quần chúng nói. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Điều quan trọng nhất là để cho dân nói. Dân biết nhiều việc mà các cấp lãnh đạo không biết. Việc gì cũng phải bàn với dân; dân sẽ có ý kiến hay”(11). Theo Hồ Chí Minh, nhân dân kiểm soát là tốt nhất, đó là kiểm soát từ dưới lên. Người viết: “Một cách nữa là từ dưới lên. Tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo và bày tỏ cái cách sửa chữa sự sai lầm đó. Cách này là cách tốt nhất”(12).

        Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nhấn mạnh, phải có “cái lồng nhốt” quyền lực. “Cái lồng” đó là vai trò, trách nhiệm của các tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát, cấp ủy. Nhưng nhất định phải dựa vào “cái lồng nhân dân” với nội dung cốt tủy là dân chủ thật sự. Cơ chế, bộ máy, trong đó có khía cạnh tính nghiêm minh của pháp luật và kỷ luật đảng. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng thì hàng đầu, xuyên suốt là giải thích, thuyết phục, cảm hóa, giáo dục. Nhưng không phải là không xử phạt. Nếu không xử phạt thì mất hết kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Theo Hồ Chí Minh, “pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”(13).

         Thứ ba, ý thức tu dưỡng, rèn luyện, nêu gương của cán bộ, đảng viên là hết sức quan trọng, vì “một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Mặt khác, tính xấu của môt người thường, chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của một đảng viên, cán bộ sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân.

       Bộ máy, cơ chế dù hoàn thiện đến đâu mà con người hư hỏng thì sẽ phá tan bộ máy. Trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, sự gương mẫu của Trung ương là cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định. Tư tưởng, đạo đức, phong cách, phương pháp của các đồng chí Ủy viên Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các đồng chí đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp có ảnh hưởng, tác động rất lớn tới quần chúng nhân dân và xã hội. Công cuộc đổi mới thuận lợi hay khó khăn, thành công nhiều hay ít đều do cán bộ tốt hay kém.

      Hy vọng và tin tưởng rằng, nếu nhận thức và hành động đúng thì khía cạnh nhỏ sẽ đem lại kết quả lớn trong việc quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, góp phần vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng./.

Nhận thức về chủ nghĩa cá nhân.


       Chủ nghĩa cá nhân là quan điểm của người chỉ chú trọng đến quyền lợi riêng của mình, đặt quyền lợi của cá nhân mình lên trên quyền lợi của toàn thể và của xã hội. Khác với cá nhân chủ nghĩa là nói đến hành vi cụ thể chỉ nghĩ đến quyền lợi của riêng mình, không nghĩ đến quyền lợi của người khác hay của tập thể, nói chủ nghĩa cá nhân là nói đến quan điểm, tức là cách xem xét và giải quyết vấn đề quan hệ giữa cá nhân và tổ chức, giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung theo lập trường, quan điểm và tư tưởng nào? Trung ương nói tới chủ nghĩa cá nhân là nói tới cái nguồn, cái gốc có tính chất bao trùm, xuyên suốt, cao hơn, rộng hơn, sâu hơn cá nhân chủ nghĩa, “cha đẻ” của mọi thứ xấu xa, tội lỗi, trong đó, có cá nhân chủ nghĩa. Vì vậy, muốn đẩy lùi các tiêu cực, suy thoái, tha hóa của cán bộ, đảng viên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thì phải tiêu diệt, quét sạch, nhổ tận gốc là chủ nghĩa cá nhân.

       Đánh giá tư tưởng và ý thức của đảng viên là thông qua cách xem xét, bàn bạc và hành động của đảng viên đối với các vấn đề quan trọng của cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng, tổ chức, đường lối cách mạng. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Xem thái độ và lập trường của mọi người đối với những vấn đề căn bản của cuộc đấu tranh chính trị, xem cách bàn bạc hành động, xem kế hoạch, phương châm của họ đối với những vấn đề ấy, thì ta biết rõ họ đại biểu cho tư tưởng, quan điểm, mong muốn, và lợi ích của giai cấp nào”(1).

     Chủ nghĩa cá nhân là trái ngược với chủ nghĩa tập thể. Cách đặt vấn đề của chủ nghĩa tập thể là luôn luôn xuất phát từ lợi ích cách mạng để phục vụ cho lợi ích cách mạng. Ý thức và tư tưởng của giai cấp vô sản biểu hiện cụ thể, rõ ràng trong lập trường và thái độ, đường lối và phương châm trong hoạt động và đấu tranh chính trị phục vụ cho lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Người nhận thức rõ và đề cao chủ nghĩa tập thể là người có đảng tính. Tức là bất kỳ bao giờ, ở đâu, bất kỳ việc gì dù lớn hay bé đều phải tính đến lợi ích chung của cách mạng. Tư tưởng của những người theo chủ nghĩa tập thể là chỉ có sự nghiệp của Đảng và dân tộc, lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, việc của cá nhân và lợi ích cá nhân để lại sau. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác”(2).

       Cách đặt vấn đề của chủ nghĩa cá nhân là xuất phát từ cá nhân để phục vụ cho cá nhân. Do đó, cách giải quyết của người mang nặng chủ nghĩa cá nhân, thậm chí chỉ dính vào chủ nghĩa cá nhân là khi thấy lợi ích cá nhân và lợi ích của Đảng, của cách mạng, Tổ quốc, nhân dân có mâu thuẫn, thì họ không sẵn sàng, không kiên quyết đặt lợi ích chung của cách mạng lên trên hết, lên trước hết. Thậm chí họ làm ngược lại, đặt lợi ích cá nhân ra trước lợi ích của Đảng; lợi ích của nhân dân phục tùng lợi ích cá nhân; lợi ích toàn thể phục tùng lợi ích nhóm. “Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”(3).

       Vấn đề chủ nghĩa cá nhân đã được Hồ Chí Minh đề cập từ rất sớm. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, Người chỉ ra “trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư”, cho nên mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh nguy hiểm”(4). Chỉ dẫn của Hồ Chí Minh cho ta nhận thức chủ nghĩa cá nhân là bệnh gốc, bệnh mẹ; là vi trùng rất độc; chống chủ nghĩa cá nhân phải đi liền với thực hành chí công vô tư, nêu cao chủ nghĩa tập thể.

        Trong di sản của mình, Hồ Chí Minh chỉ rõ chủ nghĩa cá nhân là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó. “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân(5). Phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng.

Cần phải hiểu thấu, nói đến chủ nghĩa cá nhân là nói đến tư tưởng tiểu tư sản ở trong mỗi người. Nó chờ dịp thất bại hoặc thắng lợi là ngóc đầu dậy. Nhưng thể hiện từng nơi, từng lúc, từng trình độ, cương vị công tác khác nhau.

        Nghị quyết Trung ương chỉ ra đối với cán bộ, đảng viên, chủ nghĩa cá nhân biểu hiện ở chỗ sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, hám quyền lực, tham nhũng, tiêu cực; bè phái, cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của dân. Từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thể lực xấu, thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

        Phải nhận thức đúng đắn rằng “đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”(6). Bởi vì, “mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích tập thể thì không phải là xấu”(7). Vấn đề là ở chỗ “lợi ích của cá nhân gắn liền với lợi ích của tập thể. Nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể”(8).


CẦN NHẬN RÕ NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC CỦA CÁCH MẠNG DO ĐẢNG LÃNH ĐẠO VÀ NHỮNG TIÊU CỰC TRONG ĐẢNG

 

     Trong mỗi nhiệm kỳ Đại hội Đảng, Hội nghị Trung ương lần thứ tư thường diễn ra vào quý IV năm đầu của nhiệm kỳ. Hội nghị Trung ương lần thứ tư các nhiệm kỳ Đại hội XI, XII và XIII của Đảng đều có nội dung bàn về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Điều đó cho thấy, Đảng ta đặc biệt quan tâm tới sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới. Hội nghị Trung ương lần thứ tư khóa XIII là sự kế thừa, phát triển các nghị quyết hội nghị Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong 35 năm đổi mới, đặc biệt là Hội nghị Trung ương lần thứ tư khóa XI và XII.

     Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII nêu rõ thành tựu của cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó là “từ ngày có Đảng, nhân dân ta đã có người lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, và nhờ thế đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức và đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào về bản chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng và lịch sử vẻ vang của Đảng ta -Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sáng lập và rèn luyện, đại biểu của dân tộc Việt Nam anh hùng”.

     Đồng thời, Nghị quyết cũng vạch ra những tiêu cực, hư hỏng của cán bộ, đảng viên, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trong đó, nhấn mạnh nhất là sự “phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; thậm chí còn phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; không thực hiện đúng các nguyên tắc xây dựng Đảng và tổ chức sinh hoạt Đảng”.

     Trung ương nhấn mạnh nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, “bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, từ việc bản thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên mất trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân”. Vì vậy, Trung ương nhấn mạnh phải “kiên quyết đấu tranh quét sạch chủ nghĩa cá nhân trong toàn Đảng”.


Niềm tin được xây dựng từ nhận thức đúng đắn

 Từ nhỏ đã yêu màu áo bộ đội và luôn mến phục các chú bộ đội, Minh quyết tâm dự tuyển vào một trường quân sự để được phục vụ quân đội lâu dài.

Thế nhưng trong bữa cơm chiều, Minh chia sẻ dự định với gia đình thì bị mẹ phản đối. Đưa ra những hình ảnh, clip đã được cắt ghép, dàn dựng trên mạng xã hội, mẹ bảo Minh rằng, vào môi trường quân đội sẽ không khác gì đi làm thuê cả đời; không có thời gian, tiền bạc cho gia đình, vợ con.

Thậm chí, trên một diễn đàn Facebook có nhiều ý kiến khuyên không nên theo học các trường quân đội vì các trường này chỉ đào tạo về chiến tranh, đánh nhau, khiến người học trở nên khô cứng; ai cho con học theo nghề bộ đội thì coi như mất con... Từ những dẫn chứng đó, mẹ của Minh yêu cầu con trai phải học các trường dân sự để còn đi du học, nâng cao trình độ, có cơ hội tiến thân và không phải thường xuyên xa nhà như bộ đội.

Nghe những lời con dâu nói, ông nội Minh, là một cựu chiến binh đã từng cùng đồng đội vào sinh ra tử trong chiến tranh để bảo vệ Tổ quốc, khá bất ngờ và bất bình. Khi biết cháu nội có ý định sẽ đăng ký vào trường quân đội, ông rất vui. Thế nhưng nhận thức của mẹ cháu Minh về quân ngũ và các trường quân đội đang có phần lệch lạc khiến ông thất vọng. Hơn nữa, ông nhận thấy, con dâu đang cả tin vào những thông tin phản động, sai trái ở trên mạng xã hội mà kẻ xấu bịa đặt, xuyên tạc, cố tình dựng lên với dụng ý chống phá quân đội và đất nước. 

Ông cố giữ bình tĩnh, ôn tồn nói: "Con à, bố cũng từng là một người lính, cả cuộc đời cầm súng bảo vệ Tổ quốc. Vậy mà bố vẫn cùng mẹ con nuôi chồng con và các em trưởng thành. Hơn nữa, những điều mà con nói là nhận thức chưa đúng về quân đội và các nhà trường quân đội. Khi con của con vào học ở đây là được học ở một trong những môi trường đào tạo hàng đầu của đất nước, không chỉ dạy kiến thức, dạy nghề mà còn đặc biệt quan tâm dạy dỗ, rèn luyện học viên làm người vừa hồng, vừa chuyên.

Ở các trường học quân đội, nếu học tập tốt, cháu Minh vẫn có cơ hội được cử đi nước ngoài du học. Mặt khác, dù biết rằng bộ đội vẫn có nhiều thiệt thòi, vất vả nhưng Nhà nước cũng đã và đang có những đãi ngộ cho bộ đội và thân nhân... Thứ cần nhất là sức khỏe, đạo đức, tư cách thì các nhà trường quân đội đều chú trọng trong quá trình giáo dục, đào tạo. Bố tự hào với lựa chọn của cháu Minh. Bố nghĩ, anh chị cũng nên ủng hộ nó".

Thấy tình hình như vậy, Minh nói: “Thưa ông, thưa bố mẹ! Trước khi quyết định sẽ dự tuyển vào nhà trường quân đội, con đã tìm hiểu kỹ. Môi trường này thực sự phù hợp và rất tốt để con học tập, rèn luyện, trưởng thành. Hơn nữa, đây là mong muốn của con. Con vững tin vào lựa chọn của mình. Mong ông và bố mẹ ủng hộ”.

Trước sự cương trực, quyết tâm của con và những lời gan ruột của bố chồng, mẹ của Minh nhận ra mình đã suy nghĩ chưa thấu đáo, thậm chí còn sai lầm khi chỉ tin vào những thông tin cố tình nói xấu quân đội nhằm thực hiện mưu đồ đen tối. Mẹ của Minh đã nói lời xin lỗi bố chồng và đồng ý với quyết định của con trai.

Lời Bác dạy ngày này năm xưa

 Ngày 2-3-1963, Bác Hồ và đồng chí Dương Quốc Chính thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ về thăm đồng bào, bộ đội và cán bộ tỉnh Vĩnh Phúc. Tại buổi gặp mặt, Bác khen ngợi xã viên các hợp tác xã, đồng bào miền núi, công nhân, bộ đội, cán bộ, các cụ phụ lão, các cháu học sinh đã ra sức sản xuất và chống hạn.

Nói chuyện với cán bộ lãnh đạo tỉnh, Bác căn dặn, muốn làm tốt mọi công việc thì từ Tỉnh ủy đến chi bộ phải lãnh đạo tốt: Thực hiện đầy đủ các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, biến quyết tâm và sức mạnh của Đảng thành quyết tâm và sức mạnh của nhân dân; phải đi đúng đường lối của Đảng về công tác quần chúng; đi sâu vào cơ sở, đi sát hợp tác xã, tổ chức tuyên truyền, giáo dục cho mọi người thấm nhuần ý thức trách nhiệm, tinh thần làm chủ tập thể, cần kiệm xây dựng hợp tác xã, xây dựng nước nhà; cán bộ lãnh đạo phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

Ngày 2-3-1963, Bác Hồ căn dặn: “Cán bộ lãnh đạo phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”
 Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Đảng bộ và nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, ngày 2-3-1963. Ảnh: Tư liệu TTXVN.

Tư tưởng của Người về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là sự kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, đạo lý làm người của cha ông, là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng đạo đức của Chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng ở nước ta. Người coi đó không phải chỉ là phẩm chất của cá nhân mà còn của cả tập thể, của cả dân tộc. 

Người yêu cầu mọi cán bộ đều phải rèn luyện, tu dưỡng theo các phẩm chất trên, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảng viên có chức, có quyền. Trong công cuộc đổi mới nước ta hiện nay, việc rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng nói chung, đức tính “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” nói riêng cho đội ngũ cán bộ ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết, trong bối cảnh một bộ phận xã hội, có cả cán bộ, đảng viên còn biểu hiện suy thoái đạo đức cách mạng, tham nhũng, thoái hóa biến chất.

Tổ chức đảng các cấp, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân và xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới…Trước yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng, việc tăng cường rèn luyện “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” đối với cán bộ, đảng viên theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là vấn đề cơ bản, cấp thiết trong công tác xây dựng Đảng hiện nay.

Kiên định, kiên quyết bảo vệ những giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin

 

     Lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác cũng như lý tưởng và sức sống mãnh liệt của Cách mạng Tháng Mười Nga là những giá trị vĩnh hằng, có sức sống trường tồn cùng nhân loại bởi “cái ngày vĩ đại ấy càng cách xa chúng ta thì ý nghĩa của cuộc CMVS Nga càng trở nên rõ rệt, chúng ta cũng càng suy nghĩ sâu về toàn bộ kinh nghiệm thực tiễn của công tác của chúng ta”(1), thấy rõ hơn giá trị và ý nghĩa hiện thực của Cách mạng Tháng Mười Nga; đặc biệt là những cống hiến vĩ đại của Lênin đối với việc khai mở con đường thực hiện tiến bộ xã hội, đưa các dân tộc thuộc địa thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, trở thành chủ nhân xây dựng cuộc sống mới, sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.

     Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, phát triển không phải là một đường thẳng mà có lúc sẽ diễn ra quanh co, phức tạp. Sự  ra đời, tồn tại, phát triển và sụp đổ của các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô trong thập kỷ 90 của thế kỷ 20 phần nào đã nói lên sự “dích dắc” đó. Song, không vì thế mà tiến trình lịch sử bị đảo lộn, bị “ngưng đọng”, “thụt lùi”.

     Theo quy luật tiến hóa của loài người, lịch sử vẫn tiếp tục vận động và phát triển. Những tổn thất từ sự sụp đổ của một số nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô là đáng tiếc nhưng nó chỉ có thể làm chậm bước tiến của nhân loại trên con đường đi lên CNXH.

      Song, nó cũng nói lên rằng, các thế lực thù địch không thể và không bao giờ xóa bỏ được lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga cũng như mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH mà Đảng, Bác Hồ và dân tộc ta đã lựa chọn. Điều này đã được Đảng ta khẳng định: “Lịch sử đang trải qua những bước quanh co, phức tạp, song “loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới CNXH, vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”(2).

      Vì vậy, khi nói về ý nghĩa thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đó là thắng lợi của lý tưởng cộng sản, của Cách mạng Tháng Mười Nga, thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin.

     Thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã chỉ ra một chân lý không thể nào bác bỏ, đó là bất cứ một xã hội nào đã tỏ ra lỗi thời, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, của dân tộc, cản trở tiến bộ xã hội thì tất yếu sẽ bị thay thế bởi một chế độ xã hội khác cao hơn, tiến bộ hơn; đó là xã hội XHCN-giai đoạn đầu của CNCS.

      Con đường xóa bỏ sự lạc hậu, lỗi thời, tệ nạn người áp bức, bót lột người là đi theo tấm gương Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.

       Sự sụp đổ của chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và các nước Đông Âu đem lại cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc, cần suy ngẫm, rút kinh nghiệm để chỉ đạo sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay: Bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào, người cộng sản đều phải kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga, con đường cách mạng vô sản, luôn độc lập, tự chủ, năng động, sáng tạo, thường xuyên đổi mới, tỉnh táo đi lên CNXH. 

       Trong đó, đổi mới nhận thức, bổ sung, phát triển lý luận về đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phù hợp với thời cuộc hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Học tập, tin theo Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cần đổi mới nhận thức, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam. Làm tốt điều này là thiết thực bảo vệ và góp phần tăng thêm sức sống cho chủ nghĩa Mác-Lênin - nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện lịch sử mới.

     Có thể nói rằng, lý luận về đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là một sáng tạo trong vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Không thể vì sự sụp đổ của chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và Đông Âu mà ai đó đã vội quy kết, coi nó là “sự phá sản”, “sự sụp đổ” của chủ nghĩa Mác-Lênin, của lý luận về CNXH khoa học hay sự thất bại của lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga.

      Đó chỉ là sự ngộ nhận và là quan điểm hoàn toàn sai trái, cần loại bỏ. Trái lại, những gì đã diễn ra ở Liên Xô và các nước Đông Âu những năm 90 của thế kỷ 20 là minh chứng khẳng định rằng, trong tình hình hiện nay, bất cứ đảng cộng sản nào và bất cứ ai, nếu coi thường chủ nghĩa Mác-Lênin, đi ngược lại lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga, thì tất yếu sẽ mắc phải sai lầm về chính trị, và mọi sai lầm đều phải trả giá đắt: Đảng Cộng sản mất vai trò lãnh đạo; chế độ XHCN sụp đổ, xã hội sẽ rơi vào rối loạn, nhân dân sẽ đau khổ, lầm than. Đó là kết cục đáng tiếc về sự sai lầm, khinh thường chủ nghĩa Mác-Lênin.

       Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ khi mới ra đời cho đến nay, đặc biệt từ Đại hội VII (1991), Đảng đã khẳng định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động.

    Làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Do vậy, kiên trì, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề có tính nguyên tắc số một đối với Đảng ta, vì điều căn cốt này liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ ta. Một trong những yêu cầu, giải pháp hàng đầu để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu mà Đại hội XIII của Đảng vạch ra là bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, đặc biệt là nghiên cứu, khai thác những giá trị quý báu của chủ nghĩa Mác-Lênin, toàn bộ di sản mà Người để lại cho nhân loại, đặc biệt là lý luận về xây dựng đảng mác xít kiểu mới, về chính sách kinh tế mới (NEP), về chiến tranh và hòa bình...

     Qua đó, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn chủ nghĩa Lênin-ngọn nguồn bí mật đã đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác, trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam và Người đã mở ra con đường mới cho cách mạng Việt Nam-con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

Lênin vận dụng trung thành, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác


     Giống như C.Mác và Ph.Ăng-ghen trong thế kỷ 19, V.I.Lênin xuất hiện trong thế kỷ 20 với tư cách là một nhà bác học vĩ đại nhất trong cách mạng và thực hiện cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong khoa học; là một trong những người có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ 20. Chủ nghĩa Lênin trở thành cấu phần rất quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và là kim chỉ nam cho hành động của các đảng cộng sản trên thế giới.

     Lênin là người kế tục trung thành, bảo vệ và phát triển sáng tạo các học thuyết khoa học, cách mạng của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, đã lãnh đạo Đảng Cộng sản Bolshevik (b) và nhân dân Nga làm cuộc cách mạng long trời lở đất, xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột người; giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, mở ra thời đại mới-thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản (CNTB) lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) và cách mạng vô sản (CMVS) trên phạm vi toàn thế giới.

Bảo vệ những giá trị cơ bản của chủ nghĩa Lênin
Ảnh minh họa: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh 

     Với việc bảo vệ và phát triển sáng tạo cả 3 bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác trước sự tấn công từ nhiều phía của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị, Lênin đã bổ sung, phát triển toàn diện, đồng bộ cả 3 bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác: Triết học, Kinh tế học chính trị và Chủ nghĩa xã hội khoa học với hệ thống luận điểm mới, sáng tạo; nâng tầm cao thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của cuộc CMVS trong giai đoạn CNTB độc quyền chuyển thành chủ nghĩa đế quốc-đêm trước của CMVS.

Sự cống hiến vĩ đại của Lênin đã làm cho chủ nghĩa Mác sống động hơn, trở thành hệ thống lý luận hoàn bị nhất, chắc chắn nhất, trở thành “công cụ nhận thức vĩ đại” để giai cấp công nhân nhận thức và cải tạo thế giới.

     Với ý nghĩa đó, chủ nghĩa Lênin được coi là sản phẩm phát triển chín muồi của chủ nghĩa Mác trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, là sự hội tụ, kết tinh, liên tục đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững hệ tư tưởng vô sản, khẳng định sự tất thắng của mục tiêu, con đường đi tới CNXH của giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ trong thời đại cách mạng XHCN.

     Lênin đã nâng tầm cao uy tín, vị thế, giá trị và ý nghĩa lý luận-thực tiễn của chủ nghĩa Mác; nêu tấm gương mẫu mực về sự trung thành, đổi mới sáng tạo trong kế thừa, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-hệ tư tưởng của giai cấp vô sản trong điều kiện lịch sử mới.

Lênin coi chủ nghĩa Mác là một hệ thống mở, bởi ông cho rằng lý luận của C.Mác mới chỉ đặt nền móng cho một bộ môn khoa học mà những người cộng sản cần phải phát triển hơn nữa, nếu không muốn trở thành lạc hậu và bị cuộc sống đào thải.

     Sự thống nhất biện chứng về quan điểm, lập trường thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng giữa chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lênin đã gắn chặt tên tuổi, cuộc đời, sự nghiệp của các ông với giai cấp công nhân, với hệ tư tưởng của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công; xây dựng chế độ xã hội mới tốt đẹp-xã hội XHCN.

     Vì lẽ đó, chủ nghĩa Lênin được coi là chủ nghĩa Mác trong thời đại mới-thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH và CMVS trên phạm vi toàn thế giới. Chủ nghĩa Mác đã được tiếp nối bằng sức sống đầy sinh khí của chủ nghĩa Lênin trên cơ sở thống nhất biện chứng giữa lập trường, quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa cộng sản (CNCS). Vì vậy, chủ nghĩa Lênin chính thức trở thành chủ nghĩa Mác-Lênin - nguồn năng lượng dồi dào, động lực mới tạo nên sức mạnh vô địch và là cấu phần rất quan trọng trong nền tảng tư tưởng của các đảng cộng sản.

     Trong chiều sâu của sợi dây chuyền ấy, người có công kết nối, xây dựng, tạo nên tượng đài dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân thế giới là Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh. Với linh hồn sống động của chủ nghĩa Mác là phép biện chứng duy vật và giá trị nhân văn sâu sắc, Lênin đã giải quyết thỏa đáng mối quan hệ biện chứng giữa trung thành và sáng tạo, bảo vệ và phát triển, lý luận và thực tiễn, đưa chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của các đảng cộng sản. Quan điểm của Lênin về cách mạng XHCN có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, vạch ra con đường đi tới với triển vọng thắng lợi của CMVS ở một số nước, thậm chí ở một nước, đồng thời nhấn mạnh vai trò chủ động, tích cực sáng tạo của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống mọi loại kẻ thù. Để cách mạng thắng lợi hoàn toàn, Lênin yêu cầu phải bảo đảm quyền lãnh đạo tuyệt đối của giai cấp công nhân, đứng đầu là bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất là Đảng Cộng sản. Cùng với đó, phải xây dựng khối liên minh công nông và khối đại đoàn kết giữa các dân tộc vững chắc; kiên quyết thực hiện chuyên chính vô sản; ra sức đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội; làm cho CNXH ngày càng nhiều hơn, dân chủ nhiều hơn. Chìa khóa để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng XHCN là sự giác ngộ và làm chủ vận mệnh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đặc biệt là việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ của Đảng và sử dụng hiệu quả tầng lớp trí thức XHCN.


Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh tiến lên hiện đại

 


0


Đại tướng Phan Văn Giang động viên cán bộ, học viên Học viện Quân y trước khi lên đường hỗ trợ Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam chống dịch COVID-19, ngày 23/8/2021.

     Dưới sự lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đã cùng với nhân dân làm nên những chiến thắng huy hoàng, xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, làm nòng cốt cho toàn dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.

     Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, với 34 chiến sĩ, trang bị vũ khí tuy còn rất thô sơ nhưng đã làm nên Chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần, mở ra truyền thống “quyết chiến, quyết thắng” của Quân đội. Chưa đầy một năm sau, Quân đội nhân dân đã góp phần quan trọng cùng toàn dân làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 vĩ đại, giành độc lập dân tộc, tạo tiền đề cho sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.

     Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Quân đội ta trưởng thành nhanh chóng, phát triển cả về lực lượng, vũ khí, trang bị và đặc biệt là kinh nghiệm tác chiến. Nhờ đó, trong thế trận chiến tranh nhân dân, Quân đội ta đã tổ chức nhiều chiến dịch với quy mô ngày càng lớn, nhất là cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954, giành thắng lợi quyết định trong Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

     Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quân đội ta đã xây dựng được các binh chủng, quân chủng với vũ khí, trang bị, phương tiện kỹ thuật tương đối hiện đại. Đặc biệt, đến giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến, đã thành lập các quân đoàn chủ lực cơ động. Nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược đã phát triển đến đỉnh cao, nhất là nghệ thuật tác chiến chiến dịch, chiến lược và sự chỉ đạo phối hợp tác chiến giữa các chiến trường. Ở miền Bắc, Quân đội đã tham gia cùng toàn dân xây dựng chủ nghĩa xã hội; đồng thời, đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, bảo vệ vững chắc “hậu phương lớn” miền Bắc, chi viện cho “tiền tuyến lớn” miền Nam.

     Ở miền Nam, Quân đội đã phát huy vai trò nòng cốt trong đấu tranh quân sự, kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh trên mặt trận ngoại giao; thực hiện phương thức tác chiến của các binh đoàn chủ lực kết hợp với chiến tranh nhân dân địa phương; tạo thành sức mạnh tổng hợp làm phá sản các chiến lược: “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh”, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

     Bước vào thời kỳ hòa bình xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, Quân đội tiếp tục xung kích, đi đầu trong khắc phục hậu quả chiến tranh, tham gia phát triển kinh tế - xã hội; đấu tranh với âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; cùng toàn dân tộc tiến hành thắng lợi các cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới và làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả.

     Phát huy truyền thống, bản chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội kế tiếp nhau luôn thực hiện tốt chức năng của đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất, xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

     Trong giai đoạn mới, để cụ thể hóa chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, tạo tiền đề vững chắc đến năm 2030 xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, trong đó lấy xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị và chuẩn mực “Bộ đội Cụ Hồ” làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh, trình độ sẵn sàng chiến đấu.

     Toàn quân đã tích cực triển khai thực hiện hiệu quả các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị, bước đầu đạt được những kết quả hết sức quan trọng, như: Thực hiện điều chỉnh tổ chức biên chế, giảm quân số ở các cơ quan chiến dịch, chiến lược, ưu tiên quân số cho các đơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, tuyến biên giới, hải đảo; huy động tiềm lực quốc phòng, đầu tư, nâng cao sức mạnh cho các quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; sắp xếp lại các nhà máy sản xuất, cơ sở sửa chữa quốc phòng; điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, biên chế của một số học viện, nhà trường Quân đội…

     Những năm tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo; cạnh tranh chiến lược, xung đột thương mại giữa các nước lớn, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống diễn ra gay gắt hơn; suy thoái kinh tế do đại dịch COVID-19 gây ra ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định, phát triển của các quốc gia, dân tộc. Cộng đồng ASEAN tiếp tục bị tác động, chi phối và đối mặt với những thách thức mới. Biển Đông và một số địa bàn chiến lược vẫn tiềm ẩn nhân tố gây mất ổn định và diễn biến ngày càng phức tạp, đe dọa hòa bình, ổn định của khu vực và môi trường đầu tư.

     Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động mạnh mẽ tới mọi mặt đời sống, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh. Sự nghiệp đổi mới đất nước hơn 35 năm qua, thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay… Tất cả những yếu tố đó đều tác động đến quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, theo đó cần nhận thức và giải quyết thành công các vấn đề đặt ra hiện nay, đó là:

     Một là, kiên định nguyên tắc xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, giữ vững bản chất cách mạng, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Đây là nội dung có tầm quan trọng chiến lược trong toàn bộ đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân của Đảng.

     Trước yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn cách mạng mới, nhất là trước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, thực hiện “phi chính trị hóa” Quân đội, việc giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội, là một nguyên tắc bất di, bất dịch, quyết định đến mọi thắng lợi của Quân đội trong suốt 77 năm qua. Để bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và mọi đảng viên trong Quân đội phải chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, đề cao trách nhiệm trong tự phê bình và phê bình, tăng cường đoàn kết, nhất trí trong tập thể cấp ủy, người chỉ huy và chính ủy, chính trị viên…

     Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, ngăn ngừa kịp thời mọi biểu hiện sai phạm, tham nhũng, lãng phí, xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, trong nội bộ. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị gắn với triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nghị quyết, kết luận, chỉ thị của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Nghị quyết của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”.

     Hai là, thường xuyên quan tâm, chăm lo xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là một trong những đột phá chiến lược, có ý nghĩa quyết định, bảo đảm cho Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Việc xây dựng nguồn nhân lực cần chú trọng cả về số lượng và chất lượng, đồng bộ theo lộ trình hiện đại hóa vũ khí, trang bị, kỹ thuật của các quân chủng, binh chủng, lực lượng. Tập trung phát triển đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học quân sự, các chuyên gia đầu ngành, giảng viên ở các học viện, nhà trường Quân đội; quan tâm phát triển đội ngũ cán bộ quân sự, chính trị chất lượng cao, xây dựng đội ngũ cán bộ hậu cần, kỹ thuật có trình độ, năng lực chuyên môn sâu.

     Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập, đào tạo sát với yêu cầu nhiệm vụ, kế thừa nghệ thuật quân sự độc đáo của ông cha ta trong đánh giặc giữ nước và tinh hoa nghệ thuật quân sự thế giới. Tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ mô phỏng, trí tuệ nhân tạo, các phương tiện kỹ thuật hiện đại trong huấn luyện bộ đội. Có chính sách phù hợp để thu hút, phát triển và trọng dụng nhân tài, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

       Ba là, tiếp tục triển khai hiệu quả đột phá về tổ chức và trang bị. Đây là những nội dung rất quan trọng, quyết định đến sức mạnh sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi của Quân đội. Do đó, phải quán triệt sâu sắc quan điểm Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI. Tích cực rà soát, điều chỉnh tổ chức Quân đội bảo đảm cơ cấu hợp lý, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, vũ khí, trang bị, kỹ thuật hiện có và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong điều kiện mới; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, chất lượng ngày càng cao; coi trọng xây dựng lực lượng đặc thù, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ tác chiến trong tình hình mới.

Tiếp tục sắp xếp lại các nhà máy quốc phòng, học viện, nhà trường Quân đội phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Chú trọng đón đầu công nghệ mới gắn với đẩy mạnh hợp tác quốc tế về công nghiệp quốc phòng và chuyển giao công nghệ; đầu tư công nghệ cho các hoạt động nghiên cứu chế tạo, cải tiến vũ khí, khí tài, trang bị, kỹ thuật hiện đại, nâng cao tính năng kỹ, chiến thuật của các loại vũ khí, trang bị phù hợp điều kiện nền kinh tế đất nước và trong điều kiện tác chiến bằng vũ khí công nghệ cao.

     Bốn là, xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng đạt trình độ tiên tiến, hiện đại, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong thời gian tới, chúng ta phải tận dụng thành tựu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu xây dựng nền công nghiệp quốc phòng độc lập, tự chủ, có tiềm lực ngày càng mạnh, phù hợp với khả năng của nền kinh tế đất nước.

Công nghiệp quốc phòng phải được phát triển theo hướng gắn chặt với công nghiệp dân sinh, có cơ cấu hợp lý trong tổng thể nền công nghiệp quốc gia, ưu tiên hướng tới những công nghệ hiện đại, hiệu quả cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang nhân dân. Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng theo hướng lưỡng dụng, đạt trình độ tiên tiến, hiện đại làm nòng cốt xây dựng các tập đoàn, tổ hợp công nghiệp quốc phòng, bảo đảm cho Quân đội từng bước được trang bị hiện đại, trước mắt tập trung xây dựng lực lượng hải quân, phòng không - không quân, trinh sát điện tử, tác chiến điện tử, trinh sát kỹ thuật, thông tin liên lạc tiến thẳng lên hiện đại.

      Năm là, nâng cao hiệu quả công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng. Đây là một bộ phận quan trọng của ba trụ cột đối ngoại Việt Nam, nhằm quán triệt, cụ thể hóa đường lối đối ngoại của Đảng, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế. Thông qua công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng tiếp tục xây dựng lòng tin, nâng cao vị thế, uy tín của Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế; đồng thời thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, kỹ thuật quân sự, chia sẻ kinh nghiệm tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, đào tạo cán bộ và đối phó với các thách thức an ninh phi truyền thống.

Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, luôn được Đảng, Nhà nước và nhân dân hết sức quan tâm, chăm lo, dành cho những tình cảm đặc biệt.

     Phát huy truyền thống 77 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, cán bộ, chiến sĩ toàn quân nguyện tiếp tục nỗ lực phấn đấu, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy “tinh, gọn, mạnh, hiện đại” như lời phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Quân ủy Trung ương lần thứ 3 nhiệm kỳ 2020 - 2025.

Phương hướng, biện pháp cơ bản xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới


      Xây dựng Quân đội về chính trị trong tình hình mới đặt ra những yêu cầu, nội dung mới toàn diện và đầy đủ hơn so với trước đây. Dự thảo chỉ rõ: tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là nguyên tắc trong xây dựng Quân đội. Để thực hiện được, cần tiếp tục xây dựng nền tảng tư tưởng của Đảng, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc trong Quân đội. Tập trung xây dựng hệ thống tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, tổ chức quần chúng, các cơ quan vững mạnh toàn diện. Xây dựng, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng chính trị cho cán bộ, chiến sĩ. Cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp phải bám sát đặc điểm, tình hình để đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo, quản lý đơn vị cho phù hợp.

      Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng cho bộ đội; thực hiện nghiêm Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”. Đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục chính trị ở các đơn vị cần đi vào thực chất và thiết thực hơn gắn với chức trách, nhiệm vụ của mỗi người, mỗi cơ quan, đơn vị. Khắc phục triệt để tình trạng ở một số cơ quan, đơn vị “khoán trắng” việc giáo dục chính trị cho cơ quan chính trị, cán bộ chính trị; phải cụ thể và xác định nội dung giáo dục chính trị thiết thực với từng nhóm đối tượng. Các cơ quan, đơn vị cần coi trọng, đổi mới, nâng cao chất lượng và phát huy vai trò, hiệu quả của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị. Cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp phải quan tâm toàn diện về nội dung, biện pháp, hình thức tiến hành công tác đảng, công tác chính trị, bảo đảm phù hợp với đặc điểm của đơn vị. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống  hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

      Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chủ động đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Mỗi cán bộ, chiến sĩ là một pháo đài vững chắc để chủ động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trước âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, nhất là trên không gian mạng hiện nay, đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ Quân đội phải kịp thời phát hiện, chủ động trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống “phi chính trị hóa” Quân đội.

      Tích cực tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận làm cơ sở để đề ra giải pháp phù hợp đối với xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Bởi, phương hướng, quan điểm của Đảng ta đều trên cơ sở lý luận và thực tiễn. Do đặc điểm, tình hình hiện nay biến đổi nhanh chóng, phức tạp liên quan trực tiếp đến vấn đề xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, nên phải tổ chức tốt công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận và quan tâm đầu tư nghiên cứu, vận dụng nghệ thuật quân sự phù hợp, sáng tạo trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp cần tiến hành đồng bộ những chủ trương, biện pháp  giáo dục, huấn luyện, quản lý bộ đội, tạo sức mạnh tổng hợp, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới.

Nội dung xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị hiện nay


      Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Quân đội trong tình hình mới, vấn đề xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị đặt ra một cách toàn diện trên các mặt. Thực chất xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị là giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, đảm bảo cho Quân đội luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu xứng đáng với truyền thống: Quân đội ta trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

      Trước những vấn đề thực tiễn liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, Dự thảo khẳng định xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị có nội hàm rộng hơn, toàn diện hơn trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Do việc xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị đứng trước cả thời cơ và thách thức, trước những tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, sự chống phá của các thế lực thù địch nhằm “phi chính trị hóa” Quân đội, nên cả hệ thống chính trị càng phải quan tâm, chăm lo xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức để góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp đủ khả năng hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, không bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Cùng với đó, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra cơ hội và thách thức đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, trước hết là vấn đề hiện đại hóa vũ khí, trang bị, nhưng cũng đặt ra yêu cầu đối với con người trong hoạt động quân sự và chiến tranh, sự kiểm soát của nhân tố chính trị - tinh thần, khả năng điều khiển đối với các loại vũ khí thông minh, v.v. Điều đó tất yếu tác động toàn diện đến công tác chuẩn bị con người ngay từ thời bình bằng các nội dung, biện pháp tiến hành công tác tư tưởng, tổ chức, cán bộ, chính sách,... góp phần làm cho Quân đội vững mạnh toàn diện; trong đó, chính trị - tinh thần là cơ sở, nền tảng cho các yếu tố khác. Vì thế, Đảng ta luôn quan tâm xây dựng Quân đội có cơ cấu tổ chức biên chế phù hợp, tinh, gọn, hoạt động hiệu quả, sức cơ động và sức chiến đấu cao, có khả năng xử lý tốt mọi nhiệm vụ, tình huống trước sự phát triển và ứng dụng của khoa học và công nghệ là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn.

      Mặt khác, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị cũng cần bám sát tình hình thực tiễn giải quyết những vấn đề về an ninh phi truyền thống hiện nay. Phát huy truyền thống tốt đẹp, thời gian qua, Quân đội đã làm tốt vai trò, chức năng, nêu cao trách nhiệm, đi đầu trong phòng, chống đại dịch Covid-19, tạo được tình cảm, niềm tin yêu của nhân dân và bạn bè quốc tế. Vì vậy, để hoàn thành nhiệm vụ trong tình hình mới, đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ phải nhận thức sâu sắc, phát huy tốt hơn nữa trách nhiệm chính trị, phẩm chất cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” trong ứng xử, quan hệ với nhân dân. Qua đó, góp phần tăng cường đoàn kết quân - dân, cùng đồng hành thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

      Trong hội nhập quốc tế, hợp tác quốc phòng với các nước càng phải tăng cường bản chất cách mạng của Quân đội. Việc thực hiện tốt công tác đối ngoại quốc phòng sẽ trực tiếp góp phần hiện thực hóa quan điểm của Đảng ta: Việt Nam “là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”4. Trong đối ngoại quốc phòng phải giữ vững bản chất cách mạng của Quân đội, tiếp tục củng cố, xây dựng và phát triển bản lĩnh chính trị và tăng cường niềm tin của Quân đội nhân dân Việt Nam với quân đội các nước và quốc tế. Vì thế, cần bồi dưỡng về trình độ ngoại ngữ, kiến thức toàn diện cho cán bộ, chiến sĩ để họ đủ khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ quan trọng này.

      Tác động của kinh tế thị trường đến xây dựng Quân đội về chính trị theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực. Tình trạng vi phạm kỷ luật ở một số đơn vị vẫn còn, thậm chí là vi phạm kỷ luật nghiêm trọng ở một bộ phận cán bộ, chiến sĩ. Do đó, phải giáo dục, tổ chức, quản lý quân nhân ngày càng chính quy, bài bản hơn, trước hết là tập trung nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, pháp luật cho mọi quân nhân kết hợp với các biện pháp quản lý hành chính, kỷ luật để họ có khả năng tự kiểm soát, tự quản lý, không xảy ra vi phạm kỷ luật.


Xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị - cơ sở lý luận và thực tiễn

 

    Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị là nhân tố quyết định sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định rõ vấn đề này trên cơ sở khoa học.

    Về lý luận, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ, giai cấp vô sản muốn giành chính quyền thì phải tổ chức ra một quân đội kiểu mới; được xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Xây dựng sức mạnh chiến đấu của quân đội cách mạng cần quan tâm toàn diện đến con người, vũ khí, trang bị, nghệ thuật, cách đánh, v.v. Trong đó, chính trị - tinh thần của quân đội là yếu tố quan trọng. V.I. Lênin nhấn mạnh: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”1. Chủ tịch Hồ Chí Minh, khẳng định: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”2.

     Về thực tiễn, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc của quân và dân ta, xét về tiềm lực kinh tế, quân sự, ta không thể mạnh bằng đối phương, nhưng lại giành thắng lợi. Đó là nhờ sức mạnh của tiềm lực chính trị - tinh thần mà yếu tố đặc biệt tạo nên sức mạnh đó là Quân đội ta luôn vững mạnh về chính trị. Thấy rõ vai trò của nhân tố chính trị trong sức mạnh của Quân đội ta, thời gian qua, các thế lực thù địch không ngừng tăng cường các biện pháp chống phá hòng “phi chính trị hóa” Quân đội. Điều đó đặt ra và đòi hỏi phải tiếp tục quan tâm, chăm lo xây dựng Quân đội nói chung, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị nói riêng. Trước yêu cầu thực tiễn xây dựng Quân đội hiện nay, Dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; vững mạnh về chính trị, có chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống”3. Theo đó, nội hàm của quan điểm, phương hướng trong Dự thảo vừa có tính kế thừa nội dung của các nhiệm kỳ trước, vừa có sự phát triển nhận thức của Đảng ta về quan điểm, chủ trương xây dựng Quân đội vững mạnh toàn diện, trong đó lấy xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở là hoàn toàn đúng cả về lý luận và thực tiễn.