Thứ Tư, 30 tháng 3, 2022

Quyết liệt chống “chạy thành tích” và “thổi phồng thành tích”

 

Trong 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân mà Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới chỉ ra, có hai lần từ “thành tích” được nhắc đến.

Đó là “chạy thành tích” và “thổi phồng thành tích”. Đây là mặt trái, cũng là biểu hiện của căn bệnh thành tích, nếu không sớm được phát hiện, ngăn chặn, triệt tiêu sớm sẽ làm ảnh hưởng xấu đến truyền thống, uy tín của quân đội, phẩm chất và hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ.

Thành tích là kết quả được đánh giá tốt do nỗ lực mà đạt được. Do vậy, trong các phong trào thi đua cách mạng, thành tích là biểu hiện sinh động nhất của kết quả lao động, tinh thần dũng cảm chiến đấu, học tập chăm chỉ, công tác chuyên cần của một người hay một tập thể. Nên ai cũng quý thành tích là vậy!

Gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn phấn đấu không ngừng để đạt nhiều thành tích trên cả 3 chức năng của quân đội (đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động, sản xuất), góp phần bảo vệ vững chắc nền độc lập của dân tộc, chung tay vì sự bình yên của nhân dân, tạo ra nhiều của cải, vật chất làm giàu cho đất nước.

Phấn đấu để có thành tích không phải đơn giản, dễ dàng, mà phải bỏ ra nhiều tâm sức, trí tuệ, vượt nhiều gian khổ, khó khăn. Phấn đấu để ngày càng có thêm thành tích, cống hiến nhiều hơn cho cách mạng là yêu cầu của Đảng, của toàn dân, toàn quân đối với mỗi chúng ta, là thước đo đạo đức tài năng của mỗi cán bộ, đảng viên.

Quyết liệt chống “chạy thành tích” và “thổi phồng thành tích”
 Lực lượng vũ trang Thanh Hóa tuần tra kiểm soát biên giới phòng, chống dịch Covid-19.  

Đất nước ta sau hơn 35 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Để đạt được mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội cần phát huy hơn nữa tinh thần cách mạng, khắc phục thái độ làm việc cầm chừng, dũng cảm vượt qua mọi gian khổ, khó khăn, lập nhiều thành tích xuất sắc.

Tất cả mọi người, mọi cơ quan, đơn vị, địa phương đâu đâu cũng đều cố gắng thi đua lập thành tích thì sự nghiệp cách mạng, dù khó khăn, gian khổ đến mấy, cũng sẽ thắng lợi vẻ vang. Cho nên, chúng ta hết sức quý mến, cảm phục trước những con người, tập thể đã lập nên nhiều thành tích cho cách mạng, cho đất nước.

Đó là những tấm gương sáng để mọi người học tập và noi theo. Đảng, Nhà nước và các cấp, ngành, địa phương luôn quan tâm, khuyến khích động viên mọi người gắng sức để có nhiều thành tích. Những cá nhân và tập thể lập nhiều thành tích được biểu dương, khen thưởng bằng nhiều hình thức khác nhau; những cán bộ có nhiều thành tích được cất nhắc, đề bạt. Đó là sự ghi nhận cần thiết.

Có thể khẳng định: Thời gian qua, nhiều tập thể, cá nhân nhận thức đúng vấn đề thành tích và luôn ra sức phấn đấu để ngày càng có thêm nhiều thành tích với động cơ trong sáng, vô tư, đóng góp ngày càng nhiều vào sự nghiệp chung của cách mạng.

Tuy nhiên, cũng có một số cá nhân, đơn vị không có hoặc chưa có nhận thức và hành động đúng đắn trong vấn đề này. Biểu hiện là: Một số người, một số đơn vị khi đã có ít nhiều thành tích rồi thì sinh ra kiêu ngạo, tự mãn, ngủ quên trên “vòng nguyệt quế”, thiếu ý chí phấn đấu vươn lên.

Tất nhiên, ai trong mỗi chúng ta đều có quyền tự hào với thành tích mình nỗ lực đạt được nhưng phải luôn giữ cho mình đức tính khiêm tốn, luôn xác định kết quả đạt được hôm nay chỉ là thành quả bước đầu trong cả quá trình phấn đấu lâu dài. Nếu ai cũng bằng lòng với thành tích đạt được hôm nay, không tiếp tục tự học tập, rèn luyện, vươn lên gặt hái những thành công tiếp theo thì sự nghiệp cách mạng sẽ chững lại, các phong trào thi đua thiếu đi động lực mới, quyết tâm mới.

Một số khác do mang nặng chủ nghĩa cá nhân mà mắc bệnh thành tích. Họ làm việc gì cũng chỉ vì thành tích, lúc nào cũng nghĩ đến thành tích. Vì mắc bệnh thành tích mà họ sẵn sàng làm gian dối; họ thích được ca ngợi, thích được khen thưởng, “thổi phồng thành tích” và thù ghét những ai “vạch mặt, chỉ tên” những hạn chế, khuyết điểm của mình.

Ở mức độ nghiêm trọng hơn, những người mắc bệnh thành tích còn “chạy thành tích” và "nặn ra thành tích" bằng cách lo lót cho một số cán bộ có chức quyền, báo cáo gian dối, xuyên tạc kết quả. Khi không lo lót được thì họ dùng những mánh khóe để đánh lừa cấp trên và dư luận...

Có thể nói, bệnh thành tích đang diễn ra khá phổ biến ở nhiều cơ quan, đơn vị, hệ lụy dẫn đến là những báo cáo không trung thực, bao che khuyết điểm, thổi phồng thành tích. Căn bệnh này cần những “phương thuốc hữu hiệu” để chữa trị kịp thời, nếu không sẽ làm ảnh hưởng đến mặt tích cực của thành tích trong các phong trào thi đua cách mạng.

Để chữa căn bệnh này, trước hết mỗi cấp ủy, tổ chức đảng cần phải làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, xây dựng động cơ thi đua đúng đắn trong mỗi cán bộ, đảng viên. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: Phải làm cho nhân dân, cán bộ, chiến sĩ hiểu được lợi ích của thi đua trên là vì nước, dưới là vì nhà, một là ích nước, hai là lợi dân.

Xác định động cơ đúng đắn thi đua vì lợi ích chung giúp mỗi cán bộ, đảng viên biết tự thanh lọc tâm hồn; nâng cao ý thức trách nhiệm, phòng ngừa những biểu hiện của bệnh thành tích; đồng thời, nỗ lực phấn đấu, cống hiến bằng chính năng lực của bản thân.

Mỗi cơ quan, đơn vị cần căn cứ vào điều kiện thực tế của mình, từ đó đăng ký các nội dung, phong trào, chỉ tiêu thi đua phù hợp. Tránh tình trạng phô trương, hình thức, dẫn tới chạy thành tích; đánh giá, khen thưởng không đúng người, đúng việc, đúng thành tích, gây ra những phản ứng ngược trong thi đua.

Chú trọng phát huy vai trò giám sát, đánh giá của các tổ chức quần chúng, đoàn thể trong thi đua. Đây được xem là biện pháp rất quan trọng để chữa trị bệnh thành tích. Bởi quần chúng vừa là người có “trăm tay, nghìn mắt”, vừa là người thực hành, giám sát những việc làm của cán bộ. Họ hiểu rõ hơn ai hết cán bộ nào có tài đức, vì lợi ích chung; cán bộ nào chỉ “sính” thành tích mà làm ẩu nhưng báo cáo hay.

Chú trọng phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ các cấp, đặc biệt là người đứng đầu trong việc công tâm, khách quan trong đánh giá, nhận xét thành tích các tập thể, cá nhân trong các phong trào thi đua. Trên thực tế, ở đâu người đứng đầu giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, giữ kỷ cương, kỷ luật; luôn đặt lợi ích tập thể lên trên hết thì sẽ chữa trị bệnh thành tích trong đơn vị một cách hiệu quả nhất.

Ngoài những giải pháp trên, để bệnh thành tích được ngăn chặn thì rất cần tới sự trong sáng, khách quan của các cơ quan chức năng trong xem xét, đánh giá để quyết định khen thưởng đúng người, đúng việc. Trong đó, các cơ quan chức năng cần thay đổi phương pháp đánh giá mang tính định lượng nhiều hơn thay cho định tính, theo từng tháng thi đua; có điểm “cộng” và “trừ” rõ ràng để tránh tình trạng những cơ quan, đơn vị làm nhiều nhưng chỉ vì một sơ suất nhỏ (chủ yếu do nguyên nhân khách quan) thì lại bị “trừ” hết thi đua.

Mặt khác, cần sự nghiêm minh và kiên quyết trong công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát; kịp thời loại khỏi đội ngũ số cán bộ, đảng viên mắc sai phạm trầm trọng bởi bệnh thành tích, góp phần ngăn ngừa và đẩy lùi tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Nhận thức đúng đắn về thành tích để nỗ lực hơn nữa vì lợi ích chung, vì sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, đồng thời triệt tiêu những mặt trái của bệnh thành tích, để cán bộ, chiến sĩ toàn quân tiếp tục giữ vững và phát huy phẩm chất cao đẹp, danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ; kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, vi phạm quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội.

Qua đó, góp phần xây dựng Đảng bộ Quân đội, các cấp ủy, tổ chức đảng thực sự trong sạch, vững mạnh tiêu biểu; quân đội vững mạnh về chính trị; cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”; các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc; phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng quân đội hiện đại theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI và Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

nguồn báo QĐND

Không có việc gì khó

 Dù là huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trong điều kiện gian khổ, hay thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, nghiên cứu khoa học, lao động, sản xuất đòi hỏi trình độ chuyên môn cao; bám dân, bám bản làm công tác dân vận... đối với người lính Bộ đội Cụ Hồ lúc nào cũng hoàn thành xuất sắc và đạt kết quả cao nhất.

Báo Quân đội nhân dân Điện tử giới thiệu một số hình ảnh đẹp mà phóng viên đã ghi lại tại các đơn vị.

Không có việc gì khó
Bác sĩ Khoa Sản, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đón 2 bé sinh đôi chào đời an toàn.

Không có việc gì khó
Y tá, điều dưỡng ân cần chăm sóc những bệnh nhân nhí.

Không có việc gì khó
Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 927, Sư đoàn Không quân 371 trong Lễ ra quân huấn luyện năm 2022, với quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, bảo đảm an toàn tuyệt đối trong huấn luyện sẵn sàng chiến đấu.

Không có việc gì khó

Không có việc gì khóChiến sĩ hoa tiêu trên đảo Tiên Nữ, huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa.

Không có việc gì khó
Những giáo viên "quân hàm xanh", Đồn Biên phòng Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng mở lớp dạy học sinh các dân tộc thiểu số.

Không có việc gì khó
Chiến sĩ Trung đoàn 12, Sư đoàn 3, Quân khu 1, huấn luyện bắn súng AK.
Không có việc gì khó
Huấn luyện chiến sĩ vượt vật cản, Đội 1, Liên đội 27, Lữ đoàn Đặc công 113.

Không có việc gì khó
Hướng dẫn chiến sĩ điểm ngắm đúng của bia số 4.

Không có việc gì khó
Huấn luyện súng máy phòng không 12 ,7mm, sẵn sàng chiến đấu.
Không có việc gì khóKhai hỏa tiêu diệt địch.
Không có việc gì khó
Học viên tham gia sôi nổi trong quá trình học tập.

Không có việc gì khó
Nữ công nhân Nhà máy Z131 hăng say lao động.
nguồn báo QĐND

VÔ CĂN CỨ LUẬN ĐIỆU "VIỆT NAM KHÔNG CÓ TỰ DO INTERNET", XUYÊN TẠC TỰ DO BÁO CHÍ!

         Bằng lá bài "dân chủ, nhân quyền", các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc về tự do Internet của Việt Nam, quy kết Việt Nam không có tự do báo chí, tự do ngôn luận.

Chương trình Đối diện với chủ đề "Nhân quyền" đã làm rõ những luận điệu vô căn cứ, sai lệch về nhân quyền tại Việt Nam, lật mặt những đối tượng phía sau mưu đồ đen tối.

Một nội dung trong khái niệm nhân quyền là quyền tự do ngôn luận. Về tự do ngôn luận, tự do báo chí, ngay từ năm 1946, trong điều 10 của bản Hiến pháp đầu tiên, các quyền này đều đã được khẳng định. Lịch sử thì có thăng, có trầm, nhưng dù trong hoàn cảnh nào thì các quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí luôn được Đảng, Nhà nước Việt Nam đảm bảo và điều này không hề thay đổi cho đến bản Hiến pháp 2013.

Thế nhưng bất chấp những bước tiến vượt bậc trong thực hiện quyền con người, trong đó có tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thế giới công nhận, thì trong nhiều năm trở lại đây, các thế lực chống phá, cơ hội chính trị, các đối tượng thiếu thiện cảm với Việt Nam vẫn thường xuyên xuyên tạc, bóp méo tình hình thực tế tại Việt Nam, cố vẽ nên bức tranh về một quốc gia, nơi mà các quyền này bị xâm phạm một cách nghiêm trọng.

Phạm Thị Đoan Trang đã bị truy tố về các tội danh chống phá Nhà nước. Ngoài hành vi làm, tàng trữ, lưu hành các tài liệu có nội dung chống phá Nhà nước, bị can cũng xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước và phỉ báng chính quyền trên truyền thông nước ngoài.

Theo điều tra, Trang từng cộng tác với một số tòa soạn song bị buộc thôi việc và tước thẻ nhà báo từ năm 2013. Được tổ chức phản động bên ngoài huấn luyện, Trang ngày càng trở thành đối tượng có tư tưởng cực đoan, hoạt động chống phá công khai, quyết liệt. Trong bản tự khai năm 2018, Trang thậm chí đã khẳng định hoạt động nhằm lật đổ chế độ. Vì những hành vi vi phạm pháp luật, Trang đã bị cơ quan an ninh khởi tố, bắt tạm giam để điều tra từ tháng 10/2020.

Một đối tượng không có tư cách nhà báo và vi phạm nghiêm trọng luật pháp Việt Nam nhưng lại được những tổ chức như "Phóng viên không biên giới" tô vẽ như là những nhà báo độc lập, đấu tranh với tiêu cực để từ đó quy kết Việt Nam không có tự do báo chí. Tự do báo chí, tự do ngôn luận không có nghĩa là được xâm phạm đến quyền, lợi ích chính đáng của cộng đồng, cá nhân được pháp luật bảo vệ.

Thực chất, quyền tự do ngôn luận nói chung và tự do báo chí nói riêng là những quyền được Hiến pháp, pháp luật Việt Nam tôn trọng và bảo vệ ngay từ những ngày đầu lập nước. Cùng với sự phát triển của đất nước, của báo chí cách mạng và các nền tảng thông tin truyền thông, các quyền này ngày càng được quy định và điều chỉnh cụ thể theo khuôn khổ của pháp luật.

Báo chí đóng góp vào sự phát triển đất nước
Trong những cái được gọi là báo cáo về tình hình nhân quyền tại Việt Nam những năm qua, có một cụm từ thường xuyên xuất hiện. Đó là "Việt Nam lại tiếp tục vi phạm tự do ngôn luận, tự do báo chí". Giọng điệu này, nếu so sánh với thực tế phát triển của nền báo chí tại Việt Nam hiện nay thì chẳng ai hiểu, nó dựa trên căn cứ nào.

Cho đến hết năm 2020, cả nước có gần 800 cơ quan báo chí, hơn 100 báo có hoạt động báo điện tử; hơn 600 tạp chí; 25 cơ quan báo chí điện tử độc lập. Thể loại thì cũng đủ cả, báo giấy, báo tiếng, báo hình, rồi cả báo điện tử. Thế giới có loại hình báo chí nào thì ở Việt Nam có loại đó. Thậm chí là mô hình tòa soạn hội tụ với đầy đủ các hình thức báo chí tại mỗi cơ quan báo chí cũng đang được quan tâm thúc đẩy.

Rõ ràng, sự lớn mạnh này chẳng thể xuất hiện dưới một thể chế mà như các luận điệu xuyên tạc mô tả, là sự phát triển của báo chí bị bóp nghẹt.

Luật Báo chí hiện hành của Việt Nam cũng ghi rõ những điều báo chí không được làm, ví dụ như báo chí không được kích động nhân dân chống Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; không được kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, kích động dâm ô, đồi trụy, tội ác; đưa tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, nhằm xúc phạm danh dự của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của công dân. Và nhìn vào đó, có thể thấy, sự cấm đoán này là hoàn toàn hợp lý, và tôi cũng không biết quốc gia nào lại cho phép làm những điều này.

Ngoại trừ những quy định như vậy, không có điều nào trong luật quy định báo chí phải viết thế này, viết thế kia. Việc tuân theo những nguyên tắc theo luật định không những thúc đẩy sự phát triển của báo chí mà còn đưa báo chí trở thành một nguồn lực đóng góp vào sự phát triển của đất nước.

Cách đây hơn 1 tháng, khi thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16, thành phố Hà Nội đã có quy định về cấp giấy đi đường cho người dân và doanh nghiệp.

Với tinh thần góp ý vì hiểu rõ chính quyền có những khó khăn khi thực thi các giải pháp để chống dịch chưa có trong tiền lệ, nên nhiều bài bài viết, phóng sự đã kịp thời phản ánh ý kiến nhiều chiều của các tầng lớp nhân dân, doanh nghiệp và chuyên gia.

Thực tế thời gian qua, đã có hàng loạt vụ việc mà sự lên tiếng, phản biện nhiều chiều, mang tính xây dựng của báo chí đã góp phần quan trọng, mang lại hiệu quả xã hội. Trên tinh thần lắng nghe, nhiều cơ quan chức năng đã có những điều chỉnh kịp thời phù hợp với thực tiễn. Điều này cho thấy tại Việt Nam, những phản ánh tích cực vì cái chung của báo chí luôn được trân trọng và lắng nghe.

Thế nhưng lâu nay, trên không gian mạng, các thế lực, tổ chức, cá nhân phản động, thiếu thiện chí vẫn cứ lặp đi lặp lại những luận điệu như: Phản biện là xa lạ với báo chí Việt Nam, Báo chí Việt Nam chỉ được tô hồng, Báo chí Việt Nam bị kiểm duyệt và định hướng nội dung…

"Phản biện xã hội" là thuật ngữ được nêu trong Văn kiện Đại hội lần thứ XI, năm 2011 của Đảng: "Chú trọng nâng cao tính tư tưởng, phát huy mạnh mẽ chức năng thông tin, giáo dục, tổ chức và phản biện xã hội của các phương tiện thông tin đại chúng vì lợi ích của nhân dân và đất nước...". Trong Luật Báo chí 2016 cũng khẳng định: Báo chí có quyền "Tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước".

Trên thực tế, báo chí Việt Nam đã đóng góp tiếng nói mạnh mẽ trong phản ánh thực tế phát triển của đất nước với những góc nhìn phản biện, đa chiều, phản ánh cả hạn chế, thiếu sót, không tô hồng nhằm góp một tiếng nói xây dựng.

"Nói rằng báo chí Việt Nam chỉ viết theo định hướng là vô căn cứ… Không ai cấm phản biện và không bao giờ bắt buộc phải viết thế này, thế kia"- Ông Trần Bá Dung, Trưởng Ban Nghiệp vụ, Hội Nhà báo Việt Nam.

Đọc từ internet, mạng xã hội, có một luận điệu rất hay được sử dụng, đó là báo chí Việt Nam bị kiểm duyệt khắt khe, chỉ nói về thông tin tích cực, có lợi cho Đảng, Nhà nước, rồi báo nào viết về tiêu cực, nhà báo nào dám chống tiêu cực thì sớm hay muộn đều phải trả giá.

Thực tế không phải như vậy. Đảng, Nhà nước đã và luôn nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, và cũng mong muốn báo chí phản ánh một cách trung thực, khách quan, xây dựng; không tô hồng nhưng cũng không bôi đen thực tiễn.

Về việc báo chí phản ánh được nói về tiêu cực, tham nhũng thì có vô vàn dẫn chứng. Những vụ việc đời thường như bất cập trong giấy đi đường tại Hà Nội trong mùa dịch, vụ bánh mỳ không phải lương thực tại tỉnh Khánh Hòa, sau khi báo chí vào cuộc, chính quyền địa phương đã có những điều chỉnh, sửa chữa kịp thời. Hay nếu như không có sự vào cuộc của báo chí, việc tiêu tiền Nhà nước vô tội vạ tại PMU 18, cho đến sự lỏng lẻo trong công tác cán bộ trong vụ Trịnh Xuân Thanh, làm sao được phát hiện và khắc phục.

Vẽ nên một bức tranh toàn màu hồng để che đi hiện thực khách quan, điều này chỉ dẫn đến sự sụp đổ của một đất nước, một chế độ. Đối diện với thực tế, giải quyết những những mầm mống xấu xa trong tiến trình phát triển, đó mới là cách để một quốc gia vươn lên.

Đảng, Nhà nước Việt Nam đang làm điều đó, và việc tạo điều kiện cho báo chí tham gia vào quá trình phản ánh những hạn chế, tiêu cực đã luôn được Đảng, Nhà nước ủng hộ, tạo điều kiện.

"Đảng, Nhà nước, nhân dân đều đánh giá rất cao công lao đóng góp to lớn của báo chí trên mặt trận phòng chống tiêu cực. Bao nhiêu vụ việc lớn báo chí phát hiện, dấn thân, lao vào chỗ khó, tận cùng ngõ hẻm để mà chống tiêu cực tham nhũng" - Ông Lại Xuân Môn, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương cho biết.

Nực cười luận điệu "Việt Nam không có tự do Internet"
Hết xuyên tạc về tự do báo chí, các đối tượng cũng cho rằng tại Việt Nam không có tự do internet. Mới đây nhất, bản báo cáo của tổ chức Freedom House liệt Việt Nam vào nhóm "các quốc gia không có tự do trên Internet năm 2021".

Rất nhiều người Việt Nam đã bật cười bởi nếu không có tự do internet, làm sao có thể đọc được một báo cáo phiến diện, lạc hậu và vô căn cứ như vậy được.

Theo thống kê mới nhất của We Are Social thì Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng Internet cao thứ 12 trên toàn thế giới. Rồi Internet di động thì sao? Từ 3G, rồi 4G và hiện nay 5G đang được triển khai đã khiến Internet đã vươn tới mọi ngóc ngách của đất nước, từ thành thị tới nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi, biên giới, hải đảo, để mỗi người dân Việt Nam đều có thể tự do tìm kiếm thông tin, chia sẻ, bày tỏ quan điểm cá nhân.

Đó là những minh chứng sống động cho việc việc Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo vệ quyền được tự do thông tin, tự do Internet của mỗi người dân.

Nếu có lo lắng về tự do internet tại Việt Nam, thì chỉ nên lo lắng về một điều, đó là vì quyền tự do internet, mà sức khỏe của một bộ phận giới trẻ tại Việt Nam bị ảnh hưởng vì nghiện internet. Ở đâu khó khăn trong tiếp cận internet, chứ ở đất nước này, internet là cho toàn dân.

Freedom House đánh giá Việt Nam đạt 22/100 điểm theo 3 tiêu chí: "Trở ngại truy cập internet", "Giới hạn về nội dung", và "Vi phạm quyền người dùng internet".

Nhưng điều vô lý là những đánh giá này lại chủ yếu dựa vào những dữ liệu của một người tên là Trịnh Hữu Long và không sống ở Việt Nam. Đây cũng là đối tượng đã lập một trang mạng chuyên đăng tải các bài viết tuyên truyền xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, đồng thời còn là thành viên một nhánh của tổ chức khủng bố Việt Tân.

Đánh giá của Freedom House hoàn toàn trái ngược với xếp hạng của các Tổ chức khác. Như We Are Social & Hootsuite đã thống kê về chỉ số tiếp cận Internet, Việt Nam có tới 150 triệu kết nối mobile, 68 triệu người dùng internet. Hạ tầng 3G/4G đã phủ sóng 99,8% dân cư và internet cáp quang đã tới 98% số phường xã.

Còn về tự do Internet, tất cả các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội lớn trên thế giới đều có mặt.

Tại Việt Nam, Internet không chỉ đơn thuần phục vụ cho đời sống xã hội của người dân. Mà Internet là yếu tố căn bản để xây dựng Chính phủ số và giải quyết hầu hết mọi công việc của chính quyền.

Nhưng bằng nhiều cách khác nhau, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc về tự do tiếp cận Internet của Việt Nam. Họ cho rằng Việt Nam không có tiến bộ trong vấn đề này.

Thời gian gần đây, các thế lực thù địch cũng cho rằng, ở Việt Nam, người dùng mạng xã hội không được bày tỏ suy nghĩ, chính kiến của mình. Nhưng thực tế là những người bị cơ quan chức năng của Việt Nam bắt giữ là những trường hợp vi phạm luật pháp Việt Nam với những hành vi vi phạm rất cụ thể.

"Freedom House là một tổ chức tại Mỹ, tiếng tăm rất mờ nhạt tại Châu Âu, họ thích đánh giá và "dạy đời" các nước khác về cách ứng xử… Ngay từ đầu, báo cáo đã có ý muốn chỉ trích về chế độ chính trị Việt Nam nên từ đó đưa ra một loạt các phán xét tiêu cực" - Ông Jean Noel Poirier, cựu Đại sứ Cộng hòa Pháp tại Việt Nam nhận xét.

Những kẻ lợi dụng tự do báo chí để chống phá

Đến hẹn lại lên, năm nào cũng thế, trong các bản báo cáo dài cả ngàn trang của một số tổ chức nước ngoài, Việt Nam lại đứng đội sổ trong danh sách tự do báo chí, được mô tả như một kẻ thù của tự do báo chí. Điều này bắt nguồn từ việc xử lý những người được gọi là "nhà báo" như: Trương Duy Nhất, Phạm Đoan Trang, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Lê Dũng Vova.

Nhưng bản chất những người này là ai, đó không phải là những nhà báo suy thoái thì cũng là nhà báo tự phong, không được luật pháp công nhận. Sản phẩm báo chí của những đối tượng này thì cũng không gì khác hơn là những bài viết trên mạng để nhằm trục lợi, chỉ trích, xuyên tạc, bôi nhọ chính quyền, chia rẽ nhân dân. Điều quan trọng nhất là họ chỉ sử dụng báo chí như lớp áo ngụy trang để thực hiện những mục đích không được pháp luật cho phép, thậm chí đi ngược lại với lợi ích quốc gia, dân tộc.

Ngày 5/1/2021, 3 thành viên của cái gọi là "Hội Nhà báo độc lập Việt Nam" bị kết án. Bị cáo Phạm Chí Dũng 15 năm tù. Nguyễn Tường Thụy và Lê Hữu Minh Tuấn, cùng 11 năm tù.

Mức án nghiêm khắc 37 năm tù dành cho 3 đối tượng này lập tức trở thành cục nam châm thu hút những cái loa dân chủ, nhân quyền.

Thực tế, những cái được gọi là tác phẩm báo chí của các đối tượng này, có thể thấy, báo chí chỉ là vỏ bọc để kết nối, tiếp xúc các đối tượng, tổ chức có tư tưởng bất mãn về chính trị trong và ngoài nước, qua đó tuyên truyền, xuyên tạc, bịa đặt, xâm phạm uy tín của Đảng, Nhà nước.

Ngày 9/9/2021, 5 bị can của nhóm báo chí với cái tên có vẻ rất sạch sẽ "Báo sạch", bị truy tố. Chỉ chờ có thế, trên các mạng xã hội, một số tổ chức cá nhân lập tức phản ứng với luận điệu: "Ước mơ tự do báo chí tan vỡ", "Việt Nam bắt giữ các nhà báo độc lập"…Đặt ra tôn chỉ hoạt động nghe rất thẳng thắn là "Độc lập với nguồn tin - Kiểm chứng thông tin-Trung lập với chính trị", thế nhưng, các thành viên này phát tán thông tin chưa kiểm chứng, không đúng sự thật.

Nhìn lại những gương mặt này, có thể thấy, con đường dẫn họ đến vành móng ngựa đều bắt nguồn từ lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí để trục lợi cá nhân, hoặc tung tin xấu độc, xuyên tạc sự thật, bôi nhọ Đảng, Nhà nước, kích động chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Lá bài tự do, dân chủ - lớp vỏ bọc của các thế lực thù địch

Chỉ trích, lên án Đảng, Nhà nước Việt Nam về tình hình dân chủ, nhân quyền, đây chẳng phải là điều gì mới mẻ. Đứng đằng sau đó, nếu không phải là những cá nhân chống phá mang danh dân chủ, nhân quyền thì cũng là những tổ chức phản động như Việt Tân, Triều đại Việt, hay là những tổ chức không có thiện cảm với Việt Nam như Ân xá Quốc tế (Amnesty International), Freedom House, Tổ chức theo dõi nhân quyền – Human Rights Watch, hay Phóng viên Không biên giới RSF.

Một điểm dễ nhận thấy nhất, đó là các tổ chức này thường dựa trên những báo cáo phiến diện, chủ quan để rồi từ đó đưa ra những kết luận đầy tính quy chụp. Tự do báo chí chỉ xuất hiện ở những quốc gia họ muốn, những thể chế họ ưa, chứ nó không liên quan đến thực tế đang diễn ra.

Đối với Việt Nam, việc các tổ chức đó thường xuyên sử dụng lá bài tự do, dân chủ, gắn với mọi mặt trong đời sống, trong đó báo chí, là chỉ nhằm khắc họa Việt Nam với một diện mạo thù địch, lạc hậu, đi ngược lại với những giá trị phổ quát của thế giới. Tích cực lên án là vậy, nhưng họ có thực sự quan tâm đến dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam không? Đó chỉ là lớp vỏ bọc để hướng đến một mục tiêu hoàn toàn khác.

Lấy danh xưng là một tổ chức độc lập, cái gọi là "Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam" hàng năm cũng cóp nhặt để lên một báo cáo về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Họ cũng dựng nên các giải thưởng nhân quyền để cổ súy số đối tượng phản động, cơ hội chính trị, chống đối ở trong nước.

Nhưng dã tâm thực chất của họ không phải là cải thiện nhân quyền cho bất cứ ai như trong tôn chỉ hoạt động, mà là tìm cách phá rối trong nước, kêu gọi quốc tế can thiệp vào Việt Nam, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng.

Tự do báo chí hay dân chủ nhân quyền dưới bàn tay nhào nặn của các thế lực thù địch và tổ chức phản động đã trở thành một trong những mũi nhọn của diễn biến hòa bình.

Trải qua hơn 100 năm chiến tranh chống đế quốc xâm lược, dân tộc Việt Nam đã không tiếc xương máu để đổi lấy độc lập, tự do. Hơn ai hết, dân tộc này thấm thía thước đo và giá trị của những quyền tự do ấy. Trong đó có tự do ngôn luận, tự do báo chí.

Đảng, Nhà nước Việt Nam đã luôn xác định, con người nằm ở vị trí trung tâm của mọi chính sách, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Với tinh thần đó thì bảo vệ quyền con người là điều đương nhiên mà Đảng, nhà nước sẽ quan tâm, đảm bảo. Qua đó cũng góp phần thể hiện sự ưu việt của chế độ. Tuy nhiên, nhân quyền phải được tôn trọng, nhưng vẫn không thể nằm trên pháp luật, không thể đi ngược lại với lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Do đó, luận điệu thương vay, khóc mướn, gào thét cho dân chủ, nhân quyền của Việt Nam sẽ chẳng mang đến một kết quả nào hết. Đặc biệt, khi chân tướng những đối tượng đứng phía sau đều đã được nhận diện đầy đủ, những kẻ nói thứ ngôn ngữ dân chủ, nhân quyền hoang đường và lạc lõng để mưu toan thúc đẩy diễn biến hòa bình, tiến tới lật đổ chế độ tại Việt Nam.

Tuy nhiên, ông bà ta có câu "Lộng giả thành chân". Nếu những thông điệp giả dối này cứ lặp đi lặp lại, sẽ có lúc khiến người ta tin là thật và gây hậu quả khôn lường. Do đó, đấu tranh, loại bỏ chúng ra khỏi môi trường mạng sẽ là điều sẽ phải làm thường xuyên, liên tục./.










Yêu nước ST.

CÙNG SUY ĐOÁN: NGA YÊU CẦU THANH TOÁN DẦU VÀ KHÍ ĐỐT BẰNG ĐỒNG RUP!

         Có khá nhiều người hỏi phân tích đánh giá về việc ngày 31-3 thời hạn Nga yêu cầu thanh toán dầu bằng đồng rúp Nga?
Đây là suy đoán của cá nhân. Trong cuộc chiến về kinh tế giữa một bên là nước Nga, một bên là mỹ và Phương Tây thì việc đáp trả nhau là truyện đương nhiên. Dầu khí là thứ vũ khí không thể thiếu của Nga trong cuộc chiến này.
Để đáp trả các lệnh trừng phạt (khoảng trên dưới 6000 lệnh thượng vàng hạ cám) và để kéo đồng rúp lên thì Nga quyết định các nước mua dầu mua khí đốt phải thanh toán bằng đồng rúp đây có thể nói là nước cờ táo bạo của Nga, Nga không chấp nhận thanh toán bằng USD và EUR. Các nước thì không chấp nhận và phản đối vì nếu dùng tiền của Nga để mua khí đốt và dầu thì đương nhiên các lệnh trừng phạt của Mỹ và các nước này sẽ suy yếu ngay lập tức. Tuy nhiên trong cái cuộc chiến này thì Nga là ngừoi cầm chương . Việc mua bằng tiền của họ hay USD… là họ quyết. Khi đã vào chân tường thì chắc chắn người Nga (thà ngọc nát còn hơn ngói lành) quốc gia nào không Thanh toán bằng rúp là khoá van luôn. Ngừoi Nga đã chuẩn bị tất cả các cái kịch bản. Phương Tây cho rằng họ cấm vận dầu khí là Sẽ bóp chết nước Nga nhưng có lẽ đó là suy nghĩ sai lầm. 
Canh bạc này chắc chắn Nga sẽ chơi tất tay và sẽ không nhượng bộ.
Hãy chờ ngày hôm nay xem sao?
Yêu nước ST.

Thực chất của cái gọi là “bất tuân dân sự”

 Thuật ngữ “bất tuân dân sự” lần đầu tiên xuất hiện vào tháng 5/1849 trong tập tiểu luận của Henry David Thoreau, nhà văn, nhà tư tưởng người Mỹ với nhan đề “Dân sự bất hợp tác”. Nội dung cơ bản bàn về mối quan hệ giữa cá nhân hoặc thiểu số công dân với nhà nước. Theo đó, cá nhân hoặc thiểu số công dân có thể không tuân thủ, không phục tùng nhà nước; thậm chí, có thể thực hành chống lại luật pháp của nhà nước nếu cảm thấy những điều luật đó không phù hợp với người dân, kể cả là với thiểu số, bằng phương pháp “cách mạng hòa bình”.

Theo giải thích của Từ điển mở Wikipedia “Bất tuân dân sự là các hoạt động, công khai từ chối tuân theo một số luật lệ nhất định, yêu cầu và lệnh của chính phủ, hoặc của một quyền lực quốc tế chiếm đóng… Bất tuân dân sự đôi khi, mặc dù không phải luôn luôn, được định nghĩa như là phản kháng bất bạo động”. Như vậy, “bất tuân dân sự” có thể nói về cơ bản là thể hiện tư tưởng cực đoan vô Chính phủ, hầu như không được nhà nước pháp quyền nào thừa nhận ngoại trừ những thế lực muốn lợi dụng nó để chống lại nhà nước pháp quyền. Hành vi phản kháng, không tuân thủ, không phục tùng những điều luật đã được ban hành; được thực hiện thông qua hình thức bất bạo động thể hiện sự coi thường kỷ cương, pháp luật, trái với các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền trong một xã hội văn minh. Khi hướng tới mục tiêu chính trị, “bất tuân dân sự” là bước khởi đầu của một cuộc “cách mạng mềm” nhằm thay đổi chế độ chính trị đang tồn tại hoặc lực lượng chính trị đang nắm quyền. Vì vậy, về bản chất, đây là hành vi vi phạm pháp luật.

Trên thực tế, những vụ bất tuân dân sự lớn, sớm nhất được thực hành bởi người Ai Cập chống lại sự chiếm đóng của Anh trong cuộc cách mạng Ai Cập năm 1919. Nó đã được sử dụng trong nhiều phong trào phản kháng bất bạo động tại nhiều quốc gia, như: chiến dịch của M. Gan-đi để giành độc lập từ đế quốc Anh ở Ấn Độ; cuộc chiến chống phân biệt chủng tộc của N. Man-đê-la ở Nam Phi; “cách mạng nhung” ở Tiệp Khắc và Đông Đức; “cách mạng ca hát” ở các nước vùng Ban-tích (thuộc Liên Xô) vào những năm cuối thế kỷ XX. Trong những năm đầu thế kỷ XXI, hình thức này được thực hiện trong “cách mạng hoa hồng” ở Gru-zi-a (năm 2003), “cách mạng cam” ở U-crai-na (năm 2004), “Mùa xuân Ả Rập” ở các nước Trung Đông và Bắc Phi đầu những năm 2010, v.v.

          Vì vậy, chúng ta cần phải nâng cao cảnh giác, nhận diện đúng bản chất của thuật ngữ “bất tuân dân sự” và mối liên hệ giữa “bất tuân dân sự” với “xã hội dân sự” và các thủ đoạn khác trong chiến lược “diễn biến hòa bình”. Nâng cao cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng dưới các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo”… để dụ dỗ, kích động, lôi kéo mọi người tham gia các hoạt động “bất tuân dân sự” và khi thời cơ đến kêu gọi kết hợp đấu tranh bất bạo động với bạo động để chống chính quyền, chuẩn bị cho mục tiêu cao hơn.



 

Đẩy lùi những chiêu trò “bất tuân dân sự” ở Việt Nam

 

Ở Việt Nam, hoạt động "bất tuân dân sự" đã diễn ra từ nhiều năm trước, có nguy cơ trở thành "phong trào" nguy hại trực tiếp đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nếu không nhận diện và đấu tranh kịp thời...

Những năm gần đây, có một số vụ việc mang bóng dáng "bất tuân dân sự", như: "Bất tuân cưỡng chế" của một số đối tượng khi giải phóng mặt bằng ở Bắc Giang, Hải Phòng, Hà Nội, Đắc Nông, Gia Lai...; "bất tuân" quy định về thành lập hội (nhóm), đòi lập các tổ chức xã hội dân sự (thực chất là phản động trá hình) như "Hội anh em dân chủ", "Hội phụ nữ nhân quyền Việt Nam", "Hội cựu tù nhân lương tâm Việt Nam", "Hội văn đoàn độc lập Việt Nam", "Hội nhà báo độc lập Việt Nam", "Mạng lưới Blogger Việt Nam"...; “bất tuân” để phản đối Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội (năm 2014), Luật An ninh mạng (năm 2018)… Các hình thức như kích động tài xế phản đối trả phí BOT giao thông; từ chối đóng các loại quỹ phúc lợi xã hội; tẩy chay hàng hóa nước ngoài... cũng có nhiều vụ việc bị lợi dụng, biến tướng.

“Bất tuân dân sự" được tổ chức ngày càng chặt chẽ, được một số tổ chức phản động nước ngoài như Việt Tân, Voice công khai giật dây. Chúng lợi dụng các vấn đề dân sinh còn có hạn chế, khuyết điểm khiến người dân bức xúc để làm suy giảm niềm tin, tích tụ thêm mâu thuẫn của người dân đối với chính quyền, với Đảng, Nhà nước. Chúng lợi dụng thông qua đó để tập hợp, xây dựng, phát triển lực lượng, hợp thức hóa, công khai hóa việc chống đối chính quyền. Đồng thời, gắn kết chặt chẽ giữa "bất tuân dân sự" với "xã hội dân sự", sử dụng các tổ chức "xã hội dân sự" để chỉ đạo, điều hành "bất tuân dân sự". Thủ đoạn chủ yếu là tiếp tục sử dụng các chiêu bài "tự do", "dân chủ", "nhân quyền"; triệt để lợi dụng các vấn đề nhạy cảm về dân tộc, tôn giáo, các sự kiện, vụ việc, những sơ hở, bất cập của ta trong quá trình triển khai các quyết sách phát triển kinh tế-xã hội, đối ngoại... để đẩy mạnh tuyên truyền chống phá; lôi kéo, kích động nhân dân tụ tập, tuần hành, biểu tình, tạo dựng phong trào phản kháng trong quần chúng; phát triển lực lượng cốt cán, xây dựng "ngọn cờ"; tiến hành tập dượt các kịch bản đấu tranh chuẩn bị cho mục tiêu cao hơn...

Để đấu tranh làm thất bại "bất tuân dân sự", cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau đây:

Tích cực tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn hóa "thượng tôn pháp luật" cho mọi công dân. Trong đó, cần chú trọng nâng cao trình độ giác ngộ, niềm tin vào tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật đối với mọi tầng lớp nhân dân. Đồng thời, tích cực đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục; làm cho mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước đến được với người dân một cách cụ thể, gần gũi, dễ hiểu, dễ tuân thủ, chấp hành. Coi trọng tuyên truyền, hướng dẫn để người dân nắm vững các quy định về quy trình, thủ tục, phương pháp, cách thức tiến hành phản biện xã hội theo pháp luật; tránh để bị kẻ địch lợi dụng phát động "bất tuân dân sự". Tăng cường đấu tranh vạch rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn sử dụng "bất tuân dân sự" để chống phá Việt Nam của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch.

Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; nâng cao chất lượng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính của cơ quan hành chính các cấp, nhất là ở cơ sở. Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu quả, trong sạch, vững mạnh; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là các lĩnh vực quản lý kinh tế, tài chính, tài nguyên, môi trường... Bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức; đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm của cán bộ các cấp, củng cố niềm tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước. Chính quyền các cấp phải nêu cao vai trò, trách nhiệm phục vụ nhân dân, tăng cường đối thoại, giải quyết tốt các vấn đề bức xúc của nhân dân; giải quyết dứt điểm các vấn đề còn tồn đọng về tranh chấp, khiếu kiện, không để âm ỉ, kéo dài…

Các cơ quan, đơn vị, địa phương tiến hành khảo sát kỹ lưỡng thực trạng "bất tuân dân sự" trên địa bàn quản lý; xây dựng kế hoạch phòng, chống chặt chẽ; bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng xử lý. Phối hợp chặt chẽ giữa công an, quân đội, các lực lượng chức năng và cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp trong việc bám nắm cơ sở, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của bọn phản động trong việc kích động, lôi kéo nhân dân thực hiện "bất tuân dân sự".

Khi xảy ra các vụ việc "bất tuân dân sự", cần hết sức tỉnh táo; nhận định, đánh giá đúng tính chất, mức độ, xác định rõ nguyên nhân; kiên trì, khôn khéo, lấy biện pháp đối thoại, tuyên truyền, vận động, thuyết phục là chính; thực hiện phân hóa lực lượng cốt cán, cầm đầu với quần chúng bị dụ dỗ, lôi kéo… Xử lý nghiêm minh số đối tượng cốt cán, cầm đầu, những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật; có biện pháp phù hợp quản lý, giáo dục, động viên, giúp đỡ những đối tượng bị dụ dỗ, lôi kéo...



NHẬN DIỆN ÂM MƯU TIẾN HÀNH CHIẾN TRANH LY KHAI Ở VIỆT NAM

 

         Chiến tranh ly khai đã và đang xảy ra ở nhiều khu vực, tác động rất lớn đến các quốc gia trên thế giới. Các cuộc chiến để lại hậu quả hết sức tàn khốc, biến các quốc gia này trở thành đống đổ nát; làm kiệt quệ nguồn tài chính, cơ sở hạ tầng đất nước bị tàn phá nặng nề, tỷ lệ đói nghèo ngày càng gia tăng; hàng triệu người dân phải trốn ra nước ngoài, sống lưu vong ở các quốc gia khác do sự khắc nghiệt của đời sống vật chất và tinh thần. Nguyên nhân chủ yếu là do các thế lực thù địch, phản cách mạng đứng đầu là chủ nghĩa đế quốc luôn có những âm mưu, phương thức chống phá các quốc gia độc lập dân tộc không đi theo quỹ đạo của chúng. Đặc biệt, chúng tập trung chống phá các quốc gia có xu hướng chính trị tiến bộ, các quốc gia do Đảng Cộng sản, đảng cánh tả lãnh đạo, cầm quyền. Chúng lợi dụng các vấn đề hội nhập quốc tế, viện trợ nhân đạo, các vấn đề về tôn giáo, dân tộc, nhân quyền để kích động nhằm làm phân rã, chia rẽ các dân tộc, các quốc gia, tạo nên các cuộc bạo loạn mang màu sắc chính trị, tạo cớ, tạo áp lực và lợi dụng danh nghĩa các tổ chức quốc tế (trong đó có Liên Hợp quốc) tạo nên chiến tranh ly khai lật đổ chính quyền, thành lập chính quyền tự xưng do chúng chỉ đạo.

          Đối với nước ta, xuất phát từ vị trí địa - chính trị, vị thế của Việt Nam ngày càng tăng cao trên trường quốc tế; do vậy, các thế lực thù địch luôn thực hiện âm mưu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, hòng lập nên một thể chế chính trị đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa đế quốc và phương Tây điều khiển. Mặt khác, Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc, tôn giáo; mỗi dân tộc, tôn giáo có phong tục, tập quán và giáo lý, giáo luật riêng; đặc biệt đồng bào dân tộc thiểu số và có đạo sống ở vùng sâu, vùng xa đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế, có những vấn đề phức tạp do lịch sử để lại... Đây là những vấn đề hết sức nhạy cảm mà các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách lợi dụng để kích động, chia rẽ giữa các dân tộc, tôn giáo; kích động tính cực đoan, tự trị... (nóng bỏng nhất hiện nay là bốn vùng: Tây Bắc, Tây Nghệ An - Thanh Hóa, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ), nhằm phá hoại chính sách đại đoàn kết của Đảng và Nhà nước ta, phục vụ ý đồ thâm độc của họ.

          Trong thời gian qua, các thế lực thù địch lợi dụng quá trình hội nhập quốc tế, xây dựng và phát triển đất nước của Việt Nam; lợi dụng những khó khăn, yếu kém trong quản lý, trong thực hiện chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; lợi dụng sự thoái hóa, biến chất của một số cán bộ, đảng viên để thúc đẩy chiến lược “Diễn biến hòa bình” tạo nên “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” trong lòng chế độ xã hội của ta, nhất là trong đội ngũ cán bộ cao cấp, làm cơ sở để kích động, gây rối, biểu tình, bạo loạn lật đổ; tạo ra các điểm nóng, vùng nóng gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, cản trở và chống lại công cuộc xây dựng và phát triển đất nước của nhân dân ta. Mặt khác, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền”, chống tham nhũng và bảo vệ chủ quyền biển đảo... để kích động bạo loạn chính trị, bạo loạn có vũ trang. Lợi dụng những vấn đề đó, các thế lực thù địch đang ngấm ngầm chuẩn bị lực lượng, đợi thời cơ; xây dựng kế hoạch, chỉ đạo các lực lượng, xây dựng tổ chức chính trị đối lập để tạo ngọn cờ, xây dựng lực lượng (nhất là lực lượng vũ trang), tiến hành các hoạt động phá hoại, có sự chi viện của các thế lực phản động bên ngoài; nhằm làm suy yếu Đảng, suy yếu chế độ ở các vùng có nhiều đồng bào dân tộc, tôn giáo sinh sống; xây dựng chính quyền phản động ly khai, chờ thời cơ tiến hành bạo loạn nhằm chia cắt đất nước, lật đổ chế độ Việt Nam xã hội chủ nghĩa theo ý đồ của chúng.

Chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa yêu nước ở Việt Nam và một số vấn đề đặt ra

 

Trong nhiều thập niên qua, bàn về sự ra đời của dân tộc ở Việt Nam, nhiều người thường gắn nó với thời kỳ phong kiến và sự đô hộ của chủ nghĩa thực dân, với độc lập dân tộc và giải phóng đất nước. Khởi đầu, vấn đề này được đặt ra từ cuộc thảo luận “Sự hình thành dân tộc Việt Nam” vào những năm 70 và 80 của thế kỷ XX, với sự chủ trì của giới sử học. Trong các cuộc thảo luận đó, một số ý kiến cho rằng, dân tộc Việt Nam hình thành sớm, thuộc loại hình dân tộc tiền tư bản chủ nghĩa, và sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Việt Nam bước vào quá trình hình thành dân tộc xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, có quan điểm khẳng định, dân tộc Việt Nam ra đời muộn hơn, song cụ thể vào giai đoạn nào thì khó chỉ ra(11).

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam đề cao chủ nghĩa yêu nước gắn với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước được phát huy cao độ, là động lực to lớn để đoàn kết mọi giai cấp, tầng lớp xã hội, tạo nên sức mạnh toàn dân tộc và là nguồn gốc của mọi thắng lợi. Vậy chủ nghĩa yêu nước có phải là chủ nghĩa dân tộc hay không? Trên thực tế, khái niệm chủ nghĩa dân tộc hầu như không được sử dụng trong diễn ngôn chính trị và học thuật của Việt Nam giai đoạn này. Tuy nhiên, sự thảo luận của nhiều học giả trên thế giới cho thấy, chủ nghĩa yêu nước (Patriotism) thực chất chỉ là một dạng thức của chủ nghĩa dân tộc hoặc luôn đan kết với chủ nghĩa dân tộc, bởi nói đến chủ nghĩa dân tộc, không thể không đề cập tới chủ nghĩa yêu nước(12). Nói cách khác, chủ nghĩa yêu nước là mặt tích cực của chủ nghĩa dân tộc.

Sau cuộc thảo luận “Sự hình thành dân tộc Việt Nam”, một số tác giả vẫn tiếp tục nghiên cứu về vấn đề dân tộc ở nước ta, nhất là trong tình hình mới. Giáo sư Phan Hữu Dật cho rằng, trong sự phát triển hơn nửa thế kỷ qua ở Việt Nam, đã hình thành một cộng đồng người mới, một dân tộc Việt Nam thống nhất trong quốc gia Việt Nam xã hội chủ nghĩa và gọi đó là cộng đồng quốc gia - dân tộc(13). Về ý thức dân tộc, tác giả Lê Thị Lan cho rằng, nó được hình thành từ thế kỷ III sau Công nguyên, gắn với việc truyền bá Nho giáo vào Việt Nam. Theo đó, tầng lớp tinh hoa theo Nho học có vai trò lớn trong xây dựng chủ nghĩa dân tộc, với ý thức về độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ, sự tự hào về nền văn hóa riêng, tinh thần đoàn kết dân tộc và lòng yêu nước sâu sắc. Tác giả Lê Thị Lan còn gợi ý, ngày nay, vẫn có thể tiếp tục phát huy chủ nghĩa dân tộc trong xây dựng và bảo vệ đất nước(14). Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay, nên chú trọng đến việc xây dựng ý thức quốc gia - dân tộc.

Chủ nghĩa dân tộc có tính hai mặt và Việt Nam phải đối diện với nó trong bối cảnh thế giới đương đại. Về phương diện quốc tế, Việt Nam không tránh khỏi những tác động của chủ nghĩa dân tộc trên thế giới, nhất là với các nước trong khu vực đã dùng chủ nghĩa này như một công cụ cho phát triển kinh tế, quốc phòng - an ninh và đối ngoại của họ. Do đó, Việt Nam cần phát huy chủ nghĩa yêu nước - một di sản quý giá trong các cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay, chủ nghĩa yêu nước không chỉ cần thiết cho công cuộc bảo vệ độc lập, tự chủ, trọng tâm là bảo vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo của Tổ quốc, mà còn có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, nhất là đối với việc xây dựng thương hiệu và sử dụng hàng hóa Việt Nam. Để làm được như vậy, cần có chính sách và hành động thiết thực nhằm quy tụ, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân trong nước và kiều bào ở nước ngoài.

Để phát huy chủ nghĩa yêu nước và ngăn ngừa, phòng tránh mặt tiêu cực của chủ nghĩa dân tộc, cần xử lý tốt hai vấn đề phức tạp sau đây:

Một là, tránh nguy cơ nảy sinh chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Chủ nghĩa này dễ xuất hiện khi xảy ra mất đồng thuận trong quan điểm, phương thức bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và an ninh quốc gia. Thời gian qua, các thế lực thù địch lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân tiến hành kích động chống đối, biểu tình hay có phản ứng trái chiều trên mạng xã hội. Nếu tiếp tục để xảy ra những tình huống như vậy, sẽ gây phân tâm xã hội, không phát huy được chủ nghĩa yêu nước chân chính và là cơ sở làm nảy sinh chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

Hai là, tránh nguy cơ tái phát và kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc ly khai. Lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay là kết quả lao động, sản xuất và đấu tranh qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, gắn với sự ra đời và phát triển của nhà nước dân tộc. Là nước có chủ quyền, với biên giới lãnh thổ được xác định và là thành viên của Liên hợp quốc, song các thế lực dân tộc cực đoan vẫn chưa từ bỏ âm mưu, hoạt động chống phá. Vì vậy, cùng với tăng cường các biện pháp để củng cố, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, khối đại đoàn kết toàn dân tộc là đấu tranh không khoan nhượng với chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa ly khai.

Tóm lại, trong bối cảnh trỗi dậy mạnh mẽ của chủ nghĩa dân tộc trên thế giới hiện nay, Việt Nam không tránh khỏi bị ảnh hưởng. Để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của chủ nghĩa dân tộc, bên cạnh việc củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cần có biện pháp hiệu quả để ngăn ngừa chủ nghĩa dân tộc cực đoan và chủ nghĩa dân tộc ly khai./.

Philippines ra công hàm phản đối Trung Quốc vụ tàu hải cảnh cản trở tại Biển Đông

 Baoquocte.vn. Ngày 29/3, Cố vấn an ninh quốc gia Hermogenes Esperon cho biết, Philippines đã gửi công hàm phản đối vụ việc tàu Cảnh sát biển Trung Quốc di chuyển áp sát tàu công vụ Philippines ngày 2/3 tại khu vực bãi cạn Scarborough ở Biển Đông.

Ông Hermogenses Esperon khẳng định, chính phủ Philippines luôn chọn giải pháp hòa bình đối với những vụ việc gây hấn tại vùng biển tranh chấp, do vậy, việc gửi công hàm phản đối sẽ là giải pháp đầu tiên và tốt nhất mà chính phủ nước này có thể làm.

Tuyên bố của Cố vấn an ninh quốc gia Philippines được đưa ra ngay sau khi người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Uông Văn Bân, tại cuộc họp báo thường kỳ ngày 28/3, đưa ra tuyên bố của Bắc Kinh về chủ quyền đối với khu vực bãi cạn Scarborough và các vùng biển lân cận, cũng như các quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển liên quan.

Cố vấn Esperson cho biết thêm, thông tin về vụ việc ngày 2/3, được Philippines công khai sau 3 tuần là do các cơ quan chính phủ cần thời gian xác minh các báo cáo.

Đây là công hàm mới nhất trong số hơn 200 công hàm ngoại giao mà Philippines đã sử dụng để phản đối Trung Quốc.

Ngoài việc gửi công hàm phản đối, chính phủ Philippines cũng tăng cường hiện diện tại khu vực bãi cạn Scarborough thông qua các hoạt động của Cục kiểm ngư và Cảnh sát biển.

Tuy nhiên, Cố vấn an ninh quốc gia Hermogenses Esperson cũng nhấn mạnh, Philippines sẽ không lựa chọn giải pháp đối đầu trong vấn đề này và luôn mong muốn giải quyết hòa bình các tranh chấp tại khu vực.

Lực lượng tuần duyên Philippines ngày 27/3 cáo buộc việc tàu hải cảnh Trung Quốc 'hoạt động ở khoảng cách gần' tại Biển Đông đã 'hạn chế' sự di chuyển của một tàu Philippines chạy gần đó

Son PB

Kiên quyết đấu tranh với âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo gây bạo loạn, ly khai ở Tây Nguyên

 

Tây Nguyên gồm 5 đơn vị hành chính cấp tỉnh1, với diện tích 54.451,5km2, có đường biên giới với Lào và Cam-pu-chia; trên địa bàn có 54 dân tộc cùng sinh sống, dân số khoảng 5,7 triệu người, trong đó đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm 33%. Địa bàn Tây Nguyên có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng và an ninh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là một trong những trọng điểm các thế lực thù địch tập trung chống phá trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn, ly khai. Âm mưu cơ bản, lâu dài của chúng là tuyên truyền, lôi kéo, kích động đồng bào các dân tộc đòi ly khai, tự trị, thành lập cái gọi là “Nhà nước Đêga” hoặc “Nhà nước Đêga Mông-ta-nha” ở Đông Dương, tách Tây Nguyên ra khỏi đại gia đình các dân tộc và chủ quyền lãnh thổ Việt Nam; biến địa bàn Tây Nguyên thành khu vực mất ổn định, vùng “tự trị”, tiến tới thành lập “nhà nước độc lập”; tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số ở những khu vực khác hình thành nhiều “điểm nóng xung đột”, tạo cớ để chúng can thiệp, hòng làm mất ổn định chính trị, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Thực hiện âm mưu trên, chúng đã và đang tiến hành nhiều thủ đoạn hoạt động chống phá rất thâm độc và xảo quyệt, vừa công khai, vừa bí mật, cả trực tiếp và gián tiếp, hết sức ráo riết đối với Tây Nguyên. Đó là: (1). Thực hiện chính sách “chia để trị”, đòi thành lập “Nhà nước Đêga” độc lập; (2). Vu cáo, xuyên tạc, bóp méo tình hình dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở nước ta, kích động đồng bào chống đối chính quyền; (3). Lợi dụng chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta để tuyên truyền, phát triển đạo trái pháp luật, nhất là đạo “Tin lành Đêga” nhằm “tôn giáo hóa” các vùng dân tộc; (4). Lợi dụng hoạt động từ thiện, nhân đạo, đầu tư phát triển kinh tế xâm nhập vùng đồng bào dân tộc thiểu số để tuyên truyền, xây dựng lực lượng, hỗ trợ, chỉ đạo các hoạt động chống phá, gây mất ổn định, tạo cớ can thiệp; (5). Tuyên truyền, xuyên tạc những vấn đề lịch sử để lại để chia rẽ đồng bào các dân tộc thiểu số với người Kinh; (6). Tìm cách mua chuộc, lôi kéo những người có uy tín trong cộng đồng các tôn giáo, đồng bào các dân tộc thiểu số; cài cắm người vào hệ thống chính trị các cấp của ta để chống phá; (7). Triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại, internet và mạng xã hội để liên lạc, chỉ đạo trực tiếp, tuyên truyền, lôi kéo, kích động đồng bào, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.

Hiện nay, tình hình kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh ở Tây Nguyên còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp; đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn; hệ thống chính trị cơ sở ở một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; vấn đề di cư tự do tác động tiêu cực đến sự phát triển bền vững; tư tưởng ly khai tự trị và ngộ nhận về “Nhà nước Đêga” vẫn tồn tại trong một bộ phận đồng bào các dân tộc thiểu số và sẵn sàng trỗi dậy khi bị kích động

Lợi dụng “Vấn đề dân tộc” - mưu đồ hiểm độc của các thế lực thù địch

 Trong đời sống xã hội, dân tộc và tôn giáo là những vấn đề tự thân vốn đã chứa đựng những phức tạp. Đặc biệt là vấn đề dân tộc trong bối cảnh những năm gần đây, trên thế giới mâu thuẫn, xung đột giữa các dân tộc, sắc tộc ngày càng tăng, trở thành nhân tố gây mất ổn định ở nhiều quốc gia. Sự từ bỏ các nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin, thực hiện đa nguyên, đa đảng, dân chủ một chiều ở một số nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũng là điều kiện thuận lợi cho chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi phục hồi và phát triển mà đỉnh cao là sự bùng nổ trào lưu ly khai, tự trị và các cuộc xung đột vũ trang. Lợi dụng ngay điều đó, các thế lực thù địch quốc tế đứng đầu là Mỹ đã triệt để lợi dụng và khai thác vấn đề dân tộc để thực hiện ý đồ toàn cầu hoá chính trị của mình. Cụ thể khi chiến tranh lạnh kết thúc, những người cầm đầu nhà trắng đưa ra hàng loạt các chiến lược và thực thi “Diễn biến hoà bình”, thực hiện ý tưởng đóng vai trò đứng đầu thế giới, xây dựng một nền kinh tế thị trường tư bản thuần khiết, xây dựng một định chế dân chủ kiểu Mỹ trên toàn cầu, xoá bỏ các quốc gia cộng sản, trong đó có Việt Nam. Đặc biệt Hoa Kỳ khoét sâu góc độ nhân quyền trong vấn đề dân tộc, coi đây là một cửa đột phá quan trọng để thực hiện mưu đồ của mình.

“Chiến lược an ninh quốc gia cho thế kỷ XXI” của Mỹ (tháng 1 năm 2000) đã xác định: “Xung đột sắc tộc… là thách thức lớn lao đối với các giá trị về an ninh của Mỹ”. Đây là một “hình thức vi phạm nhân quyền” mà Mỹ có thể “hành động quân sự tập thể” và dùng “áp lực đồng thời kinh tế - chính trị kết hợp với ngoại giao” để chặn đứng ở bất cứ quốc gia nào. Đối với Việt Nam, Mỹ xác định “cũng không làm ngơ” trước những “người miền núi anh em” (dân tộc thiểu số) đã từng “giúp đỡ Mỹ” trong chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương trước đây. Các “Báo cáo tình hình nhân quyền” hàng năm, do Bộ Ngoại giao Mỹ công bố đã xuyên tạc, bóp méo sự thật về vấn đề dân tộc, tôn giáo của nhiều quốc gia, trong đó trắng trợ vu cáo Việt Nam “không có nhân quyền”, “đối xử không bình đẳng với các dân tộc thiểu số ở Việt Nam”, vu cáo “Việt Nam đàn áp dân tộc, tôn giáo”. Thâm độc hơn chính quyền Mỹ còn hỗ trợ cho các lực lượng phản động người dân tộc thiểu số Việt Nam sống lưu vong ở nước ngoài mà tập trung ở Mỹ, Pháp, Canađa để chống phá Nhà nước Việt Nam.

“LÀ CHỦ CỦA TƯƠNG LAI, THANH NIÊN KHÔNG THỂ KHÔNG CÓ LÝ TƯỞNG CAO CẢ. VÌ VẬY THANH NIÊN PHẢI CÓ CUỘC SỐNG CHÍNH TRỊ TÍCH CỰC VÀ CÁCH MẠNG”.

Câu trích trên là một phần nội dung trả lời phỏng vấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Máccôm Samông (Malcolm Salmon) phóng viên Đông Nam Á của báo Australia Tribune và báo Guardian. Khi được hỏi: “Những hoạt động của các chính khách ở nhiều nước thường không cổ vũ gì lớp thanh niên muốn có một cuộc đời hoạt động chính trị. Xin Chủ tịch đặc biệt cho những độc giả thanh niên của chúng tôi biết ý nghĩa và giá trị của một cuộc đời hoạt động chính trị, cách mạng”, Người trả lời: “Tương lai thuộc về thanh niên. Tương lai là cách mạng luôn luôn tiến lên. Là chủ của tương lai, thanh niên không thể không có lý tưởng cao cả. Vì vậy thanh niên phải có cuộc sống chính trị tích cực và cách mạng”.

 

Qua câu hỏi và nội dung trả lời của Bác, chúng ta thấy Người nhìn nhận, đánh giá rất cao vai trò, tiềm năng của thanh niên nói chung, thanh niên Việt Nam nói riêng, nhất là trong bối cảnh đất nước đang có chiến tranh, bị chia cắt hai miền Nam - Bắc. Trong hoàn cảnh ấy, tương lai của đất nước Việt Nam là phải thống nhất hòa bình và lý tưởng cao cả của thanh niên là phải thấu hiểu nỗi đau non sông chia cắt, phải có hành động cách mạng thiết thực đóng góp cho sự nghiệp xây dựng miền Bắc, giải phóng miền Nam.    

 

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lớp lớp thanh niên trên cả hai miền Nam - Bắc đi vào cuộc đấu tranh cách mạng dưới ngọn cờ lý tưởng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh với khí thế thấm đẫm tinh thần của sức trẻ “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước,/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”, thể hiện quyết tâm cao độ giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất nước nhà. Một bộ phận đông đảo thanh niên trở thành “Bộ đội Cụ Hồ”, trực tiếp chiến đấu với quân thù, lập những chiến công oanh liệt, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân hoàn thành sự nghiệp vẻ vang chống Mỹ, cứu nước.

 Hiện nay, câu nói của Hồ Chí Minh trên đây vẫn nguyên giá trị. Tuổi trẻ - thanh niên Quân đội cần phải tiếp tục gương mẫu học tập, “rèn đức, luyện tài”, nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, với Tổ quốc; luôn có tinh thần cảnh giác cách mạng cao, làm chủ bản thân, làm chủ khoa học kỹ thuật, vũ khí trang bị, quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần đưa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đi đến thắng lợi.

Đảng lãnh đạo nhưng không làm thay

 Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội đã được hiến định trong Hiến pháp, văn bản pháp lý cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp cũng hiến định Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.

Trong đó có lĩnh vực kinh tế. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng không làm thay các cơ quan Nhà nước. Đảng lãnh đạo kinh tế bằng cách tạo ra bảo đảm chính trị cho hoạt động kinh tế, xác định phương hướng chính trị cho hoạt động kinh tế đúng đắn và lành mạnh .

Chăm lo dân sinh, nâng cao dân trí, bảo đảm dân quyền để thực hiện dân chủ và phát huy quyền làm chủ thực chất của nhân dân là định hướng mục tiêu lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để đạt được mục tiêu đó, Đảng chủ trương “phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm”. Lãnh đạo kinh tế của Đảng đã trở thành mắt xích chủ yếu, quan trọng, thiết thực và quyết định nhất trong toàn bộ đường lối lãnh đạo, trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, kinh tế Việt Nam trong thời gian qua đã vượt qua bao gian nan, thử thách, được cả thế giới ngưỡng mộ, đặc biệt là trong thời kỳ phải đối mặt với đại dịch Covid-19. Ngân hàng Standard Chartered mới đây đã đưa ra dự báo, nền kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi mạnh mẽ trong năm 2022, với tốc độ tăng trưởng 6,7%, tăng trưởng năm 2023 là 7% và Việt Nam tiếp tục có triển vọng tích cực trong trung hạn.

Trong bản Cập nhật kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 2, Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh khởi đầu năm 2022, nền kinh tế Việt Nam có nhiều tín hiệu tích cực. Fitch Ratings là một trong những tổ chức có cái nhìn lạc quan nhất về kinh tế Việt Nam với dự báo kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng 7,9% trong năm nay và 6,5% vào năm 2023.

Báo chí quốc tế trong thời gian gần đây đã có nhiều bài đánh giá tích cực triển vọng kinh tế Việt Nam nhờ chính sách ứng phó linh hoạt với Covid-19, hoạt động sản xuất, kinh tế đang ghi nhận sự phục hồi mạnh mẽ. Chuyên trang tư vấn đầu tư ở châu Á Vietnam Briefing của công ty Dezan Shira nhận định, các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mới mà Việt Nam tham gia sẽ đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ tăng trưởng kinh tế khi Việt Nam mở cửa biên giới, tăng tốc phục hồi.

Các FTA không chỉ giúp phát triển kinh tế, mạng lưới sản xuất, mà còn góp phần nâng cao các tiêu chuẩn lao động. Tờ Reuters cũng có bài viết khẳng định: Nhờ các chính sách linh hoạt của Chính phủ Việt Nam, các hoạt động kinh doanh đã được khôi phục, đặc biệt là từ quý IV năm trước, nhờ đó, ngành dệt may Việt Nam đã hạn chế đáng kể sự gián đoạn chuỗi cung ứng, kỳ vọng tăng mạnh xuất khẩu trong năm nay.

Thực tiễn đã trả lời rõ ràng cho câu hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam có nên lãnh đạo kinh tế hay không. Thực tiễn cũng đã khẳng định những luận điệu tuyên truyền “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế" là xuyên tạc, kích động. Chúng ta cần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ quan điểm sai trái này.