Thứ Năm, 17 tháng 3, 2022

Bộ mặt mới của chiến lược “diễn biến hòa bình” trong cục diện thế giới hiện nay

 Hiện nay, thế giới đang chứng kiến nhiều sự thay đổi sâu sắc. “Do tác động của đại dịch

COVID-19, thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng nhiều mặt. Cuộc Cách mạng

công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến

cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Các nước điều chỉnh chiến lược và

phương thức phát triển nhằm thích ứng với tình hình mới”(2). Cạnh tranh chiến lược

giữa các nước lớn tiếp tục diễn biến phức tạp, dưới nhiều hình thức mới, phức tạp và

quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc

tế. Hợp tác, cạnh tranh, sự va chạm, cọ xát, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa

các nước, các trung tâm quyền lực ngày càng gia tăng. Trong cách thức tiến hành, các

nước lớn coi trọng sử dụng “quyền lực thông minh”, kết hợp giữa “quyền lực cứng”

(chỉ huy, cưỡng bức, định đoạt dựa trên sức mạnh kinh tế, quân sự) với “quyền lực

mềm” (khả năng thuyết phục, thu hút, tạo ảnh hưởng dựa trên sự hấp dẫn của giá trị)

một cách uyển chuyển, khôn khéo. Trong bối cảnh quốc tế và các khu vực diễn biến


phức tạp, khôn lường đó, để thực hiện mưu đồ của mình, các thế lực thù địch tiếp tục

điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” dưới một bộ mặt mới, ngày càng bộc lộ rõ

sự tinh vi, xảo quyệt và vô cùng thâm độc.

Bộ mặt mới của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay

Thứ nhất, chủ thể và lực lượng tiến hành “diễn biến hòa bình” trong bối cảnh mới rất đa

dạng, phức tạp, đan xen, không đồng nhất. Nếu như trước kia, chủ thể tiến hành “diễn

biến hòa bình” là chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thì nay, bên cạnh lực

lượng này còn có cả các nước theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi với tư tưởng bành

trướng, bá quyền. Để xác lập vị thế vượt trội hoặc tranh giành lợi ích, ảnh hưởng

trong trật tự thế giới mới, một số nước lớn thâu tóm hoạt động của các tổ chức, diễn

đàn quốc tế, khu vực để lôi kéo, khống chế các nước khác vào vòng kiềm tỏa của

mình. Trong một số trường hợp cụ thể, có những nước bất chấp luật pháp quốc tế,

trắng trợn xâm phạm chủ quyền, can thiệp sâu vào nội bộ các nước khác bằng các

biện pháp tổng hợp nhằm thay đổi bộ máy chính quyền hoặc lật đổ chế độ chính trị

nước khác theo hướng có lợi cho mình. Với chủ thể được mở rộng, lực lượng tiến

hành sẽ là “đại quân công chúng” ngay trong nội bộ đối phương. Trước kia, khi thực

hiện “diễn biến hòa bình”, những kẻ chủ mưu, thù địch, hiếu chiến bên ngoài trực tiếp

tiến hành chống phá. Nay, họ chuyển sang hành động “sau bức màn che”, “bí mật giật

dây”, tập trung “nhồi nhét” tư tưởng chống đối, đào tạo, huấn luyện những kẻ “theo

đóm ăn tàn”, nội gián, tay sai một cách khá bài bản, trở thành những “kỹ sư lành

nghề” lật đổ chế độ chính trị ngay trong nội bộ đối phương. Từ đó, họ ngụy biện rằng,

nguyên nhân sụp đổ chế độ chính trị do sự tự thân vận động bên trong chứ không phải

do sự chống phá từ bên ngoài (?!). Họ móc nối với những đối tượng cơ hội chính trị,

thoái hóa, biến chất nhen nhóm thành các tổ chức chính trị đối lập hoạt động công

khai, được “ngụy trang” dưới danh nghĩa các hội, đoàn, tổ chức xã hội dân sự... và rêu

rao đó là “đại diện của người dân”; tập hợp các phần tử phản động, lưu manh, bất mãn

đội lốt các chức sắc, chức việc, già làng, trưởng nhóm, trưởng hội... chỉ chờ cơ hội là

“ngóc đầu”, “lột xác”; mua chuộc, lừa gạt, ép buộc quần chúng nhẹ dạ tham gia làm

bình phong, lá chắn. Lực lượng này khi bị lôi kéo, kích động hợp thành “đại quân

công chúng” tại chỗ, luôn chịu sự chỉ đạo của các “chuyên gia chống cộng” bên ngoài

và đương nhiên đó hoàn toàn không phải là quần chúng theo đúng nghĩa là lực lượng

cách mạng. Đây là vấn đề hết sức nguy hiểm, nhất là trong trường hợp số đông quần

chúng nhân dân bị mê hoặc, tin theo lời hứa hão huyền bằng các khẩu hiệu lòe bịp, bị

“sập bẫy” giương sẵn của các trung tâm quyền lực, các tổ chức phản động quốc tế

luôn rắp tâm “đục nước béo cò”, tạo cớ can thiệp, chống phá.

Thứ hai, đối tượng chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” được mở rộng và

phương thức tiến hành đã có sự chuyển đổi. “Diễn biến hòa bình” trong tình hình mới

không những nhằm vào các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa, mà

còn chuyển sang chống phá các nước có chế độ chính trị mà chủ thể tiến hành cho là


không phù hợp với lợi ích, giá trị, “khuôn mẫu” của họ. Đó là những nước độc lập, có

chủ quyền nhưng “cứng đầu”, “không cùng quỹ đạo”, không tuân theo sự chỉ huy, chỉ

đạo của họ, không có lợi cho họ trong giải quyết các vấn đề quốc tế. Đặc biệt, trọng

tâm chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các nước có vị trí địa

chính trị - kinh tế - quân sự chiến lược quan trọng, phức tạp, nhạy cảm hoặc ở những

khu vực hội tụ sự cạnh tranh chiến lược, tranh chấp gay gắt về lợi ích, chủ quyền trên

thế giới. Tính đa dạng, phức tạp, đan xen không đồng nhất giữa chủ thể và đối tượng

được thể hiện trong mối quan hệ này, phạm vi này là chủ thể tiến hành, nhưng có thể

trong mối quan hệ khác, phạm vi khác, chủ thể đó lại là đối tượng chống phá.

Phương thức chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm từ bên

ngoài tác động vào bên trong sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy

“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong nội bộ đối phương. Nếu như những năm

qua, “diễn biến hòa bình” coi trọng “dính líu để khuếch trương”, “can dự để mở

rộng”, trực tiếp tiếp xúc để thẩm thấu các hành động chống phá từ bên ngoài vào bên

trong nước khác thông qua thủ đoạn đặc trưng như “xóa bỏ cấm vận”, xúc tiến “bình

thường hóa quan hệ”... thì nay đã chuyển sang tìm mọi cách khai thác và khoét sâu

mâu thuẫn nội tại; triệt để lợi dụng những sơ hở, yếu kém trong công tác lãnh đạo,

quản lý, điều hành xã hội của các nước để chống phá. Như đã thành quy luật, mỗi khi

ở các nước là đối tượng chống phá diễn ra các sự kiện chính trị trọng đại, xuất hiện

các “điểm nóng”, các vấn đề xã hội phức tạp, nhạy cảm... thì đó là “cơ hội vàng” để

các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”. Họ sử dụng chính lực

lượng, phương tiện của đối phương; kết hợp công khai với bí mật; thực hiện đánh

ngầm, mềm, sâu, hiểm, tiến công toàn diện, có trọng điểm; thường núp dưới danh

nghĩa “hiến kế”, “chống tham nhũng”, “góp ý kiến xây dựng”... để lũng đoạn đối

phương. Trong đó, lĩnh vực chính trị, tư tưởng được họ xác định là khâu trọng tâm,

đột phá; kinh tế là mũi nhọn; dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là “ngòi nổ”;

ngoại giao để hỗ trợ; quân sự để răn đe, hậu thuẫn. Trong quá trình thực hiện, khi có

điều kiện, thời cơ và cần thiết sẽ kết hợp với bạo loạn lật đổ, gây xung đột, nội chiến,

can thiệp vũ trang, chiến tranh ủy nhiệm... để nhanh chóng đạt được mục tiêu chiến

lược. Cách thức tiến hành rất công phu, bài bản để che đậy tính chất chính trị phản

động, “ru ngủ” tinh thần cảnh giác cách mạng, làm cho đối phương mơ hồ, mất cảnh

giác; mưu toan từng bước tạo sự suy thoái về tư tưởng chính trị, mục ruỗng về bộ

máy, xuất hiện các mầm mống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở từng cá nhân, trong

nội bộ các tổ chức và toàn xã hội và cuối cùng là sự sụp đổ chế độ chính trị giống như

sự vận động “tự thân”, “tất yếu”, “hợp quy luật”.

Thứ ba, mục tiêu và động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có sự dịch

chuyển và mở rộng hơn. Mặc dù mục tiêu cao nhất, suy đến cùng của chiến lược

“diễn biến hòa bình” là lật đổ chế độ chính trị xã hội của các nước “không cùng quỹ

đạo”, nhưng hiện nay, do sự tác động của các mối quan hệ quốc tế phức tạp, đa tầng

nấc, nhiều cấp độ giữa các nước, các tổ chức, sự chế ước của các quy tắc, chế định

quốc tế, khu vực; khi chưa lật đổ được chế độ chính trị thì “diễn biến hòa bình” sẽ


nhằm đến mục tiêu thấp hơn là thay đổi đường lối, chính sách; cài cắm lực lượng thân

cận vào bộ máy cầm quyền; làm phức tạp hóa thành phần lãnh đạo; thay đổi tính chất

quốc gia, dân tộc khác theo hướng phục vụ lợi ích của chủ thể tiến hành. Trong đó,

thay đổi bộ máy cầm quyền nước khác là mục tiêu trọng yếu hiện nay và để làm được

điều này, chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những điều chỉnh mới gắn với “công

nghệ lật đổ” cực kỳ tinh vi, phản động.

Từ sự ra đời của học thuyết chính trị “phản kháng phi bạo lực” (phản kháng hòa

bình)(3), ngay lập tức, các “nhà dân chủ”, “nhà tiến bộ xã hội” phương Tây coi đó là

“bảo bối thần kỳ”, “công cụ hữu hiệu” để lật đổ chính quyền ở nhiều quốc gia trong

không gian hậu Xô-viết thông qua cái gọi là “cách mạng sắc màu” vào những năm

2004 - 2006; sau đó thay đổi chính thể của hàng loạt quốc gia ở khu vực Trung Đông,

Bắc Phi vào năm 2011 với cái tên mĩ miều “Mùa xuân Ả rập”. Đó không có gì khác là

bạo loạn phi vũ trang bắt nguồn từ “diễn biến hòa bình”, là “kỹ năng lật đổ” thời kỳ

hậu Chiến tranh lạnh - một “dị bản” của việc kết hợp “diễn biến hòa bình” với bạo

loạn lật đổ. Và hiện nay, “dị bản” ấy tiếp tục được “hoàn thiện”, phát triển thành một

kịch bản dựng sẵn với “công thức” lật đổ qua các bước: Một là, hình thành các hoạt

động “phản kháng mềm” trong nội bộ đối phương do sự cộng hưởng theo các phương

tiện truyền thông; kích động tâm lý đám đông, tổ chức người dân tụ tập, tuần hành,

biểu tình, “bất tuân dân sự”, đi ngược lại chính sách hiện hành, chống đối chính phủ,

gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo ra các “điểm nóng”, bất

ổn. Hai là, nội công ngoại kích, bên trong thì biểu tình, bạo động; bên ngoài thì tập

hợp đồng minh, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ... đồng loạt gây sức ép

trên tất cả các lĩnh vực buộc chính quyền đương thời phải từ chức, giải tán. Ba là, tạo

cớ để can thiệp, tiến hành bạo loạn trực tiếp lật đổ chính quyền nhưng núp dưới danh

nghĩa “bảo vệ người dân”, “đấu tranh vì tự do, dân chủ”, “vì công lý”... Bốn là, cài

cắm lực lượng đối lập, nhanh chóng tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân, bầu cử; công

khai ủng hộ, công nhận chính quyền mới của lực lượng đối lập chịu sự kiểm soát của

họ. Điểm mấu chốt trong kịch bản này là họ cố tình “bới móc”, lôi ra điểm yếu trong

bộ máy cầm quyền của đối phương; thậm chí không ngần ngại thêm thắt, bịa đặt các

khuyết điểm; sẵn sàng gán tất cả những sai trái, tiêu cực trong xã hội; châm ngòi cho

làn sóng chống đối trong nước và làm cho bộ máy ấy dường như đã biến chất, “lỗi

thời, không phù hợp”, do đó sẽ bị thay thế và đó là “lẽ thường tình” theo đúng quy

luật(?!). Cho nên, một bộ máy cầm quyền thân cận do họ dựng lên nhưng lại được

“hợp pháp hóa” thông qua một cuộc bầu cử theo luật định vô cùng tinh vi và họ luôn

tự hào coi đây là sản phẩm sáng tạo của “công nghệ lật đổ” thông qua biểu tình, đảo

chính bằng mô hình “bạo lực đường phố”. Theo đó, có tới “198 hành động phản

kháng phi bạo lực”(4), nhưng trong đó bao hàm cả các hành động vô nhân đạo, bị

pháp luật nhiều nước nghiêm cấm như làm tiền giả, in sao tài liệu giả, cướp bóc, ám

sát, khủng bố... chứ không hoàn toàn phi bạo lực và không loại trừ sau đó sẽ lan rộng,

bùng phát thành một kiểu dạng “chiến tranh lai ghép”(5) mới.

Từ sự mở rộng về mục tiêu làm cho động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa

bình” trong sự dịch chuyển và cạnh tranh quyền lực cũng có sự mở rộng và thay đổi

theo. Nếu như “diễn biến hòa bình” trước đây chủ yếu là đấu tranh ý thức hệ chính trị

giai cấp; đấu tranh giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; thì hiện

nay nó đã được mở rộng và chuyển sang cả “đấu tranh” vì lợi ích dân tộc cục bộ, hẹp

hòi; cạnh tranh chiến lược để xác lập vị thế ảnh hưởng.

Thứ tư, đối với biện pháp tiến hành “diễn biến hòa bình” hiện nay, các thế lực thù địch

sử dụng “công cụ mềm”, “quyền lực thông minh” thay cho chính sách “cây gậy và củ

cà rốt” kém hiệu quả trước đây. Đây là những biện pháp mới, rất linh hoạt, mang tính

tổng hợp trên các phương diện và nảy sinh trong xu thế các nước thay đổi cách thức

sử dụng quyền lực và sự trỗi dậy của trào lưu dân túy, xu hướng bảo hộ thương mại

trong quan hệ quốc tế. Thực hiện tiến công toàn diện, có trọng điểm song “diễn biến

hòa bình” ngày càng coi trọng các “công cụ mềm” và “quyền lực thông minh” nhằm

vào các lĩnh vực chính trị tư tưởng, kinh tế, văn hóa - xã hội, ngoại giao, nhất là vấn

đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để từng bước chuyển hóa đối phương, giành

“chiến thắng mà không cần chiến tranh”. Trọng tâm ở bên trong các nước thì họ tìm

mọi cách khoét sâu mâu thuẫn, phân hóa nội bộ, tạo ra những “khoảng trống” quyền

lực, đẩy đối phương vào vòng bất ổn. Bên ngoài, vẫn hỗ trợ bằng việc tạo áp lực, tăng

cường lôi kéo, khống chế, từng bước gây ảnh hưởng có lợi cho họ. Cách thức tiến

hành rất tinh vi, khó nhận diện; có lúc dụ dỗ, mua chuộc bằng vật chất; lúc thì núp

dưới danh nghĩa hoạt động từ thiện, nhân đạo; có khi kêu gọi mở rộng tự do, dân chủ,

nhân quyền, thúc đẩy quan hệ đối tác; đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối

lập; nhiều khi lại ngấm ngầm thao túng, khống chế về tài chính, từng bước ép buộc

đối phương lệ thuộc về chính trị. Chiến lược chống phá từ từ, dần dần theo cách “mưa

dầm thấm lâu”. Phương châm hành động mềm dẻo, linh hoạt, “đối thoại thay đối

đầu”, “bắt tay thay súng đạn”, không phô trương rầm rộ, nhìn hình thức biểu hiện bên

ngoài ít khốc liệt, không tàn phá như chiến tranh vũ lực; thậm chí có vẻ “gần gũi”,

“thân thiện” trong một “thế giới phẳng” nhưng bản chất thì đang âm thầm đẩy đối

phương xuống đáy “vũng lầy” của sự khủng hoảng và dẫn đến đổ vỡ ngay từ bên

trong.

Thứ năm, về công cụ mới để thực hiện “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch coi

trọng sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông. Trước sự bùng nổ của cuộc

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong kỷ nguyên thông tin của thời đại toàn cầu

hóa và với quan điểm “một đài phát thanh cũng có thể bình định được một nước, một

đô la chi cho tuyên truyền có hiệu quả hơn năm đô la chi cho quân sự” nên thứ “vũ


khí” hữu hiệu được các thế lực thù địch coi trọng sử dụng trong chiến lược “diễn biến

hòa bình” hiện nay là các phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí, xuất bản, nhất

là các phương tiện có chương trình tiếng Việt để thực hiện bôi nhọ, vu cáo, đả kích

Việt Nam(6). Trong đó, họ ngày càng coi trọng các trang mạng xã hội, internet - một

phương tiện truyền thông có tốc độ nhanh, sức lan tỏa mạnh đối với công chúng. Thực

tế ở nước ta gần đây đã xuất hiện khá nhiều các website, blog, phát tán quan điểm trái

chiều, xuyên tạc. Với cách thức tiến hành khá công phu, tinh xảo; dựa vào một số sự

kiện đã diễn ra, họ nhào nặn bằng các chi tiết “sặc mùi” chính trị phản động; thêm bớt

những “số liệu” không thể kiểm chứng, kèm theo trích dẫn “kim, cổ, đông, tây”, giả

danh khoa học; sử dụng công nghệ chèn các tư liệu, hình ảnh đã bị cắt ghép, chỉnh

sửa, “live stream”... tạo ra những sự kiện “giật gân”, thông tin “câu khách”, gợi trí tò

mò của dư luận; cố tình đổi trắng thay đen, biến không thành có, rồi suy diễn, bình

luận theo kiểu làm “sáng tỏ vấn đề”. Tần suất các luận điệu thâm độc đó ngày càng

gia tăng cả về lưu lượng, cấp độ, mật độ; thực hiện “bôi nhiều sẽ bẩn”, “nói lắm phải

tin”, tung “hỏa mù” nhằm gây tâm lý hoài nghi, dao động trong xã hội; từng bước

hướng cộng đồng đến những suy nghĩ lệch lạc, dẫn đến “tự diễn biến”, dần xuất hiện

những hành vi “lệch chuẩn” và rơi vào “tự chuyển hóa” lúc nào không hay.

CÓ MỘT VIỆT NAM “NHỎ BÉ” MÀ KIÊN GAN!

 Mấy hôm trước, bà Nataliya Zhynkina – đại diện lâm thời của Ukraine tại Việt Nam có

đăng đàn phát biểu, mong muốn Việt Nam đừng giữ trạng thái trung lập nữa mà hãy

đứng ra lên tiếng lên án hành vi “xâm lược” của Nga với Ukraine. Rằng: “Việt Nam

là nước nhỏ, cần dựa vào luật pháp quốc tế.”

Và khi LHQ ra nghị quyết yêu cầu Nga ngừng vũ lực ở Ukraine và rút quân. Có 141

quốc gia bỏ phiếu thuận, 5 quốc gia phản đối , 35 quốc gia bỏ phiếu trắng, trong đó có

Việt Nam – bà cô này đã thất vọng ra mặt lên tiếng: “Việt Nam ơi, quê hương thứ 2

của tôi ơi, tôi rất thất vọng!”

Này Nataliya Zhynkina, nếu bà xem Việt Nam như quê hương thứ 2 của mình, sao lại

không biết về lịch sử của dân tộc chúng tôi cơ chứ!


Việt Nam chúng tôi là nước “nhỏ”, cần phải dựa vào luật pháp quốc tế ư? Vậy tôi hỏi bà,

luật pháp quốc tế đã ở đâu vào những năm 70-80 của thế kỷ trước, khi Khmer đỏ thực

hiện chính sách diệt chủng tàn sát gần 2 triệu người dân Campuchia. Và khi quân đội

nhân dân Việt Nam mở cuộc phản kích tự vệ cứu người dân Campuchia thoát nạn diệt

chủng, giúp đất nước Chùa Tháp hồi sinh, thì Liên Hiệp Quốc đã làm gì?

Xin thưa, đó là tổ chúc bù nhìn này chẳng những nhắm mắt làm ngơ trước sự thật, không

lên án tội ác tày trời của Khmer đỏ mà thậm chí lên án VN xâm lược Campuchia, hùa

theo Mỹ và trung Quốc cấm vận Việt Nam.

Tòa án quốc tế ư? Hội đồng bảo an ư? Để tôi kể cho bà nghe một câu chuyện. Nhà báo

kỳ cựu người Anh Max Hastings, viết trong cuốn 'Vietnam: An Epic Tragedy', đã

từng tâm sự: “Tôi từng hỏi Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch rằng tại sao khi

bị Khmer Đỏ tấn công biên giới Tây Nam vào cuối năm 1978, Việt Nam không tố cáo

sự việc này ra Liên Hiệp Quốc mà lại tấn công Campuchia.

Nguyễn Cơ Thạch khi ấy đã nói rằng:

- Vì chúng tôi không coi trọng Liên Hợp Quốc như các ngài.

- Tại sao thế?

- Vì trong 40 năm qua, chúng tôi đã bị 4 trong 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo an

Liên Hợp Quốc xâm lược”

Vâng, 4/5 thành viên thường trực của Hội đồng bảo an từng xâm lược Việt Nam chúng

tôi, và đều bị chúng tôi đánh bại. Việt Nam chúng tôi “nhỏ bé” như vậy đấy, bà

Nataliya Zhynkina ạ!

Thật ra, Việt Nam bỏ phiếu trắng trong nghị quyết vấn đề xung đột Nga – Ukraine, nó

không đồng nghĩa với việc ủng hộ cuộc chiến của Nga, nhưng nó cũng đồng nghĩa với

việc Việt Nam chúng tôi – một nước XHCN lấy tư tưởng Marx-Lenin làm cương lĩnh

sẽ không bao giờ sát cánh cùng một quốc gia tráo trở, dẫm đạp lên các giá trị cộng

sản.

Chiến tranh luôn là mất mát, là thương đau, làm chai sạn tâm hồn, kết nên những thù hằn

cay độc. Chỉ những tên lính đánh thuê lưu manh, vô học cùng lũ lái súng Tư Bản và

đám sài lang Đế quốc mới mong mỏi chiến tranh mà thôi.

Nataliya Zhynkina ạ, chúng tôi không ủng hộ chiến tranh mà ngược lại. Chính vì từng

trải qua thương đau bởi vết thương chiến tranh, nên Việt Nam chúng tôi thực sự xót

thương với nỗi đau người Ukraine phải gánh chịu do các quyết định sai lầm và ngu

ngốc từ chính phủ bù nhìn của Zelensky. Nói ra không phải là kể khổ, nhưng những gì

mà người Ukraine đã từng phải hứng chịu chỉ bằng một góc nhỏ so với những gì mà

Mỹ - đồng minh danh nghĩa của Ukraine từng gây ra cho đất nước Việt Nam chúng

tôi.

Cứ cho Việt Nam là một nước nhỏ đi, nhưng quốc gia ấy chưa bao giờ khuất phục trước

bất kỳ một thế lực nào. Trong khi nhiều dân tộc khác khom lưng quỳ gối, chịu làm

công dân hạng 2 ngay trên đất nước mình, nhưng Việt Nam chúng tôi thì khác. Chúng

tôi đã từng chịu cảnh bị đô hộ, dân chúng tôi từng sống cảnh nô lệ, nhưng sục sôi

trong tâm can là ý chí quyết không bao giờ khuất phục.


“Đất nghèo nuôi những anh hùng – Từ trong gian khổ lại vùng đứng lên.” Thế nên đất

nghèo nước nhỏ ấy tuy đã từng bị chà đạp, nhưng luôn quyết lau sạch vết nhơ, kể cả

phải đổ máu, “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho

được độc lập”, như lời hiệu triệu non sông của Hồ Chủ Tịch vĩ đại.

Bao nhiêu máu xương đã đổ, thật nhiều nước mắt đã rơi, hàng triệu xác thân đã vĩnh

viễn nằm lại chiến trường nhưng nụ cười sẽ mãi là bất tử, bởi cha ông chúng tôi đã

chiến đấu vì lý tưởng cao đẹp, vì độc lập dân tộc.

Cứ cho Việt Nam là một nước nhỏ đi, ấy nhưng nhìn lại Ukraine đi. Trong khi nguyên

thủ quốc gia Việt Nam chúng tôi hiên ngang sải bước cùng các lãnh đạo hàng đầu thế

giới, thì Tổng thống Ukraine sang thăm Mỹ mà không kèn không trống, không người

tiếp đón, không có lịch hẹn gặp J.Biden mà phải chờ triệu kiến.

Nataliya ơi, xin tặng bà một câu của chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của đất nước

chúng tôi: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ

thì không xứng đáng được độc lập.” Ukraine đang vỗ ngực tự xưng mình là đồng

minh của Mỹ, nhận sự bảo kê và giúp đỡ từ Mỹ. Nhưng thực tế là đồng minh hay chư

hầu đây?

Thực tế thì Mỹ nào có xem Ukraine vào mắt. Chưa kể kinh tế Ukraine đang như bong

bóng xà phòng sắp tan vỡ đến nơi, thì những cường quốc kinh tế mang danh là “Đồng

minh của Mỹ” như Nhật Bản, Hàn Quốc làm gì thực sự có chủ quyền. Nhìn sang Hàn

Quốc xem, thử hỏi tại sao hội nghị thượng đỉnh liên Triều lại là gặp gỡ giữa cựu tổng

thống Mỹ D.Trump và Chủ tịch Kim của Triều Tiên, mà tổng thống Hàn Quốc còn

bận đi chơi? Bà nhìn sang Nhật Bản xem, thử hỏi tại sao người Nhật lại trở thành

công dân hạng II ngay trên đất nước mình, rồi khi Nhật tranh chấp đảo Điếu Ngư với

Trung Quốc lại phải xin ý kiến chỉ đạo từ Mỹ?

Bà là người Ukrane, lại là quan chức ngoại giao, chắc bà thừa hiểu suốt 8 năm sau đảo

chính Maidan 2014, đất nước Ukraine của bà đã từng làm những gì, đúng không?

Chính phủ ấy đã chối bỏ cội nguồn, phủ nhận văn hóa truyền thống, phá hủy di tích

Xô viết, không biết trân trọng máu xương của cha ông đi trước – vậy thì nhà nước ấy

không đáng để cho Việt Nam chúng tôi ủng hộ.

Bà luôn hô hào mình từng yêu Việt Nam, xem Việt Nam là quê hương thứ 2, nhưng có

lẽ bà chỉ giỏi hô khẩu hiệu. Bà chưa từng tìm hiểu xem lịch sử Việt Nam chúng tôi ra

sao.

Ừ, thì cứ cho là Việt Nam chúng tôi bé nhỏ, chúng tôi nghèo nàn lạc hậu đi. Nhưng bà

đã bao giờ chịu tìm hiểu đất nước ấy dân tộc ấy đã trải qua những gì chưa. Bà đã bao

giờ tìm hiểu xem, bầu trời lịch sử của Việt Nam có bao nhiêu những ánh sao, hàng

ngàn năm phát triển có biết bao những anh hùng chưa?

Bà, sẽ không bao giờ hiểu nổi tại sao có những Trần Bình Trọng “thà làm quỷ nước

Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”, chứ không như Tổng thống Zelensky của

nước bà sẵn sàng khom lưng quỳ gối xin viện trợ. Vậy nên, Việt Nam chúng tôi mới

có thể đánh đuổi được những gã đế quốc hùng mạnh nhất thế giới cút khỏi đất Việt,

mới làm nên những “chiến thắng lừng lẫy năm châu chấn động Địa Cầu” khiến toàn

thế giới sửng sốt về một Việt Nam nhỏ bé mà kiên gan.


"Giữa bầu trời lịch sử muôn triệu ánh sao xa

Trong dân gian vạn thuở, ấy muôn triệu đóa hoa!"

Trăm năm đêm trường nô lệ dưới ách cai trị của Thực dân Pháp, Việt Nam cởi bỏ xiềng

gông vào một ngày thu tháng tám rực rỡ sao vàng. 9 năm gian khó làm nên một chiến

thắng Điện Biên thần kỳ, “lừng lẫy năm châu chấn động Địa Cầu”. 30 năm trường

chính gian khổ, nghẹn ngào tiếng nức nở và dậy đất tiếng hùng ca, đánh cho Mỹ cút

đánh cho Ngụy nhào. Rồi kế đó là chặng hành trình bôn ba vất vả gian lao, Việt Nam

chúng tôi đuổi bè lũ Trung Quốc cút về nước trong chiến tranh biến giới phía Bắc

1979, suốt bao năm làm nhiệm vụ quốc tế giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa

diệt chủng Polpot khi cả thế giới đã quay lưng. Gần 20 năm bị cấm vận, bị cả thế giới

cô lập nhưng chỉ trong gần 30 năm mở cửa, Việt Nam đã bứt tốc thần kỳ, ngoạn mục

như Phù Đổng vươn vai.

Giờ nhìn những tòa nhà chọc trời, nhìn về quy mô nền kinh tế, nhìn về các thành tựu đã,

đang và sắp đạt được, chẳng mấy ai dám nghĩ chỉ mấy chục năm trước thôi, Việt Nam

còn là một đất nước nghèo khó. Tất nhiên, quy mô nền kinh tế Việt Nam còn thua

Nhật, Hàn … và nhiều cường quốc khác, song chúng tôi tự hào có một chế độ chính

trị ổn định, thực sự có độc lập tự chủ.

Việt Nam chúng tôi đã hiên ngang ngẩng cao đầu trong nhiều thập kỷ. Chúng tôi đã

chiến đấu, và chiến thắng, đối đầu và thách thức những kẻ thù hùng mạnh nhất trên

trái đất. Chúng tôi đã xây dựng lại đất nước theo nghĩa đen từ đống tro tàn, và thực sự

xây dựng được một Việt Nam ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Trong quá trình

đó, hàng triệu sinh mạng đã mất, nhưng hàng triệu người trẻ khác lại tiếp tục tiến lên,

đất nước này đã tìm cách đoàn kết và đang từng ngày đoàn kết; thế là Việt Nam đã trở

nên mạnh mẽ như thép và chiến thắng mọi âm mưu chống phá của kẻ thù.

Việt Nam chúng tôi như thế đấy, Nataliya Zhynkina ạ!

CUỘC CHIẾN KHÔNG CÂN SỨC GIỮA BIỂN KHƠI

 Chủ quyền quốc gia là tối thượng, bất khả xâm phạm, các thế hệ người Việt Nam đã đổ

biết bao công sức, máu xương để xác lập chủ quyền, giữ gìn lãnh thổ, các vùng biển

và hải đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Cách đây hàng trăm năm, những người con ưu tú của nước Việt Nam đã vượt muôn vàn

khó khăn, gian khổ, xả thân giữa biển khơi mênh mông vì chủ quyền đất nước. Những

câu ca lưu truyền trong dân gian tới hôm nay, như: "Hoàng Sa đi có về không - Lệnh

vua sai phái quyết lòng ra đi" là minh chứng cụ thể nhất cho sự quả cảm và các kỳ

tích mà họ đã lập nên.

Để rồi, tinh thần quả cảm, quyết tâm vô hạn, dũng cảm phi thường lại được thế hệ sau

nối tiếp. Ngày 14/3/1988, 64 người lính bảo vệ đảo Gạc Ma, trong cuộc chiến không

cân sức, một bên chỉ có cuốc xẻng, súng AK giữa mênh mông biển khơi, một bên là

tàu lớn, súng to, đã vĩnh viễn nằm xuống dưới làn mưa đạn. 64 người lính đã tỏ rõ

lòng trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân. Trong giờ phút sinh tử,

giữa họng súng quân thù, các chiến sĩ đã nắm chặt tay nhau tạo thành vòng tròn bảo

vệ lá cờ Tổ quốc. Họ dặn nhau: “Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo. Hãy để máu

của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân anh hùng” (câu nói

của Anh hùng liệt sỹ Trần Văn Phương). Câu nói ấy không chỉ thể hiện khí phách anh

hùng, mà còn là tư thế của người làm chủ thực sự biển đảo dù trong bất cứ hoàn cảnh

nào. Đó là một tuyên ngôn bất tử về Trường Sa - tuyên ngôn của thế hệ trẻ hôm nay

không sợ hy sinh, gian khổ, quyết đem cả tính mạng của mình bảo vệ từng tấc đất, sải

sóng thiêng liêng của Tổ quốc.

34 năm đã trôi qua, sự hy sinh kiên cường của 64 chiến sĩ Hải quân mãi mãi là bản hùng

ca bất tử. Bản anh hùng ca ấy đang được thế hệ những người lính Trường Sa tiếp

bước, tuổi trẻ cả nước noi gương và Nhân dân trên mọi miền Tổ quốc đời đời ghi

nhớ./.

Đỗ Hữu Tú

NGÔI MIẾU NHỎ BÊN ĐƯỜNG BIÊN.

 Năm 2012, một đoàn công nhân tới bên dòng suối biên giới tự nhiên Việt

Nam – Trung Quốc bên cạnh mốc 71 xây dựng kè đá bảo vệ bờ và cột mốc. Trong

đoàn thợ có hai cô gái làm phụ xây kiêm lo việc cơm nước, cả đoàn đều là người ở

Điện Biên, chưa tới đây bao giờ.

Đột nhiên, trong một bữa cơm, một cô gái nói:

- Chúng mày uống rượu không mời tao à?

Cả đám thợ nam mắt tròn mắt dẹt, cái cô này trước giờ có rượu thuốc gì bao

giờ? Với lại giọng nghe cũng khác. Chả ai bảo ai, họ rót thêm chén rượu cho cô gái

ngửa cổ uống một hơi hết sạch.

Uống xong cô gái nói tiếp:

- Thằng nào có thuốc.cho tao xin mấy điếu, ba chục năm nay chưa được điếu

nào, thèm quá!

Đến lúc này, cả đám thợ chắc đều đã rợn tóc gáy, chỉ làm theo như máy. “Cô

gái” hút liền mấy điếu rồi vừa hút vừa thong thả kể:

- Tao tên là Thanh, quê Thanh Hóa, nhập ngũ năm 1977. Năm 1979 đánh

nhau với Tàu đơn vị tao đóng ở khu vực này. Là lính quân báo, hôm ấy tao qua bên

kia trinh sát, tao ngu quá để chúng nó phát hiện, bị thương tao cố lê về đất mình rồi

chết ở đây.

Rồi dần định thần, anh em mới hỏi kĩ thêm: Xác anh đâu thì “Thanh” trả lời:

Suối cuốn trôi rồi. Gia đình chả biết tao chết ở đây, chả đi tìm, mà giờ cũng chả

còn xương cốt gì nữa. Tìm làm gì .…

- Thế giờ anh có nguyện vọng gì không? Bọn em xây cho anh cái miếu nhé?

- Ừ thế cũng được, tao có cái chỗ nghỉ, để có chỗ coi chừng bọn xâm lược,

giữ gìn Tổ Quốc mình .…

Rồi từ hôm đó, cho tới hôm xây xong miếu cho anh, bữa nào anh cũng nhập

vào cô gái xin chén rượu, điếu thuốc.

Sau câu chuyện được báo cáo lại cho bộ đội biên phòng. Anh em cũng đã

xuống hỏi chuyện trực tiếp, “cô gái” kể vanh vách địa hình, địa bàn như một người

bản địa. Kể từ đó, mỗi lần đi thăm mốc, bộ đội lại thắp cho anh nén hương, châm

cho anh điếu thuốc, để cùng nhau giữ biên cương.


P/s: Chuyện nghe thì hư cấu nhưng chuyện liệt sĩ Nguyễn Văn Thanh là có

thật. Đó là người chiến sĩ trinh sát bị trúng đạn từ bên kia biên giới nhưng vẫn cố

gắng bò được về để nằm xuống trên đất mẹ quê hương. Mốc 71 là mốc đôi cùng

một số loại mốc nhỏ, đặt bên bờ suối Na Mu Chi Hồ (Teng Tiao He) phía Trung

Quốc. Thuộc địa bàn xã Sì Lờ Lầu, huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu. Mốc có Toạ

độ là 22: 760573, 103.307513./.

Nguồn: ST

Hành động thiếu khách quan, không phù hợp của Mỹ, Anh và Canada

 Tại buổi họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao chiều 17-3, phóng viên Đề

nghị Người Phát ngôn cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc Mỹ trao giải Phụ

nữ can đảm quốc tế cho Phạm Thị Đoan Trang? Người phát ngôn Bộ Ngoại giao

Lê Thị Thu Hằng khẳng định chính sách nhất quán của Việt Nam là luôn bảo vệ và

thúc đẩy các quyền cơ bản của người dân, trong đó có quyền của phụ nữ. Các nỗ

lực và thành tựu của Việt Nam trong việc không ngừng đảm bảo và cải thiện các

quyền của con người trong thời gian qua đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và

đánh giá cao. “Việc Bộ Ngoại giao Mỹ trao giải thưởng cho Phạm Thị Đoan Trang,

một cá nhân vi phạm pháp luật Việt Nam đã bị đưa ra xét xử và đang thi hành án

phạt tù là hành động thiếu khách quan, không phù hợp và không có lợi cho việc

phát triển quan hệ hai nước”- Người phát ngôn nhấn mạnh.

Ngày 18-2-2022, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng

trước việc Bộ Ngoại giao Canada và Anh trao giải thưởng tự do báo chí cho đối

tượng vi phạm pháp luật Việt Nam Phạm Đoan Trang, Phó phát ngôn Bộ Ngoại

giao Phạm Thu Hằng khẳng định: Như đã nhiều lần khẳng định, Nhà nước Việt

Nam luôn quan tâm bảo vệ và thúc đẩy các quyền tự do cơ bản của con người,

trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin. Điều

này được quy định cụ thể trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật liên quan,

được triển khai thực hiện trong thực tế đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của Việt

Nam và được thể hiện rõ ràng qua sự phát triển mạnh mẽ của báo chí Việt Nam

trong thời gian qua. Phạm Thị Đoan Trang bị bắt giữ và xét xử do có những hành

động vi phạm pháp luật nhiều lần, nghiêm trọng, liên hệ với các tổ chức và cá nhân

ở nước ngoài, xuất bản các ấn phẩm trái phép có nội dung tuyên truyền, hướng

dẫn, kích động các hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Hành vi của

Phạm Thị Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội. “Chúng tôi cho rằng việc Bộ

Ngoại giao Canada và Anh trao giải thưởng cho một cá nhân vi phạm pháp luật

Việt Nam là một hành động thiếu khách quan, không phù hợp và không có lợi cho

việc phát triển quan hệ song phương với Việt Nam”- Phó phát ngôn khẳng định.

Trước đó, ngày 14-12-2021, TAND TP Hà Nội đã tuyên án sơ thẩm 9 năm

tù đối với bị cáo Phạm Thị Đoan Trang (SN 1978, trú tại phường Cát Linh, quận

Đống Đa, TP Hà Nội) về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam” theo quy định tại Điều 88, khoản 1 Bộ luật Hình sự năm 1999./.

Lấy ý kiến của dân thông qua người đại diện

 Trong quá trình trùng tu di tích lịch sử cấp quốc gia đền thờ nhà sử học Lê

Văn Hưu (tại thôn 3, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa), giếng

Ngọc trong khuôn viên di tích đã bị phá bỏ, thay vào đó địa phương sẽ xây dựng

giếng mới kích thước nhỏ hơn. Điều này khiến nhiều người cho rằng dự án tu bổ,

tôn tạo di tích đang làm hỏng di tích. Trùng tu theo cách phá bỏ cái cũ, làm cái mới

như vậy theo nhiều người là không tôn trọng yếu tố lịch sử, di tích và tâm linh, dù

rằng thiết kế xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Khi tiếp xúc với phóng viên báo chí, Chủ đầu tư đã đưa ra một biên bản

cuộc họp về tu bổ di tích, trong đó có chữ ký “Thay mặt” cư dân địa phương nhất

trí tán thành phương án tu bổ giếng Ngọc như đã và đang làm. Tuy nhiên, sự nhất

trí tán thành của “người Đại diện” ghi trong biên bản đó dường như chưa phù hợp

với ý chí chung của cộng đồng cư dân địa phương vì thực tế là nhiều người dân

chưa đồng tình với việc phá bỏ giếng Ngọc. Có ý kiến cho rằng: “Giếng Ngọc nói

chung thường được người dân xem như là “con mắt”, “mắt rồng” hay “huyệt đạo”

của làng xã”; “Từ bao đời nay, giếng Ngọc trong đền thờ Lê Văn Hưu luôn được

người dân bảo vệ, giữ gìn. Việc lấp giếng cũ, xây giếng mới kích thước nhỏ hơn

đang gây bức xúc cho người dân xã Thiệu Trung nói riêng và các nhà nghiên cứu

văn hóa nói chung”; “Việc tu bổ giếng là cần thiết, nhưng tu bổ giếng cổ có tuổi

đời hàng trăm năm bằng cách như thế là vi phạm các yếu tố về lịch sử, di tích, và

tâm linh của người dân”.

Để việc trùng tu di tích mang lại giá trị hiệu quả đích thực, các đơn vị liên

quan sẽ phải tiếp thu những ý kiến đóng góp xây dựng của người dân và các nhà

nghiên cứu văn hóa để có những bổ khuyết, điều chỉnh thích hợp. Tuy nhiên, qua

sự việc này nổi lên một vấn đề đáng lưu tâm là làm sao để người “Đại diện”, “Thay

mặt” cư dân thể hiện đúng đắn ý chí của cư dân, tránh tình trạng “hữu danh, vô

thực”, “dân chủ hình thức”, mạo xưng để hợp thức hóa thủ tục giấy tờ. Theo đó, để

bảo đảm thực hiện tốt hơn nữa Quy chế dân chủ ở cơ sở, cần sớm bổ sung quy định

hướng dẫn trình tự, thủ tục xác lập tư cách người “Đại diện”, “Thay mặt” cộng

đồng cư dân, tập thể, … khi tham gia các sinh hoạt dân chủ ở cơ sở.

Trong Từ điển Tiếng Việt, nghĩa của từ “Thay mặt” được hiểu là lấy tư cách

của người hay tổ chức nhất định để đứng ra làm việc nào đó. Theo quy định của Bộ

luật dân sự 2015: Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân nhân danh và vì lợi ích của


cá nhân hoặc pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phù hợp với

phạm vi đại diện và không trái với quy định của pháp luật./.

Cần làm rõ trách nhiệm và chế tài xử lý sách giáo khoa có “sạn”

 Đến thời điểm này, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai thực hiện “một

chương trình, nhiều sách giáo khoa” sang năm học thứ hai, ở các lớp 1, 2 và lớp 6.

Năm học 2022 - 2023, chương trình sẽ tiếp tục thực hiện ở lớp 3, 7 và 10. Tuy

nhiên, công tác biên soạn, thẩm định, góp ý sách giáo khoa vẫn còn nhiều điều

đáng bàn, bởi thực tế đến thời điểm này, sách giáo khoa mới đã có rất nhiều “hạt

sạn” được dư luận chỉ ra. “Sạn” trong sách giáo khoa được nhắc tới rất nhiều trong

suốt 2 năm học qua từ khi Chương trình giáo dục phổ thông mới được triển khai.

Các đơn vị phát hành của cả 5 bộ sách giáo khoa lớp 1 năm học 2020-2021 cũng

đều đã thừa nhận có “sạn” trong những sản phẩm của mình và đã đưa ra phương án

chỉnh sửa, khắc phục. Điều này cũng đồng nghĩa các Nhà xuất bản đã thừa nhận

những sai sót, hạn chế trong các bộ sách của mình. Dù qua nhiều vòng thẩm định,

sau cùng mới được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt nhưng chỉ đến khi sách giáo

khoa đi vào giảng dạy, những “hạt sạn” không đáng có mới được dư luận, phụ

huynh phát hiện ra. Gần đây nhất là việc sách Tiếng Việt lớp 1, bộ sách Kết nối tri

thức và cuộc sống do PGS. TS. Bùi Mạnh Hùng làm Tổng chủ biên kiêm Chủ biên

của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam bỏ chữ cái P ra khỏi danh mục dạy học. Theo

các chuyên gia, sách Tiếng Việt chưa dạy chữ P là việc làm khó hiểu, là chủ trương

không đúng và lạc hậu so với tình hình.

Theo GS. TS. Mai Ngọc Chừ, Chủ tịch Hội đồng thẩm định sách giáo khoa

Tiếng Việt lớp 1: Hội đồng thẩm định đã thông qua có nghĩa là chấp nhận, Hội

đồng đã trình lên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng đã ký có nghĩa là

Bộ trưởng chấp nhận. Liên quan tới vấn đề này, PGS. TS. Nguyễn Hữu Đạt, Viện

trưởng Viện Ngôn ngữ và Văn hóa Phương Đông thẳng thắn cho rằng, Nhà xuất

bản Giáo dục Việt Nam cũng như đội ngũ biên soạn sách giáo khoa cần sớm điều

chỉnh. Từ thực tiễn rõ ràng đòi hỏi Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam phải có tinh

thần tiếp thu. “Nhưng đó là lý thuyết. Trên thực tế, nhiều ý kiến đóng góp cho Nhà

xuất bản này từ hai năm nay cũng khá nhiều, nhưng dường như họ chẳng mấy quan

tâm. Việc họ, họ vẫn cứ làm. Ở ta, lâu nay vẫn tồn tại một thực tế như vậy. Báo chí

nói là quyền của báo chí. Cuối cùng chỉ có Nhân dân và học trò chịu thiệt”. Trăn

trở của PGS. TS. Nguyễn Hữu Đạt không phải là không có cơ sở bởi với những

“hạt sạn” trước đó, ban đầu khi dư luận lên tiếng, nhóm viết sách giáo khoa và các

thành viên của hội đồng thẩm định vẫn luôn khẳng định sản phẩm của họ là đúng.

Tháng 2 vừa qua, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký quyết định phê

duyệt 43 sách giáo khoa lớp 3 của 11 môn học và hoạt động giáo dục; 40 sách giáo


khoa lớp 7 của 12 môn học và 44 sách giáo khoa lớp 10 của 14 môn học và hoạt

động giáo dục để các địa phương lựa chọn sử dụng trong nhà trường từ năm học

tới. Thực tế trong 2 năm học vừa qua, khi áp dụng sách giáo khoa mới theo chương

trình giáo dục phổ thông 2018, dư luận đã tốn không ít "giấy mực" xung quanh

việc sách giáo khoa được biên soạn, thẩm định và phê duyệt nhưng khi đưa vào sử

dụng vẫn còn nhiều "sạn", thậm chí là sai sót.

PGS. TS. Trần Xuân Nhĩ, Phó Chủ tịch Hiệp hội các trường đại học, cao

đẳng Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu quan điểm, với

chương trình mới, dù sách giáo khoa không còn là pháp lệnh như trước đây nhưng

sách giáo khoa cần không để xảy ra sai sót. Giáo viên, học sinh vẫn coi sách giáo

khoa là chuẩn mực nên sẽ học tập theo đó, nếu sách giáo khoa sai thì các em sẽ học

sai … nhất là học sinh lớp 1, các em như tờ giấy trắng với tư duy còn non nớt

không thể trở thành thực nghiệm của những bộ sách giáo khoa có “sạn”. Vì vậy, cơ

quan quản lý cần làm rõ trách nhiệm và có chế tài việc để lọt “sạn” vào sách giáo

khoa; thậm chí, phải bồi thường cho người tiêu dùng. “Có thể thời gian đầu triển

khai chương trình mới còn vội vã nhưng đến thời điểm này sau 2 năm rồi, ngành

giáo dục phải có kế hoạch, thực nghiệm, xem xét kỹ lưỡng về vấn đề sách giáo

khoa. Nếu bộ sách giáo khoa nào sai ở mức độ nhẹ thì phải tiếp thu, sửa chữa, còn

ở mức độ không thể chấp nhận được thì phải hủy bỏ”.

Cổng Thông tin điện tử Bộ Giáo dục và Đào tạo mới đây đã trích dẫn phát

biểu của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn tại hội nghị trực

tuyến với các địa phương về việc tiếp tục thực hiện Chương trình giáo dục phổ

thông 2018. Liên quan đến lựa chọn sách giáo khoa mới cho năm học tới, người

đứng đầu ngành Giáo dục và Đào tạo lưu ý tinh thần chung là cố gắng đảm bảo sự

lựa chọn chuyên môn từ các cơ sở giáo dục, phát huy được tiếng nói của người trực

tiếp dạy học, đồng thời phát huy được ý nghĩa của việc có nhiều bộ sách giáo khoa

thông qua việc giáo viên có thể chọn một bộ để sử dụng nhưng có thể tham khảo

nhiều sách và bày tỏ mong muốn: "Các cơ sở giáo dục, đội ngũ giáo viên trong quá

trình lựa chọn sách và dạy học sách giáo khoa mới nếu phát hiện vấn đề cần sớm

có ý kiến chính thống một cách chủ động về Bộ Giáo dục và Đào tạo;./.

Tài liệu đã giải mật của Tòa Bạch Ốc

 Theo tài liệu của Tòa Bạch Ốc (đã được giải mật) ghi thật rõ biên bản cuộc

họp kín tại Bắc Kinh ngày 09/7/1971 giữa Thủ tướng Chu Ân Lai và Cố vấn Henry

Kissinger để sắp xếp chuyến viếng thăm của Tổng thống Nixon (tháng 2/1972).

Thật lạ lùng: trong buổi họp, ông Chu đã xác nhận: "Hai nghìn năm trước

Trung Quốc đã xâm lăng Việt Nam … tổ tiên chúng tôi là những người bóc lột

nhưng bị đánh bại bởi hai nữ tướng".

Biên bản Tòa Bạch Ốc ghi lại đàm thoạị:

- Thủ tướng Chu: "Việt Nam là một nước anh hùng."

- TS. Kissinger: "Họ là một dân tộc anh hùng, một dân tộc vĩ đại."

- Thủ tướng Chu: "Họ là một dân tộc vĩ đại, anh hùng và đáng khâm phục.

Hai nghìn năm trước Trung quốc đã xâm lược họ, và Trung quốc đã bị đánh bại.

Lại bị đánh bại bởi hai người đàn bà, hai nữ tướng."(Nguyên văn: They are a great

and heroic and admirable prople. Two thousand years ago China committed

aggression against them, and China was defeated. It was defeated by two ladies,

two woman generals). Ông Chu nói tiếp: "Và khi tôi sang Việt Nam với tư cách là

đại diện của nước Trung Hoa mới tôi đã đi thăm viếng Hà Nội, tôi đã đích thân đến

tận mộ hai nữ tướng ấy và đặt vòng hoa trên những ngôi mộ để tỏ lòng kính trọng

của tôi đối với hai vị nữ anh hùng, họ là những người đã đánh bại tổ tiên chúng tôi

là những người bóc lột." (Nguyên văn: And when I went to Vietnam as a

representative of New China on a visit on North Vietnam, I went personally to the

graves of these two women generals and left wreaths of flowers on the graves to

pay my respects for these two heroines who had defeated our ancestors who were exploiters.

KHÔNG NGỦ QUÊN TRÊN "VÒNG NGUYỆT QUẾ"

 

Nhìn lại chặng đường hơn 35 năm đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Những thành tựu đó là cả quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Nhưng chúng ta cũng không ngủ quên trên “vòng nguyệt quế” bởi nguy cơ tụt hậu về kinh tế vẫn hiện hữu.


🇻🇳 Dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, công cuộc đổi mới đất nước thực sự mang lại những thay đổi to lớn, có ý nghĩa lịch sử.


Quá trình tiến hành khảo sát ở một số địa phương trên cả nước, khi đặt vấn đề với các thế hệ trưởng thành trước đổi mới (năm 1986), nhiều người vẫn còn ám ảnh bởi sự tàn phá nặng nề của chiến tranh và những năm thiếu đói triền miên, người dân, nhất là nông dân làm không đủ no. Sau chiến tranh, các nước đế quốc áp đặt bao vây cấm vận kinh tế với Việt Nam trong suốt gần 20 năm, khoảng 3/4 dân số sống dưới mức nghèo khổ. “Lương thực, thực phẩm khan hiếm do nước ngoài cấm vận. Trong nước, cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp khiến người nông dân không mặn mà với ruộng đồng. Gia đình tôi cũng như nhiều người dân khác trong vùng thiếu đói triền miên”, ông Nguyễn Văn Bình (78 tuổi) ở xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội chia sẻ.


Tại Đại hội VI (tháng 12-1986), Trung ương Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện, đánh dấu bước chuyển rất quan trọng trong nhận thức của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội (CNXH), về thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Đại hội VI đã cụ thể hóa quan điểm mới về cơ cấu kinh tế, về công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong chặng đường đầu tiên, từ đó đề ra chủ trương tập trung cho "3 chương trình kinh tế lớn". Đại hội có quan điểm mới về cải tạo XHCN, coi cải tạo XHCN là nhiệm vụ thường xuyên, phải trải qua thời gian dài và liên tục với những bước đi, hình thức thích hợp. Đại hội nhận rõ, ngay khi quan hệ sản xuất XHCN chiếm ưu thế vẫn tồn tại những thành phần kinh tế khác, như kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa, kinh tế tư bản tư nhân ở mức độ nhất định...


Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế nước ta bắt đầu có những bước chuyển động tích cực và phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt hơn 35 năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỷ USD, trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN; thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008.


Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay, Việt Nam không những bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ liên tục tăng và hiện chiếm khoảng 85% GDP. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu tăng mạnh, năm 2020 đạt hơn 540 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 280 tỷ USD. Đầu tư nước ngoài tăng nhanh, đăng ký đạt gần 395 tỷ USD vào cuối năm 2020. Tỷ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước).


Cũng nhờ kinh tế có bước phát triển nên đời sống văn hóa cũng được cải thiện đáng kể; sinh hoạt văn hóa phát triển phong phú, đa dạng. Hiện Việt Nam có hơn 70% dân số sử dụng internet, là một trong những nước có tốc độ phát triển công nghệ tin học cao nhất thế giới. Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu thiên niên kỷ. Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển.


🇻🇳 Đại hội XIII của Đảng một lần nữa khẳng định và nhấn mạnh: Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới.


Trong thời gian qua, chúng tôi có dịp khảo sát tại nhiều địa phương trong cả nước. Mỗi người dân dù ở miền núi hay vùng biển, thành phố hay nông thôn đều có chung cảm nhận: Diện mạo đất nước đổi thay từng ngày. Đặc biệt đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong những năm qua, nhờ có sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, sự đoàn kết vượt khó vươn lên của đồng bào các dân tộc, kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã có bước phát triển vượt bậc. Hiện nay, 98,4% xã có đường ô tô đến trung tâm, tỷ lệ hộ dân tộc thiểu số được sử dụng điện lưới đạt 96.7%; 100% xã có trường tiểu học, THCS; 99,7% xã có trường mầm non, mẫu giáo; 99,5% xã có trạm y tế; 76,7% thôn có nhà văn hóa sinh hoạt cộng đồng...


Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH là đúng đắn. Những kết quả đạt được sau hơn 35 năm đổi mới là minh chứng cụ thể nhất, sinh động và thuyết phục nhất để đập tan các luận điệu xuyên tạc về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.


🇻🇳 Chúng ta sẽ tụt hậu nếu...


Ngày 28-3-2021, tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, khi giới thiệu, quán triệt chuyên đề về Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2021-2030 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2021-2025, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc (nay là Chủ tịch nước) đã khẳng định: “Cán bộ, đảng viên chúng ta đều có nguyện vọng đưa đất nước tiến bước. Đây là truyền thống quý, không chịu đói nghèo, không chịu tụt hậu, không chịu thua kém. Tất cả điều đó cũng là sự hiện thực hóa ước nguyện của Bác Hồ, đưa dân tộc Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu và mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân... Áp lực đối với chúng ta là liên tục tăng trưởng cao. Các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc có 2-3 thập niên liền liên tục tăng trưởng cao. Việt Nam hoàn toàn có khả năng tăng trưởng cao, nếu không có biện pháp để tăng trưởng cao thì sẽ tụt hậu, không phát triển bền vững, nghèo, thu nhập thấp, lạc hậu”.


Sau hơn 35 năm đổi mới, nhìn tổng quát, thế và lực của nước ta mặc dù đã mạnh hơn trước nhưng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhiều nút thắt vẫn chưa được khơi thông; nguy cơ tụt hậu, nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình còn rất lớn, nhất là một số nhóm yếu tố, nhóm dễ bị tổn thương trước các biến động kinh tế... Đặc biệt, Việt Nam sẽ tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức trong bối cảnh dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp, nền kinh tế có độ mở lớn và chịu tác động đan xen nhiều mặt bởi tình hình kinh tế quốc tế ngày càng khó lường; những căng thẳng địa chính trị, sự gia tăng bảo hộ thương mại và các rủi ro tài chính... Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra cơ hội lớn cho các nước đang phát triển có thể đuổi kịp nước giàu, nhưng cũng đi kèm theo nhiều thách thức bị bỏ lại hoặc lệ thuộc hơn vào nước giàu.


Đại hội XIII của Đảng đã đề ra mục tiêu cụ thể: Đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao.


Để đạt mục tiêu đề ra, chúng ta phải đổi mới tư duy phát triển, thay đổi cách làm. Chính phủ thể hiện rõ sự điều hành linh hoạt trong đại dịch Covid-19 khi có những chính sách phù hợp, đặc biệt là Nghị quyết 128 được ban hành thực sự đã thổi một luồng sinh khí mới vào nền kinh tế Việt Nam. GDP năm 2021 ước tính tăng 2,58%; thu ngân sách nhà nước ước tính cả năm 2021 đạt 1.523,4 nghìn tỷ đồng, bằng 113,4% dự toán năm (tăng 180,1 nghìn tỷ đồng). Việt Nam cũng trở thành một trong 20 nước thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn nhất thế giới.


Đầu năm 2022, lần đầu tiên Quốc hội khóa XV tổ chức Kỳ họp bất thường lần thứ nhất. Tại kỳ họp này, Quốc hội xem xét, quyết định thông qua những nội dung quan trọng, như: Nghị quyết về chính sách tài khóa, tiền tệ để hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Đầu tư...; Nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc-Nam phía Đông giai đoạn 2021-2025; Nghị quyết thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP Cần Thơ... Phát biểu bế mạc kỳ họp, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nhấn mạnh: “Tinh thần và kết quả của Kỳ họp bất thường lần thứ nhất, Quốc hội khóa XV đã tạo ra những khí thế mới, thời cơ mới, cùng với các chính sách mới được ban hành, sự điều hành quyết liệt của Chính phủ, sự vào cuộc của các cấp, các ngành và cả hệ thống chính trị, sự ủng hộ, đồng lòng của nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, chúng ta tin tưởng sẽ thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2022 và cả giai đoạn 2021-2025, đất nước sẽ tiếp tục phát triển bền vững, đời sống người dân sẽ được nâng cao, niềm tin của nhân dân sẽ càng được củng cố vững chắc”.


Quyết tâm của cả hệ thống chính trị được thể hiện rõ nét nhất, sinh động nhất khi ngay đầu Xuân 2022, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tiến hành chuyến đi “xuyên Tết, xuyên Việt” khảo sát từ Bắc vào Nam, trực tiếp chỉ đạo, giải quyết những vướng mắc trong triển khai một số dự án trọng điểm. Để thực hiện mục tiêu đã đề ra, Thủ tướng nhiều lần nhấn mạnh, đối với các bộ, ngành, địa phương: Quyết tâm phải rất cao, nỗ lực phải rất lớn, hành động quyết liệt, hiệu quả, xác định trọng tâm, trọng điểm để lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư nguồn vốn, tổ chức thực hiện khoa học, hợp lý, hiệu quả.


Với niềm tin và khát vọng vươn lên mạnh mẽ, Việt Nam đã và đang bứt phá, nhanh chóng rút ngắn khoảng cách phát triển với khu vực và thế giới, nỗ lực phấn đấu hướng tới mục tiêu sớm trở thành nước thu nhập trung bình cao, tránh nguy cơ tụt hậu...


 Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ nhiệm kỳ 2021-2026, trong bối cảnh, tình hình có nhiều khó khăn, thách thức lớn hơn trước và gay gắt hơn so với dự báo, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã yêu cầu Chính phủ cần tập trung “ưu tiên thực hiện 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược, xử lý dứt điểm những “điểm nghẽn”, vướng mắc, tồn tại để phát triển đất nước nhanh và bền vững hơn trên cơ sở tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của đất nước”, xứng đáng với vị thế là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất; trực tiếp tổ chức, quản lý, triển khai thực hiện hiệu quả mọi chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hải Đăng ST 

NGA VÀ TRẬT TỰ THẾ GIỚI MỚI

Ngày 27/10/1962 hay còn gọi là “Ngày thứ 7 đen tối” đã trở thành như một sự kiện khó quên trong diễn trình chính trị thế giới. Thời điểm đánh dấu những động thái trước đó của các cường quốc có thể châm ngòi một cuộc chiến tranh hạt nhân mà nếu xảy ra sẽ khiến cho lịch sử nhân loại thay đổi đáng kể so với hiện nay. 


Bắt nguồn của cuộc khủng hoảng là việc Hoa Kỳ đặt 15 tên lửa tầm trung PGM-19 Jupiter tại Thổ Nhĩ Kỳ, những tên lửa này mang đầu đạn hạt nhân có thể tấn công Moscow bất cứ thời điểm nào. Để đáp trả, lãnh đạo Liên xô lúc đó là Nikita Khrushchev tính nóng như kem đã triển khai tên lửa ở quốc gia đồng minh Cuba đảm bảo có thể đáp trả hạt nhân vào lãnh thổ Hoa Kỳ. 


Nga, Hoa kỳ hay bất cứ quốc gia nào khác nhìn chung đều là “những-tù-nhân-của-địa lý” - một khái niệm địa chính trị được Tim Marshall đưa ra trong quyển sách cùng tên. Chúng mình có thể chọn lựa được khu vực mình sống nhưng tiếc thay khó lòng chọn lựa được quốc gia láng giềng và vì vậy, chính sách đối ngoại và quân sự của một quốc gia sẽ được quyết định bởi điều kiện địa lý của quốc gia đó. 


Sự kiện khủng hoảng hạt nhân ở Cuba nói trên trong một chừng mực nhất định cũng tương tự với điều đang diễn ra trên lãnh thổ Ukraine. Cường quốc quân sự như Nga có thể chấp nhận một Ukraine ngày càng thân thiết với phương Tây và nhưng khó lòng chịu đựng được việc tên lửa của Hoa Kỳ xuất hiện chỉ cách thủ đô Moscow vài trăm dặm về phía Tây nếu Ukraine gia nhập NATO. 


Sâu xa hơn, những cường quốc khác hiện nay trên thế giới đều đã có những dấu mốc và thông điệp riêng của mình. Nếu Hoa Kỳ theo đuổi chính sách “Nước Mỹ trên hết” thì Trung Quốc thực hiện chiến lược “phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa”, trong khi đó đến nay Nga chưa có một chiến lược mang tính toàn cầu hoặc hành xử với vị thế như một cực của thế giới. 


Có một điều khá thú vị khi quan sát chiến tranh thông tin giữa Nga và Ukraine ở chỗ Ukraine luôn truyền thông liên tục về việc Nga bị thiệt hại quân sự nặng nề nhưng một phần trong đó là tin giả, thì phía Nga lại chỉ đưa những thông tin rất ít chủ yếu về việc hình ảnh quân Nga thân thiện phát lương thực và nhu yếu phẩm cho người dân, đây chính là cách hành xử của nước lớn thời hậu chiến.


Đàm phán giữa hai bên là một phương án khả dĩ, nhưng trong nhiều trường hợp nó chỉ mang tính hình thức khi kết quả chiến trường mới là yếu tố quyết định. Một trong những điểm khó khăn của đàm phán là Nga muốn mở hành lang nhân đạo cho người dân di chuyển về phía Tây nhưng chính quyền Ukriane thừa biết rằng nếu không còn lá-chắn-sống là người dân thì cuộc chiến này kết thúc với thời gian có thể tính bằng giờ. Đừng nghĩ Tổng thống Zelenskyy ngáo ngơ khi kêu gọi tử thủ.  


Một nguyên lý quan trọng của kinh tế học đó là “con người duy lí suy nghĩ tại điểm cận biên” (rational people think at the margin), cận biên hiểu đơn giản là hiện tại. Giữa quá khứ bất biến và tương lai bất định thì hiện tại mới là thứ cần quan tâm như tinh thần thiết thực hiện tại của Phật giáo, hay cách cựu Thủ tướng Winston Churchill từng nói “Trên thế giới này không có đồng minh vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn chỉ có lợi ích quốc gia mới là vĩnh viễn”.  


Có nhiều phân tích đang quá sa đà vào lịch sử nghìn năm rằng vùng đất Ukraine vốn thuộc về dân tộc nào mà không thấy rằng hành vi mang tính bản năng của loài người là di chuyển. Căn nhà mới ăn tân gia có khi vài tháng sau đã đổi chủ huống chi mảnh đất đã có sự xuất hiện của loài người cách đây vạn năm, nên nhớ Bắc Mỹ mới 400 năm trước vẫn hoàn toàn thuộc về những người da đỏ.   


Ngày hôm qua của chúng ta gắn liền với những sự thật gần-như vĩnh cửu của địa lý thay vì tính ngẫu nhiên của những thời kỳ lịch sử. Xung đột vũ trang Ukrain-Nga hiện nay là một cuộc chiến quy mô lớn nhất kể từ khi chiến tranh thế giới thứ II kết thúc và không phải tự nhiên mà khu vực Á – Âu trở thành tâm điểm hai cuộc chiến chấn động nhất lịch sử nhân loại. 


Halford Mackinder – nhà địa chính trị gia Anh quốc năm 1939  đã đưa ra lý thuyết về “vùng đất trung tâm” (heartland theory) rằng quốc gia nào có thể kiểm soát được vùng lãnh thổ này sẽ có thể kiểm soát được thế giới. Vùng đất trung tâm ở đây ứng với lục địa Á – Âu xác định rộng là khu vực khoảng giữa Bắc Cực và dãy Hymalayas còn hẹp hơn là vùng đất nằm giữa Đức và Siberia.


Chính những sự chèn ép của phương Tây đã khiến hai quốc gia đang kiểm soát phần lớn khu vực này là Nga và Trung Quốc xích lại gần nhau hơn. Xung đột ở Ukraine hiện nay có thể xem như cuộc chiến chính thức chấm dứt thời kì hậu chiến tranh lạnh và khởi đầu cho trật tự thế giới mới. Ván bài đang được những người chơi chia lại với lá bài quyết định hơn kém chính là Ukraine.   


Chiến tranh thì luôn kéo theo hệ quả về nhân đạo, nhưng với giới học thuật quốc tế nói riêng và những người yêu thích chính trị thế giới nói chung thì nó không khác gì bữa đại tiệc của thông tin. Kính nhi viễn chi, nhìn người ắt thấy ta ở đó, luận bàn với tư duy lý trí đôi lúc còn chưa thể có kiến giải cặn kẽ, huống hồ nhiều anh chị lướt mạng xã hội cả ngày nhưng vẫn không biết hôm nay ăn gì lại đi bỉ bôi lãnh đạo thế giới khi mà chỉ với một quyết định của họ có khi khiến các anh chị phải tức tốc mang xe đi đổ xăng.

PHẢI CHĂNG MUỐN BẢO VỆ ĐƯỢC CHỦ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH QUỐC GIA - DÂN TỘC PHẢI LIÊN MINH QUÂN SỰ VỚI MỘT SỐ CƯỜNG QUỐC!?


           “Không liên minh quân sự” là quan điểm và chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Song, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị luôn dùng mọi thủ đoạn, chiêu trò để hướng lái dư luận, hòng chống phá quan điểm đó, nhất là trong tình hình hiện nay.

          Họ cho rằng “Chỉ có liên minh quân sự với một cường quốc thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền, bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc”. Theo họ: Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là nguy cấp, vì sức mạnh quân sự Việt Nam hiện nay là “quá yếu”, “lạc hậu”; vì vậy, Việt Nam cần liên minh quân sự với một nước lớn có thực lực quân sự, quốc phòng mạnh thì sẽ được hỗ trợ tối đa về mọi mặt để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo quốc gia. Rồi họ kết luận, chính sách “không liên minh quân sự” chẳng những không giữ được đất nước trước xâm lược, mà cũng không giữ nổi chế độ, nó còn làm Đảng ta “mất cả chì lẫn chài” (ám chỉ Đảng ta sẽ mất cả quyền lãnh đạo). Thậm chí, họ không ngại chỉ ra rằng: “Việt Nam liên minh quân sự với Mỹ sớm ngày nào thì nguy cơ tiếp tục mất đảo, mất quyền chủ quyền trên Biển Đông cũng như nguy cơ hứng chịu một cuộc chiến tranh trên biển lẫn đất liền bị đẩy lùi sớm ngày ấy” (!?).

          Những lý lẽ trên là hoàn toàn không phù hợp với đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng như thực tiễn cách mạng Việt Nam. Chúng ta có thể phân tích vấn đề này trên những khía cạnh sau đây:

          Một là, chủ quyền quốc gia - dân tộc là thiêng liêng và tối cao không thể phó thác cho bên ngoài, dù đó là ai. Trong quan hệ quốc tế hiện nay, các quốc gia đều đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc, nhất là những lợi ích cốt lõi như: độc lập, chủ quyền, chế độ xã hội,… trên nguyên tắc hai bên cùng có lợi, thì việc các nước giúp nhau bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc không hề đơn giản. Cốt vật chất để gắn kết các liên minh chính là lợi ích chung và phần lợi ích của mỗi bên thành viên trong liên minh nhận được. Những liên minh “thần thánh” đều là giả tưởng trong đầu óc của những nhà huyễn tưởng, không có chỗ đứng trong thực tiễn chính trị - quân sự sống động, phức tạp và thực dụng hiện nay. Việc một nước nhỏ muốn liên minh quân sự với một cường quốc (nước lớn) nhằm mục đích bảo vệ được chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc của mình, vậy lợi ích của cường quốc sẽ là gì trong sự liên minh này? Xưa nay không ai cho không ai bao giờ; cái gì cũng có giá của nó. Cái giá ở đây là nước nhỏ có thể tránh được nguy cơ mất chủ quyền và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc mình trước một mối đe dọa nào đó từ bên ngoài, nhưng trước khi có thể tránh được những nguy cơ đó, thì cái giá phải trả hiện hữu và có thật, đó là: nước nhỏ phải chấp nhận nhượng bộ ít nhiều về chủ quyền hoặc lợi ích quốc gia - dân tộc mình với cường quốc liên minh. Đó là vốn liếng, tài sản “thế chấp” để nhận được những “cam kết” bảo vệ an ninh từ đồng minh. Đó cũng là “luật chơi” không thể khác trong quan hệ quốc tế hiện nay. Ở đây nước nhỏ đã đem lợi ích thực tế để đánh đổi lấy khả năng bảo vệ an ninh. Một khả năng mà khi muốn hiện thực hóa nó bao giờ cũng gắn với những điều kiện “đính kèm” cần và đủ từ phía các đồng minh nước lớn. Đối với mọi quốc gia, lãnh thổ đất nước luôn đóng vai trò là cơ sở vật chất cho sự tồn tại của quốc gia, có giá trị thiêng liêng và bất biến. Đối với Việt Nam, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ xã hội chủ nghĩa,… là lợi ích cốt lõi, tối cao và thiêng liêng, đã biết bao thế hệ hy sinh xương máu để giành được. Vì vậy, vấn đề độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc không thể phó thác cho bất cứ ai, mà phải do người Việt Nam tự quyết định. Điều này được Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện nhất quán từ trước đến nay theo nguyên tắc “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”.

          Hai là, muốn bảo vệ vững chắc chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc thì phải nêu cao tính độc lập, tự chủ, không thể ảo tưởng trông chờ vào liên minh. Thực tiễn lịch sử thế giới cho thấy, không phải cứ liên minh với một cường quốc quân sự là có thể bảo vệ được chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc của các nước trong liên minh, nhất là đối với các nước nhỏ. Cũng như hầu hết các quốc gia, các cường quốc đều đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc của họ và vì lợi ích “đại cục” mà họ theo đuổi, họ sẽ xử lý quan hệ với các đồng minh theo tiêu chí và triết lý ưu tiên lợi ích “trước hết”, “trên hết”, “cốt lõi” của họ. Trong nhiều trường hợp như vậy, không ít đồng minh của các cường quốc đã phải “lãnh đủ” hậu quả: từ sự “lạnh nhạt”, “ngó lơ”, “làm ngơ” đến “bỏ rơi”, thậm chí “phản bội” đồng minh để bắt tay với kẻ thù của cường quốc đồng minh. Điều này cho thấy một thực tế lịch sử, trên thế giới chưa bao giờ một nước nào có thể hy sinh lợi ích của dân tộc mình chỉ vì lợi ích của một dân tộc khác.

        Đối với Việt Nam, ngay trong điều kiện hai cuộc kháng chiến cực kỳ tàn khốc, ác liệt, gian khổ và kéo dài, tuy nhận được sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa và bạn bè quốc tế, song Việt Nam vẫn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, không tham gia liên minh quân sự với cường quốc. Đó là bài học lớn được rút ra từ công cuộc kháng chiến, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Việc Việt Nam - Lào - Campuchia cùng thành lập liên minh nhân dân (13/3/1951) nhằm tăng cường khối đại đoàn kết ba nước Đông Dương trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung là thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tay sai, giành độc lập dân tộc, xây dựng đất nước, làm cho nhân dân ba nước được tự do, hạnh phúc và tiến bộ, là đòi hỏi từ thực tiễn, yêu cầu khách quan tình hình cách mạng 03 nước Đông Dương. Đây là liên minh mang tính tự vệ, chính nghĩa với vai trò như một trong những phương thức bảo vệ Tổ quốc vào thời điểm lúc đó. Mặc dù vậy, mỗi nước đều nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ về đường lối, tổ chức thực hiện của mình. Điều đó lần nữa khẳng định, để bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia - dân tộc, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, kể cả thời bình lẫn thời chiến, phải luôn nêu cao tính độc lập, tự chủ, không thể ảo tưởng trông chờ sự trợ giúp của nước ngoài.

          Ba là, không phải vì sức mạnh quốc phòng của ta “quá yếu” và “lạc hậu” nên phải liên minh quân sự với nước ngoài. Nếu cho rằng chỉ vì ta yếu và lạc hậu mới cần đến liên minh vậy khi ta mạnh và hiện đại có cần liên minh không? Vì thực tế cho thấy, không ít trường hợp nước lớn vẫn chủ động liên minh với nước nhỏ đấy thôi, và cũng có trường hợp nước nhỏ khước từ liên minh với nước lớn. Vậy phải lý giải thế nào cho thỏa đáng vấn đề này? Như chúng ta biết, mấu chốt của liên minh quân sự không hoàn toàn bắt nguồn từ sức mạnh quân sự yếu hay mạnh mà từ lợi ích và quan điểm của mỗi bên tham gia liên minh. Hơn nữa, cho rằng sức mạnh quân sự của ta yếu và lạc hậu là không hoàn toàn đúng với thực tế. Theo bảng xếp hạng Chỉ số sức mạnh quân sự toàn cầu của trang web Global Firepower (Hỏa lực toàn cầu - GFP), dựa vào 55 chỉ số (ngoại trừ vũ khí hạt nhân), chủ yếu là dân số, diện tích, số lượng vũ khí, ngân sách quốc phòng, nguồn nhân lực, giao thông, việc tiếp cận các tài sản chiến lược, nguồn nhiên liệu, và điều kiện kinh tế hiện tại, thì Việt Nam không phải là nước có sức mạnh quân sự yếu.

          Mặt khác, sức mạnh quân sự của một quốc gia không chỉ đánh giá bằng sức mạnh quân sự thuần túy, mà bao giờ cũng được đặt trong mối quan hệ với sức mạnh tổng hợp của quốc gia đó. Đối với Việt Nam, sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện; sức mạnh tổng hợp của quốc gia - dân tộc bao gồm: sức mạnh vật chất và tinh thần, sức mạnh của truyền thống và hiện đại, sức mạnh cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại bắt nguồn từ sức mạnh của con người Việt Nam không ngừng được nâng cao, thế và lực của đất nước được nâng lên một tầm cao mới. Chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững và tăng cường, ngày càng phát huy tính ưu việt, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng được giữ vững và phát huy. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Nhờ đó, tạo ra vận hội mới, tạo bệ phóng vững chắc để đưa nước ta vươn lên những đỉnh cao mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

          Như vậy, trên bình diện sức mạnh quân sự, cũng như trên bình diện sức mạnh tổng hợp của quốc gia, sức mạnh của Việt Nam không phải là “quá yếu” và “lạc hậu” như những kẻ ác ý, hay yếu bóng vía rêu rao. Trái lại, chúng ta hoàn toàn có đủ cơ sở để khẳng định và tin tưởng vào sức mạnh của đất nước và kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống, mà không nhất thiết phải liên minh quân sự với nước ngoài.

          Bốn là, thành công của Việt Nam trong giữ vững chủ quyền, độc lập, bảo vệ lợi ích của quốc gia - dân tộc những năm qua chính là thành công của xây dựng nền quốc phòng, an ninh độc lập, tự chủ, tự cường; và thực hiện thắng lợi đường lối “đa dạng hóa, đa phương hóa” quan hệ đối ngoại. Lịch sử chiến tranh của Việt Nam đã khẳng định, chính việc phát huy sức mạnh nội lực, tự lực, tự cường mới là yếu tố quyết định tạo ra nguồn sức mạnh to lớn nhất, vững chắc nhất để bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược và tay sai trong thế kỷ XX đã khẳng định: nhân dân ta giành được thắng lợi to lớn chính là nhờ thực hiện đường lối quân sự độc lập, tự chủ, gắn liền với sự lãnh đạo sáng suốt, tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh và lực lượng vũ trang. Ngày nay, việc xây dựng nền quốc phòng, an ninh độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường kết hợp với mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh là bảo đảm vững chắc cho bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc. Từ thực tiễn đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Chúng ta bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Trong đó, sức mạnh bên trong của đất nước, của chế độ chính trị, nền kinh tế và tiềm lực quốc gia là nhân tố quyết định”.

          Cùng với đó, thực hiện đường lối dối ngoại “đa phương hóa, đa dạng hóa, đến nay, Việt Nam thiết lập quan hệ đối ngoại quốc phòng với trên 80 quốc gia và vùng lãnh thổ; đặt văn phòng tùy viên quân sự tại Liên hợp quốc và 37 quốc gia khác; có 49 quốc gia đặt văn phòng tùy viên quân sự tại Việt Nam. Quan hệ hợp tác quốc phòng được nhiều nước đối tác coi là một trong những trụ cột quan trọng trong quan hệ hợp tác với Việt Nam. Qua đó, góp phần tăng cường đoàn kết quốc tế; củng cố và phát triển tiềm lực quốc phòng, an ninh ngày càng vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

          Như vậy, chủ trương không tham gia liên minh quân sự là đúng đắn và phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay khi hòa bình, hợp tác, phát triển đang là xu thế chủ đạo và chủ trương đối ngoại của Việt Nam là đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn tốt, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Thực hiện chủ trương này là cơ sở để chúng ta tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay./.

 

Cảnh giác trước trò lôi kéo của tà đạo “Thanh Hải vô thượng sư”


          Với giáo lý mê tín, pha tạp của nhiều tôn giáo, "Thanh Hải vô thượng sư" đang tích cực lôi kéo người xuất cảnh tham gia các hoạt động ở nước ngoài, đồng thời tăng cường tuyển chọn, phát triển đội ngũ cốt cán ở trong nước từ những Việt kiều về nước thăm thân nhân, giới văn nghệ sĩ, doanh nhân, tìm cách tiếp cận công chức, viên chức các cấp, giới truyền thông, chức sắc, chức việc một số tổ chức tôn giáo, sinh viên,... để giới thiệu, quảng bá, vận động ủng hộ cho tổ chức.

          Ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền con người, quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp quy định và luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, ban hành nhiều chính sách để công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện. Tuy nhiên, thời gian gần đây, ngày càng có nhiều nhóm bất hợp pháp lợi dụng danh nghĩa tôn giáo hoặc lợi dụng những yếu tố tín ngưỡng, tâm linh để hoạt động như “Thanh Hải vô thượng sư”.

          Tổ chức bất hợp pháp này không được công nhận về mặt pháp lý tại Việt Nam, không được chính quyền cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, đăng ký hoạt động tôn giáo, công nhận tổ chức tôn giáo… nhưng vẫn cố tình thực hiện các hoạt động tuyên truyền trái pháp luật, lôi kéo người tham gia nhằm gây ảnh hưởng tiêu cực tới xã hội và chống phá nhà nước.

          “Thanh Hải vô thượng sư” còn có tên gọi là "Đạo tràng Tây Hồ", "Hội thiền định Suma Ching Hai", "Hội thiền định quốc tế Thanh Hải vô thượng sư", "Hội quốc tế Thanh Hải vô thượng sư", "Hội quốc tế thánh thiện Thanh Hải vô thượng sư" do Đặng Thị Trinh – pháp hiệu "Thanh Hải" (sinh ngày 12-5-1948 tại Đức Phổ, Quảng Ngãi) lập ra năm 1989 tại Đài Loan. Trụ sở chính đặt tại thành phố El Monte, Nam California, Mỹ. Từ năm 1990 "Thanh Hải vô thượng sư" đã tìm mọi cách để thâm nhập vào Việt Nam. Quá trình lôi kéo người tham gia, Thanh Hải có lồng ghép tuyên truyền tư tưởng phản động, chống phá Đảng, chống chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

          "Thanh Hải vô thượng sư" không có giáo lý chính thống mà tiếp thu giáo lý Phật giáo và đạo Sikh. Những người theo "Thanh Hải vô thượng sư" phải ăn chay trường, thực hiện ngũ giới cấm, không thờ ông bà tổ tiên… “Thanh Hải vô thượng sư” thường hướng đến hoạt động tu thiền, từ thiện xã hội, lôi kéo người có vị trí, ảnh hưởng lớn trong xã hội tham gia...

          Thời gian gần đây, "Thanh Hải vô thượng sư" lợi dụng dưới nhiều hình thức để hoạt động. Cụ thể, “Thanh Hải vô thượng sư” thông qua hoạt động từ thiện xã hội nhằm quảng bá, khuếch trương hoạt động; vận động, lôi kéo người tham dự “bế quan”, truyền “tâm ấn”, dự lễ tết, ngày kỷ niệm liên quan "Thanh Hải vô thượng sư"; sử dụng truyền hình vệ tinh (kênh truyền hình Vô Thượng sư – SMTV), các trang mạng xã hội (facebook, zalo...) cung cấp trao đổi thông tin về "Thanh Hải vô thượng sư".

          Những người theo "Thanh Hải vô thượng sư" in sao tài liệu, phát tán trái phép tại những nơi công cộng, tổ chức nhiều chương trình văn hóa văn nghệ, mở nhiều nhà hàng chay và các hoạt động mang danh nghĩa bảo vệ môi trường, "sống xanh"; lợi dụng các vấn đề mang tính thời sự đang được xã hội quan tâm như thiên tai, dịch bệnh… để tổ chức các hoạt động từ thiện, ủng hộ nhằm gây thanh thế.

          Đặc biệt, từ năm 2018, “Thanh Hải vô thượng sư” còn sử dụng chiêu trò lợi dụng các văn nghệ sĩ để thực hiện một số chương trình văn nghệ hoặc giao lưu trực tuyến nhằm khuếch trương thanh thế. Tuy nhiên “chính quyền và lực lượng chức năng các cấp đã tăng cường công tác nắm chắc tình hình, chủ động phát hiện và ngăn chặn, xử lý gần 300 vụ tuyên truyền, tán phát tài liệu, ấn phẩm liên quan đến "Thanh Hải vô thượng sư", truy tố 46 đối tượng, xử phạt vi phạm hành chính gần 400 đối tượng, thu giữ hàng nghìn bộ sách, đĩa, tờ rơi, băng ghi âm, ảnh "Minh sư Thanh Hải" và các công cụ, thiết bị phục vụ việc tuyên truyền trái pháp luật.

          Gần đây, “Thanh Hải vô thượng sư” lại tiếp tục quay trở lại hoạt động trên địa bàn cả nước. Quần chúng nhân dân cần đề cao cảnh giác không nên tin theo, mắc mưu dụ dỗ của Thanh Hải.


 


 

 

Mục tiêu chương trình phòng, chống dịch COVID-19 của chính phủ

 

          Chương trình phòng, chống dịch COVID-19 vừa được Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam ký ban hành tại Nghị quyết số 38/NQ-CP ngày 17/3/2022.


        Chương trình phòng, chống dịch COVID-19 vừa được Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam ký ban hành tại Nghị quyết số 38/NQ-CP ngày 17/3/2022.

          Chương trình này được thực hiện trong thời gian 2 năm 2022-2023.

          Trường hợp dịch bệnh kết thúc sớm hơn hoặc kéo dài sang năm 2024, Bộ Y tế báo cáo Chính phủ xem xét việc tiếp tục thực hiện Chương trình này hoặc sửa đổi, bổ sung kịp thời, phù hợp với tình hình dịch bệnh./.

Bộ Ngoại giao lên tiếng về diễn biến tình hình bảo hộ công dân tại Ukraine

 

          Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng khẳng định, việc bảo đảm an ninh, an toàn về tính mạng của công dân Việt Nam ở Ukraine là mối quan tâm, là ưu tiên cao nhất của Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam.

          Trả lời báo chí trong buổi họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao chiều ngày 17/3, Người phát ngôn Lê Thị Thu Hằng cho biết, ngay khi xuất hiện diễn biến căng thẳng về tình hình Ukraine, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Công điện số 201/CĐ-TTg ngày 26/2/2022 về việc bảo hộ công dân, pháp nhân Việt Nam và một số vấn đề cần lưu ý ở Ukraine.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng

          Trong thời gian vừa qua, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn cũng đã có các cuộc điện đàm với Bộ trưởng Ngoại giao Nga, Ukraine, Romania và trao thư gửi đến Bộ trưởng Ngoại giao Ba Lan, tiếp các đại sứ các nước có liên quan tại Việt Nam đề nghị hỗ trợ bảo đảm tối đa an ninh, an toàn cho công dân Việt Nam và gia đình cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho công dân Việt Nam và gia đình sơ tán, tạo điều kiện thực hiện các chuyến bay sơ tán đưa người dân về nước.

          Trong bối cảnh tình hình diễn biến hết sức nhanh và phức tạp, các bộ, ngành và các cơ quan đại diện tại địa bàn đã hết sức nỗ lực khẩn trương tổ chức các chuyến bay sơ tán đưa người Việt Nam và gia đình về nước, hỗ trợ các vấn đề phát sinh, vướng mắc cho bà con hoàn thành sớm nhất các thủ tục cần thiết để đưa bà con về nước, đảm bảo công khai, minh bạch, ưu tiên các đối tượng người già, phụ nữ mang thai và người bệnh, khuyết tật. Cho đến nay, Việt Nam đã tổ chức 6 chuyến bay đưa khoảng 1.200 người Việt Nam và gia đình có nguyện vọng về nước an toàn.

          "Trên thực tế, trong quá trình triển khai vẫn nảy sinh các tình huống như bà con thay đổi quyết định, lựa chọn hướng di chuyển riêng hoặc là có tâm lý chờ đợi, quay lại Ukraine khi tình hình chiến sự chấm dứt. Một số công dân không có đầy đủ giấy tờ, thất lạc hoặc đã hết hạn giấy tờ cần có sự trợ giúp từ phía các cơ quan đại diện", bà Hằng chia sẻ các khó khăn trong quá trình hỗ trợ đưa công dân về nước.

          Các cơ quan đại diện Việt Nam đã hết sức nỗ lực, phối hợp với chính quyền sở tại, các hội đoàn người Việt ở địa phương để khắc phục khó khăn và các vấn đề phát sinh; liên tục cập nhật thông tin, nhanh chóng giải quyết các vấn đề phát sinh, tổ chức sơ tán bà con ra khỏi vùng chiến sự và đưa về nước an toàn.

          Theo bà Lê Thị Thu Hằng, những nỗ lực của các cơ quan chức năng trong nước, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cũng như các hãng hàng không, doanh nghiệp tài trợ đã nhận được sự ủng hộ đồng tình, đánh giá cao của bà con người Việt Nam ở nước ngoài và nhân dân ở trong nước.

NHỮNG CHIÊU TRÒ “NÚP BÓNG” Hiện nay, bằng nhiều phương tiện truyền thông khác nhau, các thế lực thù địch và phản động không ngừng xuyên tạc, rêu rao những luận điệu sai trái về tình hình nhân quyền của Việt Nam. Các đối tượng nhân danh chiêu bài “xã hội dân sự”, “dân chủ nhân quyền”, để lập hội, nhóm với tên gọi “ấn tượng” như: “Diễn đàn xã hội dân sự”, “Hội tù nhân lương tâm”, “Hội phụ nữ nhân quyền”, “Hội Nhà báo độc lập” nhằm lôi kéo càng nhiều quần chúng tham gia càng tốt. Về bản chất của xã hội dân sự, theo C.Mác, “chủ quyền của nhân dân phải trở thành vấn đề trung tâm trong một xã hội dân sự đích thực, làm cơ sở cho một chế độ dân chủ và một nhà nước dân chủ chân chính”. Tổ chức xã hội có thể đóng vai trò tích cực, là người phản biện đối với chủ trương, chính sách của Nhà nước một cách ôn hòa và có trách nhiệm. Tuy nhiên, các đối tượng thù địch, phản động đã và đang lợi dụng danh nghĩa này để tập hợp, lôi kéo quần chúng nhân dân với ý đồ thành lập lực lượng đối trọng với Đảng, Nhà nước Việt Nam. Chiêu bài này của chúng là bề ngoài các tổ chức này đóng vai trò “phản biện xã hội” giúp đưa tiếng nói, ý chí, nguyện vọng của nhân dân vào đóng góp xây dựng đất nước. Nhưng thực chất lợi ích của tổ chức phản động này là hình thành nên tính đa nguyên về tư tưởng, chính kiến để hình thành hoặc chuẩn bị hình thành vào các khuynh hướng tư tưởng chính trị khác nhau, từ đa nguyên về tư tưởng, dẫn tới đa nguyên về chính trị và mục đích cuối cùng là đối lập về tư tưởng chính trị. Chúng lợi dụng các kẽ hở về mặt pháp luật, tập hợp và làm méo mó các vấn đề xã hội như dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để xuyên tạc và âm mưu hình thành các tổ chức chính trị đối lập tại Việt Nam. Thông qua các hội nhóm này, chúng huấn luyện, tẩy não cho thành viên để kích động họ viết đơn kiến nghị, đòi thành lập đảng chính trị đối lập, thậm chí đòi khởi kiện, vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta vi phạm các điều ước quốc tế về quyền dân sự. Ngoài ra, các thế lực thù địch không ngừng chống phá, không ngại bịa đặt, dựng chuyện. Chúng quan niệm “nói càng nhiều sẽ càng tin”, nên trên mạng xã hội liên tục kích động nhân dân bằng các bài viết xuyên tạc với tần suất và liều lượng ngày càng lớn. Khi các thông tin chống phá của chúng bị vạch mặt, bóc trần sự thật, chúng lập tức vu cáo ta “độc đoán”, đàn áp tự do báo chí, che giấu thông tin, hoặc tiếp tục bẻ lái, kích động dư luận chống đối, đi ngược lại quan điểm, chính sách, quy định của Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng. Hiện nay, nổi lên là việc một số hội nhóm, tổ chức được sự hỗ trợ của các thế lực, tổ chức phản động nước ngoài, tiến hành các hoạt động xuất bản ấn phẩm báo chí, tài liệu, băng hình đòi xét lại các vấn đề lịch sử, một mặt nhằm “rửa tội” cho bè lũ tay sai, bán nước, một mặt dọn đường dư luận để tiếp tục đưa ra luận điệu phủ nhận vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước hiện nay. Để hạn chế việc các thế lực thù địch lợi dụng mạng xã hội để bịa đặt những thông tin sai sự thật gây hoang mang dư luận, hướng quần chúng nhân dân theo hướng tiêu cực, cần phải nâng cao nhận thức của người sử dụng mạng xã hội. Bằng việc phải làm rõ những luận điểm sai trái của thế lực thù địch, phân loại các đối tượng đang chống phá, cách thức tiến hành đấu tranh, chú trọng hóa giải rốt ráo các quan điểm sai trái, thù địch về quyền con người cũng như phổ biến những thông tin đúng đắn, định hướng dư luận xã hội, xác định bản chất và bẻ cong những luận điểm sai trái, thù địch về quyền con người. Đấu tranh về tư tưởng chính trị, pháp lý giữa hai loại hình giá trị tư tưởng XHCN và tư sản về dân chủ và nhân quyền: Đặc điểm này cho thấy, đấu tranh trên lĩnh vực nhân quyền không có giới tuyến địch - ta rõ ràng, mà nằm ngay trong nhận thức của mỗi người và mỗi tổ chức. Vì thế nhân dân, trước tiên là mỗi cán bộ, đảng viên, đều là chủ thể đấu tranh với các thế lực thù địch về nhân quyền./.