Theo thông tin từ Phòng An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm công nghệ cao Công an tỉnh Bắc Giang, thời gian gần đây, trên địa bàn tỉnh xuất hiện hành vi lừa đảo qua mạng mới. Đối tượng lừa đảo lấy hình ảnh đại diện từ Zalo, Facebook của các đồng chí lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo các sở, ban, ngành tỉnh và địa phương để lập tài khoản Zalo, Facebook mạo danh.
Thứ Hai, 21 tháng 3, 2022
Cẩn trọng điều trị F0 theo "thầy lang mạng"
Do đặc tính của biến thể Omicron, đặc biệt là nhờ độ bao phủ vắc-xin cao, cho nên hiện nay số ca mắc Covid-19 chuyển nặng phải nhập viện và tử vong vẫn ở trong tầm kiểm soát.
Tăng cường đối tác chiến lược với Malaysia
Chiều 21/3, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tiếp Ngài Dato’ Sri Ismail Sabri bin Yaakob, Thủ tướng Chính phủ Malaysia, đến chào trong thời gian thăm chính thức tại Việt Nam.
THẦY THUỐC TRẺ CẦN TIẾP TỤC RÈN ĐỨC, LUYỆN TÀI
Chiều 21/3, tại Nhà Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã gặp mặt Đoàn đại biểu Thầy thuốc trẻ Việt Nam tiêu biểu năm 2021.
Tăng cường quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam-Malaysia
Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Phạm Minh Chính, Thủ tướng Malaysia Dato’ Sri Ismail Sabri bin Yaacob thăm chính thức Việt Nam từ ngày 20 đến 22/3/2022. Chuyến thăm thể hiện cam kết mạnh mẽ của hai bên trong việc củng cố mối quan hệ hữu nghị hợp tác lâu dài và Đối tác chiến lược, cùng hướng tới phục hồi bền vững trong giai đoạn hậu đại dịch Covid-19.
NGÀY NÀY NĂM XƯA: MỞ MÀN CHIẾN DỊCH HUẾ - ĐÀ NẴNG NĂM 1975!
AI ĐỨNG ĐẰNG SAU CUỘC NỘI CHIẾN Ở UKRAINA.
Sinh ra để thương yêu nhau, không phải để mãi hận thù
Cuối tháng 6/2007, trên cương vị Chủ tịch Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam – ông Nguyễn Minh Triết sang thăm Hoa Kỳ. Đây là lần đầu tiên một nguyên thủ Việt Nam sang thăm Mỹ sau khi Mỹ và Việt Nam chính thức nối lại bang giao.
Thời điểm đó, chuyện hoà giải và hoà hợp giữa Việt Nam và Mỹ, và giữa những người Việt của 2 bên chiến tuyến sau bao nhiêu năm kể từ ngày miền Nam giải phóng vẫn còn nhiều gian nan, trắc trở. Trước chuyến đi, Ông biết lành ít, dữ nhiều chuẩn bị ứng phó cho những tình huống xấu nhất.
Vừa đặt chân đến Mỹ, Ông gặp bà Nancy Pelosi - Chủ tịch Hạ viện Mỹ. Chưa kịp ngồi, bà Pelosi đã tuôn sa sả: “Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Mỹ nhưng Việt Nam cứ vi phạm dân chủ, vi phạm nhân quyền, làm những việc sai trái, Mỹ không thể chấp nhận...”
Nhìn thẳng vô mắt bà Pelosi, Ông đáp nhỏ nhẹ: “Thưa bà, nếu nói về dân chủ, nhân quyền, Mỹ không đủ tư cách nói chuyện với Việt Nam đâu". Bà Pelosi sửng sốt: "Thế là thế nào ?, Ông dõng dạc nói tiếp: “Ngày trước, Mỹ mang bom đạn xâm lược Việt Nam, gây bao nhiêu mất mát, đau khổ cho Việt Nam, Việt Nam đã bỏ qua. Hôm nay, Việt Nam đã gác lại quá khứ, hướng đến tương lai. Còn hiện tại, Mỹ vẫn còn có quân ở Iraq, Afghanistan, ở nhiều nơi khác trên thế giới. Bom đạn vẫn còn nổ, máu vẫn còn đổ, người vẫn còn chết... Mỹ cũng vi phạm dân chủ nhân quyền". Bà Pelosi im lặng. Hôm sau, Ông gặp Tổng thống Mỹ G.Bush, ông Bush không đả động gì đến chuyện dân chủ, nhân quyền nữa, vui vẻ nhận cây đàn bầu Việt Nam do Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết trao tặng. Sau này các cuộc tiếp kiến của Ông với các quan chức Mỹ đều êm xuôi. Họ tiếp đoàn Việt Nam rất nồng hậu.
Khó khăn nhất trong chuyến thăm Mỹ là buổi gặp gỡ, đối thoại của Ông với hơn 1.000 người là Việt kiều ngay tại quận Cam bang California - thủ phủ "chống cộng” khét tiếng lúc đó. Trước những phần tử gây rối, làm những chuyện không hay Ông vẫn điềm tĩnh nói với họ bằng tất cả trái tim của mình: “Bà con chính là máu thịt của Việt Nam. Chúng ta đều là con Rồng - cháu Tiên, cùng một dòng dõi... Đối với Mỹ, trước đây là kẻ thù không đội trời chung nhưng giờ đây mình còn gác lại quá khứ, hướng đến tương lai huống hồ người Việt Nam máu đỏ, da vàng, cùng chung dòng giống Âu Cơ, Lạc Hồng, mà lại đi đánh nhau, đi phá nhau à? Hãy cùng nhau xây dựng. Mẹ Việt Nam bao giờ cũng mở rộng cánh cửa chào đón bà con...”
Cả hội trường trầm lắng lại, không còn tiếng la ó. Ông nhìn xuống bà con: “Ở đời sinh ra phải làm gì? Chúng ta sinh ra không phải để mãi hận thù, để đánh nhau, mà sinh ra để thương yêu nhau, để cùng xây dựng đất nước phồn vinh hơn, cùng xây dựng một thế giới công bằng, ấm no, hạnh phúc chứ tối ngày cứ cãi vã nhau, đánh nhau để làm gì?".
Vừa kết thúc bài phát biểu, ông Nguyễn Cao Kỳ nguyên Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa trước năm 1975 bước lên bắt tay Ông: “Ông nói hay quá. Từ trước tới giờ, tôi chưa phục ai hết nhưng nay tôi phục ông. Tôi tưởng rằng Ngài Chủ tịch Nước phát biểu bằng một bài diễn văn được viết sẵn. Không ngờ hôm nay, Ngài Chủ tịch Nước lại nói bằng trái tim, cho nên những lời lẽ, tình cảm đó là quá đủ rồi. Tôi mong bà con của mình hãy cùng nhau trở về, tận mắt xem Việt Nam đang xây dựng, đang phát triển như thế nào. Cái gì mình cần góp sức được cho đất nước thì mình góp sức". Kể từ ngày đó, kiều bào về nước ngày càng nhiều hơn, với bà con không ở đâu tự do, hạnh phúc bằng chính quê hương, Tổ quốc mình.
Từ đất nước Ukraine, nghĩ về Việt Nam. Đúng như Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã từng nói: “Quốc gia nào khắc phục được mâu thuẫn nội tại sẽ tạo ra sức mạnh nội lực. Nơi nào mà dân tộc chia rẽ, đối địch nhau thì dù tài nguyên quốc gia có phong phú đến đâu, dân số đông đúc đến đâu cũng không thể tạo ra sức mạnh, không thể vững vàng”./.
BIẾN TƯỚNG CỦA PHÁP LUÂN CÔNG
Pháp Luân Công được biết đến là một tổ chức do Lý Hồng Chí sáng lập năm 1992, tại thành phố Trường Xuân, Trung Quốc. Nhìn bề ngoài thì hoạt động của Pháp Luân Công là tập các bài khí công dưỡng sinh, nhưng phần lớn các thành viên (đệ tử) của Pháp Luân Công tại Việt Nam cũng như trên thế giới không ý thức được mình đã và đang bị lôi kéo, cuốn vào một cuộc đấu tranh chính trị khi mà mục tiêu, lý tưởng của Pháp Luân Công là chống lại Chủ nghĩa Cộng sản.
CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI TÂY NAM
Tính từ khi quân Pol Pot gây hấn biên giới Việt Nam cho đến ngày sự thật được phơi bày khi những kẻ cầm đầu Khmer đỏ bị xét xử là hơn 30 năm (1975 – 2006).
TÌNH HÌNH ĐIỀU HÀNH GIÁ XĂNG DẦU CỦA
CHÍNH PHỦ HIỆN NAY ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ
HIỆN HÀNH
Để đánh giá tác động của cú sốc giá xăng dầu đến các ngành kinh tế của Việt Nam bài viết đã căn cứ vào lý thuyết cơ bản về kinh tế học vi mô như sau:Kinh tế học vi mô tập trung nghiên cứu một số nội dung quan trọng như: Cung - cầu, cạnh tranh, độc quyền, cung - cầu về lao động, sản xuất, chi phí, lợi nhuận, quyết định cung cấp, hạn chế của thị trường và sự can thiệp của chính phủ…Khi nghiên cứu về tình hình xăng dầu dưới góc độ cầu trên các yếu tố: Thu nhập; thị hiếu; giá cả của các hàng hoá liên quan (hàng hoá bổ sung và hàng hoá thay thế); số lượng người tiêu dùng; các kỳ vọng. Nghiên cứu về tình hình xăng dầu dưới góc độ cung trên các yếu tố: Công nghệ; giá các yếu tố đầu vào; chính sách thuế; số lượng nhà sản xuất; các kỳ vọng. Chúng ta có thể xác định:Trong tổng cầu về xăng dầu của Việt Nam thời gian qua, tiêu dùng trung gian của các ngành kinh tế chiếm đến 93,7%, trong khi tiêu dùng cuối cùng của các hộ gia đình chiếm 5,8%, còn xuất khẩu chỉ chiếm 0,3%. Do đó, giá xăng dầu biến động (tăng, giảm) sẽ tác động trực tiếp đến các ngành kinh tế, đặc biệt là các ngành sử dụng nhiều xăng dầu làm đầu vào trong quá trình sản xuất.Những ngành sử dụng nhiều xăng dầu bao gồm: Vận tải (sử dụng 22% tổng giá trị xăng dầu), sản xuất sản phẩm dầu mỏ (18,7%), thủy sản (12% ), xây dựng (8%), khách sạn nhà hàng (7%), khai thác than (5%).%). Những ngành này sẽ nhận được tác động trực tiếp, tiêu cực từ việc tăng giá xăng dầu. Còn đối với những ngành sử dụng ít xăng dầu như dệt may, giày da, luyện kim, máy móc thiết bị, sản xuất các sản phẩm hoá chất khác,... thì sẽ không chịu tác động trực tiếp của cú sốc tăng giá xăng dầu.Trong các ngành sử dụng nhiều xăng dầu như đã liệt kê ở trên, bao gồm: Vận tải, sản xuất sản phẩm dầu mỏ, thủy sản, xây dựng, khách sạn nhà hàng, khai thác than, thì không phải tất cả các ngành trên đều có chi phí cho xăng dầu lớn. Những ngành vừa có chi phí sử dụng xăng dầu nhiều trong cơ cấu gía trị sản xuất vừa dùng nhiều xăng dầu sẽ chịu ảnh hưởng lớn nhất.Ta thấy ngoại trừ ngành sản xuất các sản phẩm dầu mỏ ra thì tất cả các ngành sử dụng nhiều xăng dầu đã liệt kê ở trên đều nhận được tác động tiêu cực từ cú sốc tăng giá xăng dầu. Ngoài ra, đối với ngành sản xuất các sản phẩm dầu mỏ, tuy được kỳ vọng sẽ nhận được ảnh hưởng tích cực nhưng kết quả chạy theo mô hình lại cho thấy điều ngược lại. Đó là do nước ta nhập khẩu lượng xăng dầu thành phẩm từ nước ngoài (53,8%) lớn hơn xăng dầu sản xuất nội địa (46,2%). Đồng thời, việc tăng giá xăng dầu cũng làm cho nhập khẩu xăng dầu tăng lên một cách bất thường, điều này gây sức ép lên thị trường xăng dầu trong nước, dẫn tới thu hẹp quy mô sản xuất và sản lượng đầu ra giảm.Khi giá xăng dầu tăng, các ngành thuỷ sản, khai thác than, xây dựng và vận tải giá trị nhập khẩu của các ngành trồng trọt, may, giày sản xuất các sản phẩm từ dầu và máy móc thiết lại tăng giá trị nhập khẩu. Bên cạnh đó, các ngành thuỷ sản, khai thác than, dầu thô và vận tải đều tăng giá trị xuất khẩu.Khi giá xăng dầu tăng lên sẽ tác động trực tiếp và tiêu cực đến các nhóm hộ gia đình (nhóm có thu nhập cao nhất) là nhóm sử dụng xăng dầu nhiều nhất (chiếm 32.95% trong cơ cấu xăng dầu dành cho tiêu dùng cuối cùng của toàn nền kinh tế).
NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN GIÁ XĂNG DẦU VIỆT
NAM TỪ THÁNG 01 NĂM 2021 ĐẾN NAY
Thời
gian vừa qua, những biến động của thị trường thế giới, nhất là các động thái hoạt
động quân sự của Nga và các nước Châu Âu, Mỹ… đã ảnh hưởng trực tiếp tới thị
trường xăng dầu trong nước, dẫn tới giá cả xăng dầu trên thị trường Việt Nam có
nhiều biến động không ngừng. Cụ thể: giá
xăng đã giảm 4 lần, giữ ổn định 3 lần, tăng 20 lần. Dưới góc độ
của kinh tế học vi mô, chúng ta có thể nhìn nhận giá xăng dầu tăng trong thời
gian qua do một số yếu tố sau đâu:
Một là, biến động của giá
dầu thô thế giới, xăng
dầu một trong những phẩm được chế biến dầu qua quá trình lọc dầu. Do đó, khi
giá dầu thô biến động, lập tức ảnh hưởng tới thị trường xăng dầu toàn thế giới,
và thị trường xăng Việt Nam cũng không phải ngoại lệ. Có thể nói, biến động của
thế giới là nguyên nhân quan trọng nhất gây nên sự bất ổn giá cả trên thị trường
xăng dầu. Từ tháng 01 năm 2021 cho tới nay, giá dầu thô thế giới chứa đựng nhiều
bất ổn và thay đổi liên tục, nhưng xu hướng chung của giai đoạn vẫn tăng liên tục.
Giá xăng dầu thành phẩm thế giới tăng giảm đan
xen nhưng xu hướng chung là tăng khá cao nhất là đối với các mặt hàng xăng. Giá
bình quân các sản phẩm xăng dầu thế giới trong 15 ngày trước kỳ điều hành giá
xăng dầu ngày 12/7/2021 cụ thể như sau: 83,146 USD/thùng xăng RON92 dùng để
pha chế xăng E5RON92 (tăng 3,341 USD/thùng, tương đương tăng 4,19% so với kỳ
trước); 85,223 USD/thùng xăng RON95 (tăng 3,956 USD/thùng, tương đương tăng
4,87% so với kỳ trước); 78,326 USD/thùng dầu diesel 0.05S (tăng 0,692
USD/thùng, tương đương tăng 0,89% so với kỳ trước); 77,355 USD/thùng dầu
hỏa (tăng 0,597 USD/thùng, tương đương tăng 0,78% so với kỳ trước); 422,216
USD/tấn dầu mazut 180CST 3.5S (tăng 7,184 USD/tấn, tương đương tăng 1,73% so
với kỳ trước). Tính tới
đầu năm 2022, giá dầu thô giao động quanh mức 90- 120 USD/ thùng, tăng đến khoảng
40% so với giá dầu thô đầu năm 2019. Sau ngày 24/2 giá 139 USD/ 01 thùng đến 15
tháng 3 là 90 USD.
Hai là, tác động từ thuế, phí và quỹ bình ổn
Về chính sách thuế phí, hiện nay cách
tính thuế phí trong mặt hàng xăng dầu còn rất nhiều bất cập, 1 lít xăng dầu của
Việt Nam phải cõng quá nhiều thuế phí. Điều này thực sự không đảm bảo lợi ích
giữa nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng. Từ công thức tính được quy định
trong Nghị định 83/2014/NĐ-CP, ta có thể thấy hiện một lít xăng đang phải áp
các loại thuế phí sau: thuế nhập khẩu (thuế bình quân gia quyền), thuế tiêu thụ
đặc biệt, thuế VAT, thuế bảo vệ môi trường, chi phí định mức, lợi nhuận định mức,
chi quỹ bình ổn. Theo tính toán, thuế nhập khẩu áp trên mỗi lít xăng là 1.275 đồng,
thuế bảo vệ môi trường (3.000 đồng), chi phí định mức (1.050 đồng), lợi nhuận định
mức (300 đồng), quỹ bình ổn giá (300 đồng), thuế tiêu thụ đặc biệt (1.380 đồng),
thuế VAT (1.520 đồng). Như vậy, tổng các loại thuế phí một lít xăng phải gánh đạt
8.825 đồng. Trong khi đó, giá xăng RON 92 bán lẻ ngày 5/10 được Petrolimex niêm
yết ở mức 16.400 đồng. Như vậy, thuế phí chiếm tới 53,8% giá xăng.
Về quỹ bình ổn giá xăng dầu, quỹ này
được hình thành theo quy định tại Nghị định 84/2009/NĐ-CP là 300 đồng/lít (kg)
của lượng xăng dầu thực tế tiêu thụ. Mức trích này cũng sẽ được Bộ Tài chính điều
chỉnh phù hợp với những biến động của thị trường. Quỹ bình ổn giá được hạch
toán vào tài khoản riêng và được sử dụng vào mục đích bình ổn giá, từ đó kiểm
soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì ổn định tăng trưởng và an sinh xã
hội. nghiêm cấm sử dụng vào mục đích khác. Định kỳ hàng quý và theo yêu cầu quản
lý đột xuất các doanh nghiệp phải báo cáo kết quả trích và sử dụng quỹ bình ổn
giá đối với Bộ Tài chính.
Ba là, lượng cung - cầu về xăng dầu trên thị trường chi phối: Khi các ngành tiêu thụ nhiều xăng dầu
gia tăng hoạt động như: vận tải, quốc phòng, quân sự, chiến tranh xả ra mang
tính chất khu vực và toàn cầu sẽ tác động rất lớn đến sự tăng giá.
TẠI SAO PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
THỊ TRƯỜNG XĂNG DẦU CỦA VIỆT NAM TỪ THÁNG 01/2021 CHO ĐẾN NAY?
Từ sau đại dịch Covid-19 có dấu hiệu
phục hồi, các ngành có nhu cầu sử dụng xăng dầu có xu hướng ổn định phát triển,
tình hình an ninh ở Châu Âu có nhiều biến động, nhất là khi Nga mở chiến dịch
quân sự đặc biệt tại Ucraine tính đến thời điểm hiện nay, giá xăng dầu liên tục được điều
chỉnh tăng. Có thời điểm giá xăng tăng lên 27.109 đồng/lít (xăng RON 95), đạt mức
cao nhất trong 8 năm qua. Trên thực tế, thời gian qua giá xăng dầu đã tăng tới
khoảng 40%. Đối với một nước nhập khẩu một lượng xăng dầu thành phẩm lớn (chiếm
hơn 50%) như Việt Nam thì việc giá xăng dầu tăng mang lại rất nhiều tác động đa
chiều. Để phát triển các hoạt động sản xuất, chi phí đầu vào tăng làm tăng giá bán
sản phẩm, giảm sức cạnh tranh của hàng hoá, doanh nghiệp bị ảnh hưởng nhiều hơn
kéo theo giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế và ảnh hưởng thu, chi cho ngân sách từ
thuế giá trị gia tăng, thuế sản xuất...Tuy nhiên, việc tăng giá xăng dầu cũng
mang lại những hiệu quả nhất định đối với nước ta - Một nước có loại tài nguyên
này. Đó là tăng nguồn thu cho ngân sách từ khai thác dầu cùng góp phần tăng thu
GDP….
Có thể nói, giá xăng dầu tăng dần lên từ tháng
01/2021 đến nay đã mang lại cho nước ta những tác động đa chiều. Nhất là trực tiếp ảnh hưởng đến tiêu dùng của toàn thể nhân dân. Tuy nhiên, hiệu
quả đến đâu, cần có những giải pháp nào để bình ổn giá xăng dầu ở Việt Nam hiện
nay là vấn đề cần được phân tích và luận giải rõ hơn.
Tích cực, chủ động nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.
Nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục xây dựng và phát triển quan hệ của Việt Nam đối với khu vực và quốc tế đi vào chiều sâu, thực chất trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy tối đa nội lực, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc; chủ động ngăn ngừa và giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; vì lợi ích quốc gia - dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; không ngừng nâng cao uy tín và vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Điều này thể hiện Việt Nam không chỉ “là bạn, đối tác tin cậy” của các quốc gia, mà còn phải là “một thành viên có trách nhiệm” trong cộng đồng quốc tế.
Chủ động đề xuất sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới, nhằm tạo ra sự thay đổi về chất trong hợp tác quốc tế về pháp luật. Gia tăng sự đan xen gắn kết lợi ích, mức độ tùy thuộc lẫn nhau về mọi mặt, kể cả trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh giữa Việt Nam với các đối tác. Muốn vậy, Việt Nam cần nâng cao sức mạnh tổng hợp của quốc gia, phải có thực lực mạnh thì lợi ích chiến lược của đất nước mới được giữ vững, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Ta có mạnh thì họ mới chịu đếm xỉa đến. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy”. Thực lực của Việt Nam là sức mạnh tổng hợp mọi mặt cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại...; cả “thực lực vật chất” và “thực lực phi vật chất”, “sức mạnh cứng” và “sức mạnh mềm”; kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Thực tiễn cho thấy, các nước lớn luôn giữ vai trò dẫn dắt, định hình cục diện; tuy nhiên, những quốc gia tầm trung, có thực lực đủ mạnh luôn giữ được một vị thế, vai trò nhất định, ở vào một vị thế tốt hơn để bảo vệ độc lập, tự chủ, lợi ích chiến lược của đất nước.
Tích cực và chủ động sử dụng các diễn đàn, cơ chế khu vực do ASEAN giữ vai trò chủ đạo để tạo thuận lợi cho các đối tác tham gia và đóng góp vào việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải và hàng không trên Biển Đông. Tích cực hợp tác cùng các nước, các tổ chức quốc tế trong việc đối phó với những thách thức an ninh phi truyền thống, nhất là tình trạng biến đổi khí hậu; sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế có liên quan về vấn đề dân chủ, nhân quyền; chủ động, kiên quyết đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị - xã hội của Việt Nam. Tham gia các cơ chế hợp tác chính trị, an ninh song phương và đa phương vì lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc. Tích cực tham gia có hiệu quả vào cuộc đấu tranh của nhân dân và các tổ chức, các lực lượng tiến bộ trên thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Nâng cao khả năng thích ứng năng động và linh hoạt xử lý hài hòa lợi ích quốc gia với quan tâm chung, tùy theo từng đối tượng, vấn đề, thời điểm cụ thể, phù hợp với luật pháp quốc tế và các nguyên tắc ứng xử tại khu vực, trên tinh thần lợi ích quốc gia - dân tộc là tối cao.
Giải quyết tốt những vấn đề do lịch sử để lại với các nước láng giềng, làm tốt công tác quản lý biên giới, xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển. Chủ động hóa giải những vấn đề mới nảy sinh một cách có hiệu quả; tuyệt đối không để các thế lực thù địch lợi dụng những vấn đề do lịch sử để lại nhằm kích động hận thù dân tộc, chia rẽ quan hệ hữu nghị giữa các nước, làm cho tình hình quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng trở nên phức tạp, khó lường, đe dọa đến môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực. Thực hiện nghiêm các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, nâng cao năng lực hội nhập và mức độ hưởng lợi từ hội nhập, tiếp tục có những đóng góp xứng đáng vào việc phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường khu vực và quốc tế. Giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ, không lệ thuộc trong quan hệ với các nước, trong đó có các nước lớn. Ngoài ra, yêu cầu bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước đòi hỏi rất cao ý thức trách nhiệm công dân của mọi người dân Việt Nam, ý thức trách nhiệm trước Tổ quốc của các chủ thể, các lực lượng, đặc biệt là những lực lượng trực tiếp tham gia các hoạt động đối ngoại, hợp tác với nước ngoài, trong đó tập trung nâng cao bản lĩnh, phẩm chất, năng lực, phong cách chuyên nghiệp, đổi mới sáng tạo của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế; chú trọng đào tạo, sắp xếp, bố trí hợp lý đội ngũ các chuyên gia tư vấn, xây dựng chiến lược, đường lối, chính sách, pháp luật./.
Thủ đoạn bôi nhọ chính sách bảo hộ công dân Việt Nam tại Ukraine
Chính phủ Việt Nam luôn thực thi chính sách bảo hộ công dân tại nước ngoài với tinh thần “tương thân tương ái” hỗ trợ tối đa để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là các điểm nóng xung đột, chiến tranh như Trung Đông, Bắc Phi và hiện nay là xung đột giữa Nga và Ukraine.
Tuy nhiên, các thế lực thù địch và những thành
phần tự xưng đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền luôn rêu rao các quan điểm sai
lệch về chính sách bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài nhằm gây hoang mang dư
luận, làm suy giảm niềm tin của công dân trong và ngoài nước đối với Đảng, Nhà
nước Việt Nam. Luận điệu này thể hiện trên một số điểm sau:
- Phủ nhận vai trò của các cơ quan đại diện
ngoại giao của Việt Nam tại Nga và Ukraine trong hỗ trợ người dân sơ tán khỏi
vùng chiến sự. Truyền thông hải ngoại như đài RFA, BBC tiếng Việt, VOA,
facebook của tổ chức khủng bố Việt Tân…đã vẽ ra bức tranh quy kết chính quyền
Việt Nam “đứng ngoài lề, dửng dưng với những người dân đang kẹt lại tại khu vực
xung đột Nga – Ukraine”.
RFA ngày 11/3/2022 đăng tải bài viết về thực
trạng người dân Việt Nam tại Ukraine và vu cáo “Không thấy vai trò của toà đại
sứ Việt tại các quốc gia đó ở đâu! Lại cái cảnh “dân giúp dân” như tại Việt Nam
thời COVID-19 hoành hành!”. Qua đó, nội dung bài viết phủ nhận những nỗ lực của
các cơ quan ngoại giao Việt Nam ở Nga và Ukraine trong việc đưa ra các phương
án bảo vệ tài sản, tính mạng, sức khoẻ những người dân và cho rằng, khi chiến
sự nổ ra đã không quan tâm sơ tán người dân. Đây là luận điệu nguy hiểm, đánh
vào tâm lý những người dân đang kẹt lại các điểm nóng và gây hoang mang cho
người dân trong nước về tình hình cộng đồng người Việt tại Ukraine.
- Làm giảm niềm tin của người dân trong nước
đối với hoạt động quản lý của cơ quan chức năng liên quan đến hỗ trợ người dân
tại các quốc gia đang xung đột, chiến tranh. Sau khi vụ án liên quan đến hành
vi nhận hối lộ của một số cá nhân tại Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao được cơ quan
tiến hành tố tụng khởi tố, điều tra, các thế lực thù địch, giới dân chủ tự xưng
đã khoét sâu vào những sai phạm này để quy chụp, bôi nhọ. Nhiều bài viết các
đối tượng vu cáo chính quyền Việt Nam bao che, dung túng sai phạm, đồng thời
rêu rao, kích động người dân không tin tưởng vào những hoạt động hỗ trợ của
chính quyền đối với kiều bào Việt Nam ở nước ngoài. Họ nhắc lại những chiến
dịch sơ tán người dân tại Bắc Phi, Trung Đông giai đoạn 2011-2014, đưa các
clip, hình ảnh, bài viết sai lệch về việc người Việt “phải tự mình xoay xở” với
hoàn cảnh khó khăn, từ đó suy diễn, vu cáo cơ quan ngoại giao của Việt Nam
không thực hiện chính sách bảo hộ công dân Việt ở nước ngoài.
- Bôi lem hình ảnh, uy tín của Việt Nam trên
trường quốc tế, mục đích để thế giới nhìn nhận Việt Nam là quốc gia thiếu trách
nhiệm trong giải quyết các vấn đề nóng trên thế giới.
Việt Nam đã tham gia ký kết các Công ước về
ngoại giao theo luật pháp quốc tế nên các cơ quan ngoại giao Việt Nam có cơ sở
để lên tiếng yêu cầu các quốc gia đang có xung đột, chiến tranh phải có trách
nhiệm đối với cộng đồng người Việt Nam. Thực tế, các cơ quan đại diện ngoại
giao luôn đi đầu trong nắm diễn biến tình hình và thực hiện các biện pháp bảo
vệ tài sản, tính mạng cho công dân theo chính sách bảo hộ của pháp luật. Tuy
nhiên, nhiều cá nhân, tổ chức quốc tế có những góc nhìn thiếu khách quan, trung
thực trong đánh giá hoạt động của cơ quan ngoại giao của Việt Nam. Một số tổ
chức thiếu thiện chí đưa ra thông tin, hình ảnh sai lệch nhằm bôi lem, hạ uy
tín Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế, các hội thảo đa phương, thậm chí lên án
Việt Nam tại các phiên điều trần của nghị viện Mỹ, EU… Một số cơ quan truyền thông
phương Tây tô vẽ góc nhìn lệch lạc, trái với bản chất, tạo ra dư luận xấu về
hình ảnh của Việt Nam, mục đích làm cho quốc tế nhìn nhận Việt Nam là quốc gia
thiếu tin cậy, thiếu trách nhiệm, thậm chí hướng lái thành “đứng ngoài cuộc”
trong tham gia giải quyết các điểm nóng, xung đột trên thế giới.
Thực tế, những hoạt động tích cực của các cơ
quan chức năng Việt Nam thể hiện xuyên suốt, từ chủ trương, chính sách đến hành
động bảo hộ công dân Việt Nam tại nước ngoài. Điều đó được biểu hiện ở các nội
dung:
Một
là, Đảng, Nhà nước Việt Nam khẳng định công dân Việt ở nước ngoài
là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đặc biệt
trong giai đoạn hội nhập quốc tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một
trong những động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập sâu rộng
với thế giới. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định chính sách nhất quán
“nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân”. Nhằm cụ thể hóa tinh thần này của
Đại hội XIII, Hội nghị Ngoại giao lần thứ 31 nhấn mạnh cần “triển khai toàn
diện, mạnh mẽ, kịp thời, hiệu quả công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài
và bảo hộ công dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người Việt Nam ở nước
ngoài”; “chăm lo, hỗ trợ đồng bào ta, nhất là ở những địa bàn khó khăn”.
Đối với các điểm nóng, xung đột trên thế giới
như tại Ukraine hiện nay, Chính phủ đã gửi Công điện 201 ngày 26/2/2022 về việc
“Bảo hộ công dân và pháp nhân Việt Nam và một số vấn đề cần lưu ý trước tình
hình tại Ukraine”, yêu cầu các bộ, ngành, các cơ quan đại diện Việt Nam tại
Ukraine và các nước lân cận Ba Lan, Nga, Rumania, Hungaria, Slovakia phối hợp
chặt chẽ trong việc triển khai các phương án bảo hộ công dân, đảm bảo an ninh,
an toàn, các điều kiện cần thiết để sơ tán công dân Việt Nam khỏi vùng chiến
sự, đến các nước lân cận và về nước nếu có nguyện vọng.
Hai
là, dưới góc độ luật pháp, Việt Nam cam kết thực hiện chính sách
bảo hộ công dân tại nước ngoài theo quy định pháp luật Việt Nam và phù hợp với
luật pháp quốc tế. Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Công dân Việt Nam ở nước
ngoài được Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam bảo hộ” (Khoản 3, Điều 17). Luật
Quốc tịch Việt Nam ghi nhận: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam bảo hộ quyền lợi
chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài. Các cơ quan nhà nước ở trong
nước, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm thi hành mọi biện
pháp cần thiết, phù hợp với pháp luật của nước sở tại, pháp luật và tập quán
quốc tế để thực hiện sự bảo hộ đó” (Điều 6, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008,
sửa đổi, bổ sung năm 2014). Việt Nam cũng đã chủ động sửa đổi Luật Cơ quan đại
diện nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ở nước ngoài năm 2009 (sửa đổi, bổ sung năm
2017) nhằm phù hợp với Công ước quốc tế như Nghị định thư bổ sung Công ước
Geneva về bảo hộ nạn nhân trong các cuộc xung đột quốc tế; Công ước Viên về
quan hệ ngoại giao năm 1961.
Ba
là, xuất phát từ thực tế thực hiện chính sách bảo hộ công dân Việt
Nam ở các nước trên thế giới luôn được Chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm và
xác định đó không chỉ là lợi ích của mỗi cá nhân mà còn thể hiện trách nhiệm
của Chính phủ Việt Nam đối với công dân khi công tác, học tập làm ăn ở nước
ngoài theo tinh thần “không ai bị bỏ lại đằng sau”. Ngày 6/3/2022, trong cuộc
làm việc với Bộ Ngoại giao liên quan đến sơ tán công dân Việt từ Ukraine khỏi
vùng chiến sự, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh: Công tác bảo hộ
công dân cần được đặc biệt quan tâm; quá trình tổ chức cần thực hiện những
chuyến bay miễn phí đưa trường hợp khó khăn về nước, đồng thời phải thực hiện
nhất quán “ưu tiên phụ nữ, trẻ em, người già”. Đó là minh chứng cho những lời
hứa thực hiện bảo hộ công dân Việt tại nước ngoài nhằm thực hiện cam kết của
Chính phủ với người dân trước những diễn biến phức tạp tại Ukraine.
Mặt khác, trong những năm qua, Việt Nam đã
từng tổ chức nhiều phương án, biện pháp thiết thực như lập cầu hàng không sơ
tán người lao động ở Libya năm 2011 và 2014; đưa hành khách ra khỏi châu Âu do
núi lửa phun trào năm 2010; giải cứu hành khách bị kẹt tại Thái Lan do khủng
hoảng chính trị năm 2008; vận chuyển công dân Việt Nam trở về từ Malaysia,
Trung Đông các năm 2005-2007... Năm 2021, Bộ Ngoại giao đã phối hợp
với các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan liên quan tổ chức gần 600 chuyến
bay đưa hơn 130.000 công dân từ hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ về Việt Nam…
Thực tế đó thể hiện rõ chủ trương, chính sách
và hành động thiết thực của Việt Nam trong công tác bảo hộ công dân ở nước
ngoài; là bằng chứng sinh động phủ nhận những luận điệu sai trái, vu cáo của
các thế lực xấu.
Mềm dẻo, linh hoạt, kiên trì, kiên quyết trong giải quyết mối quan hệ với các nước, tổ chức quốc tế vì lợi ích chiến lược của đất nước.
Tương quan so sánh lực lượng giữa các nước lớn trong khu vực đang có sự thay đổi dẫn đến sự điều chỉnh chính sách và quan hệ giữa các nước lớn, tập hợp lực lượng xung quanh các nước lớn và trật tự khu vực đang diễn ra quyết liệt, khó lường. Việt Nam, với vị thế địa - chính trị của mình cũng không thể nằm ngoài vòng xoáy của thay đổi tương quan lực lượng và điều chỉnh chính sách của các nước lớn trong khu vực, đòi hỏi cũng phải có sự điều chỉnh chính sách, nhất là chính sách đối ngoại để thực hiện được mục tiêu bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước theo phương châm: Kiên định về mục tiêu, nguyên tắc chiến lược; linh hoạt, mềm dẻo về sách lược; kiên trì giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế; tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nước, dư luận quốc tế: “Thúc đẩy việc tôn trọng, tuân thủ các nguyên tắc cơ bản và phổ quát của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế trong quan hệ quốc tế, nhất là tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị - xã hội, không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước... bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia, bác bỏ hành vi cường quyền, áp đặt, gây căng thẳng và thù địch trong quan hệ quốc tế”.
Trong quan hệ đối ngoại, Việt Nam cần chủ động tranh thủ, khai thác có hiệu quả những điểm tương đồng, tạo dựng mặt đồng thuận, hạn chế, khắc chế mặt bất đồng với những tác hại đến lợi ích chiến lược của đất nước. Coi trọng và xử lý đúng đắn, linh hoạt, hài hòa quan hệ giữa các nước, nhất là các nước lớn, các nước có chung đường biên giới, các nước láng giềng, các tổ chức khu vực và quốc tế dựa trên vị trí địa chiến lược, lợi ích chiến lược của đất nước. Thực hiện tốt các trọng trách quốc tế, nhất là trong ASEAN, Liên hợp quốc và các khuôn khổ hợp tác ở châu Á - Thái Bình Dương; chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh và phát triển bền vững. Phát triển quan hệ với các đảng cộng sản, các đảng cầm quyền ở các nước và những tổ chức, phong trào tiến bộ khác trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, giữ vững độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; mở rộng tham gia các cơ chế, diễn đàn đa phương trong khu vực và trên thế giới. Chủ động đẩy mạnh hợp tác theo hướng thiện chí, minh bạch, tăng cường xây dựng lòng tin với các đối tác. Trong đó, cần khéo léo, không để hiểu lầm Việt Nam “bắt tay” với nước này chống nước kia, gây phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc.
Bối cảnh quốc tế, khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó đoán định. Do đó, cần đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, phân tích, đánh giá, dự báo toàn diện tình hình và xu thế phát triển trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, đối ngoại, khoa học - công nghệ, quân sự... của quốc tế, khu vực, các nước lớn, các nước ở Đông Nam Á; thực trạng và xu hướng phát triển mối quan hệ giữa các nước lớn, các nước Đông Nam Á, các nước có nhiều lợi ích liên quan đối với Việt Nam. Nhận diện kịp thời, đúng đắn, thực chất mối quan hệ, sự thỏa thuận hoặc mâu thuẫn, thống nhất giữa các nước lớn với các nước ở khu vực trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế, khu vực liên quan đến chủ quyền, lợi ích của Việt Nam. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc lớn (chủ nghĩa sô-vanh mới), chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa dân tộc ly khai và chủ nghĩa dân tộc biệt lập.
Đấu tranh, phê phán các quan điểm sai lầm, phản động trong việc tuyệt đối hóa lợi ích quốc gia - dân tộc mình, xem nhẹ lợi ích của quốc gia - dân tộc khác, lảng tránh những vấn đề toàn cầu, có ảnh hưởng đến sự tồn vong của nhân loại, như dịch bệnh, đói nghèo, ô nhiễm môi trường và chiến tranh... Kiên quyết, kiên trì trong việc giải quyết các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biên giới trên bộ, trên biển, đảo bằng giải pháp hòa bình, trên cơ sở hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích giữa các nước, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Trong đó, hợp tác giải quyết tốt các vấn đề về xung đột lợi ích giữa các quốc gia trên biển, nhất là việc giải quyết thỏa đáng vấn đề chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia ở Biển Đông; kiên trì, kiên quyết bảo vệ các lợi ích chính đáng của Việt Nam phù hợp với luật pháp quốc tế.
Xây dựng cơ sở pháp lý vững chắc, kiên quyết thúc đẩy giải quyết các vấn đề trên biển trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), kiên trì thông qua đối thoại giải quyết hòa bình vấn đề tranh chấp ở Biển Đông, hạn chế, loại trừ xung đột vũ trang, tạo môi trường và điều kiện tốt nhất để bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước. Kiên quyết ngăn chặn những biểu hiện chỉ vì lợi ích cục bộ, lợi ích địa phương, lợi ích riêng của doanh nghiệp mình mà làm ảnh hưởng, vi phạm, phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích chiến lược của đất nước trong quá trình hợp tác, quan hệ với nước ngoài. Thường xuyên nâng cao năng lực nghiên cứu dự báo chiến lược, giữ vững thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống./.
Đấu tranh bảo vệ chủ quyền, lợi ích chiến lược của đất nước phải gắn chặt với bảo vệ hòa bình, ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ các giá trị chuẩn mực của luật pháp quốc tế.
Trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước phải được thực hiện trên tinh thần độc lập, tự chủ. Việt Nam luôn nhất quán quan điểm không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Đồng thời, căn cứ vào tình hình, điều kiện cụ thể, “Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế”(3). Việc giải quyết các tranh chấp, bất đồng được thực hiện theo phương châm kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình (đàm phán, trọng tài, tòa án quốc tế...) trên cơ sở luật pháp quốc tế. Cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền và lợi ích chiến lược của đất nước gắn liền với cuộc đấu tranh bảo vệ các chuẩn mực của luật pháp quốc tế. Kêu gọi sự ủng hộ, đồng thuận của cộng đồng quốc tế trong việc giải quyết các tranh chấp, bất đồng trên tinh thần luật pháp quốc tế.
Trong hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế, tiếp tục đẩy mạnh, không ngừng mở rộng và đi vào chiều sâu mối quan hệ với các nước trong khu vực và trên thế giới, góp phần củng cố môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển. Bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước không chỉ sử dụng thuần túy sức mạnh nội sinh của quốc gia - dân tộc, mà cần kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Trong đó, sức mạnh quốc tế chỉ được phát huy cao độ khi Việt Nam đứng vững trên lập trường chính nghĩa, dựa trên luật pháp quốc tế, phù hợp với giá trị chung mà nhân loại cùng quan tâm, như: Bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, các lợi ích chiến lược của đất nước phù hợp với luật pháp quốc tế; phát huy vai trò, trách nhiệm trong bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới; mở rộng hợp tác với các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực, quốc tế. Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “đẩy mạnh đưa quan hệ với các đối tác, đặc biệt là đối tác quan trọng, đi vào chiều sâu, hiệu quả, bền vững, tăng cường đan xen lợi ích; xử lý linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả mối quan hệ với các nước lớn”(4).
Sử dụng hiệu quả các biện pháp chính trị ngoại giao tại khoản 1, Điều 33 của Hiến chương Liên hợp quốc: “Các bên đương sự trong các cuộc tranh chấp, mà việc kéo dài các cuộc tranh chấp ấy có thể đe dọa đến hòa bình và an ninh quốc tế, trước hết, phải cố gắng tìm cách giải quyết tranh chấp bằng con đường đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án, sử dụng những tổ chức hoặc những điều ước khu vực, hoặc bằng các biện pháp hòa bình khác tùy theo sự lựa chọn của mình”. Đồng thuận, nhất quán với quan điểm đó, nhân kỷ niệm 53 năm Ngày thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á - ASEAN (8-8-1967 - 8-8-2020), Bộ trưởng Ngoại giao của 10 nước ASEAN đã ra Tuyên bố về việc duy trì hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á: “Kêu gọi tất cả các nước kiềm chế, không tiến hành các hoạt động làm phức tạp hoặc leo thang tranh chấp và ảnh hưởng tới hòa bình, ổn định, không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực và giải quyết các khác biệt và tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế”. Tôn trọng luật pháp quốc tế là cách thức hữu hiệu nhằm ngăn ngừa xung đột cũng như tìm kiếm những giải pháp lâu bền cho tranh chấp, xung đột. Theo đó, Việt Nam cần tiếp tục ủng hộ mọi nỗ lực thực hiện các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp theo Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, từ thương lượng, hòa giải tới việc sử dụng các cơ chế pháp lý quốc tế. Tích cực triển khai các cam kết khu vực và quốc tế, lồng ghép với các chiến lược, chính sách, kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế - xã hội./.
Đại hội XIII của Đảng xác định triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng với các điểm mới sau:
1- Lợi ích quốc gia - dân tộc luôn được quan tâm và xác định là mục tiêu trọng yếu trong hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Báo cáo chính trị Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi”. Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng có cách nhìn nhận và xác định rõ hơn: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”.
Lợi ích quốc gia - dân tộc bao gồm rất nhiều yếu tố lợi ích: chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh. Trong bối cảnh thế giới hiện nay, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng tăng lên, tất cả các nước đều chịu ràng buộc bởi “luật chơi chung”, mỗi quốc gia không còn là một cá thể riêng biệt mà phải chấp nhận hoặc gắn bó với nhau trong các mối quan hệ, liên kết hợp tác và cả cạnh tranh xung đột do sự đan xen cùng chiều và khác biệt về lợi ích quốc gia - dân tộc. Trong quan hệ phức tạp đó, bất kể quốc gia nào nếu chỉ theo đuổi lợi ích vị kỷ của mình sẽ dẫn tới căng thẳng, đối đầu. Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã có cách nhìn nhận về vấn đề này một cách thấu đáo, nhạy bén và xác đáng trong bối cảnh tình hình thực tế của thế giới.
2- Xác định rõ hơn vai trò của hoạt động đối ngoại.
Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”. Đây là lần đầu tiên Văn kiện Đại hội Đảng xác định cụ thể và sâu sắc vị trí, vai trò của công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Điều đó làm sáng rõ hơn nhiệm vụ trọng yếu của công tác đối ngoại là tiên phong trong việc giữ vững môi trường hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đối ngoại để phục vụ đối nội. Mở rộng quan hệ đối ngoại nhằm thúc đẩy quan hệ kinh tế, tăng cường hợp tác quốc tế để phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh.
3- Xác định chủ trương mới trong xây dựng nền ngoại giao và đội ngũ cán bộ đối ngoại.
Báo cáo chính trị Đại hội XII của Đảng nêu rõ: “đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền đối ngoại; chăm lo đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại; bồi dưỡng kiến thức đối ngoại cho cán bộ chủ chốt các cấp”. Đến Đại hội XIII của Đảng, Báo cáo chính trị xác định: “Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”. Như vậy, cùng với chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, tiến tới hiện đại, Đại hội XIII của Đảng đề cập đến việc xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại. Đây là bước tiến mới có tính đột phá đối với hoạt động đối ngoại.
Cùng với việc chú trọng xây dựng nền ngoại giao hiện đại, Đại hội XIII của Đảng còn xác định: “Nâng cao bản lĩnh, phẩm chất, năng lực, phong cách chuyên nghiệp, đổi mới sáng tạo của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế”.
4- Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng.
Văn kiện Đại hội XII của Đảng chủ trương: Triển khai mạnh mẽ định hướng chiến lược chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Đại hội XIII đã cụ thể hóa hơn và xác định những định hướng và nhiệm vụ sâu rộng hơn về hội nhập quốc tế. Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia. Gắn kết chặt chẽ quá trình chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng với việc nâng cao sức mạnh tổng hợp, huy động tiềm năng của toàn xã hội; đổi mới, hoàn thiện thể chế trong nước, nâng cao năng lực tự chủ, cạnh tranh và khả năng thích ứng của đất nước”.
Rõ ràng là, Đảng ta nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn các đặc điểm của môi trường quốc tế và hội nhập quốc tế không giới hạn trong một phạm vi hay một lĩnh vực nào mà nó lan tỏa ở mọi cấp độ, mọi lĩnh vực trên phạm vi khu vực và toàn cầu. Thực hiện hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng là tham gia vào các quá trình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và muốn hiệu quả phải tăng cường nội lực, giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy sức mạnh tổng hợp của quốc gia - dân tộc.
5- Chủ động, tích cực đóng góp đối với các hoạt động quốc tế.
Văn kiện Đại hội XII của Đảng nêu rõ: Chủ động tham gia và phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN và Liên hợp quốc. Nhằm cụ thể hóa hơn và nâng cao tính chủ động, tích cực, hiệu quả các hoạt động quốc tế, Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Chủ động tham gia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam trong xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự chính trị - kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế và các hiệp định thương mại đã ký kết”.
Có thể khẳng định, những nhận thức và tư duy mới về quốc phòng, an ninh, đối ngoại trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng là những chủ trương lớn, đúng đắn, có ý nghĩa chiến lược; là kết quả của việc tổng kết sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng về củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, góp phần vào thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước trong 35 năm qua./.