Hiện nay, thế giới đang chứng kiến nhiều sự thay đổi sâu sắc. “Do tác động của đại dịch
COVID-19, thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng nhiều mặt. Cuộc Cách mạng
công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến
cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Các nước điều chỉnh chiến lược và
phương thức phát triển nhằm thích ứng với tình hình mới”(2). Cạnh tranh chiến lược
giữa các nước lớn tiếp tục diễn biến phức tạp, dưới nhiều hình thức mới, phức tạp và
quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc
tế. Hợp tác, cạnh tranh, sự va chạm, cọ xát, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa
các nước, các trung tâm quyền lực ngày càng gia tăng. Trong cách thức tiến hành, các
nước lớn coi trọng sử dụng “quyền lực thông minh”, kết hợp giữa “quyền lực cứng”
(chỉ huy, cưỡng bức, định đoạt dựa trên sức mạnh kinh tế, quân sự) với “quyền lực
mềm” (khả năng thuyết phục, thu hút, tạo ảnh hưởng dựa trên sự hấp dẫn của giá trị)
một cách uyển chuyển, khôn khéo. Trong bối cảnh quốc tế và các khu vực diễn biến
phức tạp, khôn lường đó, để thực hiện mưu đồ của mình, các thế lực thù địch tiếp tục
điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” dưới một bộ mặt mới, ngày càng bộc lộ rõ
sự tinh vi, xảo quyệt và vô cùng thâm độc.
Bộ mặt mới của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay
Thứ nhất, chủ thể và lực lượng tiến hành “diễn biến hòa bình” trong bối cảnh mới rất đa
dạng, phức tạp, đan xen, không đồng nhất. Nếu như trước kia, chủ thể tiến hành “diễn
biến hòa bình” là chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thì nay, bên cạnh lực
lượng này còn có cả các nước theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi với tư tưởng bành
trướng, bá quyền. Để xác lập vị thế vượt trội hoặc tranh giành lợi ích, ảnh hưởng
trong trật tự thế giới mới, một số nước lớn thâu tóm hoạt động của các tổ chức, diễn
đàn quốc tế, khu vực để lôi kéo, khống chế các nước khác vào vòng kiềm tỏa của
mình. Trong một số trường hợp cụ thể, có những nước bất chấp luật pháp quốc tế,
trắng trợn xâm phạm chủ quyền, can thiệp sâu vào nội bộ các nước khác bằng các
biện pháp tổng hợp nhằm thay đổi bộ máy chính quyền hoặc lật đổ chế độ chính trị
nước khác theo hướng có lợi cho mình. Với chủ thể được mở rộng, lực lượng tiến
hành sẽ là “đại quân công chúng” ngay trong nội bộ đối phương. Trước kia, khi thực
hiện “diễn biến hòa bình”, những kẻ chủ mưu, thù địch, hiếu chiến bên ngoài trực tiếp
tiến hành chống phá. Nay, họ chuyển sang hành động “sau bức màn che”, “bí mật giật
dây”, tập trung “nhồi nhét” tư tưởng chống đối, đào tạo, huấn luyện những kẻ “theo
đóm ăn tàn”, nội gián, tay sai một cách khá bài bản, trở thành những “kỹ sư lành
nghề” lật đổ chế độ chính trị ngay trong nội bộ đối phương. Từ đó, họ ngụy biện rằng,
nguyên nhân sụp đổ chế độ chính trị do sự tự thân vận động bên trong chứ không phải
do sự chống phá từ bên ngoài (?!). Họ móc nối với những đối tượng cơ hội chính trị,
thoái hóa, biến chất nhen nhóm thành các tổ chức chính trị đối lập hoạt động công
khai, được “ngụy trang” dưới danh nghĩa các hội, đoàn, tổ chức xã hội dân sự... và rêu
rao đó là “đại diện của người dân”; tập hợp các phần tử phản động, lưu manh, bất mãn
đội lốt các chức sắc, chức việc, già làng, trưởng nhóm, trưởng hội... chỉ chờ cơ hội là
“ngóc đầu”, “lột xác”; mua chuộc, lừa gạt, ép buộc quần chúng nhẹ dạ tham gia làm
bình phong, lá chắn. Lực lượng này khi bị lôi kéo, kích động hợp thành “đại quân
công chúng” tại chỗ, luôn chịu sự chỉ đạo của các “chuyên gia chống cộng” bên ngoài
và đương nhiên đó hoàn toàn không phải là quần chúng theo đúng nghĩa là lực lượng
cách mạng. Đây là vấn đề hết sức nguy hiểm, nhất là trong trường hợp số đông quần
chúng nhân dân bị mê hoặc, tin theo lời hứa hão huyền bằng các khẩu hiệu lòe bịp, bị
“sập bẫy” giương sẵn của các trung tâm quyền lực, các tổ chức phản động quốc tế
luôn rắp tâm “đục nước béo cò”, tạo cớ can thiệp, chống phá.
Thứ hai, đối tượng chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” được mở rộng và
phương thức tiến hành đã có sự chuyển đổi. “Diễn biến hòa bình” trong tình hình mới
không những nhằm vào các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa, mà
còn chuyển sang chống phá các nước có chế độ chính trị mà chủ thể tiến hành cho là
không phù hợp với lợi ích, giá trị, “khuôn mẫu” của họ. Đó là những nước độc lập, có
chủ quyền nhưng “cứng đầu”, “không cùng quỹ đạo”, không tuân theo sự chỉ huy, chỉ
đạo của họ, không có lợi cho họ trong giải quyết các vấn đề quốc tế. Đặc biệt, trọng
tâm chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các nước có vị trí địa
chính trị - kinh tế - quân sự chiến lược quan trọng, phức tạp, nhạy cảm hoặc ở những
khu vực hội tụ sự cạnh tranh chiến lược, tranh chấp gay gắt về lợi ích, chủ quyền trên
thế giới. Tính đa dạng, phức tạp, đan xen không đồng nhất giữa chủ thể và đối tượng
được thể hiện trong mối quan hệ này, phạm vi này là chủ thể tiến hành, nhưng có thể
trong mối quan hệ khác, phạm vi khác, chủ thể đó lại là đối tượng chống phá.
Phương thức chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm từ bên
ngoài tác động vào bên trong sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong nội bộ đối phương. Nếu như những năm
qua, “diễn biến hòa bình” coi trọng “dính líu để khuếch trương”, “can dự để mở
rộng”, trực tiếp tiếp xúc để thẩm thấu các hành động chống phá từ bên ngoài vào bên
trong nước khác thông qua thủ đoạn đặc trưng như “xóa bỏ cấm vận”, xúc tiến “bình
thường hóa quan hệ”... thì nay đã chuyển sang tìm mọi cách khai thác và khoét sâu
mâu thuẫn nội tại; triệt để lợi dụng những sơ hở, yếu kém trong công tác lãnh đạo,
quản lý, điều hành xã hội của các nước để chống phá. Như đã thành quy luật, mỗi khi
ở các nước là đối tượng chống phá diễn ra các sự kiện chính trị trọng đại, xuất hiện
các “điểm nóng”, các vấn đề xã hội phức tạp, nhạy cảm... thì đó là “cơ hội vàng” để
các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”. Họ sử dụng chính lực
lượng, phương tiện của đối phương; kết hợp công khai với bí mật; thực hiện đánh
ngầm, mềm, sâu, hiểm, tiến công toàn diện, có trọng điểm; thường núp dưới danh
nghĩa “hiến kế”, “chống tham nhũng”, “góp ý kiến xây dựng”... để lũng đoạn đối
phương. Trong đó, lĩnh vực chính trị, tư tưởng được họ xác định là khâu trọng tâm,
đột phá; kinh tế là mũi nhọn; dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là “ngòi nổ”;
ngoại giao để hỗ trợ; quân sự để răn đe, hậu thuẫn. Trong quá trình thực hiện, khi có
điều kiện, thời cơ và cần thiết sẽ kết hợp với bạo loạn lật đổ, gây xung đột, nội chiến,
can thiệp vũ trang, chiến tranh ủy nhiệm... để nhanh chóng đạt được mục tiêu chiến
lược. Cách thức tiến hành rất công phu, bài bản để che đậy tính chất chính trị phản
động, “ru ngủ” tinh thần cảnh giác cách mạng, làm cho đối phương mơ hồ, mất cảnh
giác; mưu toan từng bước tạo sự suy thoái về tư tưởng chính trị, mục ruỗng về bộ
máy, xuất hiện các mầm mống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở từng cá nhân, trong
nội bộ các tổ chức và toàn xã hội và cuối cùng là sự sụp đổ chế độ chính trị giống như
sự vận động “tự thân”, “tất yếu”, “hợp quy luật”.
Thứ ba, mục tiêu và động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có sự dịch
chuyển và mở rộng hơn. Mặc dù mục tiêu cao nhất, suy đến cùng của chiến lược
“diễn biến hòa bình” là lật đổ chế độ chính trị xã hội của các nước “không cùng quỹ
đạo”, nhưng hiện nay, do sự tác động của các mối quan hệ quốc tế phức tạp, đa tầng
nấc, nhiều cấp độ giữa các nước, các tổ chức, sự chế ước của các quy tắc, chế định
quốc tế, khu vực; khi chưa lật đổ được chế độ chính trị thì “diễn biến hòa bình” sẽ
nhằm đến mục tiêu thấp hơn là thay đổi đường lối, chính sách; cài cắm lực lượng thân
cận vào bộ máy cầm quyền; làm phức tạp hóa thành phần lãnh đạo; thay đổi tính chất
quốc gia, dân tộc khác theo hướng phục vụ lợi ích của chủ thể tiến hành. Trong đó,
thay đổi bộ máy cầm quyền nước khác là mục tiêu trọng yếu hiện nay và để làm được
điều này, chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những điều chỉnh mới gắn với “công
nghệ lật đổ” cực kỳ tinh vi, phản động.
Từ sự ra đời của học thuyết chính trị “phản kháng phi bạo lực” (phản kháng hòa
bình)(3), ngay lập tức, các “nhà dân chủ”, “nhà tiến bộ xã hội” phương Tây coi đó là
“bảo bối thần kỳ”, “công cụ hữu hiệu” để lật đổ chính quyền ở nhiều quốc gia trong
không gian hậu Xô-viết thông qua cái gọi là “cách mạng sắc màu” vào những năm
2004 - 2006; sau đó thay đổi chính thể của hàng loạt quốc gia ở khu vực Trung Đông,
Bắc Phi vào năm 2011 với cái tên mĩ miều “Mùa xuân Ả rập”. Đó không có gì khác là
bạo loạn phi vũ trang bắt nguồn từ “diễn biến hòa bình”, là “kỹ năng lật đổ” thời kỳ
hậu Chiến tranh lạnh - một “dị bản” của việc kết hợp “diễn biến hòa bình” với bạo
loạn lật đổ. Và hiện nay, “dị bản” ấy tiếp tục được “hoàn thiện”, phát triển thành một
kịch bản dựng sẵn với “công thức” lật đổ qua các bước: Một là, hình thành các hoạt
động “phản kháng mềm” trong nội bộ đối phương do sự cộng hưởng theo các phương
tiện truyền thông; kích động tâm lý đám đông, tổ chức người dân tụ tập, tuần hành,
biểu tình, “bất tuân dân sự”, đi ngược lại chính sách hiện hành, chống đối chính phủ,
gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo ra các “điểm nóng”, bất
ổn. Hai là, nội công ngoại kích, bên trong thì biểu tình, bạo động; bên ngoài thì tập
hợp đồng minh, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ... đồng loạt gây sức ép
trên tất cả các lĩnh vực buộc chính quyền đương thời phải từ chức, giải tán. Ba là, tạo
cớ để can thiệp, tiến hành bạo loạn trực tiếp lật đổ chính quyền nhưng núp dưới danh
nghĩa “bảo vệ người dân”, “đấu tranh vì tự do, dân chủ”, “vì công lý”... Bốn là, cài
cắm lực lượng đối lập, nhanh chóng tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân, bầu cử; công
khai ủng hộ, công nhận chính quyền mới của lực lượng đối lập chịu sự kiểm soát của
họ. Điểm mấu chốt trong kịch bản này là họ cố tình “bới móc”, lôi ra điểm yếu trong
bộ máy cầm quyền của đối phương; thậm chí không ngần ngại thêm thắt, bịa đặt các
khuyết điểm; sẵn sàng gán tất cả những sai trái, tiêu cực trong xã hội; châm ngòi cho
làn sóng chống đối trong nước và làm cho bộ máy ấy dường như đã biến chất, “lỗi
thời, không phù hợp”, do đó sẽ bị thay thế và đó là “lẽ thường tình” theo đúng quy
luật(?!). Cho nên, một bộ máy cầm quyền thân cận do họ dựng lên nhưng lại được
“hợp pháp hóa” thông qua một cuộc bầu cử theo luật định vô cùng tinh vi và họ luôn
tự hào coi đây là sản phẩm sáng tạo của “công nghệ lật đổ” thông qua biểu tình, đảo
chính bằng mô hình “bạo lực đường phố”. Theo đó, có tới “198 hành động phản
kháng phi bạo lực”(4), nhưng trong đó bao hàm cả các hành động vô nhân đạo, bị
pháp luật nhiều nước nghiêm cấm như làm tiền giả, in sao tài liệu giả, cướp bóc, ám
sát, khủng bố... chứ không hoàn toàn phi bạo lực và không loại trừ sau đó sẽ lan rộng,
bùng phát thành một kiểu dạng “chiến tranh lai ghép”(5) mới.
Từ sự mở rộng về mục tiêu làm cho động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa
bình” trong sự dịch chuyển và cạnh tranh quyền lực cũng có sự mở rộng và thay đổi
theo. Nếu như “diễn biến hòa bình” trước đây chủ yếu là đấu tranh ý thức hệ chính trị
giai cấp; đấu tranh giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; thì hiện
nay nó đã được mở rộng và chuyển sang cả “đấu tranh” vì lợi ích dân tộc cục bộ, hẹp
hòi; cạnh tranh chiến lược để xác lập vị thế ảnh hưởng.
Thứ tư, đối với biện pháp tiến hành “diễn biến hòa bình” hiện nay, các thế lực thù địch
sử dụng “công cụ mềm”, “quyền lực thông minh” thay cho chính sách “cây gậy và củ
cà rốt” kém hiệu quả trước đây. Đây là những biện pháp mới, rất linh hoạt, mang tính
tổng hợp trên các phương diện và nảy sinh trong xu thế các nước thay đổi cách thức
sử dụng quyền lực và sự trỗi dậy của trào lưu dân túy, xu hướng bảo hộ thương mại
trong quan hệ quốc tế. Thực hiện tiến công toàn diện, có trọng điểm song “diễn biến
hòa bình” ngày càng coi trọng các “công cụ mềm” và “quyền lực thông minh” nhằm
vào các lĩnh vực chính trị tư tưởng, kinh tế, văn hóa - xã hội, ngoại giao, nhất là vấn
đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để từng bước chuyển hóa đối phương, giành
“chiến thắng mà không cần chiến tranh”. Trọng tâm ở bên trong các nước thì họ tìm
mọi cách khoét sâu mâu thuẫn, phân hóa nội bộ, tạo ra những “khoảng trống” quyền
lực, đẩy đối phương vào vòng bất ổn. Bên ngoài, vẫn hỗ trợ bằng việc tạo áp lực, tăng
cường lôi kéo, khống chế, từng bước gây ảnh hưởng có lợi cho họ. Cách thức tiến
hành rất tinh vi, khó nhận diện; có lúc dụ dỗ, mua chuộc bằng vật chất; lúc thì núp
dưới danh nghĩa hoạt động từ thiện, nhân đạo; có khi kêu gọi mở rộng tự do, dân chủ,
nhân quyền, thúc đẩy quan hệ đối tác; đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối
lập; nhiều khi lại ngấm ngầm thao túng, khống chế về tài chính, từng bước ép buộc
đối phương lệ thuộc về chính trị. Chiến lược chống phá từ từ, dần dần theo cách “mưa
dầm thấm lâu”. Phương châm hành động mềm dẻo, linh hoạt, “đối thoại thay đối
đầu”, “bắt tay thay súng đạn”, không phô trương rầm rộ, nhìn hình thức biểu hiện bên
ngoài ít khốc liệt, không tàn phá như chiến tranh vũ lực; thậm chí có vẻ “gần gũi”,
“thân thiện” trong một “thế giới phẳng” nhưng bản chất thì đang âm thầm đẩy đối
phương xuống đáy “vũng lầy” của sự khủng hoảng và dẫn đến đổ vỡ ngay từ bên
trong.
Thứ năm, về công cụ mới để thực hiện “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch coi
trọng sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông. Trước sự bùng nổ của cuộc
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong kỷ nguyên thông tin của thời đại toàn cầu
hóa và với quan điểm “một đài phát thanh cũng có thể bình định được một nước, một
đô la chi cho tuyên truyền có hiệu quả hơn năm đô la chi cho quân sự” nên thứ “vũ
khí” hữu hiệu được các thế lực thù địch coi trọng sử dụng trong chiến lược “diễn biến
hòa bình” hiện nay là các phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí, xuất bản, nhất
là các phương tiện có chương trình tiếng Việt để thực hiện bôi nhọ, vu cáo, đả kích
Việt Nam(6). Trong đó, họ ngày càng coi trọng các trang mạng xã hội, internet - một
phương tiện truyền thông có tốc độ nhanh, sức lan tỏa mạnh đối với công chúng. Thực
tế ở nước ta gần đây đã xuất hiện khá nhiều các website, blog, phát tán quan điểm trái
chiều, xuyên tạc. Với cách thức tiến hành khá công phu, tinh xảo; dựa vào một số sự
kiện đã diễn ra, họ nhào nặn bằng các chi tiết “sặc mùi” chính trị phản động; thêm bớt
những “số liệu” không thể kiểm chứng, kèm theo trích dẫn “kim, cổ, đông, tây”, giả
danh khoa học; sử dụng công nghệ chèn các tư liệu, hình ảnh đã bị cắt ghép, chỉnh
sửa, “live stream”... tạo ra những sự kiện “giật gân”, thông tin “câu khách”, gợi trí tò
mò của dư luận; cố tình đổi trắng thay đen, biến không thành có, rồi suy diễn, bình
luận theo kiểu làm “sáng tỏ vấn đề”. Tần suất các luận điệu thâm độc đó ngày càng
gia tăng cả về lưu lượng, cấp độ, mật độ; thực hiện “bôi nhiều sẽ bẩn”, “nói lắm phải
tin”, tung “hỏa mù” nhằm gây tâm lý hoài nghi, dao động trong xã hội; từng bước
hướng cộng đồng đến những suy nghĩ lệch lạc, dẫn đến “tự diễn biến”, dần xuất hiện
những hành vi “lệch chuẩn” và rơi vào “tự chuyển hóa” lúc nào không hay.