Thứ Ba, 1 tháng 3, 2022

Thực trạng việc cụ thể hóa nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị

 Thực tiễn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong những năm qua cho thấy, các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở đã có nhiều cố gắng trong việc thể chế hóa, cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; xác định chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm quyền của cấp ủy, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị và của mỗi cá nhân, nhất là đối với người đứng đầu cấp ủy, chính quyền để thực hiện. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm và kết quả bước đầu đạt được, việc cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, nhất là việc xác định trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với tập thể cấp ủy, ban lãnh đạo cơ quan, đơn vị vẫn chưa thật rõ ràng và còn những hạn chế, bất cập. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền có vai trò rất quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị; có vai trò “là thủ lĩnh”, là “đầu tàu” để dẫn dắt, truyền cảm hứng và lôi cuốn đối với tập thể cấp ủy, lãnh đạo và đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhưng người đứng đầu cũng chỉ là một thành viên dự họp và khi biểu quyết cũng chỉ có một phiếu như các thành viên khác.

Trong thực tế, cũng có không ít cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đơn vị hành chính chưa thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Một mặt, một số cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu thiếu gương mẫu, uy tín thấp, phẩm chất, năng lực chưa ngang tầm nhiệm vụ, nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm, quan liêu, xa dân, độc đoán, chuyên quyền, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, nhưng không được tập thể theo dõi, giám sát, giúp đỡ kịp thời, dẫn đến vi phạm nguyên tắc tổ chức và các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Mặt khác, cũng do chưa cụ thể hóa và phân định thật rõ thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu nên còn có sự lúng túng giữa thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể và cá nhân trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị ở nhiều nơi. Cũng có nơi đã xảy ra sai phạm do nhầm lẫn giữa thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy (thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể quyết định theo đa số) với người đứng đầu cơ quan, đơn vị (thực hiện nguyên tắc thủ trưởng quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định đó), nhất là đối với những đồng chí bí thư cấp ủy đồng thời là thủ trưởng cơ quan, đơn vị. Vì thế, nhiều nơi có biểu hiện là, khi địa phương, tổ chức, cơ quan, đơn vị có ưu điểm, thành tích thì ai cũng thấy có công lao, thành tích của mình đóng góp ở trong đó; nhưng khi có sai lầm, khuyết điểm, thậm chí để xảy ra sai phạm, thì không xác định được trách nhiệm của tập thể và cá nhân đến đâu, nhất là của người đứng đầu; và cuối cùng là đổ cho nguyên nhân khách quan và lỗi chung của tập thể, mà không có cá nhân nào chịu trách nhiệm.

Cũng không ít nơi còn biểu hiện dân chủ xuôi chiều, dân chủ hình thức, ý kiến phát biểu của các thành viên lãnh đạo chủ yếu dựa theo ý kiến của người đứng đầu, theo kiểu “gió chiều nào che chiều ấy”. Đây thực chất là thông qua cơ chế dân chủ của tập thể để hợp thức hóa ý chí áp đặt và sự chỉ đạo của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền cơ quan, đơn vị. Vì vậy, trong công tác đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, đã xảy ra không ít trường hợp là, mặc dù thực hiện “đúng quy trình” nhưng vẫn không lựa chọn được đúng người, đúng việc, trong khi đó có một số trường hợp được bổ nhiệm “thần tốc” lại là con, em, người thân của cán bộ lãnh đạo, nhất là người đứng đầu, nên đã gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thực trạng trên có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong đó có nguyên nhân chủ quan là việc cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách và việc phân định chưa thật rõ ràng trách nhiệm của người đứng đầu trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị; chưa phát huy đúng mức vai trò của cá nhân trong tập thể.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách

 Quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng ta, luôn coi trọng nguyên tắc tập trung dân chủ và coi đó là nguyên tắc số một về tổ chức và hoạt động của một Đảng Cộng sản. Điều lệ của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng, những tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, đều khẳng định và chỉ rõ những nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động của Đảng. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng 92 năm qua, Đảng ta luôn xác định tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI thông qua ngày 19 tháng 1 năm 2011) nhấn mạnh: “Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong điều kiện Đảng cầm quyền ở nước ta, biểu hiện cụ thể của nguyên tắc tập trung dân chủ chính là nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Việc thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong Đảng thống nhất với thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong bộ máy nhà nước và trở thành một phong cách làm việc cần thiết của cán bộ lãnh đạo, quản lý. Hiện nay, việc thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ và phong cách làm việc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Thực chất, việc cụ thể hóa nguyên tắc này là xử lý hài hòa mối quan hệ giữa cấp ủy, tập thể lãnh đạo và mỗi thành viên, mà quan trọng nhất là đối với vị trí, vai trò của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền cơ quan, đơn vị đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Vì sao cần phải có tập thể lãnh đạo? Vì một người dù khôn ngoan tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc nhiều mặt của một vấn đề, không thể trông thấy và xem xét tất cả mọi mặt của một vấn đề. Vì vậy, cần phải có nhiều người. Nhiều người thì nhiều kinh nghiệm. Người thì thấy rõ mặt này, người thì trông thấy rõ mặt khác của vấn đề đó... Vì sao cần phải cá nhân phụ trách? Việc gì đã được đông người bàn bạc kỹ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ ràng rồi, thì cần phải giao cho 1 người hoặc một nhóm ít người phụ trách theo kế hoạch đó mà thi hành. Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy”. Trong hoạt động lãnh đạo, một mặt, nếu tập thể lãnh đạo cùng tham gia, đóng góp ý kiến, thảo luận, bàn bạc thấu đáo, kỹ lưỡng, thì quyết định lãnh đạo, chủ trương, chính sách mới sẽ bảo đảm được tính khách quan, chính xác hơn, khắc phục được tình trạng chủ quan, duy ý chí; mặt khác, khi tập thể đã thảo luận một cách dân chủ, kỹ lưỡng và có quyết định chính xác, đúng đắn về chủ trương, thì không thể hô hào chung chung, mà tất cả mọi người phải cùng thực hiện, phải phân công, giao nhiệm vụ cho từng thành viên phụ trách trong từng lĩnh vực, từng công việc cụ thể. Chỉ có như vậy, hoạt động của cơ quan, đơn vị sẽ vừa phát huy được dân chủ, tập hợp trí tuệ của các thành viên và nâng cao vai trò lãnh đạo của tập thể, vừa đề cao vai trò, trách nhiệm của cá nhân, phát huy được năng lực, sở trường và tính chủ động, sáng tạo của mỗi thành viên khi được phân công phụ trách, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu.

“Tập thể lãnh đạo” và “cá nhân phụ trách” có mối quan hệ gắn bó mật thiết, biện chứng với nhau, là hai mặt thống nhất trong một chỉnh thể không thể tách rời. Khi một tập thể lãnh đạo gương mẫu, thực sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, tất cả vì lợi chung của Đảng, luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết, chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, sẽ tạo được môi trường thuận lợi cho mỗi thành viên lãnh đạo rèn luyện, phấn đấu, phát huy hết phẩm chất, năng lực, sở trường để đóng góp cho sự nghiệp chung. Bên cạnh đó, khi mỗi thành viên cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, thực sự tiền phong gương mẫu, luôn năng động, sáng tạo, dám đổi mới, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung, sẽ làm tăng thêm vai trò, sức mạnh và năng lực lãnh đạo của cấp ủy, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị. Trong mối quan hệ giữa “tập thể lãnh đạo” và “cá nhân phụ trách”, thì mối quan hệ giữa cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị và người đứng đầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hiệu quả lãnh đạo của cấp ủy, tập thể lãnh đạo và vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị. Khi tập thể lãnh đạo thực sự đoàn kết, thống nhất, gương mẫu, giữ vững nguyên tắc tổ chức và các quy định của Đảng, tất cả vì lợi ích của nhân dân, các thành viên ban lãnh đạo đều đề cao tinh thần trách nhiệm, thẳng thắn đấu tranh với quan điểm và hành vi sai trái..., sẽ làm tăng thêm vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu, trở thành chỗ dựa vững chắc để người đứng đầu quyết đoán, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành công việc theo chức trách, nhiệm vụ được giao; đồng thời, sẽ ngăn ngừa, hạn chế được những biểu hiện chủ quan, duy ý chí và hành vi vi phạm nguyên tắc của người đứng đầu. Điều đó là bởi, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền chỉ là một thành viên trong cấp ủy, tập thể lãnh đạo, nhưng có vị trí rất quan trọng, đóng vai trò “thủ lĩnh”, định hướng, dẫn dắt cả tập thể trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và sự phát triển của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Thực tiễn cũng chỉ ra rằng, nếu người đứng đầu có phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gương mẫu về mọi mặt, giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật của Đảng, đề cao pháp luật của Nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ, sẽ góp phần xây dựng tập thể lãnh đạo đoàn kết, thống nhất, trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, đưa địa phương, cơ quan, đơn vị vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao. Ngược lại, nơi nào và lúc nào người đứng đầu thiếu tu dưỡng, rèn luyện, không gương mẫu, chấp hành không nghiêm chủ trương, đường lối, các nguyên tắc, quy định của Đảng, có tư tưởng vụ lợi, cá nhân chủ nghĩa..., thì sẽ dẫn đến thiếu đoàn kết, thống nhất trong nội bộ lãnh đạo; nhiệm vụ chính trị không được hoàn thành, trong cơ quan, đơn vị thường xảy ra tiêu cực, thậm chí tham nhũng, lãng phí, vi phạm Điều lệ Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; không những gây thiệt hại về kinh tế, mà còn làm tổn thất, mất mát về cán bộ, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước..../.

Thực trạng việc phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng

 Đại hội XIII của Đảng đã đánh giá việc phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng Đảng, rút ra bài học kinh nghiệm; trong đó, nhấn mạnh Đảng phải thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.

Đại hội XIII của Đảng khẳng định những ưu điểm: “Công tác dân vận được chú trọng và tiếp tục đổi mới; quan điểm “dân là gốc”, là chủ thể của công cuộc đổi mới được nhận thức và thực hiện ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn; mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân được củng cố, tăng cường. Nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và hệ thống chính trị được nâng cao; coi trọng việc lắng nghe, nắm tình hình và giải quyết những nguyện vọng, kiến nghị hợp pháp, chính đáng, những vấn đề bức xúc của nhân dân; góp phần tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân và phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng”.

Trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành và lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định liên quan trực tiếp đến phát huy vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Trước đó, Đảng cũng đã ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ này. Nhờ đó, công tác tiếp dân và đối thoại với nhân dân của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp từng bước đi vào nền nếp. Các cấp ủy đã phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tổ chức hơn 90.000 hội nghị đối thoại giữa cấp ủy, chính quyền với nhân dân.

Hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp và nhân dân được đẩy mạnh, có chuyển biến tích cực. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tổ chức 10 chương trình giám sát về các vấn đề, lĩnh vực có ý nghĩa cấp bách đối với toàn xã hội; phản biện một số văn bản quan trọng của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh tổ chức 721 cuộc giám sát, 784 hoạt động phản biện; cấp huyện tổ chức 6.404 cuộc giám sát, 4.403 hoạt động phản biện và cấp xã tổ chức 49.564 cuộc giám sát, 25.834 hoạt động phản biện. Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp và nhân dân đã có 32.064 ý kiến góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.

Bên cạnh những kết quả và thành công đó, Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm: “Công tác dân vận có nơi, có lúc còn hạn chế; một số cấp ủy, tổ chức đảng còn xem nhẹ công tác dân vận; việc nắm, đánh giá, dự báo tình hình, nhất là ở những địa bàn phức tạp chưa kịp thời, sâu sát. Công tác vận động, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng và trách nhiệm của nhân dân còn một số bất cập. Việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; tập hợp, phát triển đoàn viên, hội viên; xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân ở một số nơi chưa thường xuyên, hiệu quả còn thấp, nhất là giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên”.

Từ thực tiễn công cuộc đổi mới, trực tiếp là 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII tại Đại hội XIII của Đảng rút ra năm bài học kinh nghiệm; trong đó, bài học thứ hai là bài học về vị thế, vai trò của nhân dân: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”.

Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng tại Đại hội XIII cũng rút ra 5 bài học kinh nghiệm; trong đó, bài học thứ hai có đoạn nhấn mạnh việc cần thường xuyên tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, phát huy vai trò của nhân dân và thật sự dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng./.

Kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của Đảng

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kế thừa truyền thống của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, hình thành nên tư tưởng về dân vận, về phát huy vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Người khẳng định: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng Đảng không chỉ là công việc quan trọng, sống còn của Đảng, mà còn là công việc, trách nhiệm của nhân dân, bởi Đảng ta không có mục tiêu nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Nhân dân là chỗ dựa vững chắc của Đảng, là nguồn gốc mọi sức mạnh của Đảng; phục vụ nhân dân là mục tiêu duy nhất, mục tiêu tối thượng, là bản chất của Đảng. Phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng là một nguyên tắc xây dựng Đảng theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin.

Đảng ta luôn thấm nhuần và hết sức coi trọng việc vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Đại hội XIII của Đảng đã đánh giá thực trạng về phát huy vai trò của nhân dân để xây dựng Đảng, cũng như xác định phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ này trong thời gian tới./.

Phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ!

Một trong những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân được Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, chỉ ra rất rõ đó là: “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác để tham ô, nhận hối lộ hoặc để người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác của mình trục lợi; cố ý làm trái các quy chế, quy định, dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, lãng phí, tiêu cực...”. Từ sự “vạch mặt chỉ tên” chủ nghĩa cá nhân đó, càng cho thấy, việc giữ gìn và phát huy truyền thống quân đội, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ luôn cần thiết, nó như “ngọc càng mài càng sáng”. 1. Một đồng chí cán bộ lãnh đạo vốn trưởng thành từ người chiến sĩ cầm súng trên chiến trường rồi chuyển ngành, phát triển thành cán bộ cấp cao. Ông đã trải qua tất cả thăng trầm của sự nghiệp và cuộc sống cho đến lúc về hưu. Vậy nhưng mỗi khi nói điều gì đó về mình, ông luôn nhận rằng: “Tôi là người lính chiến”. Đọc kỹ lý lịch của ông tôi biết, những năm tháng là người chiến sĩ cầm súng trên chiến trường của ông không dài, thậm chí rất ngắn so với quãng thời gian ông đã chuyển ngành cho đến lúc về hưu. Vì sao ông vẫn luôn hoài niệm, tự hào với những năm tháng trong quân ngũ? Điều gì làm nên giá trị đó? Không khó lý giải, đó là phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, một nét đẹp độc đáo trong văn hóa Việt Nam và lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc ta. Khi còn sống, Trung tướng Phạm Hồng Cư, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị cho rằng, Bộ đội Cụ Hồ là một danh hiệu vinh dự mà nhân dân trao tặng. Phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là một giá trị văn hóa, là những giá trị cao quý nhất, đẹp đẽ nhất của Quân đội ta được hun đúc qua nhiều thế hệ, trở thành bản chất, truyền thống của quân đội. Bộ đội Cụ Hồ là sự kế thừa và phát huy truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc và đây là thành công của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị. Trong khi đề cập rất sâu kỹ những giá trị tốt đẹp của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương cũng chỉ rõ: “Còn một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức chưa sâu sắc, trách nhiệm trong giữ gìn, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ chưa cao; thiếu tự giác, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, sống thực dụng, băn khoăn dao động trước diễn biến phức tạp của tình hình...; trong đó có cả cán bộ cao cấp, cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm kỷ luật, pháp luật, quy định về những điều đảng viên không được làm, gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước, quân đội, làm ảnh hưởng đến truyền thống, uy tín của quân đội, phẩm chất và hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ. 2. Nhận định của Quân ủy Trung ương thể hiện trong Nghị quyết 847 là thẳng thắn, khách quan. Thời gian qua, hàng loạt cán bộ, đảng viên, trong đó có cả những cán bộ giữ các cương vị quan trọng của Đảng, Nhà nước có vi phạm kỷ luật, pháp luật bị xử lý. Trong quân đội, số cán bộ, chiến sĩ bị kỷ luật rất đáng suy nghĩ, trong đó có cả các đồng chí là cán bộ cấp cao. Qua nhiều vụ án, tìm hiểu về lai lịch chính trị của các cá nhân vướng vào vòng lao lý, mỗi chúng ta không khỏi xót xa, tiếc nuối. Nhiều người trong số đó đã từng vào sinh ra tử trên chiến trường, cận kề giữa cái sống và cái chết. Có những người từng sẵn sàng nhường mạng sống cho đồng đội. Họ không bị gục ngã bởi bom đạn, không bị khuất phục bởi sức mạnh của kẻ thù, vậy mà giữa thời bình, họ đã gục ngã bởi “những viên đạn bọc đường”. Cơ chế thị trường, sự tác động của ngoại lai... khiến một số người không còn giữ được những phẩm chất của anh Bộ đội Cụ Hồ ngày nào. Chủ nghĩa cá nhân đã lấn át, đã ăn sâu vào họ. Các Mác vĩ đại có một câu kinh điển: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội". Bản chất con người không phải trừu tượng mà là hiện thực, không phải tự nhiên mà là lịch sử. Thông qua hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi tự nhiên, xã hội, đồng thời biến đổi chính bản thân mình. Mọi thay đổi của mỗi con người thường bắt đầu từ những hành vi, thói quen, nhưng nếu là thói quen xấu, lại tự mình không nhận ra, không được người khác góp ý, phê bình sẽ dần dần tạo thành tính cách. Khi có chức vụ, có địa vị, có tiền bạc, con người ta dễ dẫn đến tư tưởng hưởng thụ, thỏa mãn, coi thường. Đôi khi, một số người có được chức vụ, tiền bạc một cách dễ dàng, ít phải đổ mồ hôi, công sức dẫn đến tư tưởng tự mãn, quan liêu, độc đoán, gia trưởng. Và chính họ đã sa vào chủ nghĩa cá nhân mà không nhận ra. Chủ nghĩa cá nhân vừa là nguyên nhân vừa là biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Những cá nhân sai phạm sẽ bị pháp luật xử lý. Luật pháp là công bằng. Thượng tôn pháp luật là lẽ sinh tồn của quốc gia. Luật pháp Việt Nam không cho phép bất cứ cá nhân, tổ chức nào làm phương hại đến lợi ích của nhân dân, của đất nước. Không ai được phép đứng trên pháp luật, đứng ngoài Hiến pháp. Việc xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm chính là bảo vệ hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước, bảo vệ tài sản, các lợi ích hợp pháp của Nhà nước và nhân dân, để giữ vững ổn định và phát triển của toàn xã hội. Nhưng rồi, sau mỗi vụ việc đều để lại bao điều trăn trở, giá như... Trách người vi phạm là lẽ thường, nhưng tổ chức đã ở đâu khiến cho các cá nhân đó lún sâu vào vi phạm? Vì sao các nguyên tắc, quy định của tổ chức, của Đảng lại bị xem nhẹ, bị bỏ qua trong các vụ việc đó? 3. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Điều đó cho thấy, quá trình tu dưỡng, rèn luyện của mỗi con người phải là quá trình thường xuyên, liên tục, nó như việc “rửa mặt” hằng ngày. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, nêu rõ: “Nguyên nhân sâu xa, chủ yếu của tình trạng suy thoái ở một bộ phận cán bộ, đảng viên trước hết là do bản thân những cán bộ, đảng viên đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước dân”. Trong điều kiện hiện nay, việc gìn giữ và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là vô cùng cần thiết, nó vẫn còn nguyên tính thời sự, như Nghị quyết 847 đã đề cập. Phẩm chất, giá trị Bộ đội Cụ Hồ không phải là cái bất biến mà nó đòi hỏi cần luôn gìn giữ và phát huy cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử. Điều này cũng bác bỏ quan điểm của một số người còn băn khoăn, chần chừ khi cho rằng, phẩm chất, văn hóa Bộ đội Cụ Hồ chỉ được thể hiện sâu sắc trong thời chiến, còn thời bình đã có phần phai nhạt. Cách suy nghĩ này là không thuyết phục. Cái đã trở thành văn hóa thì nó đã trở thành bản chất, thành cái thường xuyên ở trong mỗi con người. Phẩm chất, văn hóa Bộ đội Cụ Hồ không đi ra ngoài quy luật đó. Tuy vậy, nó đòi hỏi mỗi cá nhân, mỗi con người nhận thức đúng về nó. Mỗi cán bộ, chiến sĩ, đảng viên hay quần chúng đều phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu tu dưỡng, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức người quân nhân cách mạng. Giáo dục, rèn luyện, gìn giữ và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ đi liền với chống chủ nghĩa cá nhân là việc làm vừa cấp bách, vừa thường xuyên, là trách nhiệm của mọi người để xứng đáng với truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng mà lớp lớp cha ông đã vun đắp.

 

TRIẾT LÝ NGOẠI GIAO CẦN PHẢI HƯỚNG ĐẾN MỤC TIÊU TRÁNH ĐƯỢC CHIẾN TRANH ĐỔ MÁU

Chiến tranh tại Ukraine được cho là một kết quả thất bại của chiến lược ngoại giao. Để chiến tranh xảy ra là một bước lùi, mang lại những hậu quả nghiêm trọng về mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội của cả đất nước. Bao nhiêu công sức, tiền của bỏ ra xây dựng cơ sở hạ tầng bị phá hủy, thương vọng thiệt hại, đời sống nhân dân đảo lộn. An ninh khu vực, thế giới bị đe dọa nghiêm trọng, tiềm ẩn những nguy cơ mở rộng xung đột, lan rộng, đe dọa đến hòa bình thế giới.

Thực tế lịch sử thế giới cho thấy, những nước nhỏ nằm ở vị trí địa chính trị quan trọng rất dễ có nguy cơ bị can thiệp và biến thành nơi cạnh tranh quyền lực giữa các nước lớn. Điều đó, đòi hỏi chính sách đối ngoại của nước đó cần hết sức linh hoạt, mềm dẻo và thực dụng nhằm đạt được mục đích duy trì sự ổn định trong khu vực để phát triển đất nước.

Thành công của Thái Lan

Thái Lan là nước thường được nhắc đến với sự thành công của chính sách ngoại giao mềm dẻo. Trong khoảng 4 thế kỷ gần đây, các chính quyền ở Thái Lan luôn kiên định các lợi ích cốt lõi trong khi lại có thể linh hoạt các biện pháp nhằm ứng biến với sự thay đổi bối cảnh chính trị quốc tế. Từ cuối thế kỷ 19, triết lý ngoại giao linh hoạt được coi là yếu tố chủ chốt giúp Thái Lan giảm thiểu được nguy cơ bị can thiệp bởi các thế lực nước ngoài, bảo toàn được nền độc lập, tránh không bị đô hộ trực tiếp bởi chủ nghĩa thực dân như các quốc gia láng giềng. Cụ thể hơn, giai đoạn Vua Chulalongkorn trị vì đất nước (1868-1910), Thái Lan cân bằng mối quan hệ với cả Anh và Pháp để tránh họa thực dân đô hộ. Giai đoạn 1939-1944, Thái Lan quan hệ hữu hảo với Nhật Bản; từ 1945-1957 thì nghiêng về Mỹ và phương Tây. Thời kỳ chiến tranh lạnh (1960 - cuối 1980), Thái Lan thúc đẩy quan hệ với Mỹ và ASEAN. Những năm đầu thế kỷ 21, Thủ tướng Thaksin Shinawatra đẩy mạnh quan hệ kinh tế với Mỹ và thắt chặt quan hệ chính trị với các nước ASEAN. Từ sau năm 2010, chúng ta chứng kiến những dấu hiệu phát triển quan hệ nồng ấm hơn giữa Thái Lan với Trung Quốc. 

Chính sách ngoại giao của Thái Lan là sản phẩm từ sự kết hợp giữa tư duy thực dụng (tối đa hóa lợi ích quốc gia, đề cao sự sinh tồn, cân bằng các quan hệ quyền lực) với những ý niệm truyền thống về độc lập dân tộc cũng như các giá trị văn hóa, tư tưởng, chuẩn mực và thông lệ ứng xử hình thành trong lịch sử nước này. Điểm chung của chính sách đối ngoại qua các thời kỳ là Thái Lan luôn có được quan hệ hữu hảo với các quốc gia và tổ chức quyền lực nhất. Cũng vì thế, họ không chỉ duy trì được nền độc lập và tự chủ mà còn tận dụng được cơ hội phát triển.

Tình huống tại Ukraine

Ukraine vốn là một thành viên thuộc Liên bang Xô Viết, tách ra thành quốc gia độc lập từ năm 1992. Giữa Ukraine và Nga có mối quan hệ khá khăng khít trên nhiều phương diện. Bởi thế, từ năm 1992 đến trước 2010, Ukraine vẫn chịu sự ảnh hưởng từ Nga. Tuy nhiên, từ năm 2010 trở lại đây, các chính quyền ở Kiev chủ trương ngả hẳn về phương Tây. Cụ thể hơn, họ không giấu giếm nguyện vọng gia nhập NATO. Trước nguy cơ NATO thâu nạp nốt những thành viên cuối cùng của Liên bang Xô Viết và đưa các mối đe dọa an ninh quốc gia tới sát biên giới, Tổng thống Putin coi sự mở rộng về phía Đông của NATO là mối đe dọa hiện hữu. Viễn cảnh Ukraine gia nhập liên minh quân sự của phương Tây bị cho là "hành vi thù địch". Moscow luôn nhấn mạnh quan điểm "Ukraine không chỉ là quốc gia láng giềng, mà là một phần không thể thiếu trong lịch sử, văn hóa và tinh thần của Nga".

Bất chấp những đề xuất và cảnh báo từ phía Nga, NATO không quan tâm hay xem xét lại chính sách kết nạp thành viên mới, trong đó có Ukraine. Cùng với đó, các hành động trấn áp các lực lượng ly khai do chính quyền Ukraine thực hiện nhiều năm qua đã khiến Nga đi tới quyết định can thiệp quân sự vào ngày 24/2/2022. Hệ quả dễ thấy nhất là chính quyền của Tổng thống Volodymyr Zelensky đang phải đương đầu với quân đội Nga - một đội quân hùng mạnh bậc nhất thế giới hiện nay. Những thiệt hại về người và cơ sở vật chất đã xảy ra. Nghiêm trọng hơn, sự toàn vẹn lãnh thổ của Ukraine không còn được bảo đảm, nguy cơ đất nước bị đưa trở lại vòng kiểm soát và ảnh hưởng của nước lớn ngày càng trở nên rõ hơn.

Như vậy, có thể thấy chính sách đối ngoại của Thái Lan và Ukraine đang cung cấp hai cách tiếp cận với những kết quả trái ngược nhau.

Trước nguy cơ can thiệp từ bên ngoài, Thái Lan theo đuổi nguyên tắc mềm dẻo và thực dụng nhưng nhất quán về nền độc lập dân tộc. Ứng xử của Thái Lan từ giữa thế kỷ 20 đến nay cho thấy họ có thể nhanh chóng thay đổi ưu tiên chính sách đối ngoại nhằm xây dựng quan hệ hữu hảo và cân bằng với các nước lớn, cũng như hài hòa trong quan hệ với các nước láng giềng. Thái Lan không chạy theo những tư tưởng, giá trị, hay lợi ích của nước khác mà luôn dựa vào truyền thống và kiên định lợi ích quốc gia để linh hoạt điều chỉnh ưu tiên chính sách trong quan hệ quốc tế.

Ngược lại, bất chấp những mối quan hệ truyền thống hết sức đặc biệt với nước Nga và thực tế cơ hội để gia nhập NATO vẫn còn rất mong manh, các chính quyền gần đây của Ukraine không chỉ cứng rắn trong quan hệ với Nga mà còn tỏ ra đặc biệt đề cao việc gia nhập liên minh phương Tây. Họ đã coi nhẹ nguy cơ bị can thiệp bởi một nước lớn láng giềng trong khi còn mơ hồ về khả năng giúp đỡ của các đồng minh tiềm năng.

Hệ quả nhãn tiền là, với sự can thiệp của quân đội Nga hiện nay, nền độc lập dân tộc và các lợi ích quốc gia khác của Ukraine đứng trước nhiều nguy cơ nghiêm trọng.

 Ngoại giao cây tre Việt Nam

Khái niệm “ngoại giao cây tre” đề cập tới quan niệm coi mỗi nước cùng các lợi ích quốc gia như bụi tre, sẽ bị ảnh hưởng bởi nhiều luồng gió khác nhau đến từ các quyền lực bên ngoài. Để tồn tại và đứng vững, các chính sách đối ngoại phải linh hoạt và thực dụng. Đây chính là hai nguyên tắc nền tảng của ngoại giao cây tre, với mục tiêu tối thượng là độc lập dân tộc và bảo vệ các lợi ích quốc gia gắn với từng thời kỳ khác nhau.

Phát biểu mới đây tại hội nghị đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 13, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh “ngoại giao cây tre Việt Nam”. Theo đó, lợi ích quốc gia, dân tộc được coi là mục đích cao nhất, là cơ sở gốc rễ cho các chính sách đối ngoại của Việt Nam. Cây tre ngoại giao Việt Nam có gốc phải vững, thân phải chắc, và cành phải uyển chuyển để thích ứng với từng bối cảnh cụ thể.

Sự kiên định về lợi ích quốc gia, linh hoạt và mềm dẻo, quyết đoán và nhún nhường, thực tế và thực dụng trong từng hành động chính sách đối ngoại sẽ bảo đảm cho Việt Nam giảm thiểu nguy cơ bị can thiệp từ bên ngoài, bảo vệ được sự toàn vẹn lãnh thổ và tự chủ trong quá trình phát triển đất nước./.

Mở cửa du lịch?

15 ngày nữa, Chính phủ sẽ cho phép mở cửa du lịch quốc tế, từ 15/3. Đây là cột mốc quan trọng, mang lại rất nhiều hy vọng cho những người làm du lịch sau hai năm dài khó khăn. Mở cửa du lịch quốc tế nghĩa là doanh nghiệp được chủ động lên kế hoạch đón khách vào Việt Nam (inbound) và đưa khách Việt Nam ra nước ngoài (outbound) như trước đây mà không phải lo lắng bất kỳ rào cản hạn chế nào nữa. Khỏi phải nói, chúng tôi hứng khởi chờ đợi ngày này như thế nào. Thế nhưng, khi nhìn vấn đề với con mắt thận trọng và nhiều hoài nghi hơn, tôi tự hỏi liệu mở cửa trở lại du lịch quốc tế sau chừng đó thời gian có dễ dàng như vậy; điều gì sẽ chờ đợi chúng tôi sau sự hứng khởi ban đầu. Mở cửa trong bối cảnh các quốc gia trong khu vực đã hoặc đang tiến hành nối lại bình thường du lịch quốc tế đồng nghĩa Việt Nam phải đối mặt với sự cạnh tranh sòng phẳng mà ở đó ai chuẩn bị kỹ càng và đầu tư tốt hơn, sẽ nắm trong tay lợi thế. Khi lợi thế về khả năng quay lại sớm hơn nhờ hiệu quả chống dịch đã không còn, chìa khóa quyết định nằm ở nội lực của ngành du lịch Việt Nam, từ điểm đến tới doanh nghiệp. Nhìn cách Thái Lan chuẩn bị cho sự trở lại, tôi thấy áp lực cạnh tranh đè nặng. Khác với Việt Nam, mới thí điểm đón khách quốc tế trong những tháng cuối năm 2021, Thái Lan bắt đầu thử nghiệm đón khách quốc tế từ giữa tháng 7/2021 thông qua mô hình Phuket Sandbox. Trong bối cảnh dịch bệnh vẫn phức tạp thời điểm đó, nhờ các giải pháp chiến lược rõ ràng và cụ thể của Phuket Sandbox, ngành du lịch Thái Lan đã nắm giữ được bài học quan trọng nhất, là biết cách vận hành như thế nào để vừa bảo đảm an toàn, vừa hài lòng du khách. Chỉ tính riêng ở Phuket, du lịch Thái Lan đã kịp đón hơn 28.000 lượt khách và thu về ít nhất 48 triệu USD trong hai tháng triển khai thí điểm. Nhờ đó, du lịch Thái Lan nhanh chóng nhân rộng mô hình tương tự ra các địa phương khác và dần mở cửa trở lại toàn bộ ngành du lịch trên toàn quốc từ đầu tháng 2 năm nay, thông qua chương trình Test&Go. Song song với tuyên bố mở cửa, Thái Lan cũng có chiến lược thị trường rõ ràng và phù hợp với giai đoạn mới: chuyển hướng sang thị trường khách cao cấp bằng những ưu đãi, sản phẩm đặc thù thay cho các thị trường khách truyền thống trước đó. Thậm chí, họ còn mạnh dạn đẩy mạnh chương trình cư trú dài hạn hướng đến thị trường công dân toàn cầu thu nhập cao, những người về hưu và các chuyên gia cao cấp, để đón đầu xu hướng mới của thế giới. Việt Nam bắt đầu thí điểm đón khách quốc tế từ tháng 11/2021 ở Phú Quốc, sau đó mở rộng ra các địa phương Khánh Hòa và Quảng Nam. Tính đến tháng 1/2022, tức là sau gần ba tháng triển khai, chúng ta đón được 8.900 khách quốc tế. Du lịch Việt Nam đạt thành tựu được đánh giá là "thần kỳ" trong giai đoạn 2016-2019. Đặc biệt, năm 2019, toàn ngành đón hơn 18 triệu lượt khách quốc tế (cao nhất từ trước tới nay), phục vụ 85 triệu lượt khách nội địa, tổng thu đạt khoảng 720.000 tỷ đồng. Với kết quả này, Việt Nam là một trong 10 quốc gia có mức tăng trưởng du lịch nhanh nhất thế giới. Nhưng những người trong ngành như chúng tôi đều thấy rõ bên cạnh thành công đó, tồn tại những bất cập cần thẳng thắn nhìn nhận: Phụ thuộc nghiêm trọng vào một số ít thị trường; Chất lượng nguồn nhân lực còn rất hạn chế; Sản phẩm du lịch nghèo nàn; Truyền thông thương hiệu kém hiệu quả. Trong giai đoạn tăng trưởng nóng, đang trên hành trình thành công, sẽ không dễ dàng cho nhà quản lý quyết định làm mọi thứ chậm lại để giải quyết những bài toán tử huyệt từ bên trong như thế này. Chúng tôi đã hy vọng, hai năm Covid vừa qua là một khoảng nghỉ cần thiết sau một giai đoạn tăng trưởng nóng để ngành du lịch Việt Nam tập trung giải quyết những tồn tại lớn, tái cấu trúc hệ thống du lịch để sẵn sàng cho một cuộc chơi mới, khó khăn hơn rất nhiều. Hai năm qua, tôi đã tham gia rất nhiều hội nghị, hội thảo bàn về giải pháp phục hồi du lịch. Thế nhưng, như tôi quan sát, sau tất cả, những vấn đề đó đến nay vẫn chỉ dừng lại ở những câu chuyện nói trong phòng hội nghị, hay tốt hơn nữa là được đặt ra như những điều cần xem xét trên những bản thảo. Chưa một điều gì được thật sự giải quyết triệt để. Khi các "rào cản kỹ thuật" đã không còn, nhiệm vụ tiếp theo của câu chuyện đón khách quốc tế sẽ là vấn đề của chính ngành du lịch. 15 ngày nữa, chúng ta mở cửa. Khách du lịch chắc chắn quay trở lại nhưng sẽ theo một cách hoàn toàn khác biệt. Thị trường đang thay đổi hàng ngày. Ngành du lịch ở quốc gia từng là một trong những điểm đến có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới thời điểm cách đây hai năm sẽ phải sẵn sàng với vô vàn yêu cầu mới từ du khách, về truyền thông, sản phẩm và chất lượng dịch vụ trong bối cảnh hoàn toàn mới. Đây là khối lượng công việc khổng lồ mang tính chiến lược, đòi hỏi không chỉ một mà cần sự hợp tác của rất nhiều bên liên quan trong ngành. Không thể chỉ trông chờ vào tiềm năng sẵn có của đất nước. Chỉ khi giải quyết được các tử huyệt nội tại của ngành, du lịch Việt Nam mới đi được những bước dài sau mở cửa.

Tăng tính tích cực, chủ động, tự giác tu dưỡng, rèn luyện phát huy tinh thần yêu nước của Thanh niên quân đội (TNQĐ)

 Phát huy tinh thần yêu nước của TNQĐ trong tác động dịch Covid-19 hiện nay được thể hiện ở tình cảm yêu mến quê hương, đất nước, gia đình, dòng họ, tình đồng chí đồng đội, yêu mến gắn bó với đơn vị, nêu cao ý chí quyết tâm học tập, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện theo mục tiêu yêu cầu xây dựng Quân đội chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Để TNQĐ có động cơ mục đích học tập, rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu trưởng thành đúng đắn thì cần phải làm cho họ hiểu rõ mục tiêu yêu cầu xây dựng quân đội đó là: Huấn luyện ra những quân nhân với đầy đủ trình độ, phẩm chất nhân cách, năng lực đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Mỗi TNQĐ thấy rõ vinh dự và trách nhiệm của mình trong quá trình sống, học tập, công tác, rèn luyện, phấn đấu trưởng thành ở các đơn vị trong Quân đội. Bên cạnh đó cần khắc phục những biểu hiện cơ hội, trung bình chủ nghĩa trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu trưởng thành của TNQĐ.

TNQĐ cần nắm vững và vận dụng linh hoạt các hình thức tự học, tự rèn luyện, ý thức về bản chất tinh thần yêu nước trong tác động của dịch Covid-19 hiện nay. TNQĐ ở đơn vị cơ sở cần tích cực tự đọc tài liệu, sách, báo, đây là một trong những hình thức phương pháp quan trọng hàng đầu để nắm vững về bản chất tinh thần yêu nước trong tác động của dịch Covid-19; phải biết lựa chọn những tài liệu, sách, báo có liên quan đến chức trách, nhiệm vụ và liên quan trực tiếp đến tác động của dịch Covid-19; đồng thời, phải thường xuyên ghi chép phù hợp thông qua các hình thức, phương pháp tự phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu để nắm bắt, xử lý thông tin liên quan đến bản tinh thần yêu nước qua các thế hệ và trước tác động của dịch Covid-19. Bản thân mỗi TNQĐ phải chắt lọc thông tin, biết chủ động ngăn ngừa, đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, đặc biệt, trên cơ sở tinh thần yêu nước, biết nhận rõ âm mưu của chúng về lợi dụng vấn đề tác động Covid-19 chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội ta hiện nay. Thông tin về dịch Covid-19 rất đa dạng, nhiều chiều, TNQĐ cần tích cực tiếp thu các thông tin từ các nguồn tin chính thống, mỗi thông tin nắm bắt được phải được phân tích, đối chiếu, so sánh, bình luận sâu sắc, lý giải thấu đáo, có tính phê phán cao đối với những vấn đề quan tâm, thắc mắc.

TNQĐ cần tích cực, tự giác, tự nguyện tham gia thực hiện các nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19 để rèn luyện tính tự giác, ý chí quyết tâm cao, tôi luyện sự bền bỉ, dẻo dai, sức chịu đựng trước những tác động của dịch Covid-19. Đồng thời góp phần nâng cao tính chủ động, độc lập, sáng tạo trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ quan trọng. Trên cơ sở đó, tạo tiền đề thúc đẩy sự tích cực và tự giác trong việc tự phát huy tinh thần yêu nước của TNQĐ. TNQĐ cần chủ động tuân thủ chặt chẽ kế hoạch huấn luyện, công tác trong thực tiễn phòng, chống dịch Covid-19 cấp trên đã đề ra. Chống mọi biểu hiện trốn tránh nhiệm vụ, chây ì, thiếu tự giác trong công tác, huấn luyện, thực hiện nhiệm vụ. Bên cạnh đó, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần khen thưởng, động viên kịp thời các tập thể, cá nhân tích cực, tự giác trong công tác, nêu gương điển hình tiên tiến, nhân rộng trong đơn vị, làm cho tinh thần yêu nước của TNQĐ ngày càng được phát huy tốt hơn vào nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19 hiện nay.

TNQĐ là lực lượng đông đảo, là lớp kế cận trong sự nghiệp xây dựng quân đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới nói chung và nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19 nói riêng. Phát huy tinh thần yêu nước của TNQĐ trong tác động dịch Covid-19 hiện nay là một yêu cầu khách quan, một nhiệm vụ quan trong, cấp bách. Việc phát huy tinh thần yêu nước của TNQĐ trong tác động dịch Covid-19 là một quá trình đầy khó khăn và phức tạp phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều điều kiện, nhiều lực lượng, đặc biệt thực tiễn dịch Covid-19 diễn ra hết sức phức tạp, khó lường. Để góp phát huy tinh thần yêu nước của TNQĐ trong tác động dịch Covid-19 hiện nay, cần phải thực hiện đồng bộ, toàn diện, sáng tạo và phù hợp với thực tiễn của từng đơn vị các biện pháp cơ bản trên.

Các biện pháp trên được hiện thực hoá trong thực tiễn sẽ là cơ sở đánh giá chất lượng hoàn thành tốt nhiệm vụ của TNQĐ hiện nay, góp phần quán triệt và thực hiện hiệu quả lời kêu gọi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Chúng ta đã cố gắng, càng cố gắng hơn nữa; đã đoàn kết, càng đoàn kết hơn nữa; đã quyết tâm, càng quyết tâm cao hơn nữa”, càng khó khăn, phức tạp, càng phải đoàn kết, thống nhất, với tinh thần “mỗi người dân là một chiến sĩ”, “mỗi gia đình, cơ quan, đơn vị, địa phương là một pháo đài chống dịch”, tôi tin tưởng sâu sắc rằng, với sự chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn Dân, toàn quân “triệu trái tim, một ý chí”, sự ủng hộ, giúp đỡ của đồng bào ta ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế, nhất định chúng ta sẽ sớm chiến thắng đại dịch Covid-19...”

Không ngừng đổi mới, tạo sự phù hợp giữa nội dung, hình thức, biện pháp phát huy tinh thần yêu nước của Thanh niên quân đội (TNQĐ) trong tác động dịch Covid-19 hiện nay

 Chú trọng giáo dục Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đây là nội dung căn bản để TNQĐ giữ vững bản chất giai cấp công nhân, hình thành bản lĩnh chính trị vững vàng, là nền tảng để hình thành, phát triển tinh thần yêu nước, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm thực hiện thắng lợi công cuộc phòng, chống, khắc phục dịch Covid-19 hiện nay. TNQĐ cần có ý chí quyết tâm cao, nhạy bén, sắc sảo về chính trị, năng lực hoạt động thực tiễn và phương pháp tác phong công tác tốt, lối sống trung thực, giản dị, không bị cám dỗ bởi lối sống cá nhân chủ nghĩa, thực dụng, chạy theo lợi ích vật chất tầm thường; không ngại khó, ngại khổ, ngại học, ngại rèn, nâng cao năng lực, trình độ toàn diện, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình dịch Covid-19 phức tạp. Do đó, các chủ thể cần chú trọng giáo dục những nội dung này, bằng nhiều hình thức, biện pháp để lồng ghép, truyền tải trong quá trình huấn luyện, rèn luyện, học tập, sinh hoạt của TNQĐ.

Tăng cường tổ chức các hoạt động thi tìm hiểu, sáng tác, viết báo về Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, tinh thần yêu nước trong các đơn vị, đấu tranh với các tư tưởng, quan điểm sai trái; thường xuyên tổ chức các buổi gặp gỡ trao đổi, tọa đàm, diễn đàn giao lưu với các Anh hùng quân đội, cựu chiến binh, các nhân chứng lịch sử, cá nhân biêu tiểu trong tham gia phòng, chống dịch Covid-19, các buổi sinh hoạt truyền thống,... Thông qua các hoạt động đó, TNQĐ nhận thức sâu sắc hơn, hành động quyết tâm hơn, phát huy tinh thần yêu nước của bản thân tốt hơn trong tác động dịch Covid-19. Để làm tốt các hoạt động này, đòi hỏi các chủ thể cần xác định rõ mục tiêu tìm hiểu, sáng tác ngay từ khi lựa chọn chủ đề và thiết kế các câu hỏi, các tiết mục theo yêu cầu của mỗi hoạt động, trực tiếp hướng các hoạt động này vào phát huy tinh thần yêu nước của TNQĐ trong tác động dịch Covid-19 hiện nay.

Đa dạng các loại hình văn hóa, nghệ thuật quần chúng là một trong những kênh truyền dẫn cơ bản để phát huy tinh thần yêu nước của TNQĐ trong tác động dịch Covid-19. Thông qua các lần hội diễn nghệ thuật quần chúng với các thể loại nghệ thuật như ca múa, nhạc, kịch, thơ,… nhằm xây dựng, củng cố tinh thần yêu nước của TNQĐ. Khi tổ chức các hoạt động này, các chủ thể cần thường xuyên quan tâm, đầu tư thích đáng về nội dung, thời gian, vật chất, tránh hiện tượng thả nổi, thiếu định hướng hay “khoán trắng”.

Thường xuyên tổ chức các buổi tham quan bảo tàng, các di tích lịch sử, văn hóa, di tích chiến tranh, nghĩa trang liệt sĩ... Đây là những hình thức trực quan sinh động, hấp dẫn, gây cảm xúc và ấn tượng mạnh mẽ cho TNQĐ về lịch sử hào hùng của dân tộc, về những chiến công oanh liệt, những mất mát hy sinh của các thế hệ cha ông trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, từ đó khơi dậy trong họ tinh thần yêu nước, lòng tự hào và biết ơn, kính trọng; bài học sống động, sâu sắc về tinh thần yêu nước của tổ tiên, ông cha ta. Để thực hiện tốt hình thức này, các chủ thể cần có kế hoạch chu đáo, có sự hướng dẫn, giới thiệu, thuyết minh cụ thể, sinh động; sau mỗi lần tham quan cần căn cứ vào tình hình cụ thể để tổ chức viết thu hoạch, trao đổi, mạn đàm, rút kinh nghiệm nhằm nâng cao hiểu biết về lịch sử truyền thống, bồi dưỡng tình cảm yêu nước, phát huy tinh thần yêu nước của TNQĐ trong tác động dịch Covid-19 hiện nay./.

Tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể về phát huy tinh thần yêu nước của Thanh niên quân đội (TNQĐ) trong tác động dịch Covid-19 hiện nay

 Đối với các cấp ủy, tổ chức đảng: Thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất mọi hoạt động phát huy tinh thần yêu nước của TNQĐ thông qua các chỉ thị, nghị quyết, kế hoạch, hướng dẫn... của cấp ủy. Ban hành các nghị quyết chuyên đề và tổ chức quán triệt thực hiện nghị quyết để các chủ thể nhận thức đầy đủ về việc phát huy tinh thần yêu nước của TNQĐ trong tác động dịch Covid-19 hiện nay.

Đối với hệ thống chỉ huy: Chỉ huy các cấp là trung tâm quản lý, chỉ đạo, điều hành sự phối hợp giữa các chủ thể về việc phát huy tinh thần yêu nước của TNQĐ trong tác động dịch Covid-19 hiện nay. Cần xây dựng kế hoạch phối hợp hoạt động chặt chẽ, thống nhất giữa các chủ thể để tổ chức thực hiện có hiệu quả kế hoạch đã đề ra. Kế hoạch cần xác định rõ nội dung, chương trình, hình thức và phương pháp phát huy; quy định phạm vi, chức năng, nhiệm vụ và cách thức, biện pháp phối hợp giữa các chủ thể; xác định rõ quyền lợi gắn với thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của từng chủ thể. Tổ chức hội nghị quán triệt, giao nhiệm vụ và triển khai kế hoạch cho các cơ quan, đơn vị trong toàn quân thực hiện một cách thống nhất, khoa học và hiệu quả. Tổ chức hội nghị sơ, tổng kết, rút kinh nghiệm, đánh giá hiệu quả phối hợp giữa các chủ thể, kịp thời bổ sung, điều chỉnh và hoàn thiện cơ chế phối hợp trong việc phát huy tinh thần yêu nước của TNQĐ trong tác động dịch Covid-19 hiện nay.

Đối với cơ quan chính trị: Cơ quan chính trị là cơ quan tham mưu cho cấp uỷ, chỉ huy các cấp và đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị của các đơn vị trong toàn quân. Hoạt động của cơ quan chính trị ở các cấp góp phần rất quan trọng để phát huy tinh thần yêu nước của TNQĐ trong tác động dịch Covid-19 hiện nay. Vì vậy, muốn quá trình phát huy tinh thần yêu nước của TNQĐ đạt hiệu quả thì cơ quan chính trị phải bám sát chủ trương, nghị quyết của cấp uỷ và kế hoạch của chỉ huy các cấp để lập kế hoạch công tác đảng, công tác chính trị. Tăng cường công tác chỉ đạo, thường xuyên kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị cấp trên của đơn vị, đoàn thể, kịp thời uốn nắn, nhắc nhở việc nhận thức, tư tưởng hành động và kết quả tu dưỡng rèn luyện phẩm chất đạo đức, nhân cách của người quân nhân cách mạng, thực hiện nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19.

Đối với tổ chức đoàn thanh niên: Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh được xem là trường học XHCN, là tổ chức quần chúng ở đơn vị, nơi trực tiếp tổ chức thực hiện mọi hoạt động của đơn vị, rèn luyện và nâng cao kỹ năng sống cho TNQĐ. Vì vậy tổ chức đoàn cần chú trọng giáo dục truyền thống, mục tiêu, lý tưởng, ý thức chấp hành pháp luật, kỷ luật, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống; xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin, bồi dưỡng lòng yêu nước và thái độ trách nhiệm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ cho đoàn viên, thanh niên. Giáo dục chính trị phải gắn liền với giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật và kỷ luật quân đội, quy định của đơn vị; chú trọng đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong TNQĐ. Tăng cường công tác giáo dục lịch sử, truyền thống dân tộc, ý thức tự lực, tự cường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; bồi dưỡng, xây dựng nhân cách, lối sống lành mạnh, có kỷ cương, kỷ luật, gương mẫu; cảnh giác với âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù; nhận rõ đối tượng và đối tác… Thông qua đó sẽ nâng cao nhận thức, trách nhiệm phát huy tinh thần yêu nước của TNQĐ trong tác động dịch Covid-19 hiện nay.

Đối với TNQĐ: Cần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng và sự cần thiết phải phát huy tinh thần yêu nước của mình trong tác động dịch Covid-19 hiện nay. Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu, luôn đòi hỏi lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị phải tiến hành thường xuyên, liên tục, thiết thực, hiệu quả. Thông qua giáo dục nhằm xây dựng cho TNQĐ ở các đơn vị giàu lòng yêu nước, có bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng và lối sống đẹp; có ước mơ, hoài bão, khát vọng xây dựng quân đội, xây dựng đất nước; nâng cao nhận thức của TNQĐ về mối quan hệ giữa phát huy tinh thần yêu nước với thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19./.

Việc học tập và làm theo Bác Hồ là nghĩa vụ thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân Việt Nam trong suốt cả cuộc đời.

 Vào những năm 60 của thế kỉ XX, Đảng ta đã tổ chức cuộc vận động lớn trong toàn dân: “Sống, lao động, công tác và học tập theo gương Bác Hồ”. Cùng với những cuộc vận động thi đua như “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”… lúc bấy giờ, đã dấy lên những phong trào hành động cách mạng rộng lớn, xây dựng nên những con người Việt Nam “vào nhà gặp dũng sĩ, ra ngõ gặp anh hùng”. 

Những cuộc vận động “học Bác”, “làm theo lời Bác” trước đây không tổ chức rầm rộ, hoành tráng, phần lớn là rỉ tai, nhủ bảo nhau, tự mình suy ngẫm, tự giác làm theo nhưng đã đem lại kết quả to lớn cho cách mạng. Từ việc “học Bác” đã đào tạo và bồi dưỡng nên một lớp người mới, đặc biệt là lớp cán bộ, đảng viên trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng sống, chiến đấu và hy sinh vì Tổ quốc, sống cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… Đó là nguồn lực vô giá cho cách mạng. Lúc bấy giờ không ai vỗ ngực tự xưng là mình đã học và làm theo Bác, nhưng từ lời nói, việc làm đều nhìn theo gương Bác để noi theo. Sự quan tâm, tình yêu thương của Bác đối với mọi tầng lớp nhân dân, từ giai cấp nông dân, công nhân, trí thức, bộ đội, người dân tộc ít người, không phân biệt già trẻ, gái trai,… đã hằn sâu vào trái tim mỗi người. Bởi vậy mà toàn dân tộc Việt Nam đã tin Đảng, yêu Bác Hồ, “Bác bảo đi là đi, Bác bảo thắng là thắng”. Đó là lòng tin tuyệt đối vào Bác, vào Đảng mà hiếm thời kỳ nào có được.

Nước ta đang trong giai đoạn phát triển mới với thế và lực chưa bao giờ có, nhưng khó khăn và thách thức hãy còn rất lớn. Những nguy cơ từ thiên tai, dịch bệnh đe doạ nghiêm trọng đến sự phát triển của đất nước. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với sự phát triển vượt bậc của khoa học - công nghệ đòi hỏi chúng ta phải đổi mới mạnh mẽ về mọi mặt. Để đất nước đổi mới, thì trước hết Đảng phải đổi mới phương thức lãnh đạo của mình, đổi mới tư duy, cách nghĩ cách làm để đưa đất nước vượt qua khó khăn, phát triển xứng tầm. Phải xây dựng được đội ngũ những người lãnh đạo có đức, có tài; loại bỏ những cán bộ, đảng viên tha hoá về nhân phẩm, đạo đức; ngăn chặn những hành vi tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn xâm phạm lợi ích chính đáng của nhân dân. V.I.Lê-nin từng nói về 2 nguy cơ của một đảng cầm quyền, đó là sai lầm về đường lối và bệnh quan liêu. Bác Hồ cũng đã viết trong Di chúc thiêng liêng: Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Thiết nghĩ, lớp cán bộ trưởng thành sau hai cuộc kháng chiến của dân tộc có nhiều ưu điểm, nhiều triển vọng nhưng vẫn cần phải thường xuyên học và làm theo Bác, khắc phục cho được chủ nghĩa cá nhân, kiên quyết tránh xa sự cám dỗ về tiền tài, địa vị. Bởi thực tế đã có không ít cán bộ, trong đó có cán bộ lãnh đạo cấp cao, lúc nói về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thì hay, nhưng làm thì dở, vi phạm kỷ luật, suy thoái về đạo đức, tham ô, tham nhũng…

Việc làm theo Bác phải gắn liền với thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị, với nhiệm vụ thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên. Các phong trào, cuộc vận động học tập và làm theo Bác Hồ cũng phải gắn với hiệu quả thiết thực chứ không nên làm cho có hình thức, phô trương. Người thực sự học và làm theo Bác, họ rất khiêm tốn, không phải cố làm để được khen thưởng hay tuyên dương. Cho nên nói thi đua học và làm theo Bác, vừa có thể hiểu rằng là thi đua trong quần chúng để ngày càng phát triển thêm, vừa là thi đua với chính mình để chiến thắng chủ nghĩa cá nhân. Bởi vậy, việc bình chọn, tuyên dương, khen thưởng danh hiệu thi đua “học tập và làm theo Bác” ở các cấp, các ngành, địa phương… cần làm thận trọng để tránh việc thi đua hình thức, không thực chất.

Việc học tập và làm theo Bác Hồ là nghĩa vụ thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân Việt Nam trong suốt cả cuộc đời. Dù với hình thức nào, thì trên hết vẫn là tinh thần tự học, tự rèn luyện, tự giác làm theo, có như vậy việc học Bác, làm theo Bác mới có ý nghĩa trường tồn, vĩnh cửu.

GÓC NHÌN VỀ CUỘC CHIẾN NGA-UKRAINA

 

          Cuộc chiến Nga - Ucraina đang được diễn ra hết sức phức tạp, gây ra sức nóng hơn bao giờ hết. Việc Tổng thống Nga Putin thông báo về việc tiến hành đem quân sang đánh Ucraina khiến cho nhiều nước Mỹ và phương Tây sẵn sàng áp dụng các biện pháp trừng trị đối với những hành vi trên. Cuộc chiến ấy có nhiều nguyên nhân và tất nhiên có nguyên do về chính trị ở trong đó. Nhìn Ucraina chúng ta mới thấy sự đúng đắn trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta như thế nào.

          Sẽ gọi là rất khó khăn khi thể hiện quan điểm sẽ ủng hộ Nga hay Ucraina trong cuộc chiến nảy lửa này. Bởi rằng, cuộc chiến đó không hề xâm lại đến quyền và lợi ích quốc gia Việt Nam và cũng dựa trên các nguyên tắc mà Việt Nam đã tham gia và kí kết là không can thiệp vào nội bộ của các nước và nguyên tắc tôn trọng lẽ phải. Hoà bình chính là cái đích đến mà ai hay bất kỳ quốc gia nào cũng khao khát có được. Nguyên tắc lẽ phải mà ở đây có nghĩa là trật tự quốc tế và chúng ta sống trong hoà bình; chúng ta đứng trên lập trường hoà bình.

          Tình hình xảy ra cuộc chiến này đều tiềm ẩn nhiều lí do về mặt chính trị, tàn khốc của chiến tranh là không ai mong muốn. Sẽ rất khó để nói lên quan điểm trong vấn đề xung đột Nga- Ucraina nếu chỉ dựa vào những thực tế xảy ra, mà không xem nguồn cơn bắt đầu từ đâu khi hai nước là một thời chung một đất mẹ. Việt Nam làm bạn với tất các cả nước và trong đó có Nga và Ucraina, bản thân tôi luôn mong muốn cuộc chiến này sẽ kết thúc và sẽ có một cuộc đàm phán có lợi cho cả hai bên.

          Việt Nam chúng tôi không chọn bên mà sẽ chọn lẽ phải, chúng tôi trôn trọng hoà bình. Tất nhiên để có thể được như vậy thì đòi hỏi phải có sự lãnh đạo đúng đắn cứng rắn về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược "dĩ bất biến, ứng vạn biến".

 

ĐỪNG NGHE NHỮNG GÌ THẾ GIỚI NÓI VỀ HỌ, HÃY NHÌN NHỮNG GÌ HỌ ĐÃ LÀM VỚI THẾ GIỚI!

         Bức ảnh “niềm vui chiến thắng”, ghi lại khoảnh khắc cựu TT Mỹ B.Obama ôm vợ mình tươi cười hân hoan sau khi tái đắc cử Tổng thống Mỹ 2012 - là một trong những bức ảnh có lượt tương tác khủng nhất mạng xã hội. Phải vì thế chăng, khi mà chào mừng kỷ lục 6 triệu like trên facebook, nên 4 năm làm Tổng thống trong nhiệm kỳ đó, đã kịp có hàng triệu người phải chết vì bom đạn “tự do dân chủ” của B.Obama, Tổng thống có bàn tay ấm.

Bạn có tin được không? Cũng năm 2012, Obama cười nhưng V.Putin thì lại khóc, ông khóc khi tái đắc cử Tổng thống Nga. Giây phút trước đó, Putin đứng yên lặng trong chiếc áo parka màu đen, đợi Medvedev giới thiệu lên phát biểu. Sau đó, khi tiến lên sân khấu, gương mặt ông thay đổi, vẻ xúc động, và rồi nước mắt người đàn ông thép tràn xuống má, lấp lánh dưới ánh đèn.

“Tôi đã hứa với các bạn rằng chúng ta sẽ thắng, và chúng ta đã thắng khi đánh bại những âm mưu nhằm “chia cắt nước Nga”. Vinh quang thuộc về nước Nga”.

B.Obama trở thành “Tổng thống vì hòa bình”, có lẽ là nhờ hàng chục triệu like facebok. Trong khi đó V.Putin lại là “Bạo chúa khát máu”, khi bị đổ lỗi cho cái chết của hàng triệu người dân trên thế giới.

Có lẽ, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới nên cảm ơn “gã nguyên thủ độc tài, tàn bạo” V.Putin (theo cáo buộc từ Mỹ và phương Tây). Vì nhờ có sự xuất hiện của người đàn ông này, hàng triệu người dân vô tội khác đã không bị chết oan dưới bom đạn của tự do, dân chủ.

Nhìn Syria hiện tại, ít ai ngờ rằng chỉ 6 năm trước đất nước này đã từng là một đống hoang tàn đổ nát, khủng bố hoành hành khắp nơi, bom đạn vẫn luôn giày xéo mảnh đất này. Thi thoảng cũng có địa điểm tạm im tiếng súng, nhưng người dân khi ấy vẫn phải mang theo máy dò mìn khi đến các địa điểm công cộng.

Đó là quà tặng của Mỹ và Israel mang tới cho đất nước này đấy, thưa các bạn!

Chính xác là vào ngày 10/09/2014, không cần sự cho phép của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, Mỹ tuyên bố thành lập “liên minh chống ISIL” (tiền thân của IS) với sự tham gia của gần 60 nước. Nhưng những ai có tri thức đều biết, một mặt Mỹ mượn cớ “chống khủng bố” để chuyên chở vũ khí và trang bị cho cái gọi là “các lực lượng đối lập” ở Syria; mặt khác, Mỹ tấn công xâm chiếm mềm Syria, nhằm khống chế Trung Đông.

Không biết chống khủng bố kiểu gì, mà Mỹ càng đánh khủng bố thì chúng nó càng mạnh. Cũng không biết bảo vệ Syria kiểu gì, mà Mỹ càng bảo vệ thì Syria càng tan nát. Thực tế, từ tháng 9/2014 đến tháng 9/2015, trong khi liên quân do Mỹ chỉ huy tiến hành chiến dịch “chống khủng bố” ở Syria thì Tổ chức khủng bố mang tên “Nhà nước Hồi giáo” IS tự xưng ngày càng mở rông phạm vi ảnh hưởng, chúng giành quyền kiểm soát 80% lãnh thổ của quốc gia này, đồng thời áp sát thủ đô Damascus của Syria.

Thế rồi người Nga đến. Trước đó, Nga nói rằng không muốn để Mỹ đơn độc trong cuộc chiến chống khủng bố, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã đề xuất sáng kiến thành lập liên minh quốc tế chống khủng bố ở Syria dưới ngọn cờ của Liên Hợp Quốc. Đề xuất này bị Liên Hợp Quốc gạt đi, rốt cục ngày 30/09/2015, “gã bạo chúa độc tài khát máu” Putin vẫn cứ mang quân Nga tới “tấn công Syria”, theo như lời của Mỹ và NATO cáo buộc, và đe dọa sẽ trừng phạt.

Bình tĩnh và kiêu hãnh, gấu Nga không dễ bị dọa nạt như thế. Không nhân nhượng, cũng không có sự dàn xếp ngoại giao nào, người Nga đã bất chấp răn đe phản đối Liên Hợp Quốc khi tiến vào Syria, vào thời điểm mà mọi thứ có vẻ tồi tệ, gần như vô vọng, khi những kẻ khủng bố được đào tạo và hậu thuẩn bởi bởi phương Tây đã san bằng toàn bộ các thành phố cổ ở nơi này. Khi mà tiếng khóc than rên xiết của người dân Syria thấu tận chín tầng xanh, nhưng bầy ác quỷ vẫn cứ “há miệng, nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán”.

Họ lặng lẽ, cần mẫn và hiệu quả, không chỉ ở “hậu trường”, trên mặt trận ngoại giao, mà còn trên tiền tuyến, cung cấp hỗ trợ tác chiến không lực, làm sạch và kiểm soát toàn bộ các khu phố, giúp cung cấp thực phẩm, hậu cần, chiến lược. Binh lính Nga đã chết ở Syria, họ cũng đã gặp nhiều khó khăn, bọn khủng bố được một đám “ngụy quân tử” ồ ạt chi viện, nước Nga bị cấm vận. Thế nhưng gấu Nga không bao giờ đầu hàng, cũng chưa từng đập ngực than vãn bất lực.

Những gì Syria cần, họ đã làm. Nhưng gì nên làm nhưng chưa làm được, họ sẽ cố gắng để thực hiện. Như một nghĩa vụ quốc tế cao cả, lặng lẽ, tự hào, rất can đảm và cũng rất kiên tâm. Rốt cục, Nga và Syria đã nắm tay nhau lại, đã cùng nhau chiến đấu chống lại kẻ thù hắc ám, khủng bố và chủ nghĩa thực dân mới.

Và họ đã chiến thắng!

Ở Syria, bây giờ đang là đầu mùa xuân và gần toàn bộ đất nước sự sống đang nảy mầm, nở rộ trở lại, mọc lên từ đống tro tàn, theo đúng nghĩa đen. Damascus, thủ đô cổ kính và lộng lẫy của Syria, nay là Cộng hòa Ả Rập Syria, cuộc sống đã trở lại. Mọi người vui chơi đến tận đêm khuya, với nhiều sự kiện, âm nhạc và nhịp sống xã hội sôi động. Và nếu như ai đó đến Syria và nói rằng Putin là “gã bạo chúa khát máu”, tôi tự nhủ hàm răng của gã liệu còn nguyên vẹn!

Trở lại vấn đề Ukraine, 22/02/2022, một lần nữa gấu Nga đã bất ngờ đưa quân vào với tuyên bố phi quân sự hóa Ukraine, tấn công tiêu diệt đám tân phát xít. Hầu như toàn bộ thế giới nói rằng Nga đã xâm lược Ukraine, họ liên tục đưa ra những lời đe dọa và trừng phạt.

Nhưng nước Nga dưới thời Putin không bao giờ sợ trước bất cứ một thế lực nào. Và, cũng không phải lần đầu Nga bị tố xâm lược Ukraine. Trước đó, từ tháng 2 đến tháng 3/2014, Nga đã thực hiện chiến dịch có thể nói là nhanh lẹ và độc đáo nhất trong lịch sử hiện đại, trước khi thế giới biết chuyện gì đã xảy ra. Đó là khi Nga sáp nhập trở về bán đảo Crimea trong sự ngỡ ngàng của Mỹ và Ukraine.

Ngày 16/03/2014, 5 ngày sau khi tuyên bố độc lập khỏi Ukraine, nghị viện Crimea tổ chức trưng cầu dân ý về việc sáp nhập vào Liên bang Nga. Kết quả cho thấy 97% người dân Crimea bỏ phiếu sáp nhập vào Nga, với tỉ lệ 83% người đi bầu. Crimea chính thức trở thành một phần lãnh thổ Nga vào ngày 18/3/2014, sau khi Tổng thống Nga Vladimir Putin ký sắc lệnh tại Moskva. Toàn bộ chiến dịch giành quyền kiểm soát Crimea của Nga diễn ra trong 1 tháng, gần như không hề gây đổ máu.

Không biết có phải là xâm lược hay không, chỉ biết từ khi sáp nhập trở về Liên bang Nga, lãnh thổ Crimea hoàn toàn sống trong hòa bình, không bom đạn. Vì vậy không có gì bất ngờ khi 92% cư dân trên bán đảo này đã ủng hộ Putin trong cuộc bầu cử tổng thống Nga năm 2018.

Đừng nghe những gì những cái loa BBC, CNN, Reutes… ăng ẳng rên rỉ gào thét - cứ nhìn vào thực tế cuộc sống của người dân trước và sau khi có Mỹ, trước và sau khi có Nga – chúng ta mới biết rằng hành động quân sự ấy là “nên” hay “không nên”.

Cổ nhân vẫn hay nói: Chính nhất định thắng tà. Nguyễn Trãi cũng từng viết trong Bình Ngô Đại Cáo, rằng: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn - Lấy trí nhân để thay cường bạo”. Nhưng sự thật ở đời liệu mấy khi được như vậy chăng?

Khó lắm, các bạn của tôi ạ!

Mạnh được yếu thua vẫn luôn là quy luật muôn đời của tự nhiên. Tức là muốn rảnh tay “giải cứu thế giới”, trước hết bạn phải có đủ sức mạnh chế ngự được “bầy ác quỷ đang giương nanh múa vuốt”. Khi đó, bất chấp bạn bị chúng dọa dẫm đe nẹt gì, bạn vẫn cứ làm những gì mình cho là đúng. Gìn giữ hòa bình cũng được, xâm lược cũng được, đó chỉ là những ngôn từ sáo rỗng lý giải một hành động quân sự. Khi bạn đủ mạnh, bạn cũng chả cần kí kết hiệp định với thằng nào. Đứng hiên ngang trước quần hùng, tuyên bố dõng dạc với thế giới: Bọn mày cấm nhưng tao cứ làm thế đấy, thế đã làm sao!

Việc Nga tiến quân vào Ukraine, có một chút gì tương đồng với công cuộc “phản kích tự vệ” của Việt Nam năm nào trên đất Cambodia. 10 năm máu đào tuôn rơi ở Cambodia, 10 năm bị cả thế giới ngoảnh mặt, 10 năm nhân dân nhịn ăn nhịn mặc để nuôi hàng triệu quân giải phóng xứ Cam khỏi nạn diệt chủng Khmer đỏ. Việt Nam chúng ta bị Mỹ, Trung Quốc… và cả Liên Hợp Quốc đe dọa và cấm vận. Nhưng rồi rốt cục dù muốn hay không, thế giới cũng phải công nhận chuyện Việt Nam tiến quân vào Cambodia là một cuộc chiến chính nghĩa.

Hiện tại, khi đưa quân vào Ukraine, V.Putin tiếp tục bị tố cáo là bạo chúa, ngang ngược và hiếu chiến. Dưới sức mạnh của hàng vạn cái loa tuyên truyền phương Tây, hàng tỷ người dân trên thế giới đang tin vào điều ấy. Họ tin rằng đế quốc Nga đang “xâm lược” Ukraine, rồi “Putin đang âm mưu chủ nghĩa bá quyền”.

Cứ cho là vậy đi. Không sao cả, V.Putin vẫn có hàng triệu người ủng hộ, bất kể ông có “ngang ngược và hiếu chiến” đến đâu. Bởi vì V.Putin, gã “bạo chúa khát máu” ấy đã khóc, khóc để đổi lấy nụ cười của hàng triệu trẻ nhỏ ở Trung Đông.

Việt Nam chúng ta mất 10 năm để hoàn toàn giải phóng Cambodia. Nhưng tôi tin, Nga có lẽ không mất thời gian lâu như thế để “phi quân sự hóa”, “phi phát xít hóa” Ukraine – giải cứu một đất nước đói nghèo loạn lạc nhất châu Âu hiện tại.

Nhìn Ukraine của tương lai ra sao, sẽ cho chúng ta đáp án chính xác nhất, thưa các bạn!

Yêu nước ST.

VIỆT NAM VẪN LÀ TRỌNG ĐIỂM CHỐNG PHÁ CỦA "DIỄN BIẾN HÒA BÌNH"

 

          Cho dù có “khoác tấm áo mới” thì bản chất thực sự của chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là hoạt động chống phá của các lực lượng thù địch; vẫn là một kiểu “chiến tranh không có tiếng súng” nhưng vô cùng nguy hiểm với tính chất chính trị phản động, dân tộc chủ nghĩa, toàn cầu, phi vũ trang. Đã từng cay đắng thất bại trong chiến tranh, nay các thế lực thù địch lớn tiếng tuyên bố sẽ “thắng trong hòa bình”, “thắng bằng kinh tế thị trường” và Việt Nam vẫn là tiêu điểm, vẫn hội tụ đủ các yếu tố là trọng tâm chống phá của những thủ đoạn mới trên đây. Bởi lẽ, là một nước xã hội chủ nghĩa luôn tiên phong trong phong trào độc lập dân tộc, không chịu lệ thuộc vào bên ngoài, Việt Nam nắm giữ vị trí địa kinh tế - chính trị - quân sự chiến lược quan trọng trong khu vực, lại nằm ở vị trí địa - chiến lược, trung tâm của cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn. Hơn nữa, những thành tựu hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế đã tăng cường vị thế, uy tín, tiềm lực, thực lực và sức mạnh tổng hợp của đất nước ta, tuy nhiên trong nội bộ, hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tệ nạn xã hội... còn diễn biến khá phức tạp. Thêm vào đó, thay đổi được chế độ chính trị, bộ máy cầm quyền ở Việt Nam, các thế lực thù địch sẽ có nhiều lợi thế khi thực hiện các mưu đồ chính trị mới trong thế giới đương đại. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, tiếp tục diễn ra vô cùng phức tạp, quyết liệt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

          Vấn đề quan trọng có ý nghĩa định hướng chiến lược trong cuộc chiến này là phải tăng cường nghiên cứu, dự báo, đánh giá và nhận diện đúng bộ mặt thật, “bình mới, rượu cũ” của chiến lược “diễn biến hòa bình”; đồng thời, xác định đấu tranh phòng, chống, làm thất bại “diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, các cấp, các ngành, các địa phương. Về cơ bản lâu dài, kiên quyết đấu tranh, kiên trì quán triệt, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, giải pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của Đảng và Nhà nước đã xác định, trong đó, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, thống nhất nhận thức và tư tưởng, hành động, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân là cơ sở nền tảng. Thực hiện đồng bộ các giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là giải pháp đột phá, nhất là khi “diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm, thay vì tác động từ bên ngoài vào sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy chúng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Mũi nhọn xung kích chính là vũ khí phê phán thông qua đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Và cho dù “diễn biến hòa bình” có thay đổi phương thức, điều chỉnh thủ đoạn, diễn biến theo chiều hướng nào, mang bộ mặt nào đi nữa thì mục tiêu cuối cùng của họ không có gì khác là hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, hòng xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

          Vì vậy, tập trung xây dựng Đảng vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” gắn với ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là vấn đề mang tính nguyên tắc, giữ vai trò quyết định trong bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trong tình hình mới.

CẢNH GIÁC ĐỂ TRÁNH PHẠM TỘI VÌ NGƯỜI QUEN TRÊN MẠNG

 

          Không phủ nhận Internet và mạng xã hội mang đến cho chúng ta rất nhiều thuận lợi và bổ ích, song đây cũng là “cái bẫy” rất dễ gây ra hậu quả khôn lường. Đặc biệt, hiện nay các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng Internet và mạng xã hội để thực hiện các hành vi, phương thức thủ đoạn làm quen, câu móc, lôi kéo những người nhẹ dạ, cả tin vào các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước.

          Phân tích các vụ án những năm gần đây cho thấy, không ít trường hợp vào vòng lao lý vì tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” mà nguyên nhân bắt đầu từ các mối quan hệ quen biết tưởng như vu vơ, vô hại trên Internet, mạng xã hội. Chiêu trò câu móc của các tổ chức, cá nhân thù địch là lên mạng xã hội kết bạn làm quen với những người thiếu cảnh giác trao đổi nick, chát và thường xuyên liên lạc với nhau. Sau một thời gian trò chuyện, kẻ xấu tìm mọi cách để tỏ ra hai bên rất “tâm đầu ý hợp”. Khi đã tạo dựng được lòng tin trên không gian mạng, chúng tìm cách hẹn gặp ngoài đời. Ban đầu chỉ là ly cà phê, bữa nhậu, từng bước mật độ các cuộc gặp tăng dần và lựa chọn mỗi khi bạn có sự kiện gì dù to, dù nhỏ chúng đều tặng quà rất chu đáo. Nhỏ là cái áo, chiếc túi hàng hiệu, to dần là điện thoại di động, máy tính xách tay, thậm chí cả USD... Những tưởng đó chỉ là những món quà tặng vô tư, xuất phát từ tình cảm chân thành, nhưng có ngờ đâu đó chính là chiêu trò lôi kéo người bạn mới quen trên mạng vào các hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước của các tổ chức, cá nhân thù địch. Từ mối quen hệ đã tạo lập, khi thì trực tiếp, khi thì gián tiếp gửi email các tổ chức, cá nhân thù địch nhờ bạn làm các công việc như: in sao, chuyển văn bản, tài liệu đến địa điểm này, địa điểm kia… thực chất đó là hành vi phát tán tài liệu mang nội dung chống phá Đảng, Nhà nước. Khi “cá đã cắn câu”, “tay đã nhúng chàm”… chúng tiếp tục lôi kéo người bạn quen trên không gian mạng tham gia sâu vào các hoạt động chống phá như: in truyền đơn đem dán tại các trung tâm và những nơi công cộng thường tập trung đông người… rồi quay phim, chụp ảnh; gặp gỡ người này, nhân vật kia phỏng vấn, ghi âm... gửi qua email cho chúng. Sau mỗi đoạn video, mỗi bức ảnh quay, chụp được, chúng đều trả công hậu hĩnh. Tối mắt vì tiền, không ít người càng dấn sâu hơn, tham gia hoạt động tích cực hơn và trở thành công cụ hoạt động của các tổ chức, cá nhân thù địch với Việt Nam lúc nào không biết. Chỉ đến khi đứng trước tòa, họ mới nhận ra rằng, vì nhẹ dạ, cả tin và tình cảm riêng tư với người bạn quen biết trên mạng xã hội mà dẫn đến phạm tội.

          Tất nhiên, dù phạm tội bằng con đường nào thì họ vẫn phải nhận những bản án nghiên minh theo quy định của pháp luật. Đây là bài học cảnh tỉnh cho tất cả những người tham gia trên không gian mạng. Đặc biệt, với những người còn non kém về bản lĩnh chính trị, mơ hồ và ảo tưởng trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá ngày càng tinh vi, biến ảo của các thế lực thù địch, phản động.

Để hạn chế tình trạng trên, chúng ta cần tăng cường các biện pháp kỹ thuật và quản lý hành chính nhằm kiểm soát chặt chẽ, kịp thời phát hiện, cảnh báo, ngăn chặn, bắt giữ các đối tượng, băng nhóm lợi dụng mạng xã hội để thực hiện các hành vi phạm tội nói chung; móc nối, lôi kéo chống phá Đảng và Nhà nước ta nói riêng. Đồng thời, các cấp, các ngành, cơ quan chức năng cần đẩy mạnh công tác truyền thông nhằm trang bị ý thức và kỹ năng tiếp cận, sử dụng mạng xã hội một cách thận trọng, lành mạnh cho người dùng. Môi trường mạng ví như cái chợ thông tin, tốt - xấu, thật - giả lẫn lộn rất khó kiểm soát, người dùng mạng xã hội cần cảnh giác, thận trọng không dễ dãi kết bạn, làm quen, nhận lời mời, nhận quà tặng từ những người mới quen trên mạng xã hội. Đặc biệt, trước những thông tin đáng nghi ngờ trên không gian mạng, cần thận trọng, tỉnh táo tham vấn chia sẻ với mọi người, nhất là các chuyên gia để tránh sa vào “cạm bẫy”, lừa gạt hoặc dụ dỗ, lôi kéo của các thế lực thù địch, phản động. Giữ gìn, bảo vệ để môi trường mạng trong sạch, lành mạnh là trách nhiệm chung của cả cộng đồng, nhưng trước hết mỗi người dùng cần phải đề cao cảnh giác để bảo vệ an toàn cho bản thân trên môi trường mạng.