Thứ Hai, 21 tháng 3, 2022

Thủ đoạn mới lừa đảo qua mạng

Theo thông tin từ Phòng An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm công nghệ cao Công an tỉnh Bắc Giang, thời gian gần đây, trên địa bàn tỉnh xuất hiện hành vi lừa đảo qua mạng mới. Đối tượng lừa đảo lấy hình ảnh đại diện từ Zalo, Facebook của các đồng chí lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo các sở, ban, ngành tỉnh và địa phương để lập tài khoản Zalo, Facebook mạo danh.

Cẩn trọng điều trị F0 theo "thầy lang mạng"

Do đặc tính của biến thể Omicron, đặc biệt là nhờ độ bao phủ vắc-xin cao, cho nên hiện nay số ca mắc Covid-19 chuyển nặng phải nhập viện và tử vong vẫn ở trong tầm kiểm soát.

Tăng cường đối tác chiến lược với Malaysia

Chiều 21/3, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tiếp Ngài Dato’ Sri Ismail Sabri bin Yaakob, Thủ tướng Chính phủ Malaysia, đến chào trong thời gian thăm chính thức tại Việt Nam.

THẦY THUỐC TRẺ CẦN TIẾP TỤC RÈN ĐỨC, LUYỆN TÀI

Chiều 21/3, tại Nhà Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã gặp mặt Đoàn đại biểu Thầy thuốc trẻ Việt Nam tiêu biểu năm 2021.

Tăng cường quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam-Malaysia

Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Phạm Minh Chính, Thủ tướng Malaysia Dato’ Sri Ismail Sabri bin Yaacob thăm chính thức Việt Nam từ ngày 20 đến 22/3/2022. Chuyến thăm thể hiện cam kết mạnh mẽ của hai bên trong việc củng cố mối quan hệ hữu nghị hợp tác lâu dài và Đối tác chiến lược, cùng hướng tới phục hồi bền vững trong giai đoạn hậu đại dịch Covid-19.

NGÀY NÀY NĂM XƯA: MỞ MÀN CHIẾN DỊCH HUẾ - ĐÀ NẴNG NĂM 1975!

         Sau khi mất Tây Nguyên, thế phòng thủ chiến lược của địch bị rung chuyển nghiêm trọng, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở chiến dịch Huế - Đà Nẵng lấy tên là "Mặt trận 475". Chiến trường được phân thành hai khu vực: Trị Thiên - Huế và Quảng Nam - Đà Nẵng, trong đó mục tiêu chủ yếu là Huế - Đà Nẵng. Chiến dịch này do Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ huy. Đồng chí Trung tướng Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh; Thượng tướng Chu Huy Mân làm Chính ủy. 
Cách đây 47 năm, vào ngày 21/3, chiến dịch Huế - Đà Nẵng được mở ra, nhằm tiêu diệt tập đoàn quân phòng ngự mạnh của quân ngụy ở Trị - Thiên, Huế, Đà Nẵng, giải phóng các tỉnh miền Trung; Bộ Quốc phòng mở chiến dịch tiến công các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Đến ngày 29/3 quân ta hoàn toàn giành thắng lợi.
Thắng lợi của Chiến dịch tiến công Huế-Đà Nẵng có ý nghĩa chiến lược. Cùng với thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên, nó đã làm thay đổi hẳn cục diện chiến tranh, tạo ra những điều kiện rất cơ bản, góp phần giải phóng Sài Gòn và hoàn toàn miền Nam một cách nhanh chóng./.
Môi Trường ST.

AI ĐỨNG ĐẰNG SAU CUỘC NỘI CHIẾN Ở UKRAINA.

         Xin phép đăng lại bài viết của báo Công an nhân dân năm 2014 về tình hình Ukraine, bản chất thật sự của cái đám được gọi là chính phủ, quân đội của Ukraine là gì? Cho những ai hiện tại chỉ biết đến chiến dịch đặc biệt của Nga đối đầu với Ukraine năm 2022, tìm hiểu thêm chút đỉnh về một Ukraine "đáng thương" bị xâm lược hay là ngược lại.
"Năm 2014, chính Mỹ đang “bảo kê” cho chính quyền mới dựng lên ở Kiev Ukraine thực hiện “chiến dịch chống khủng bố” nhằm vào chính người dân của họ. Và do được Mỹ “chống lưng”, chính quyền tạm thời ngày ấy ở Ukraine mới dám huy động quân đội và cảnh sát cùng với máy bay và xe tăng trấn áp hàng triệu người dân Ukraine đang đòi những yêu cầu thuộc về phạm trù nhân quyền. 

Cuộc khủng hoảng Ukraine đã leo thang tới mức nội chiến giữa một bên là lực lượng do chính phủ tạm quyền ở Kiev kiểm soát đang tiến hành cái gọi là “cuộc chiến chống khủng bố” nhằm vào hàng triệu người dân nước này, còn bên kia là lực lượng tự vệ của chính quyền các tỉnh Đông-Nam kiên quyết bảo vệ công dân của họ đứng lên đòi được hưởng những lợi ích chính đáng của mình.

Hai chuyến thăm ngẫu nhiên hay hữu ý?

Qua theo dõi tình hình cuộc khủng hoảng ở Ukraine trong những ngày vừa qua thấy có hai sự kiện khá trùng hợp. Sự kiện gần đây nhất là ngày 21/4, Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden thăm Ukraine. Ngay sau khi ông Joe Biden kết thúc chuyến thăm, Chính quyền ở Kiev lại phát động giai đoạn 2 của cái gọi là “chiến dịch chống khủng bố” ở mức cao hơn, mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn. Trước đó chưa đầy 10 ngày, vào ngày 12/4, Giám đốc Cục Tình báo trung ương Mỹ (CIA) John Brennan có chuyến thăm bất ngờ tới Ukraine.

Trong khi người phát ngôn CIA cho biết, cũng giống như các quan chức cấp cao khác của Mỹ, Giám đốc Brennan tin rằng cách duy nhất để giải quyết khủng hoảng giữa Nga và Ukraine là thông qua một giải pháp ngoại giao, thì báo “The Los Angeles Times” (Mỹ) đưa tin, ông John Brennan tới Kiev là để “cố vấn cho chính quyền lâm thời Ukraine cách thức đối phó với các phần tử đòi ly khai ở miền Đông”.

Ngay sau khi ông John Brennan rời Kiev, “ý kiến cố vấn” của Giám đốc CIA đã biến thành quyết định của chính quyền ở Kiev phát động giai đoạn 1 của cái gọi là “chiến dịch chống khủng bố” trấn áp những người biểu tình ở Đông-Nam Ukraine. Động thái này chẳng có gì giống với “giải pháp ngoại giao” mà người phát ngôn CIA tiết lộ.

Theo giới phân tích thạo tin tình báo, hai sự kiện này không phải là trùng hợp ngẫu nhiên với hai giai đoạn của “chiến dịch chống khủng bố” mà chỉ là thêm một lần nữa khẳng định chính Mỹ là bên đã từng đứng đằng sau giật dây các lực lượng phát xít mới và dân tộc cực đoan thực hiện cuộc đảo chính vi hiến lật đổ Tổng thống Ukraine Victor Yanukovych, xé toạc thỏa thuận hòa bình ngày 21/2 vừa được ký chưa ráo mực giữa 3 thủ lĩnh các lực lượng đối lập Ukraine và Bộ trưởng Ngoại giao ba nước EU là Pháp, Đức và Ba Lan, với sự chứng kiến của đại diện chính phủ Nga.

Hiện nay, chính Mỹ đang “bảo kê” cho chính quyền mới dựng lên ở Kiev thực hiện “chiến dịch chống khủng bố” nhằm vào chính người dân của họ. Và do được Mỹ “chống lưng”, chính quyền tạm thời ở Ukraine mới dám huy động quân đội và cảnh sát cùng với máy bay và xe tăng trấn áp hàng triệu người dân Ukraine đang đòi những yêu cầu thuộc về phạm trù nhân quyền.

Lực lượng đặc biệt Ukraine đã lập chốt kiểm soát ở trục đường chính giữa Sloviansk và Donetsk ở miền Đông Ukraine.

Nhân đây, dư luận quốc tế có lý khi đặt câu hỏi: Do đâu ông Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden trước đó liên tục gọi điện thoại cho cựu Tổng thống Ukraine Vichtor Yanukovych yêu cầu không được sử dụng vũ lực để chống lại các phần tử phát xít mới gây bạo loạn ở Kiev và dùng bom xăng tấn công cảnh sát, thì nay lại khuyến khích chính phủ tạm quyền ở Kiev sử dụng cả xe tăng và máy bay chiến đấu đàn áp người dân biểu tình hòa bình?

Nhìn rộng ra, do đâu Mỹ cáo cuộc hành động hợp pháp của Tổng thống Egypt Hosni Mubarak, Tổng thống Libya Moammar Gadhafi hay Tổng thống Syria Bashar al-Assad dùng lực lượng an ninh trấn áp bọn khủng bố trong làn sóng bạo lực mang tên “Mùa xuân Arab”, là “phạm tội ác chống lại loài người”, thì nay lại làm ngơ trước hành động tội ác khủng khiếp của chính phủ tạm quyền ở Kiev sử dụng vũ khí hạng nặng tàn sát người dân tay không?

Câu trả lời ở đây là Mỹ đang áp dụng tiêu chuẩn kép trong quan hệ quốc tế, theo đó quy định pháp lý nào đáp ứng lợi ích của Mỹ thì Washington cho là đúng, còn gì đi ngược lại thì họ cho là sai.

Gây ra cuộc nội chiến ở Ukraine, Mỹ muốn gì?

Phân tích kết quả chuyền thăm Ukraine của Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden, các chuyên gia phân tích nhận thấy sự cách biệt quá xa giữa những gì Washington tuyên bố và những gì họ đang làm với Ukraine. Trên lời nói, Washington tuyên bố ủng hộ chính quyền mới ở Kiev xây dựng một Ukraine phát triển ổn định, cải cách và hướng đến dân chủ. Nhưng trên thực tế hoàn toàn không như vậy.

Trong bối cảnh Ukraina đang cận kề bờ vực phá sản quốc gia, thì Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden thăm Ukraine chỉ hứa sẽ viện trợ cho Ukraine 50 triệu USD để cải cách và 10 triệu USD để hiện đại hóa quân đội. Lời hứa này của ông Joe Biden khiến cho ngay cả những kẻ cầm quyền ở Kiev hiện nay dù có tin Mỹ tới đâu cũng cảm thấy bị xúc phạm và bị lừa dối.

Theo tính toán của các chuyên gia tài chính, số tiền mà ông Joe Biden hứa giúp Ukraine cũng chỉ đủ để trả tiền công cho các chuyên gia và cố vấn quân sự của Mỹ cũng như vài trăm tên lính đánh thuê nước ngoài tới giúp chính phủ Kiev “chống khủng bố”, nên sẽ chẳng còn đồng tiền nào cho “cải cách” hay “hiện đại hóa quân đội”. Con số so sánh có ý nghĩa: Nga đã viện trợ cho Ukraine 250-300 tỷ USD kể từ khi giành độc lập năm 1991 vì Moskva thực sự muốn đất nước láng giềng anh em này phát triển ổn định và bền vững.

Vậy, Mỹ muốn gì ở Ukraine? Chúng ta hãy nghe chính người Mỹ trả lời câu hỏi này. Theo Paul Craig Roberts, nguyên cố vấn kinh tế cho Tổng thống Mỹ Ronald Reagan, hiện là chuyên gia nghiên cứu chính trị ở Mỹ, trong bài viết với nhan đề “Nước Nga vị tấn công”, trong đó đưa ra nhận định, Mỹ đứng sau đạo diễn làn sóng bạo lực ở Ukraine từ cuối năm 2013 tới nay là nhằm các mục đích: (1) đẩy Nga ra khỏi căn cứ quân sự của Hạm đội Biển Đen ở cảng Sevastopol; (2) gây ra chiến dịch thanh lọc nhằm vào những người dân Nga và người Ukraine nói tiếng Nga, dẫn tới cuộc di cư ồ ạt người Nga từ Ukraine về phía Liên bang Nga; (3) phá hủy tiềm năng sản xuất công nghiệp quân sự cực kỳ quan trọng ở các thành phố Kiev, Dnepropetrovsk và Kharkov hiện đang thực hiện các đơn đặt hàng quân sự của Nga; (4) Mỹ và NATO sẽ triển khai căn cứ quân sự ở Ukraine, trong đó có căn cứ quân sự ở Crimea; (5) biến Ukraine thành trung tâm huấn luyện khủng bố để tấn công vào các mục tiêu tại khu vực Bắc Caucacus, Siberia và nhiều khu vực khác ở Nga; (6) kịch bản bạo loạn ở Kiev sẽ được áp dụng ở các khu vực trên lãnh thổ Nga. 

Hiện nay, sau khi không đạt được mục tiêu chiến lược hàng đầu và quan trọng nhất là kiểm soát vùng Crimea, Mỹ đang ráo riết thực hiện kịch bản gây ra cuộc nội chiến ở Ukraine, buộc Nga phải can thiệp quân sự để bảo vệ hàng triệu công dân Ukraine nói tiếng Nga ở miền Đông-Nam. Theo tính toán của các mưu sỹ ở Washington, Mỹ đang thực hiện âm mưu biến Ukraina thành “Afghanistan thứ hai”. Trong những năm 1980, Washington đã cài bẫy để buộc Moskva phải đưa quân vào Afghanistan, sau đó sa lầy ở đó, buộc phải rút quân và đây là một trong những yếu tố dẫn tới sự tan rã Liên Xô. Hiện nay, Washington cũng đang cài bẫy để buộc Nga phải can thiệp quân sự vào Ukraine...

Theo báo chi Phương Tây tiết lộ, tổ chức phát xít mới ở Ukraine “Pravy Sector” là một chi nhánh của mạng lưới khủng bố bí mật mang tên “Gladio” từng được dựng lên từ thời Chiến tranh lạnh và vẫn còn phát triển đến tận ngày nay. Ngoài ra, trong hàng ngũ “đội quân thứ năm” của ai đó ở Ukraine có cả các lực lượng khủng bố đã từng được tôi luyện trong các hoạt động tàn sát đẫm máu nhất ở Afghanistan, Iraq và gần đây nhất ở Syria. Báo chí nước ngoài ví các lực lượng khủng bố ở Ukraine là “Al-Qaeda trắng” để phân biệt với “Al-Qaeda đen” ở các nước Bắc Phi - Trung Đông.
Cuộc khủng hoảng Ukraine và cuộc khủng hoảng Syria, trong đó các mạng lưới khủng bố quốc tế chiếm tới 80% cái gọi là “lực lượng đối lập”, đã rọi ánh sáng vào câu chuyện thâm cung bí sử về cái gọi là “cuộc chiến toàn cầu chống khủng bố” do Tổng thống Mỹ G.W.Bush phát động từ năm 2001. Đến đây thì đã rõ, ai đứng sau nội chiến ở Ukraine./.
Môi Trường ST.

Sinh ra để thương yêu nhau, không phải để mãi hận thù

 Cuối tháng 6/2007, trên cương vị Chủ tịch Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam – ông Nguyễn Minh Triết sang thăm Hoa Kỳ. Đây là lần đầu tiên một nguyên thủ Việt Nam sang thăm Mỹ sau khi Mỹ và Việt Nam chính thức nối lại bang giao.

Thời điểm đó, chuyện hoà giải và hoà hợp giữa Việt Nam và Mỹ, và giữa những người Việt của 2 bên chiến tuyến sau bao nhiêu năm kể từ ngày miền Nam giải phóng vẫn còn nhiều gian nan, trắc trở. Trước chuyến đi, Ông biết lành ít, dữ nhiều chuẩn bị ứng phó cho những tình huống xấu nhất.

Vừa đặt chân đến Mỹ, Ông gặp bà Nancy Pelosi - Chủ tịch Hạ viện Mỹ. Chưa kịp ngồi, bà Pelosi đã tuôn sa sả: “Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Mỹ nhưng Việt Nam cứ vi phạm dân chủ, vi phạm nhân quyền, làm những việc sai trái, Mỹ không thể chấp nhận...”

Nhìn thẳng vô mắt bà Pelosi, Ông đáp nhỏ nhẹ: “Thưa bà, nếu nói về dân chủ, nhân quyền, Mỹ không đủ tư cách nói chuyện với Việt Nam đâu". Bà Pelosi sửng sốt: "Thế là thế nào ?, Ông dõng dạc nói tiếp: “Ngày trước, Mỹ mang bom đạn xâm lược Việt Nam, gây bao nhiêu mất mát, đau khổ cho Việt Nam, Việt Nam đã bỏ qua. Hôm nay, Việt Nam đã gác lại quá khứ, hướng đến tương lai. Còn hiện tại, Mỹ vẫn còn có quân ở Iraq, Afghanistan, ở nhiều nơi khác trên thế giới. Bom đạn vẫn còn nổ, máu vẫn còn đổ, người vẫn còn chết... Mỹ cũng vi phạm dân chủ nhân quyền". Bà Pelosi im lặng. Hôm sau, Ông gặp Tổng thống Mỹ G.Bush, ông Bush không đả động gì đến chuyện dân chủ, nhân quyền nữa, vui vẻ nhận cây đàn bầu Việt Nam do Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết trao tặng. Sau này các cuộc tiếp kiến của Ông với các quan chức Mỹ đều êm xuôi. Họ tiếp đoàn Việt Nam rất nồng hậu.

Khó khăn nhất trong chuyến thăm Mỹ là buổi gặp gỡ, đối thoại của Ông với hơn 1.000 người là Việt kiều ngay tại quận Cam bang California - thủ phủ "chống cộng” khét tiếng lúc đó. Trước những phần tử gây rối, làm những chuyện không hay Ông vẫn điềm tĩnh nói với họ bằng tất cả trái tim của mình: “Bà con chính là máu thịt của Việt Nam. Chúng ta đều là con Rồng - cháu Tiên, cùng một dòng dõi... Đối với Mỹ, trước đây là kẻ thù không đội trời chung nhưng giờ đây mình còn gác lại quá khứ, hướng đến tương lai huống hồ người Việt Nam máu đỏ, da vàng, cùng chung dòng giống Âu Cơ, Lạc Hồng, mà lại đi đánh nhau, đi phá nhau à? Hãy cùng nhau xây dựng. Mẹ Việt Nam bao giờ cũng mở rộng cánh cửa chào đón bà con...”

Cả hội trường trầm lắng lại, không còn tiếng la ó. Ông nhìn xuống bà con: “Ở đời sinh ra phải làm gì? Chúng ta sinh ra không phải để mãi hận thù, để đánh nhau, mà sinh ra để thương yêu nhau, để cùng xây dựng đất nước phồn vinh hơn, cùng xây dựng một thế giới công bằng, ấm no, hạnh phúc chứ tối ngày cứ cãi vã nhau, đánh nhau để làm gì?".

Vừa kết thúc bài phát biểu, ông Nguyễn Cao Kỳ nguyên Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa trước năm 1975 bước lên bắt tay Ông: “Ông nói hay quá. Từ trước tới giờ, tôi chưa phục ai hết nhưng nay tôi phục ông. Tôi tưởng rằng Ngài Chủ tịch Nước phát biểu bằng một bài diễn văn được viết sẵn. Không ngờ hôm nay, Ngài Chủ tịch Nước lại nói bằng trái tim, cho nên những lời lẽ, tình cảm đó là quá đủ rồi. Tôi mong bà con của mình hãy cùng nhau trở về, tận mắt xem Việt Nam đang xây dựng, đang phát triển như thế nào. Cái gì mình cần góp sức được cho đất nước thì mình góp sức". Kể từ ngày đó, kiều bào về nước ngày càng nhiều hơn, với bà con không ở đâu tự do, hạnh phúc bằng chính quê hương, Tổ quốc mình.

Từ đất nước Ukraine, nghĩ về Việt Nam. Đúng như Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã từng nói: “Quốc gia nào khắc phục được mâu thuẫn nội tại sẽ tạo ra sức mạnh nội lực. Nơi nào mà dân tộc chia rẽ, đối địch nhau thì dù tài nguyên quốc gia có phong phú đến đâu, dân số đông đúc đến đâu cũng không thể tạo ra sức mạnh, không thể vững vàng”./.

BIẾN TƯỚNG CỦA PHÁP LUÂN CÔNG

 Pháp Luân Công được biết đến là một tổ chức do Lý Hồng Chí sáng lập năm 1992, tại thành phố Trường Xuân, Trung Quốc. Nhìn bề ngoài thì hoạt động của Pháp Luân Công là tập các bài khí công dưỡng sinh, nhưng phần lớn các thành viên (đệ tử) của Pháp Luân Công tại Việt Nam cũng như trên thế giới không ý thức được mình đã và đang bị lôi kéo, cuốn vào một cuộc đấu tranh chính trị khi mà mục tiêu, lý tưởng của Pháp Luân Công là chống lại Chủ nghĩa Cộng sản.

CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI TÂY NAM

 Tính từ khi quân Pol Pot gây hấn biên giới Việt Nam cho đến ngày sự thật được phơi bày khi những kẻ cầm đầu Khmer đỏ bị xét xử là hơn 30 năm (1975 – 2006).

 

MỘT SỐ Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ TỪ GÓC ĐỘ KINH TẾ VI MÔ VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH GIÁ CẢ XĂNG DẦU CỦA CHÍNH PHỦ

 

TÌNH HÌNH ĐIỀU HÀNH GIÁ XĂNG DẦU CỦA CHÍNH PHỦ HIỆN NAY  ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ HIỆN HÀNH

 Từ tháng 01 năm 2021 đến nay: giá xăng đã giảm 4 lần, giữ ổn định 3 lần, tăng 20 lần. Đặc biệt, kỳ điều hành giá xăng dầu đầu năm 2022 (ngày 11/1/2022) đến kỳ điều hành ngày 11/3/2022 đã có 6 kỳ điều hành và 6 kỳ đều tăng giá. Giá xăng dầu các loại đến kỳ điều hành ngày 11/3/2022 so với kỳ điều hành ngày 11/1/2022 tăng từ 4.625-7.030 đồng/lít/kg (tùy loại xăng dầu), tương đương tăng từ 24,91% - 39,56%.
Nhằm hỗ trợ cho đời sống, sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp còn nhiều
khó khăn do tác động của dịch Covid-19 trong thời gian vừa qua, Liên bộ Công thương-Tài chính đã liên tục chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu với mức chi từ 1.000-1.500 đồng/lít tùy loại) nhằm giữ ổn định giá xăng dầu trong nước, điều chỉnh giá xăng dầu trong nước phù hợp với diễn biến của giá xăng dầu thế giới nhưng mức tăng thấp hơn mức tăng của giá xăng dầu thế giới.
Để bảo đảm cung cầu, bình ổn thị trường xăng dầu Bộ Công Thương tiến hành chỉ đạo các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu thực hiện kế hoạch phân giao tổng nguồn và hạn mức nhập khẩu tối thiểu bổ sung đã được giao trong quý II nhằm bảo đảm duy trì nguồn cung xăng dầu liên tục cho thị trường trong nước phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của người dân và doanh nghiệp. Đồng thời, cân đối với nhu cầu tiêu thụ trong nước, thực hiện điều chỉnh phân giao hạn mức nhập khẩu xăng dầu cho các thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu trong 6 tháng cuối năm 2022.
Điều hành giá xăng dầu bám sát diễn biến giá xăng dầu thế giới, phù hợp với diễn biến cung cầu xăng dầu trong nước để bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các chủ thể tham gia thị trường xăng dầu (doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, doanh nghiệp sử dụng xăng dầu làm đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh và người tiêu dùng), khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu duy trì nguồn cung và hạn chế các hành vi đầu cơ găm hàng hoặc buôn lậu xăng dầu qua biên giới sang các nước lân cận.
Bộ Công Thương cũng chỉ đạo lực lượng Quản lý thị trường trên toàn quốc tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng thực hiện nghiêm túc chỉ đạo tại Công điện số 517/CĐ-BCT ngày 28/1/2022, đặc biệt kiểm tra, kiểm soát thị trường một cách chặt chẽ ở khâu bán lẻ và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo quy định.
Thực hiện các quy định, hướng dẫn, chỉ đạo điều hành của Chính phủ và các cấp có thẩm quyền, Liên Bộ Công Thương - Tài chính quyết định:
Quỹ Bình ổn giá xăng dầu: Thực hiện trích lập Quỹ BOG đối với một số loại dầu ở mức: dầu diesel trích lập 200 đồng/lít, dầu hỏa trích lập 300 đồng/lít, dầu mazut trích lập 300 đồng/kg; Chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu: chi sử dụng Quỹ BOG đối với các mặt hàng xăng dầu ở mức: chỉ sử dụng Quỹ BOG đối với mặt hàng xăng E5RON92 ở mức 1.300 đồng/lít, xăng RON95 ở mức 350 đồng/lít, dầu diesel, dầu hỏa, dầu mazut không chì.
Giá bán xăng dầu: Sau khi thực hiện việc trích lập và chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu tại Mục 1 nêu trên, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường như sau:
Xăng E5RON92: không cao hơn 20.610 đồng/lít (tăng 850 đồng/lít so với giá hiện hành, nếu kỳ điều hành này không chi Quỹ BOG 1.300 đồng/lít thì giá sẽ tăng 2.150 đồng/lít và giá bán là 21.910 đồng/lít); Xăng RON95-III: không cao hơn 21.783 đồng/lít (tăng 867 đồng/lít so với giá hiện hành, nếu không chi Quỹ BOG 350 đồng/lít thì giá sẽ tăng 1.217 đồng/lít và giá bán là 22.133 đồng/lít); Dầu diesel 0.05S: không cao hơn 16.537 đồng/lít (tăng 418 đồng/lít so với giá hiện hành); Dầu hỏa: không cao hơn 15.503 đồng/lít (tăng 452 đồng/lít so với giá hiện hành); Dầu mazut 180CST 3.5S: không cao hơn 15.670 đồng/kg (tăng 221 đồng/kg so với giá hiện hành.
Thời gian thực hiện: Trích lập và chi Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu: áp dụng từ 15 giờ 00 ngày 12 tháng 7 năm 2021. Kể từ 15 giờ 00 ngày 12 tháng 7 năm 2021, là thời điểm Liên Bộ Công Thương - Tài chính công bố giá cơ sở kỳ công bố tại Công văn này cho đến trước ngày Liên Bộ Công Thương - Tài chính công bố giá cơ sở kỳ kế tiếp, việc điều chỉnh giá bán các mặt hàng xăng dầu do thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu quyết định phù hợp với các quy định tại Nghị định số 83/2014/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 39/2014/TTLT-BCT-BTC, Thông tư liên tịch số 90/2016/TTLT-BTC- BCT.
Hoạt động quản lý thị trường: Trên cả nước đã đồng loạt kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh xăng, dầu, qua đó kịp thời xử lý các hành vi vi phạm. Từ ngày 28-1 đến ngày 21-2/ 2022, lực lượng quản lý thị trường đã tiến hành gần 16.000 lượt kiểm tra, giám sát đối với các cửa hàng bán lẻ xăng, dầu trên địa bàn cả nước, phát hiện gần 300 cửa hàng ngưng bán hàng, với nhiều lý do. Các cửa hàng bán lẻ xăng, dầu đóng cửa, tạm ngưng hoạt động trên cả nước chủ yếu tại khu vực miền Nam; các tỉnh miền Bắc và miền Trung, việc cung ứng xăng, dầu diễn ra bình thường, ít xảy ra việc đóng cửa, tạm ngừng kinh doanh.

                   CƠ SỞ PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG
                                        ĐẾN BIẾN ĐỘNG GIÁ XĂNG DẦU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
 

Để đánh giá tác động của cú sốc giá xăng dầu đến các ngành kinh tế của Việt Nam bài viết đã căn cứ vào lý thuyết cơ bản về kinh tế học vi mô như sau:
Kinh tế học vi mô tập trung nghiên cứu một số nội dung quan trọng như: Cung - cầu, cạnh tranh, độc quyền, cung - cầu về lao động, sản xuất, chi phí, lợi nhuận, quyết định cung cấp, hạn chế của thị trường và sự can thiệp của chính phủ…Khi nghiên cứu về tình hình xăng dầu dưới góc độ cầu trên các yếu tố: Thu nhập; thị hiếu; giá cả của các hàng hoá liên quan (hàng hoá bổ sung và hàng hoá thay thế); số lượng người tiêu dùng; các kỳ vọng. Nghiên cứu về tình hình xăng dầu dưới góc độ cung trên các yếu tố: Công nghệ; giá các yếu tố đầu vào; chính sách thuế; số lượng nhà sản xuất; các kỳ vọng. Chúng ta có thể xác định:
Trong tổng cầu về xăng dầu của Việt Nam thời gian qua, tiêu dùng trung gian của các ngành kinh tế chiếm đến 93,7%, trong khi tiêu dùng cuối cùng của các hộ gia đình chiếm 5,8%, còn xuất khẩu chỉ chiếm 0,3%. Do đó, giá xăng dầu biến động (tăng, giảm) sẽ tác động trực tiếp đến các ngành kinh tế, đặc biệt là các ngành sử dụng nhiều xăng dầu làm đầu vào trong quá trình sản xuất.
Những ngành sử dụng nhiều xăng dầu bao gồm: Vận tải (sử dụng 22% tổng giá trị xăng dầu), sản xuất sản phẩm dầu mỏ (18,7%), thủy sản (12% ), xây dựng (8%), khách sạn nhà hàng (7%), khai thác than (5%).%). Những ngành này sẽ nhận được tác động trực tiếp, tiêu cực từ việc tăng giá xăng dầu. Còn đối với những ngành sử dụng ít xăng dầu như dệt may, giày da, luyện kim, máy móc thiết bị, sản xuất các sản phẩm hoá chất khác,... thì sẽ không chịu tác động trực tiếp của cú sốc tăng giá xăng dầu.
Trong các ngành sử dụng nhiều xăng dầu như đã liệt kê ở trên, bao gồm: Vận tải, sản xuất sản phẩm dầu mỏ, thủy sản, xây dựng, khách sạn nhà hàng, khai thác than, thì không phải tất cả các ngành trên đều có chi phí cho xăng dầu lớn. Những ngành vừa có chi phí sử dụng xăng dầu nhiều trong cơ cấu gía trị sản xuất vừa dùng nhiều xăng dầu sẽ chịu ảnh hưởng lớn nhất.
Ta thấy ngoại trừ ngành sản xuất các sản phẩm dầu mỏ ra thì tất cả các ngành sử dụng nhiều xăng dầu đã liệt kê ở trên đều nhận được tác động tiêu cực từ cú sốc tăng giá xăng dầu. Ngoài ra, đối với ngành sản xuất các sản phẩm dầu mỏ, tuy được kỳ vọng sẽ nhận được ảnh hưởng tích cực nhưng kết quả chạy theo mô hình lại cho thấy điều ngược lại. Đó là do nước ta nhập khẩu lượng xăng dầu thành phẩm từ nước ngoài (53,8%) lớn hơn xăng dầu sản xuất nội địa (46,2%). Đồng thời, việc tăng giá xăng dầu cũng làm cho nhập khẩu xăng dầu tăng lên một cách bất thường, điều này gây sức ép lên thị trường xăng dầu trong nước, dẫn tới thu hẹp quy mô sản xuất và sản lượng đầu ra giảm.
Khi giá xăng dầu tăng, các ngành thuỷ sản, khai thác than, xây dựng và vận tải giá trị nhập khẩu của các ngành trồng trọt, may, giày sản xuất các sản phẩm từ dầu và máy móc thiết lại tăng giá trị nhập khẩu. Bên cạnh đó, các ngành thuỷ sản, khai thác than, dầu thô và vận tải đều tăng giá trị xuất khẩu.
Khi giá xăng dầu tăng lên sẽ tác động trực tiếp và tiêu cực đến các nhóm hộ gia đình (nhóm có thu nhập cao nhất) là nhóm sử dụng xăng dầu nhiều nhất (chiếm 32.95% trong cơ cấu xăng dầu dành cho tiêu dùng cuối cùng của toàn nền kinh tế).

 

 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN GIÁ XĂNG DẦU VIỆT NAM TỪ THÁNG 01 NĂM 2021 ĐẾN NAY

Thời gian vừa qua, những biến động của thị trường thế giới, nhất là các động thái hoạt động quân sự của Nga và các nước Châu Âu, Mỹ… đã ảnh hưởng trực tiếp tới thị trường xăng dầu trong nước, dẫn tới giá cả xăng dầu trên thị trường Việt Nam có nhiều biến động không ngừng. Cụ thể: giá xăng đã giảm 4 lần, giữ ổn định 3 lần, tăng 20 lần. Dưới góc độ của kinh tế học vi mô, chúng ta có thể nhìn nhận giá xăng dầu tăng trong thời gian qua do một số yếu tố sau đâu:

 Một là, biến động của giá dầu thô thế giới, xăng dầu một trong những phẩm được chế biến dầu qua quá trình lọc dầu. Do đó, khi giá dầu thô biến động, lập tức ảnh hưởng tới thị trường xăng dầu toàn thế giới, và thị trường xăng Việt Nam cũng không phải ngoại lệ. Có thể nói, biến động của thế giới là nguyên nhân quan trọng nhất gây nên sự bất ổn giá cả trên thị trường xăng dầu. Từ tháng 01 năm 2021 cho tới nay, giá dầu thô thế giới chứa đựng nhiều bất ổn và thay đổi liên tục, nhưng xu hướng chung của giai đoạn vẫn tăng liên tục. Giá xăng dầu thành phẩm thế giới tăng giảm đan xen nhưng xu hướng chung là tăng khá cao nhất là đối với các mặt hàng xăng. Giá bình quân các sản phẩm xăng dầu thế giới trong 15 ngày trước kỳ điều hành giá xăng dầu ngày 12/7/2021 cụ thể như sau: 83,146 USD/thùng xăng RON92 dùng để pha chế xăng E5RON92 (tăng 3,341 USD/thùng, tương đương tăng 4,19% so với kỳ trước); 85,223 USD/thùng xăng RON95 (tăng 3,956 USD/thùng, tương đương tăng 4,87% so với kỳ trước); 78,326 USD/thùng dầu diesel 0.05S (tăng 0,692 USD/thùng, tương đương tăng 0,89% so với kỳ trước); 77,355 USD/thùng dầu hỏa (tăng 0,597 USD/thùng, tương đương tăng 0,78% so với kỳ trước); 422,216 USD/tấn dầu mazut 180CST 3.5S (tăng 7,184 USD/tấn, tương đương tăng 1,73% so với kỳ trước). Tính tới đầu năm 2022, giá dầu thô giao động quanh mức 90- 120 USD/ thùng, tăng đến khoảng 40% so với giá dầu thô đầu năm 2019. Sau ngày 24/2 giá 139 USD/ 01 thùng đến 15 tháng 3 là 90 USD.

Hai là, tác động từ thuế, phí và quỹ bình ổn

Về chính sách thuế phí, hiện nay cách tính thuế phí trong mặt hàng xăng dầu còn rất nhiều bất cập, 1 lít xăng dầu của Việt Nam phải cõng quá nhiều thuế phí. Điều này thực sự không đảm bảo lợi ích giữa nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng. Từ công thức tính được quy định trong Nghị định 83/2014/NĐ-CP, ta có thể thấy hiện một lít xăng đang phải áp các loại thuế phí sau: thuế nhập khẩu (thuế bình quân gia quyền), thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế VAT, thuế bảo vệ môi trường, chi phí định mức, lợi nhuận định mức, chi quỹ bình ổn. Theo tính toán, thuế nhập khẩu áp trên mỗi lít xăng là 1.275 đồng, thuế bảo vệ môi trường (3.000 đồng), chi phí định mức (1.050 đồng), lợi nhuận định mức (300 đồng), quỹ bình ổn giá (300 đồng), thuế tiêu thụ đặc biệt (1.380 đồng), thuế VAT (1.520 đồng). Như vậy, tổng các loại thuế phí một lít xăng phải gánh đạt 8.825 đồng. Trong khi đó, giá xăng RON 92 bán lẻ ngày 5/10 được Petrolimex niêm yết ở mức 16.400 đồng. Như vậy, thuế phí chiếm tới 53,8% giá xăng.

Về quỹ bình ổn giá xăng dầu, quỹ này được hình thành theo quy định tại Nghị định 84/2009/NĐ-CP là 300 đồng/lít (kg) của lượng xăng dầu thực tế tiêu thụ. Mức trích này cũng sẽ được Bộ Tài chính điều chỉnh phù hợp với những biến động của thị trường. Quỹ bình ổn giá được hạch toán vào tài khoản riêng và được sử dụng vào mục đích bình ổn giá, từ đó kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì ổn định tăng trưởng và an sinh xã hội. nghiêm cấm sử dụng vào mục đích khác. Định kỳ hàng quý và theo yêu cầu quản lý đột xuất các doanh nghiệp phải báo cáo kết quả trích và sử dụng quỹ bình ổn giá đối với Bộ Tài chính.

Ba là, lượng cung - cầu về xăng dầu trên thị trường chi phối: Khi các ngành tiêu thụ nhiều xăng dầu gia tăng hoạt động như: vận tải, quốc phòng, quân sự, chiến tranh xả ra mang tính chất khu vực và toàn cầu sẽ tác động rất lớn đến sự tăng giá.

 

 

 

 

TẠI SAO PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG XĂNG DẦU CỦA VIỆT NAM TỪ THÁNG 01/2021 CHO ĐẾN NAY?

 Xăng dầu là loại hàng hoá đặc biệt mang tính chiến lược không thể thiếu, có tầm quan trọng và tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của một nền kinh tế. Một thực tế rõ ràng rằng tất cả các ngành kinh tế đều chịu ảnh hưởng to lớn của ngành xăng dầu. Không chỉ thế, đây còn là mặt hàng thiết yếu, phục vụ cho việc đi lại, học tập, làm việc,... của người dân. Do đó, giá xăng dầu tăng đã làm cho các doanh nghiệp, hộ gia đình tăng chi tiêu hằng ngày, qua đó ảnh hưởng đến sản xuất, tiêu dùng. Giá cước vận tải tăng cũng có thể tác động đến giá cả hàng hóa tiêu dùng tăng. Như vậy, người tiêu dùng sẽ bị ảnh hưởng kép từ việc chi tiêu cho đến vấn đề năng lượng. Khi đó, tình hình kinh doanh, làm ăn của doanh nghiệp và người dân sẽ gặp rất nhiều khó khăn hơn. Một khi giá xăng dầu biến động, chắc chắn các ngành kinh tế cũng như giá cả các loại hàng hoá cũng sẽ biến động theo, từ đó tác động trực tiếp đến đời sống của người dân và cũng tác động đến tính ổn định của nền kinh tế.

Từ sau đại dịch Covid-19 có dấu hiệu phục hồi, các ngành có nhu cầu sử dụng xăng dầu có xu hướng ổn định phát triển, tình hình an ninh ở Châu Âu có nhiều biến động, nhất là khi Nga mở chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ucraine tính đến thời điểm hiện nay, giá xăng dầu liên tục được điều chỉnh tăng. Có thời điểm giá xăng tăng lên 27.109 đồng/lít (xăng RON 95), đạt mức cao nhất trong 8 năm qua. Trên thực tế, thời gian qua giá xăng dầu đã tăng tới khoảng 40%. Đối với một nước nhập khẩu một lượng xăng dầu thành phẩm lớn (chiếm hơn 50%) như Việt Nam thì việc giá xăng dầu tăng mang lại rất nhiều tác động đa chiều. Để phát triển các hoạt động sản xuất, chi phí đầu vào tăng làm tăng giá bán sản phẩm, giảm sức cạnh tranh của hàng hoá, doanh nghiệp bị ảnh hưởng nhiều hơn kéo theo giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế và ảnh hưởng thu, chi cho ngân sách từ thuế giá trị gia tăng, thuế sản xuất...Tuy nhiên, việc tăng giá xăng dầu cũng mang lại những hiệu quả nhất định đối với nước ta - Một nước có loại tài nguyên này. Đó là tăng nguồn thu cho ngân sách từ khai thác dầu cùng góp phần tăng thu GDP….

 Có thể nói, giá xăng dầu tăng dần lên từ tháng 01/2021 đến nay đã mang lại cho nước ta những tác động đa chiều. Nhất là trực tiếp ảnh hưởng đến tiêu dùng của toàn thể nhân dân. Tuy nhiên, hiệu quả đến đâu, cần có những giải pháp nào để bình ổn giá xăng dầu ở Việt Nam hiện nay là vấn đề cần được phân tích và luận giải rõ hơn.

Tích cực, chủ động nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.

 Nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục xây dựng và phát triển quan hệ của Việt Nam đối với khu vực và quốc tế đi vào chiều sâu, thực chất trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy tối đa nội lực, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc; chủ động ngăn ngừa và giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; vì lợi ích quốc gia - dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; không ngừng nâng cao uy tín và vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Điều này thể hiện Việt Nam không chỉ “là bạn, đối tác tin cậy” của các quốc gia, mà còn phải là “một thành viên có trách nhiệm” trong cộng đồng quốc tế.

Chủ động đề xuất sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới, nhằm tạo ra sự thay đổi về chất trong hợp tác quốc tế về pháp luật. Gia tăng sự đan xen gắn kết lợi ích, mức độ tùy thuộc lẫn nhau về mọi mặt, kể cả trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh giữa Việt Nam với các đối tác. Muốn vậy, Việt Nam cần nâng cao sức mạnh tổng hợp của quốc gia, phải có thực lực mạnh thì lợi ích chiến lược của đất nước mới được giữ vững, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Ta có mạnh thì họ mới chịu đếm xỉa đến. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy”. Thực lực của Việt Nam là sức mạnh tổng hợp mọi mặt cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại...; cả “thực lực vật chất” và “thực lực phi vật chất”, “sức mạnh cứng” và “sức mạnh mềm”; kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Thực tiễn cho thấy, các nước lớn luôn giữ vai trò dẫn dắt, định hình cục diện; tuy nhiên, những quốc gia tầm trung, có thực lực đủ mạnh luôn giữ được một vị thế, vai trò nhất định, ở vào một vị thế tốt hơn để bảo vệ độc lập, tự chủ, lợi ích chiến lược của đất nước.

Tích cực và chủ động sử dụng các diễn đàn, cơ chế khu vực do ASEAN giữ vai trò chủ đạo để tạo thuận lợi cho các đối tác tham gia và đóng góp vào việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải và hàng không trên Biển Đông. Tích cực hợp tác cùng các nước, các tổ chức quốc tế trong việc đối phó với những thách thức an ninh phi truyền thống, nhất là tình trạng biến đổi khí hậu; sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế có liên quan về vấn đề dân chủ, nhân quyền; chủ động, kiên quyết đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị - xã hội của Việt Nam. Tham gia các cơ chế hợp tác chính trị, an ninh song phương và đa phương vì lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc. Tích cực tham gia có hiệu quả vào cuộc đấu tranh của nhân dân và các tổ chức, các lực lượng tiến bộ trên thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Nâng cao khả năng thích ứng năng động và linh hoạt xử lý hài hòa lợi ích quốc gia với quan tâm chung, tùy theo từng đối tượng, vấn đề, thời điểm cụ thể, phù hợp với luật pháp quốc tế và các nguyên tắc ứng xử tại khu vực, trên tinh thần lợi ích quốc gia - dân tộc là tối cao.

Giải quyết tốt những vấn đề do lịch sử để lại với các nước láng giềng, làm tốt công tác quản lý biên giới, xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển. Chủ động hóa giải những vấn đề mới nảy sinh một cách có hiệu quả; tuyệt đối không để các thế lực thù địch lợi dụng những vấn đề do lịch sử để lại nhằm kích động hận thù dân tộc, chia rẽ quan hệ hữu nghị giữa các nước, làm cho tình hình quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng trở nên phức tạp, khó lường, đe dọa đến môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực. Thực hiện nghiêm các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, nâng cao năng lực hội nhập và mức độ hưởng lợi từ hội nhập, tiếp tục có những đóng góp xứng đáng vào việc phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường khu vực và quốc tế. Giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ, không lệ thuộc trong quan hệ với các nước, trong đó có các nước lớn. Ngoài ra, yêu cầu bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước đòi hỏi rất cao ý thức trách nhiệm công dân của mọi người dân Việt Nam, ý thức trách nhiệm trước Tổ quốc của các chủ thể, các lực lượng, đặc biệt là những lực lượng trực tiếp tham gia các hoạt động đối ngoại, hợp tác với nước ngoài, trong đó tập trung nâng cao bản lĩnh, phẩm chất, năng lực, phong cách chuyên nghiệp, đổi mới sáng tạo của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế; chú trọng đào tạo, sắp xếp, bố trí hợp lý đội ngũ các chuyên gia tư vấn, xây dựng chiến lược, đường lối, chính sách, pháp luật./.

Thủ đoạn bôi nhọ chính sách bảo hộ công dân Việt Nam tại Ukraine

 

Chính phủ Việt Nam luôn thực thi chính sách bảo hộ công dân tại nước ngoài với tinh thần “tương thân tương ái” hỗ trợ tối đa để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là các điểm nóng xung đột, chiến tranh như Trung Đông, Bắc Phi và hiện nay là xung đột giữa Nga và Ukraine.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch và những thành phần tự xưng đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền luôn rêu rao các quan điểm sai lệch về chính sách bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài nhằm gây hoang mang dư luận, làm suy giảm niềm tin của công dân trong và ngoài nước đối với Đảng, Nhà nước Việt Nam. Luận điệu này thể hiện trên một số điểm sau:

- Phủ nhận vai trò của các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại Nga và Ukraine trong hỗ trợ người dân sơ tán khỏi vùng chiến sự. Truyền thông hải ngoại như đài RFA, BBC tiếng Việt, VOA, facebook của tổ chức khủng bố Việt Tân…đã vẽ ra bức tranh quy kết chính quyền Việt Nam “đứng ngoài lề, dửng dưng với những người dân đang kẹt lại tại khu vực xung đột Nga – Ukraine”.

RFA ngày 11/3/2022 đăng tải bài viết về thực trạng người dân Việt Nam tại Ukraine và vu cáo “Không thấy vai trò của toà đại sứ Việt tại các quốc gia đó ở đâu! Lại cái cảnh “dân giúp dân” như tại Việt Nam thời COVID-19 hoành hành!”. Qua đó, nội dung bài viết phủ nhận những nỗ lực của các cơ quan ngoại giao Việt Nam ở Nga và Ukraine trong việc đưa ra các phương án bảo vệ tài sản, tính mạng, sức khoẻ những người dân và cho rằng, khi chiến sự nổ ra đã không quan tâm sơ tán người dân. Đây là luận điệu nguy hiểm, đánh vào tâm lý những người dân đang kẹt lại các điểm nóng và gây hoang mang cho người dân trong nước về tình hình cộng đồng người Việt tại Ukraine.

- Làm giảm niềm tin của người dân trong nước đối với hoạt động quản lý của cơ quan chức năng liên quan đến hỗ trợ người dân tại các quốc gia đang xung đột, chiến tranh. Sau khi vụ án liên quan đến hành vi nhận hối lộ của một số cá nhân tại Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao được cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, điều tra, các thế lực thù địch, giới dân chủ tự xưng đã khoét sâu vào những sai phạm này để quy chụp, bôi nhọ. Nhiều bài viết các đối tượng vu cáo chính quyền Việt Nam bao che, dung túng sai phạm, đồng thời rêu rao, kích động người dân không tin tưởng vào những hoạt động hỗ trợ của chính quyền đối với kiều bào Việt Nam ở nước ngoài. Họ nhắc lại những chiến dịch sơ tán người dân tại Bắc Phi, Trung Đông giai đoạn 2011-2014, đưa các clip, hình ảnh, bài viết sai lệch về việc người Việt “phải tự mình xoay xở” với hoàn cảnh khó khăn, từ đó suy diễn, vu cáo cơ quan ngoại giao của Việt Nam không thực hiện chính sách bảo hộ công dân Việt ở nước ngoài.

- Bôi lem hình ảnh, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, mục đích để thế giới nhìn nhận Việt Nam là quốc gia thiếu trách nhiệm trong giải quyết các vấn đề nóng trên thế giới.

Việt Nam đã tham gia ký kết các Công ước về ngoại giao theo luật pháp quốc tế nên các cơ quan ngoại giao Việt Nam có cơ sở để lên tiếng yêu cầu các quốc gia đang có xung đột, chiến tranh phải có trách nhiệm đối với cộng đồng người Việt Nam. Thực tế, các cơ quan đại diện ngoại giao luôn đi đầu trong nắm diễn biến tình hình và thực hiện các biện pháp bảo vệ tài sản, tính mạng cho công dân theo chính sách bảo hộ của pháp luật. Tuy nhiên, nhiều cá nhân, tổ chức quốc tế có những góc nhìn thiếu khách quan, trung thực trong đánh giá hoạt động của cơ quan ngoại giao của Việt Nam. Một số tổ chức thiếu thiện chí đưa ra thông tin, hình ảnh sai lệch nhằm bôi lem, hạ uy tín Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế, các hội thảo đa phương, thậm chí lên án Việt Nam tại các phiên điều trần của nghị viện Mỹ, EU… Một số cơ quan truyền thông phương Tây tô vẽ góc nhìn lệch lạc, trái với bản chất, tạo ra dư luận xấu về hình ảnh của Việt Nam, mục đích làm cho quốc tế nhìn nhận Việt Nam là quốc gia thiếu tin cậy, thiếu trách nhiệm, thậm chí hướng lái thành “đứng ngoài cuộc” trong tham gia giải quyết các điểm nóng, xung đột trên thế giới.

Thực tế, những hoạt động tích cực của các cơ quan chức năng Việt Nam thể hiện xuyên suốt, từ chủ trương, chính sách đến hành động bảo hộ công dân Việt Nam tại nước ngoài. Điều đó được biểu hiện ở các nội dung:

Một là, Đảng, Nhà nước Việt Nam khẳng định công dân Việt ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập quốc tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập sâu rộng với thế giới. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định chính sách nhất quán “nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân”. Nhằm cụ thể hóa tinh thần này của Đại hội XIII, Hội nghị Ngoại giao lần thứ 31 nhấn mạnh cần “triển khai toàn diện, mạnh mẽ, kịp thời, hiệu quả công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài và bảo hộ công dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người Việt Nam ở nước ngoài”; “chăm lo, hỗ trợ đồng bào ta, nhất là ở những địa bàn khó khăn”.

Đối với các điểm nóng, xung đột trên thế giới như tại Ukraine hiện nay, Chính phủ đã gửi Công điện 201 ngày 26/2/2022 về việc “Bảo hộ công dân và pháp nhân Việt Nam và một số vấn đề cần lưu ý trước tình hình tại Ukraine”, yêu cầu các bộ, ngành, các cơ quan đại diện Việt Nam tại Ukraine và các nước lân cận Ba Lan, Nga, Rumania, Hungaria, Slovakia phối hợp chặt chẽ trong việc triển khai các phương án bảo hộ công dân, đảm bảo an ninh, an toàn, các điều kiện cần thiết để sơ tán công dân Việt Nam khỏi vùng chiến sự, đến các nước lân cận và về nước nếu có nguyện vọng.

Hai là, dưới góc độ luật pháp, Việt Nam cam kết thực hiện chính sách bảo hộ công dân tại nước ngoài theo quy định pháp luật Việt Nam và phù hợp với luật pháp quốc tế. Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Công dân Việt Nam ở nước ngoài được Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam bảo hộ” (Khoản 3, Điều 17). Luật Quốc tịch Việt Nam ghi nhận: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài. Các cơ quan nhà nước ở trong nước, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm thi hành mọi biện pháp cần thiết, phù hợp với pháp luật của nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế để thực hiện sự bảo hộ đó” (Điều 6, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014). Việt Nam cũng đã chủ động sửa đổi Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ở nước ngoài năm 2009 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nhằm phù hợp với Công ước quốc tế như Nghị định thư bổ sung Công ước Geneva về bảo hộ nạn nhân trong các cuộc xung đột quốc tế; Công ước Viên về quan hệ ngoại giao năm 1961.

Ba là, xuất phát từ thực tế thực hiện chính sách bảo hộ công dân Việt Nam ở các nước trên thế giới luôn được Chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm và xác định đó không chỉ là lợi ích của mỗi cá nhân mà còn thể hiện trách nhiệm của Chính phủ Việt Nam đối với công dân khi công tác, học tập làm ăn ở nước ngoài theo tinh thần “không ai bị bỏ lại đằng sau”. Ngày 6/3/2022, trong cuộc làm việc với Bộ Ngoại giao liên quan đến sơ tán công dân Việt từ Ukraine khỏi vùng chiến sự, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh: Công tác bảo hộ công dân cần được đặc biệt quan tâm; quá trình tổ chức cần thực hiện những chuyến bay miễn phí đưa trường hợp khó khăn về nước, đồng thời phải thực hiện nhất quán “ưu tiên phụ nữ, trẻ em, người già”. Đó là minh chứng cho những lời hứa thực hiện bảo hộ công dân Việt tại nước ngoài nhằm thực hiện cam kết của Chính phủ với người dân trước những diễn biến phức tạp tại Ukraine.

Mặt khác, trong những năm qua, Việt Nam đã từng tổ chức nhiều phương án, biện pháp thiết thực như lập cầu hàng không sơ tán người lao động ở Libya năm 2011 và 2014; đưa hành khách ra khỏi châu Âu do núi lửa phun trào năm 2010; giải cứu hành khách bị kẹt tại Thái Lan do khủng hoảng chính trị năm 2008; vận chuyển công dân Việt Nam trở về từ Malaysia, Trung Đông các năm 2005-2007... Năm 2021, Bộ Ngoại giao đã phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan liên quan tổ chức gần 600 chuyến bay đưa hơn 130.000 công dân từ hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ về Việt Nam…

Thực tế đó thể hiện rõ chủ trương, chính sách và hành động thiết thực của Việt Nam trong công tác bảo hộ công dân ở nước ngoài; là bằng chứng sinh động phủ nhận những luận điệu sai trái, vu cáo của các thế lực xấu.

Mềm dẻo, linh hoạt, kiên trì, kiên quyết trong giải quyết mối quan hệ với các nước, tổ chức quốc tế vì lợi ích chiến lược của đất nước.

 Tương quan so sánh lực lượng giữa các nước lớn trong khu vực đang có sự thay đổi dẫn đến sự điều chỉnh chính sách và quan hệ giữa các nước lớn, tập hợp lực lượng xung quanh các nước lớn và trật tự khu vực đang diễn ra quyết liệt, khó lường. Việt Nam, với vị thế địa - chính trị của mình cũng không thể nằm ngoài vòng xoáy của thay đổi tương quan lực lượng và điều chỉnh chính sách của các nước lớn trong khu vực, đòi hỏi cũng phải có sự điều chỉnh chính sách, nhất là chính sách đối ngoại để thực hiện được mục tiêu bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước theo phương châm: Kiên định về mục tiêu, nguyên tắc chiến lược; linh hoạt, mềm dẻo về sách lược; kiên trì giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế; tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nước, dư luận quốc tế: “Thúc đẩy việc tôn trọng, tuân thủ các nguyên tắc cơ bản và phổ quát của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế trong quan hệ quốc tế, nhất là tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị - xã hội, không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước... bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia, bác bỏ hành vi cường quyền, áp đặt, gây căng thẳng và thù địch trong quan hệ quốc tế”.

Trong quan hệ đối ngoại, Việt Nam cần chủ động tranh thủ, khai thác có hiệu quả những điểm tương đồng, tạo dựng mặt đồng thuận, hạn chế, khắc chế mặt bất đồng với những tác hại đến lợi ích chiến lược của đất nước. Coi trọng và xử lý đúng đắn, linh hoạt, hài hòa quan hệ giữa các nước, nhất là các nước lớn, các nước có chung đường biên giới, các nước láng giềng, các tổ chức khu vực và quốc tế dựa trên vị trí địa chiến lược, lợi ích chiến lược của đất nước. Thực hiện tốt các trọng trách quốc tế, nhất là trong ASEAN, Liên hợp quốc và các khuôn khổ hợp tác ở châu Á - Thái Bình Dương; chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh và phát triển bền vững. Phát triển quan hệ với các đảng cộng sản, các đảng cầm quyền ở các nước và những tổ chức, phong trào tiến bộ khác trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, giữ vững độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; mở rộng tham gia các cơ chế, diễn đàn đa phương trong khu vực và trên thế giới. Chủ động đẩy mạnh hợp tác theo hướng thiện chí, minh bạch, tăng cường xây dựng lòng tin với các đối tác. Trong đó, cần khéo léo, không để hiểu lầm Việt Nam “bắt tay” với nước này chống nước kia, gây phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc.

Bối cảnh quốc tế, khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó đoán định. Do đó, cần đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, phân tích, đánh giá, dự báo toàn diện tình hình và xu thế phát triển trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, đối ngoại, khoa học - công nghệ, quân sự... của quốc tế, khu vực, các nước lớn, các nước ở Đông Nam Á; thực trạng và xu hướng phát triển mối quan hệ giữa các nước lớn, các nước Đông Nam Á, các nước có nhiều lợi ích liên quan đối với Việt Nam. Nhận diện kịp thời, đúng đắn, thực chất mối quan hệ, sự thỏa thuận hoặc mâu thuẫn, thống nhất giữa các nước lớn với các nước ở khu vực trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế, khu vực liên quan đến chủ quyền, lợi ích của Việt Nam. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc lớn (chủ nghĩa sô-vanh mới), chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa dân tộc ly khai và chủ nghĩa dân tộc biệt lập.

Đấu tranh, phê phán các quan điểm sai lầm, phản động trong việc tuyệt đối hóa lợi ích quốc gia - dân tộc mình, xem nhẹ lợi ích của quốc gia - dân tộc khác, lảng tránh những vấn đề toàn cầu, có ảnh hưởng đến sự tồn vong của nhân loại, như dịch bệnh, đói nghèo, ô nhiễm môi trường và chiến tranh... Kiên quyết, kiên trì trong việc giải quyết các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biên giới trên bộ, trên biển, đảo bằng giải pháp hòa bình, trên cơ sở hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích giữa các nước, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Trong đó, hợp tác giải quyết tốt các vấn đề về xung đột lợi ích giữa các quốc gia trên biển, nhất là việc giải quyết thỏa đáng vấn đề chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia ở Biển Đông; kiên trì, kiên quyết bảo vệ các lợi ích chính đáng của Việt Nam phù hợp với luật pháp quốc tế.

Xây dựng cơ sở pháp lý vững chắc, kiên quyết thúc đẩy giải quyết các vấn đề trên biển trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), kiên trì thông qua đối thoại giải quyết hòa bình vấn đề tranh chấp ở Biển Đông, hạn chế, loại trừ xung đột vũ trang, tạo môi trường và điều kiện tốt nhất để bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước. Kiên quyết ngăn chặn những biểu hiện chỉ vì lợi ích cục bộ, lợi ích địa phương, lợi ích riêng của doanh nghiệp mình mà làm ảnh hưởng, vi phạm, phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích chiến lược của đất nước trong quá trình hợp tác, quan hệ với nước ngoài. Thường xuyên nâng cao năng lực nghiên cứu dự báo chiến lược, giữ vững thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống./.

Đấu tranh bảo vệ chủ quyền, lợi ích chiến lược của đất nước phải gắn chặt với bảo vệ hòa bình, ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ các giá trị chuẩn mực của luật pháp quốc tế.

 Trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước phải được thực hiện trên tinh thần độc lập, tự chủ. Việt Nam luôn nhất quán quan điểm không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Đồng thời, căn cứ vào tình hình, điều kiện cụ thể, “Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế”(3). Việc giải quyết các tranh chấp, bất đồng được thực hiện theo phương châm kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình (đàm phán, trọng tài, tòa án quốc tế...) trên cơ sở luật pháp quốc tế. Cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền và lợi ích chiến lược của đất nước gắn liền với cuộc đấu tranh bảo vệ các chuẩn mực của luật pháp quốc tế. Kêu gọi sự ủng hộ, đồng thuận của cộng đồng quốc tế trong việc giải quyết các tranh chấp, bất đồng trên tinh thần luật pháp quốc tế.

Trong hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế, tiếp tục đẩy mạnh, không ngừng mở rộng và đi vào chiều sâu mối quan hệ với các nước trong khu vực và trên thế giới, góp phần củng cố môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển. Bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước không chỉ sử dụng thuần túy sức mạnh nội sinh của quốc gia - dân tộc, mà cần kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Trong đó, sức mạnh quốc tế chỉ được phát huy cao độ khi Việt Nam đứng vững trên lập trường chính nghĩa, dựa trên luật pháp quốc tế, phù hợp với giá trị chung mà nhân loại cùng quan tâm, như: Bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, các lợi ích chiến lược của đất nước phù hợp với luật pháp quốc tế; phát huy vai trò, trách nhiệm trong bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới; mở rộng hợp tác với các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực, quốc tế. Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “đẩy mạnh đưa quan hệ với các đối tác, đặc biệt là đối tác quan trọng, đi vào chiều sâu, hiệu quả, bền vững, tăng cường đan xen lợi ích; xử lý linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả mối quan hệ với các nước lớn”(4).

Sử dụng hiệu quả các biện pháp chính trị ngoại giao tại khoản 1, Điều 33 của Hiến chương Liên hợp quốc: “Các bên đương sự trong các cuộc tranh chấp, mà việc kéo dài các cuộc tranh chấp ấy có thể đe dọa đến hòa bình và an ninh quốc tế, trước hết, phải cố gắng tìm cách giải quyết tranh chấp bằng con đường đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án, sử dụng những tổ chức hoặc những điều ước khu vực, hoặc bằng các biện pháp hòa bình khác tùy theo sự lựa chọn của mình”. Đồng thuận, nhất quán với quan điểm đó, nhân kỷ niệm 53 năm Ngày thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á - ASEAN (8-8-1967 - 8-8-2020), Bộ trưởng Ngoại giao của 10 nước ASEAN đã ra Tuyên bố về việc duy trì hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á: “Kêu gọi tất cả các nước kiềm chế, không tiến hành các hoạt động làm phức tạp hoặc leo thang tranh chấp và ảnh hưởng tới hòa bình, ổn định, không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực và giải quyết các khác biệt và tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế”. Tôn trọng luật pháp quốc tế là cách thức hữu hiệu nhằm ngăn ngừa xung đột cũng như tìm kiếm những giải pháp lâu bền cho tranh chấp, xung đột. Theo đó, Việt Nam cần tiếp tục ủng hộ mọi nỗ lực thực hiện các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp theo Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, từ thương lượng, hòa giải tới việc sử dụng các cơ chế pháp lý quốc tế. Tích cực triển khai các cam kết khu vực và quốc tế, lồng ghép với các chiến lược, chính sách, kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế - xã hội./.

Đại hội XIII của Đảng xác định triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng với các điểm mới sau:

 1- Lợi ích quốc gia - dân tộc luôn được quan tâm và xác định là mục tiêu trọng yếu trong hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Báo cáo chính trị Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi”. Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng có cách nhìn nhận và xác định rõ hơn: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”.

Lợi ích quốc gia - dân tộc bao gồm rất nhiều yếu tố lợi ích: chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh. Trong bối cảnh thế giới hiện nay, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng tăng lên, tất cả các nước đều chịu ràng buộc bởi “luật chơi chung”, mỗi quốc gia không còn là một cá thể riêng biệt mà phải chấp nhận hoặc gắn bó với nhau trong các mối quan hệ, liên kết hợp tác và cả cạnh tranh xung đột do sự đan xen cùng chiều và khác biệt về lợi ích quốc gia - dân tộc. Trong quan hệ phức tạp đó, bất kể quốc gia nào nếu chỉ theo đuổi lợi ích vị kỷ của mình sẽ dẫn tới căng thẳng, đối đầu. Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã có cách nhìn nhận về vấn đề này một cách thấu đáo, nhạy bén và xác đáng trong bối cảnh tình hình thực tế của thế giới.

2- Xác định rõ hơn vai trò của hoạt động đối ngoại.

Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”. Đây là lần đầu tiên Văn kiện Đại hội Đảng xác định cụ thể và sâu sắc vị trí, vai trò của công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Điều đó làm sáng rõ hơn nhiệm vụ trọng yếu của công tác đối ngoại là tiên phong trong việc giữ vững môi trường hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đối ngoại để phục vụ đối nội. Mở rộng quan hệ đối ngoại nhằm thúc đẩy quan hệ kinh tế, tăng cường hợp tác quốc tế để phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh.

3- Xác định chủ trương mới trong xây dựng nền ngoại giao và đội ngũ cán bộ đối ngoại.

Báo cáo chính trị Đại hội XII của Đảng nêu rõ: “đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền đối ngoại; chăm lo đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại; bồi dưỡng kiến thức đối ngoại cho cán bộ chủ chốt các cấp”. Đến Đại hội XIII của Đảng, Báo cáo chính trị xác định: “Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”. Như vậy, cùng với chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, tiến tới hiện đại, Đại hội XIII của Đảng đề cập đến việc xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại. Đây là bước tiến mới có tính đột phá đối với hoạt động đối ngoại.

Cùng với việc chú trọng xây dựng nền ngoại giao hiện đại, Đại hội XIII của Đảng còn xác định: “Nâng cao bản lĩnh, phẩm chất, năng lực, phong cách chuyên nghiệp, đổi mới sáng tạo của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế”.

4- Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng.

Văn kiện Đại hội XII của Đảng chủ trương: Triển khai mạnh mẽ định hướng chiến lược chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Đại hội XIII đã cụ thể hóa hơn và xác định những định hướng và nhiệm vụ sâu rộng hơn về hội nhập quốc tế. Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia. Gắn kết chặt chẽ quá trình chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng với việc nâng cao sức mạnh tổng hợp, huy động tiềm năng của toàn xã hội; đổi mới, hoàn thiện thể chế trong nước, nâng cao năng lực tự chủ, cạnh tranh và khả năng thích ứng của đất nước”.

Rõ ràng là, Đảng ta nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn các đặc điểm của môi trường quốc tế và hội nhập quốc tế không giới hạn trong một phạm vi hay một lĩnh vực nào mà nó lan tỏa ở mọi cấp độ, mọi lĩnh vực trên phạm vi khu vực và toàn cầu. Thực hiện hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng là tham gia vào các quá trình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và muốn hiệu quả phải tăng cường nội lực, giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy sức mạnh tổng hợp của quốc gia - dân tộc.

5- Chủ động, tích cực đóng góp đối với các hoạt động quốc tế.

Văn kiện Đại hội XII của Đảng nêu rõ: Chủ động tham gia và phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN và Liên hợp quốc. Nhằm cụ thể hóa hơn và nâng cao tính chủ động, tích cực, hiệu quả các hoạt động quốc tế, Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Chủ động tham gia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam trong xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự chính trị - kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế và các hiệp định thương mại đã ký kết”.

Có thể khẳng định, những nhận thức và tư duy mới về quốc phòng, an ninh, đối ngoại trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng là những chủ trương lớn, đúng đắn, có ý nghĩa chiến lược; là kết quả của việc tổng kết sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng về củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, góp phần vào thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước trong 35 năm qua./.