Thứ Tư, 30 tháng 3, 2022

NGỜI SÁNG PHẨM CHẤT BỘ ĐỘI CỤ HỒ TRONG THIÊN TAI, DỊCH BỆNH!

         Trong thiên tai, dịch bệnh, hình ảnh hàng vạn chiến sĩ Quân đội dầm mình trong mưa bão để cứu dân; chiến sĩ biên phòng ngày đêm canh gác trên chốt chống dịch; các anh bộ đội, dân quân phục vụ tại các khu cách ly tập trung… đã làm sáng thêm những phẩm chất cao quý của Bộ đội Cụ Hồ.

Tiên phong trong đại dịch
Những ngày đầu năm 2020, đại dịch Covid-19 xuất hiện, hoành hành khắp thế giới. Việt Nam cũng bị đe dọa và Covid-19 diễn biến ngày càng phức tạp. Ngay trong khó khăn, hiểm nguy khi tình hình dịch Covid-19 ngày càng lan rộng, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang đã xung kích vào điểm nóng tâm dịch; kiên cường trên các tuyến biên giới tham gia phòng, chống dịch bệnh.

Mặc cho thời tiết khắc nghiệt, giữa cái giá rét thấu xương những ngày Đông, trên các đường mòn, lối mở ở dọc tuyến biên giới, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ vẫn kiên cường bám trụ địa bàn để ngăn chặn các đối tượng nhập cảnh trái phép, chặn đứng nguy cơ dịch bệnh xâm nhập vào nội địa.

Tham gia cắm chốt, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ không thể về nhà, phải hoãn cưới vợ, nhiều trường hợp bố mẹ mất cũng không thể về chịu tang. Tạ lỗi với bố mẹ, khất hẹn với vợ chưa cưới và người thân, những người lính Biên phòng “căng” mình để cắm chốt trong những lều bạt nơi rừng thiêng nước độc hàng tháng trời để thực hiện nhiệm vụ.

Trên mặt trận chống dịch, không chỉ những người lính biên phòng, mà các lực lượng làm nhiệm vụ trong các khu cách ly cũng đã trọn nghĩa với đồng bào và người nước ngoài đến Việt Nam. Nhưng ngày đầu năm 2020, thực hiện yêu cầu của Chính phủ cũng như quy định của Bộ Y tế, người Việt Nam ở nước ngoài về hay người nước ngoài sang Việt Nam phải thực hiện cách ly bắt buộc trong 14 ngày. Hàng nghìn khu cách ly tập trung trên địa bàn cả nước được thiết lập để đón công dân từ nước ngoài trở về thực hiện cách ly.  

Mặc cho đối mặt với muôn vàn khó khăn, nguy cơ lây nhiễm cao nhưng tất cả cán bộ, chiến sĩ phục vụ ở các khu cách ly luôn nỗ lực hết mình để đảm bảo điều kiện ăn, ở tốt nhất cho các công dân. Ai cũng xác định tốt tâm lý 3 cùng (cùng ăn, cùng ở, cùng chung tay phòng, chống dịch bệnh) với các công dân. Trong khu cách ly, cán bộ, chiến sĩ luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, phục vụ tận tình, chu đáo các công dân thực hiện nghĩa vụ phòng dịch.

Tận mắt chứng kiến và trực tiếp được chào đón, chăm sóc chu đáo ân cần, được quan tâm lo lắng như người thân của các cán bộ, chiến sĩ,… những công dân thực hiện nghĩa vụ cách ly phòng bệnh đều rất cảm động. Những hành động, việc làm cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ đã để lại trong lòng kiều bào và nhân dân những ấn tượng không bao giờ phai mờ. Đến bây giờ, sau hơn hai năm dịch Covid-19 bùng phát, câu chuyện về những “bà đỡ” bất đắc dĩ trong các khu cách ly giúp công dân “vượt cạn” hay chiến sĩ nhường suất ăn cho công dân… vẫn luôn được nhắc mãi. Và còn đó, những tấm gương cán bộ, chiến sĩ quên mình trong tham gia giúp nhân dân phòng, chống dịch đã trở thành biểu tượng cao đẹp về lòng nhân ái, tinh thần quả cảm của Bộ đội Cụ Hồ.

Quên mình trong lũ dữ
Nếu như trong cuộc chiến chống Covid-19, mỗi cán bộ, chiến sĩ chiến đấu với tinh thần “chống dịch như chống giặc” để hạn chế thấp nhất sự xâm nhập của dịch bệnh; sẵn sàng “nhường cơm sẻ áo” dành những điều kiện tốt nhất cho đồng bào mình trong khu cách ly… thì trong công cuộc phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu hộ cứu nạn, cán bộ, chiến sĩ toàn quân đã không quản gian khó, không sợ hy sinh, sẵn sàng tới những nơi khó khăn nhất, nguy hiểm nhất để giúp dân chạy lũ, tiếp tế lương thực, thực phẩm, tìm kiếm người bị nạn… khắc phục hậu quả thiên tai.

Những ngày cuối tháng 10 năm 2020, đồng bào các tỉnh miền Trung oằn mình trong bão lũ. Nhà cửa, ruộng vườn, tài sản của người dân trôi theo dòng nước dữ. Làng xã bị cô lập, đất đai sạt lở, hàng nghìn người dân rơi vào cảnh khó khăn. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo đó, mệnh lệnh cứu dân, hạn chế thấp nhất thiệt hại của thiên tai lại được phát đi. Các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang đã huy động hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ cùng nhiều phương tiện như ô tô, xuồng máy, áo phao... có mặt kịp thời sơ tán, ứng cứu nhân dân.

Xác định “phòng chống lụt bão là nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình”, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn có mặt ở những địa bàn khó khăn nhất giúp nhân dân ứng phó với bão lũ, khắc phục hậu quả thiên tai để hạn chế thấp nhất thiệt hại và đưa cuộc sống của người dân ổn định trở lại.
Dầm mình trong dòng nước lũ suốt cả ngày, tham gia sơ tán, di dời hàng trăm người dân và tài sản bà con đến nơi an toàn nhưng khi nghe tiếng người kêu cứu, cán bộ, chiến sĩ quân đội không ngần ngại lao mình xuống dòng nước lũ, quyết tâm cứu người bị nạn. Vẫn còn đó những tấm gương không quản hiểm nguy lao vào tâm lũ, hy sinh tính mạng cứu nhân dân trong phòng,chống thiên tai của cán bộ, chiến sĩ toàn quân.

Ngay sau khi nước rút, các cơ quan, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang đã điều động hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ và dân quân tự vệ giúp dân khắc phục hậu quả sau lũ. Các cán bộ, chiến sĩ tích cực tham gia sửa chữa nhà cửa bị hư hỏng, khắc phục sạt lở đất, khai thông các tuyến đường giao thông, nạo vét kênh mương thủy lợi, hỗ trợ thu hoạch hoa màu, vệ sinh các trường học... giúp dân sớm ổn định lại cuộc sống.

Thật khó nói hết những gian lao của những người lính, các anh luôn có mặt ở những điểm nóng để giúp dân khi xảy ra thiên tai, hoạn nạn. Cùng với cứu hộ, cứu nạn, họ còn tham gia thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo vệ môi trường, thực hiện các phong trào, công tác chính sách xã hội, vận động nhân dân thực hiện nếp sống văn hóa... Hình ảnh người lính đem con chữ đến những bản làng nghèo xa xôi, thắp lên hy vọng và ước mơ cho những em nhỏ vùng cao, chia sẻ cùng nhân dân những nhọc nhằn, gian khó đã trở thành quen thuộc.

Xung kích, đi đầu, gần dân, giúp dân vượt qua thiên tai, hoạn nạn, đó chính là mệnh lệnh chiến đấu trong thời bình của cán bộ, chiến sĩ toàn quân. Hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” xông pha vào các khu vực trọng yếu, nguy hiểm để giúp dân chống chọi với thiên tai, dịch bệnh góp phần tô thắm thêm phẩm chất, truyền thống cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân./.
Yêu nước ST.

Hậu Covid-19, hiểu đúng để tránh hoang mang

 

Khi số ca nhiễm Covid-19 tăng nhanh thì tâm lý người dân xuất hiện việc coi con số nhiễm bệnh không còn mang nhiều ý nghĩa, mà thay vào đó là nỗi lo về những di chứng hậu Covid-19 để lại.

Nhắm trúng tâm lý của người dân, nhiều nơi “nở rộ” gói dịch vụ khám hậu Covid-19 với đa dạng mức phí. Tình trạng loạn giá xảy ra khiến một số sở y tế, ngành chức năng phải vào cuộc chấn chỉnh, yêu cầu không tăng giá các dịch vụ khám chữa bệnh, không lạm dụng các chỉ định cận lâm sàng khi khám sức khỏe cho người bệnh hậu Covid-19 trong trường hợp không cần thiết. Thế nhưng tâm lý lo lắng, hoang mang của người dân thì vẫn còn đó, bởi không phải F0 nào cũng kịp thời nhận ra tình trạng sức khỏe của mình để khám, điều trị hậu Covid-19 khoa học và đúng cách.

Tâm lý sợ hãi một cách thái quá sau khi nhiễm Covid-19 xuất hiện do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự tác động mạnh mẽ từ những luồng thông tin thiếu chính xác, vô căn cứ lan truyền trên mạng xã hội về mối nguy hại trầm trọng hậu Covid-19. Rồi các bài thuốc “truyền miệng”, gói thăm khám, điều trị hậu Covid-19 được giới thiệu nhan nhản trên mạng xã hội, trở thành lựa chọn của không ít người, dù triệu chứng không có gì bất thường. Đó là chưa kể thời tiết đang ở giai đoạn chuyển mùa, nhiều người bị cảm cúm hay xuất hiện những bệnh lý khác đã tự cho rằng mình bị di chứng hậu Covid-19 và sốt sắng tìm đến bệnh viện, hay những địa chỉ theo quảng cáo.

Trước thực trạng trên, để giúp người dân bớt lo lắng, các chuyên gia y tế đưa ra khuyến cáo: Hậu Covid-19 không hề đáng sợ. Chúng ta sẽ không còn hoang mang nếu hiểu rõ, hiểu đúng về nó. Theo ghi nhận, hầu hết những biến chứng hậu Covid-19 không gây nguy hiểm hay tử vong. Rất nhiều trường hợp đã vượt qua các triệu chứng phổ biến hậu Covid-19 như mất ngủ, mệt mỏi, lo âu kéo dài... chỉ bằng cách thay đổi suy nghĩ, tích cực tập luyện, chế độ dinh dưỡng khoa học. Để không rơi vào tình trạng stress, mỗi người cần biết cách tự điều chỉnh bản thân và giúp đỡ, động viên người thân, đồng nghiệp, láng giềng... Nếu tiếp tục tự cường điệu các dấu hiệu tiêu cực của sức khỏe, rất dễ dẫn đến sang chấn tâm lý. Cần có tư duy mạch lạc về trách nhiệm, nghĩa vụ của bản thân với cuộc sống sẽ làm giảm nguy cơ trầm cảm, rối loạn lo âu...  

Thực tiễn cho thấy, ngành y tế đã có những bước chuẩn bị cho sự xuất hiện của hội chứng hậu Covid-19 để giúp người bệnh điều trị kịp thời. Điều quan trọng là người dân cần nâng cao nhận thức, tỉnh táo chọn lọc khi tiếp nhận thông tin, đặc biệt là mạng xã hội. Trong trường hợp xuất hiện di chứng hậu Covid-19, cần lựa chọn khám bệnh tại cơ sở y tế uy tín, tránh tự ý sử dụng các loại thuốc không rõ nguồn gốc, không có giấy phép của Bộ Y tế hay các bài thuốc truyền miệng để chữa bệnh. Việc tiêm vaccine đầy đủ giúp hạn chế ca bệnh trở nặng cũng như nguy cơ bị ảnh hưởng hậu Covid-19. Bởi vậy, thông tin cần biết từ giới chuyên môn về các trường hợp cần theo dõi chặt chẽ biểu hiện hậu Covid-19, phương pháp điều trị theo triệu chứng và lưu ý khi nào cần đến bệnh viện... cho phép chúng ta không chủ quan nhưng cũng không hoang mang, lo lắng thái quá.

Cùng với những biện pháp quyết liệt trong chấn chỉnh hành vi trục lợi, ngành y tế và các cơ quan chức năng cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giúp người dân nhận thức đầy đủ hơn về những di chứng có thể gặp phải sau khi nhiễm Covid-19 và phương pháp điều trị khoa học. Không phải ai nhiễm virus SARS-CoV-2 rồi cũng "bị hậu Covid". Sự hiểu biết đầy đủ của mỗi người để tránh hoang mang và lựa chọn điều trị đúng cách, cũng là liệu pháp để những dịch vụ khám, chữa bệnh loạn giá hậu Covid-19 không còn đất nảy nở, sinh sôi./.

 

Dân cử và dân nguyện

 

Các cơ quan dân cử, bao gồm Quốc hội và hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp, có trách nhiệm rất quan trọng là thể hiện ý chí và nguyện vọng chính đáng của nhân dân trong các mặt hoạt động.

Trong suốt lịch sử hình thành và hoạt động, Quốc hội Việt Nam và HĐND các cấp luôn chú trọng công tác tiếp xúc cử tri, lắng nghe và tiếp nhận ý kiến của cử tri, nhân dân qua nhiều kênh thông tin khác nhau để thực hiện chức năng theo Hiến pháp và pháp luật.

Tại Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) khóa XV, công tác dân nguyện đã nhận được sự quan tâm đặc biệt hơn. UBTVQH khóa XV tiến hành giám sát chuyên đề về “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo từ ngày 1-7-2016 đến ngày 1-7-2021”.

Bắt đầu từ phiên họp thứ 2 của UBTVQH khóa XV, công tác dân nguyện được báo cáo hằng tháng tại các phiên họp của UBTVQH. Qua 8 phiên họp UBTVQH nghe báo cáo công tác dân nguyện, UBTVQH đã đánh giá rằng, công tác dân nguyện, công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị của cử tri, nhân dân ngày càng nền nếp hơn, hiệu quả hơn.

Nhiều vụ khiếu nại, tố cáo đông người, tồn đọng, kéo dài đã được giải quyết, góp phần rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân. Niềm tin của cử tri và nhân dân vào Quốc hội, UBTVQH, các cơ quan của Quốc hội ngày càng được củng cố và nâng cao.

Lan tỏa tinh thần đổi mới và hiệu quả từ việc đổi mới công tác dân nguyện của Quốc hội, UBTVQH, HĐND các cấp ở các địa phương cũng đang rục rịch đổi mới công tác dân nguyện. Tuy vậy, công tác dân nguyện ở cơ quan dân cử một số địa phương vẫn chưa đạt hiệu quả như mong muốn và kỳ vọng.

Tại 3 hội nghị tổng kết công tác HĐND các tỉnh, thành phố do UBTVQH tổ chức, tinh thần đánh giá chung về những tồn tại, hạn chế của công tác HĐND trong công tác dân nguyện là việc đôn đốc, theo dõi kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cử tri ở một số địa phương có lúc, có nơi còn chậm; công tác tổng hợp và gửi báo cáo ý kiến, kiến nghị sau tiếp xúc cử tri của một số tổ đại biểu HĐND chưa bảo đảm về chất lượng và thời gian quy định. Còn có địa phương không tổ chức tiếp xúc cử tri sau kỳ họp thứ hai của HĐND...

Đây là những mặt hạn chế cần được các cơ quan dân cử địa phương nhanh chóng khắc phục và triển khai đổi mới mạnh mẽ hơn để công tác dân nguyện đạt hiệu quả cao hơn, đáp ứng yêu cầu, kỳ vọng ngày càng cao của cử tri, nhân dân gửi gắm nơi các cơ quan dân cử.

Qua đó góp phần làm giảm áp lực tiếp dân ở các cơ quan Trung ương và giữ vững môi trường ổn định để phát triển ở ngay từng địa phương. Giải pháp mở rộng các kênh tiếp nhận ý kiến phản ánh, kiến nghị của cử tri và nhân dân; thường xuyên nghe báo cáo về công tác dân nguyện và trực tiếp yêu cầu các cơ quan hữu quan đẩy nhanh tiến độ giải quyết khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị của cử tri, nhân dân mà UBTVQH đang thực hiện hiệu quả rất cần được triển khai ở HĐND các cấp.

Để nâng cao hiệu quả công tác dân nguyện ở các cơ quan dân cử địa phương, ngoài kênh giám sát trực tiếp từ cử tri và nhân dân, UBTVQH cũng nên có hướng dẫn cụ thể và tiến hành giám sát thường xuyên để thúc đẩy tinh thần đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp trong lĩnh vực này./.

CHIÊU BÀI "NHÂN QUYỀN" - MŨI TẤN CÔNG THÂM ĐỘC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ!

      Bất chấp những thành tựu Việt Nam đạt được, lá bài "nhân quyền" vẫn được các đối tượng chống phá sử dụng để xuyên tạc mọi mặt của đời sống!
Nhận diện thủ đoạn xuyên tạc các thành tựu nhân quyền đã giúp khán giả nhận diện rõ những giọng điệu xuyên tạc, bôi nhọ, vạch mặt những kẻ đứng phía sau và lật tẩy những âm mưu thâm độc.

Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Tại Việt Nam, từ khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay, cả hệ thống chính trị Việt Nam đã luôn nỗ lực để bảo đảm quyền con người ở mức cao nhất có thể.

Thế nhưng, có những đối tượng, tổ chức, ngày đêm chống phá, xuyên tạc, bôi nhọ đất nước ta về mọi mặt, trong đó có vấn đề nhân quyền.

Lợi dụng sự khó khăn của đồng bào dân tộc để xuyên tạc

Việt Nam là đất nước đa dân tộc, đa văn hóa với 54 dân tộc anh em. Các dân tộc không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triển cao hay thấp đều ngang nhau về quyền lợi và nghĩa vụ và được bảo đảm bằng Hiến pháp và pháp luật. Thực tế đã cho thấy rõ điều ấy.

Thế nhưng, chính tính đa dân tộc đã được các đối tượng phản động tìm mọi cách khoét sâu, gây chia rẽ, điển hình là những thông tin sai lệch, bịa đặt, vu cáo rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam vi phạm quyền của đồng bào dân tộc thiểu số.

Những luận điệu vẫn xuất hiện từ nhiều thập kỷ qua như: Vu cáo Đảng và Nhà nước Việt Nam "Đàn áp tàn bạo", tước đoạt quyền làm người của đồng bào; Bỏ qua những khó khăn khách quan để thổi phồng khoảng cách giàu nghèo.

Thậm chí, những đối tượng xấu còn nhận định các dân tộc thiểu số ở Việt Nam không có tự do, không được quyền có đất đai, hay nói tóm lại là không có quyền gì cả.

Xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đây là mục tiêu cả mà dân tộc Việt Nam hướng tới khi kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Những con đường kết nối khu vực miền núi, những công trình nước sạch vùng cao, những ngôi trường nội trú dành riêng cho con em đồng bào… minh chứng cho quan điểm "một xã hội phát triển thực sự vì con người", để không bỏ ai lại phía sau.. chứ không vì phục vụ lợi ích kinh tế.

Thế nhưng, đã có lúc các thế lực xấu, lợi dụng chính những điều tốt đẹp này để thực hiện những mưu đồ chống phá.

Theo nghiên cứu của các chuyên gia về vấn đề nhân quyền, có một số thủ đoạn chính mà các thế lực thù địch thường sử dụng để chống phá chế độ về các vấn đề liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số.

Đó là lợi dụng sự khó khăn khách quan của đồng bào dân tộc; lợi dụng một số phong tục, tập quán còn lạc hậu của bà con; trích dẫn các báo cáo không có căn cứ của các tổ chức quốc tế về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Nguy hiểm nhất, là họ đồng nhất khái niệm quyền dân tộc tự quyết là quyền của quốc gia, dân tộc với quyền của các dân tộc thiểu số để kích động, lôi kéo bà con đòi thành lập nhà nước riêng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Kích động gây chia rẽ các dân tộc, tôn giáo

Tháng trước, tài khoản Youtube của tổ chức phản động lưu vong Việt Tân lan truyền clip rêu rao rằng chính quyền sách nhiễu một thánh lễ ở Vụ Bản, Hòa Bình. Không ít tài khoản Facebook hùa theo đơm đặt là chính quyền bố trí cả công an để trấn áp. Với những lời lẽ kích động, họ thổi phồng rằng cấp ủy, chính quyền xâm phạm tự do tôn giáo.

Là người có mặt tại buổi mục vụ hôm 20/2, bà Đào Thị Vụ cho biết thực chất chỉ có Bí thư và Phó Chủ tịch thị trấn với tư cách là Ban Chỉ đạo phòng chống dịch ở địa phương đến đề nghị nhà thờ thực hiện đúng các qui định để đảo bảo an toàn cho người dân. Sự thật đã bị bóp méo với ý đồ xấu.

Hình ảnh về hoạt động của lực lượng liên ngành phòng chống dịch tại xã Yên Lâm, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang được các trang thiếu thiện chí của nước ngoài đăng tải cùng những lời lẽ đầy áp đặt.

Sự việc xảy ra vào tháng 12 năm ngoái, khi địa phương này phát hiện người lái xe chở thi hài Dương Văn Mình từ bệnh viện về nhà bị dương tính với SARS-CoV-2. Dương Văn Mình là kẻ đứng đầu tổ chức tổ chức bất hợp pháp mang tên y xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, kích động ly khai để thành lập nhà nước Mông tự trị.

Rõ ràng sự thật không như những điều đơm đặt. Lúc đó, việc truy vết và đưa những người F1 đi cách ly đó là quy định.

Ở Việt Nam quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Tôn trọng và bảo đảm hoạt động của các tôn giáo nhưng cũng giống như nhiều quốc gia khác, Việt Nam không chấp nhận việc lợi dụng vấn đề này để xuyên tạc, kích động li khai, chia rẽ các dân tộc, tôn giáo, gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến an ninh quốc gia.

Lấy trẻ em, người khuyết tật để che chắn cho luận điệu chống phá
Cùng với tấn công vào quyền của các dân tộc thiểu số, các đối tượng thù địch cũng đưa ra các luận điệu xuyên tạc việc thực hiện quyền trẻ em tại Việt Nam. Trẻ em không chỉ là lực lượng đông đảo của hiện tại, mà còn là nguồn nhân lực và là chủ nhân tương lai của đất nước. Lợi dụng quyền trẻ em thì dễ tạo nên những phản ứng, bức xúc trong xã hội.

Thủ đoạn phổ biến nhất, đó là thổi phồng những sự vụ riêng lẻ, thậm chí khách quan, để đổ lỗi cho cả thể chế. Như Đài Á Châu tự do, từ những vụ trẻ em bị đuối nước, chúng tung ra luận điệu "Những trẻ em Việt Nam bị mất quyền sống".

Nêu một số vụ bạo hành, xâm hại tình dục, tổ chức khủng bố Việt Tân thì ỡm ờ: "Một thể chế tử tế hay không thể hiện ở chỗ trẻ em có được sống tử tế và được nghiêm ngặt bảo vệ hay không".

Xỉa xói Việt Nam là thế, nhưng các cá nhân, tổ chức này lại lờ đi những thực tế khác, cho thấy một tiêu chuẩn kép. Như là cứ 5 trẻ ở châu Âu thì có 1 em là nạn nhân của một hình thức xâm hại tình dục; hay tại một quốc gia nơi sở hữu súng là hợp pháp, năm 2020, có trên 5.100 trẻ em và thiếu niên dưới 17 tuổi bị giết hoặc bị thương. Hãy thừa nhận rằng, mảng tối, khiếm khuyết luôn tồn tại, kể cả trong những thể chế được cho là thượng tôn pháp luật nhất, dân chủ nhất.

Do đó, nếu đánh giá, hãy toàn diện, khách quan, chứ xuyên tạc, dẫn dắt dư luận với ý đồ đen tối thì sớm muộn gì cũng bị lôi ra ánh sáng.

Tấn công quyền trẻ em còn chưa đủ, các lực lượng chống đối còn nhẫn tâm đưa cả người khuyết tật ra che chắn cho luận điệu chống phá mình. Trở lại với thời điểm dịch COVID-19 còn diễn biến phức tạp, tại thành phố Hồ Chí Minh xảy ra một vụ tự thiêu. Ngay lập tức các đối tượng thù địch lu loa rằng "Chống dịch hay chống dân" và đây là vụ việc người dân tự thiêu để phản đối cách thức chống dịch của chính quyền. Thực tế thì đây là trường hợp người tự thiêu do bệnh lý thần kinh, không kiểm soát được hành vi.

Hay cũng vào thời điểm ấy, tổ chức theo dõi Nhân quyền, tận dụng một tài liệu miễn phí của nước ngoài, dịch ra tiếng Việt, ý muốn nói, Việt Nam phải làm thế này, thế kia để bảo vệ người khuyết tật.

Thế nhưng, dù tài liệu nêu rất nhiều điều cần làm cho người khuyết tật, nhưng điều quan trọng nhất là tiêm vaccine ngừa COVID-19 cho họ thì chẳng có dòng nào. Trong lúc đó, Chính phủ Việt Nam đã đưa hàng triệu mũi tiêm vaccine đến với người khuyết tật.

Hay như đề nghị: Cần thông tin bằng ngôn ngữ ký hiệu trên TV cho người khuyết tật. Xin thưa là Việt Nam đã làm điều này trong gần 2 thập kỷ rồi, chứ không cần phải chỉ dạy mới bắt đầu làm.

Và còn rất nhiều những ví dụ khác cho thấy, tại Việt Nam, dù khó khăn còn nhiều, nhưng bảo đảm quyền cho người khuyết tật luôn được nỗ lực thực hiện. Bởi tại Việt Nam, có câu nói: Không để ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển.

Tại sao chiêu bài "nhân quyền" lại được dùng nhiều đến như vậy?

Bất chấp những thành tựu Việt Nam đạt được, lá bài "nhân quyền" vẫn được các đối tượng sử dụng để xuyên tạc mọi mặt của đời sống như Việt Nam không bảo vệ quyền trẻ em, vi phạm quyền của đồng bào dân tộc thiểu số, quyền của người khuyết tật.

Vẫn chưa đủ, khi Nhà nước Việt Nam phòng chống dịch COVID-19, bảo vệ sức khỏe, tính mạng người dân, họ cáo buộc vi phạm nhân quyền. Chấm dứt hoạt động của các tà giáo, tổ chức tôn giáo bất hợp pháp… vi phạm nhân quyền. Rồi xét xử những kẻ vi phạm pháp luật Việt Nam, cũng vi phạm nhân quyền nốt. Những luận điệu lợi dụng nhân quyền lặp đi lặp lại nhiều đến mức lố bịch. Thế nhưng tại sao chiêu bài nhân quyền lại được dùng nhiều đến như vậy? Câu trả lời rất đơn giản, đây là một trong những mũi tấn công nguy hiểm nhất.

Một thủ đoạn đáng lưu ý là việc trao giải thưởng và danh hiệu cho các đối tượng trong nước. Một số ví dụ, đó là những giải thưởng nhân quyền, hay giải thưởng tự do báo chí. Nhưng sự thực, đứng sau giải thưởng này là một số tổ chức dưới danh nghĩa nhân quyền, tự tạo nên các giải thưởng mà tiêu chí là thành tích chống phá càng dày thì càng có khả năng được trao giải.

Kết quả, là hầu hết những người được đề cử và trao giải, đến từ nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ, lại chính là những đối tượng có hoạt động chống lại lợi ích quốc gia và dân tộc ở quốc gia của họ.

Cùng với cổ súy cho những kẻ vi phạm pháp luật, những tổ chức nhân quyền thiếu thiện chí liên tục vu cáo, bôi nhọ Đảng, Nhà nước Việt Nam trên lĩnh vực nhân quyền. Như Báo cáo mới nhất của Tổ chức theo dõi nhân quyền liệt kê hàng loạt vi phạm về quyền con người như tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, quyền của phụ nữ và trẻ em.

Tổ chức Ngôi nhà tự do thì hoang tưởng với luận điệu "Việt Nam không có tự do internet". Tổ chức phóng viên không biên giới thì nhai lại điệp khúc cũ mèm: "Việt Nam chẳng quan tâm gì đến tự do báo chí".

Nhưng nếu tình hình nhân quyền tại Việt Nam tệ đến thế, thì tại sao vào năm 2013, 184/193 nước bỏ phiếu bầu Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc cho nhiệm kỳ 2014 - 2016. Lý do gì Liên hợp quốc đánh giá cao và ủng hộ những nỗ lực, sáng kiến của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Đánh giá về nhân quyền của Việt Nam, cần có sự khách quan, trung thực, chứ những tổ chức đội lốt "nhân quyền", có cái nhìn thù hằn, thiếu thiện chí thì làm gì đủ tư cách.

Nhân quyền được coi là một vấn đề thường xuyên được các thế lực thù địch lợi dụng để đẩy mạnh chống phá. Bởi "Nhân quyền", cùng với các chiêu trò "Dân chủ", "Dân tộc", "Tôn ցiáo", trở thành 4 đòn đột phá, 4 mũi xunց kích gây chuyển hóa từ bên trong, và tạo cớ để can thiệp từ bên ngoài nhằm phá hoại cách mạng Việt Nam.

Thực tế, các tổ chức, đối tượng này không quan tâm gì đến những tiến bộ về nhân quyền. Điều chúng mong muốn, đó là vẽ nên diện mạo xấu xí của một đất nước Việt Nam, nơi mà khái niệm dân chủ, nhân quyền không tồn tại, để rồi từ đó, hướng tới những mục đích sâu xa và thâm độc hơn.

Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Trên cơ sở này, Việt Nam đã nghiêm túc triển khai các nghĩa vụ và cam kết quốc tế trong lĩnh vực quyền con người, cũng như ưu tiên dành nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống, đảm bảo các quyền dân sự chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của mọi đối tượng trong xã hội.

Cũng như các nước trên thế giới, pháp luật Việt Nam cũng có những quy định cấm các tổ chức, cá nhân phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc. Bất kỳ hành vi nào lợi dụng quyền tự do của bản thân để xâm phạm lợi ích Nhà nước, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân đều chịu xử lý của pháp luật và trật tự. Pháp luật được thượng tôn thì kỷ cương của đất nước được giữ vững, tạo cơ sở cho sự phát triển ổn định của đất nước, và cũng là tiền đề thúc đẩy, bảo đảm và phát huy các giá trị về quyền con người.

Mỗi đất nước có quyền lựa chọn con đường riêng của mình, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của các quốc gia đó. Không thể chấp nhận được việc áp đặt, xuyên tạc, vu cáo dân chủ, nhân quyền của quốc gia khác vì đó là xâm phạm vào công việc nội bộ của một quốc gia. Cũng như vậy, việc ủng hộ, dung túng, cổ vũ những hành vi chống đối dựa vào tấm áo khoác nhân quyền là điều cần phải lên án và loại bỏ./.









Yêu nước ST.

Hạn chế "nhân tai" để giảm thiệt hại do thiên tai

Hạn chế "nhân tai" để giảm thiệt hại do thiên tai

Nước ta có hệ thống đê điều lớn với khoảng 9.300km đê sông và đê biển. Những năm qua, Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đã quan tâm bố trí kinh phí cho các địa phương thực hiện duy tu, cải tạo, xử lý những hư hỏng của đê điều.

Thế nhưng thực tế cho thấy, hiện nay, tình trạng vi phạm pháp luật về đê điều đang diễn ra khá phổ biến ở nhiều địa phương, khi mùa mưa đã cận kề; tại những đoạn đê qua các khu đô thị, khu tập trung đông dân cư, khu vực có mỏ vật liệu xây dựng và bến bãi tập kết, trung chuyển vật liệu...làm ảnh hưởng đến an toàn đê.

Trước tình trạng này, Vụ Quản lý đê điều, Tổng cục Phòng, chống thiên tai (Bộ NN&PTNT) đã tham mưu và thường xuyên phối hợp với các ngành, địa phương kiểm tra, đôn đốc chấn chỉnh, xử lý các vi phạm nhằm bảo đảm an toàn đê điều, bảo vệ thành quả đầu tư. Tuy nhiên, việc ngăn chặn, xử lý vi phạm còn hạn chế, số vụ tồn đọng chưa được xử lý hoặc xử lý chưa dứt điểm còn nhiều, với khoảng 70% số vụ vi phạm. Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng đáng nói nhất là còn tình trạng lãnh đạo một số địa phương chủ quan, nhận thức chưa đầy đủ dẫn đến thiếu quan tâm, chưa coi trọng công tác quản lý, bảo vệ an toàn đê.

Có câu “thiên tai không bằng nhân tai”, ý nói rằng, hậu quả từ những hành vi thiếu trách nhiệm của con người có thể lớn hơn nhiều so với thiên nhiên gây ra. Hơn nữa, dù thiên tai khốc liệt, khó lường nhưng con người vẫn có thể hạn chế thiệt hại nhờ các giải pháp phòng ngừa, kiểm soát rủi ro và chủ động trong ứng phó. Năm 2021, mặc dù hứng chịu nhiều thiên tai trong bối cảnh vừa phải đối phó với dịch Covid-19 nhưng nước ta đã hạn chế tối đa được thiệt hại nhờ thực hiện tốt các giải pháp, phương châm trong phòng, chống thiên tai.

Cụ thể, năm 2021, cả nước hứng chịu 841 trận thiên tai, làm 108 người chết, mất tích, 95 người bị thương; giá trị thiệt hại ước tính hơn 5.200 tỷ đồng. Năm 2020, tổng số người thiệt mạng và mất tích do thiên tai gây ra là 357 người, thiệt hại về kinh tế lên tới 39.945 tỷ đồng (gấp gần 8 lần năm 2021)... Thế nhưng, chỉ cần một địa phương chủ quan, sơ hở để vỡ một mét đê xung yếu cũng có thể nhấn chìm cả một vùng rộng lớn, cuốn đi mọi thành quả phát triển, thiệt hại khôn lường về con người và của cải vật chất.

Nhằm hạn chế những tình huống xấu, rủi ro xảy ra, công tác phòng, chống thiên tai nói chung và quản lý, bảo vệ đê điều nói riêng phải luôn được các ngành, các cấp, các địa phương quan tâm. Để tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo vệ an toàn đê điều, cơ quan chức năng và cấp ủy, chính quyền các cấp cần phát huy tinh thần trách nhiệm, chủ động, tích cực đấu tranh ngăn chặn, xử lý vi phạm theo đúng quy định của pháp luật, trong đó chú trọng mở các đợt cao điểm xử lý vi phạm, nhất là những vụ nổi cộm để xem xét xử lý nghiêm minh, kịp thời...

Một vấn đề quan trọng là nhận thức và ý chí của người đứng đầu các địa phương. Muốn quản lý tốt, bảo vệ đê điều an toàn, lãnh đạo các địa phương cần quan tâm, coi trọng công tác này, kịp thời ngăn chặn, xử lý kiên quyết, dứt điểm vi phạm ngay từ khi mới phát sinh; cần gắn trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong việc để xảy ra vi phạm và kết quả xử lý vi phạm về đê điều. 

Khi tri thức bị đánh cắp

 

Thời gian gần đây, dư luận truyền thông lại rộ lên chuyện một số tác phẩm văn học nghệ thuật (VHNT) sau khi được hội đồng chuyên môn xét, đề nghị trao giải thưởng thì tác giả bị tố là “đạo văn”.

Sự việc này khiến truyền thông dậy sóng, môi trường sáng tạo VHNT bị ảnh hưởng xấu. Giới chuyên môn và các cơ quan liên quan phải tốn nhiều thời gian, công sức để điều tra, kết luận nhằm xử lý...

Một vấn đề được dư luận đặt ra là, liệu vấn nạn “đạo văn” chỉ xảy ra ở một số tác phẩm được xét trao giải hay đây chỉ là phần nổi của tảng băng chìm? Còn bao nhiêu tác phẩm, công trình nghiên cứu, luận văn, luận án... có hành vi tương tự chưa bị phát hiện? Và trên thực tế, có bao nhiêu danh xưng, danh hiệu cao quý dành cho nhà văn, nghệ sĩ, trí thức... đã được trao tặng những người không thực sự xứng đáng? Khi những đối tượng này được phong học hàm, học vị, danh hiệu, giải thưởng... nhờ vào các hành vi không trong sáng, hậu quả đối với xã hội sẽ thế nào?... Ai cũng hiểu, tác động của nó đối với đời sống xã hội, tương lai đất nước là vô cùng nguy hại.

Bàn đến vấn đề này, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam cho rằng, vi phạm bản quyền là hành vi ăn cắp tri thức. Nó thực rất tồi tệ trong đời sống VHNT và giới trí thức.

Chuyện đánh cắp tri thức không phải đến bây giờ mới diễn ra, mà nó đã tồn tại âm ỉ lâu nay. Bởi đây là môi trường của nguồn lực tinh hoa, mang tính lao động đặc thù, nhạy cảm, nên khi vụ việc nào đó được phát hiện, dư luận luôn dành sự quan tâm đặc biệt. Tham nhũng về vật chất gây hậu quả trực tiếp về kinh tế, nhưng đánh cắp tri thức là một kiểu tham nhũng gây hậu quả lâu dài, nặng nề về văn hóa, phát triển. Tuy nhiên, chế tài xử lý những hành vi này cho đến nay vẫn chưa thực sự đủ sức răn đe. Những đối tượng vi phạm, khi có đủ căn cứ xử lý theo kết luận của cơ quan chức năng, mới chỉ dừng lại ở việc thu hồi danh hiệu, giải thưởng, bằng cấp...

Hành trình nghiên cứu, sáng tạo cho phép các chủ thể tận dụng những tác phẩm, công trình đã được công bố để kế thừa, phát triển, vươn tới những đỉnh cao phía trước. Trên thực tế, biên độ giữa kế thừa, vận dụng, tiếp biến, phát triển... và việc lấy cái của người khác làm cái của mình nhiều khi rất khó phân định rạch ròi, nhất là trong sáng tạo VHNT. Thế nên tình trạng “chôm” ý tưởng, sửa đổi câu từ, “thêm mắm thêm muối” vào tác phẩm của người khác để “xào nấu”, “chế biến” thành tác phẩm của mình vẫn diễn ra không ít. Đó là kiểu đánh cắp tri thức một cách tinh vi, rất nguy hại.

Lao động nghiên cứu, sáng tạo, trước hết đó là công cụ và sản phẩm của một môi trường văn hóa thuộc thượng tầng kiến trúc, có tính phổ quát rất cao. Dù chế tài pháp luật khó có thể can thiệp đến mọi ngóc ngách của đời sống văn hóa trí thức, song nó lại được điều chỉnh bởi đạo đức nghề nghiệp, đạo đức xã hội và chịu can thiệp sâu sắc bằng chính sự tác động của môi trường đặc thù, đặc biệt ấy. Bất cứ hành vi phản văn hóa nào xảy ra trong môi trường văn hóa ấy đều phải trả giá rất đắt. Khi sự việc bị đưa ra ánh sáng, sự mất mát về uy tín, danh dự, phẩm giá... nhiều khi còn đáng sợ hơn cả một bản án của tòa án.

Cánh cửa của tri thức, danh tiếng không đóng với bất kỳ ai, nhưng nó chỉ thực sự mở rộng khi bạn là một người có văn hóa và mở nó bằng một hành vi văn hóa.

Muốn người ta không chê cười thì đừng làm điều xấu!

Những cái gì không phải của mình thì đừng lấy!

Giữ gìn vẻ đẹp ca từ trong sáng tác

 

Với giai điệu trẻ trung, lời ca trong sáng, chất liệu âm nhạc mang hơi hướng world music (pha trộn chất liệu dân gian với các thể loại khác, có thể là jazz, cổ điển...), những ca khúc như “Chúng em yêu Bác Hồ Chí Minh”, “Có Đảng sáng soi vững bước ta đi”, “Việt Nam ngày nắng mới”... được Thiếu tá, nhạc sĩ Tạ Duy Tuấn (Nhà hát Ca múa nhạc Quân đội) sáng tác đang tạo nên sức sống mới cho thể loại âm nhạc tưởng chừng như ít được giới trẻ quan tâm.

Nghe câu hát mở đầu “Non xa xa, nước xa xa/ Nào phải thênh thang mới gọi là...” trong giọng hát lúc cao vút, lúc thăm thẳm đầy sức hút của Sao mai Khánh Ly khi thể hiện ca khúc “Có Đảng sáng soi vững bước ta đi”, tạo ấn tượng cho người nghe. Chất dân gian đương đại lấy từ âm hưởng vùng trung du và miền núi phía Bắc làm chủ đạo, sự cộng hưởng từ các loại nhạc cụ dân tộc như sáo Mông, đàn tính, đàn môi, ca từ đậm đặc ngợi ca, giai điệu mới mẻ trong phối khí tạo nên sức sống mới trong dòng ca khúc viết về Đảng và Bác Hồ. Ca khúc được ê kíp nghệ sĩ thực hiện thành MV “Có Đảng sáng soi vững bước ta đi”, ra mắt dịp kỷ niệm 92 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 / 3-2-2022), khiến giới âm nhạc đánh giá cao về cách tiếp cận cũng như tư duy sáng tạo của nhạc sĩ Tạ Duy Tuấn.

Giữ gìn vẻ đẹp ca từ trong sáng tác
 Nhạc sĩ Tạ Duy Tuấn đoạt giải triển vọng tại Cuộc thi sáng tác ca khúc "Hát lên Việt Nam-Let’s sing Vietnam" năm 2021.

Ca sĩ Khánh Ly cho biết, lần đầu tiên nghe ca khúc của nhạc sĩ Tạ Duy Tuấn, cô thực sự bất ngờ vì sự trẻ trung, mới mẻ. “Tôi đã đặt vấn đề với nhạc sĩ Tạ Duy Tuấn thực hiện tác phẩm thành MV, với ý nghĩa thay đổi cách thể hiện, vì bản thân mình và cũng vì lớp trẻ kế cận. Là một người thầy, trước hết mình phải dám chinh phục con đường mới trước đã, sau đó mới có thể truyền lại cho học trò”, nữ ca sĩ là giảng viên thanh nhạc của Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, chia sẻ. 

Thời gian qua, nhạc sĩ Tạ Duy Tuấn được giới làm nghề và công chúng biết đến qua loạt các dự án âm nhạc lớn, đa dạng cách thể hiện, như: Ca khúc “Việt Nam ngày nắng mới” đoạt giải triển vọng tại Cuộc thi sáng tác ca khúc “Hát lên Việt Nam-Let’s sing Vietnam" do Hội Nhạc sĩ Việt Nam phối hợp với Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức, có quy mô lớn với gần 900 tác phẩm dự thi của các nhạc sĩ chuyên và không chuyên, nhằm thể hiện tình yêu quê hương, đất nước Việt Nam; giám đốc âm nhạc liveshow “In the Mirror” của ca sĩ Tùng Dương và Bùi Anh Tuấn; bên cạnh đó là những ca khúc về chủ đề người lính như: “Màu áo trắng tinh khôi”, “Tin yêu trong em”...

Nhạc sĩ Tạ Duy Tuấn cho biết, để thu hút được giới trẻ hiện nay tiếp nhận những ca khúc mang tính chất ca ngợi Đảng, Bác Hồ, tình yêu quê hương, đất nước, chủ đề xã hội, người lính... thì phải bắt kịp nhu cầu thưởng thức của họ. Đó cũng chính là điều trăn trở của nhạc sĩ trong quá trình sáng tác, hoặc ở vị trí đạo diễn nghệ thuật hay sản xuất chương trình. Bởi vậy, trong những sáng tác, sản phẩm, nhạc sĩ thường kết hợp phong cách âm nhạc hiện đại, tạo sự trẻ trung, tươi mới cả về phần âm nhạc lẫn hình ảnh, thể hiện tình yêu nước, khát khao cống hiến bằng cách riêng của người trẻ thời đại 4.0. “Những tác phẩm của các thế hệ đi trước sáng tác về Đảng, Bác Hồ, người lính, tình yêu quê hương, đất nước sẽ luôn đi cùng năm tháng. Tuy nhiên, thế hệ trẻ nghe nhạc ngày nay có nhiều lựa chọn và luôn thay đổi xu hướng tiếp nhận, đòi hỏi tư duy người sáng tác cũng phải thay đổi để làm sao vừa đáp ứng nhu cầu công chúng, vừa có thể định hướng thẩm mỹ của công chúng bằng những sáng tác mang hơi thở của thời đại”, nhạc sĩ Tạ Duy Tuấn cho hay.

Thời gian này, Thiếu tá, nhạc sĩ Tạ Duy Tuấn đang cùng các nghệ sĩ của Nhà hát Ca múa nhạc Quân đội dồn tâm huyết, sức sáng tạo cho những dự án âm nhạc mới, với hy vọng trong các cuộc thi nghệ thuật chuyên nghiệp sắp tới như: Liên hoan Ca múa nhạc toàn quốc 2022 (dự kiến tổ chức vào tháng 6 tại Đắc Lắc); Hội diễn nghệ thuật chuyên nghiệp toàn quân... sẽ vang lên những tác phẩm về người lính-Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.

nguồn báo QĐND

Một biểu tượng tiêu biểu và đáng tự hào

 Bài hát “nằm lòng” của những người lính có từ hơn 70 năm nay là bài hát “Vì nhân dân quên mình” (của nhạc sĩ Doãn Quang Khải). Bài hát của thời tân binh, bài hát khởi đầu của đời binh nghiệp chỉ có dân và Bác.

Dân và Bác là máu thịt, là bản chất của Quân đội ta từ khi mới chỉ có 34 người cùng ít lưỡi lê và súng kíp cách đây sắp trọn 80 năm. Trên thế giới chắc chẳng có quân đội nào mà người lính lại gọi lãnh tụ của mình là Bác, là “người Cha thân yêu”; đồng thời gọi vị Đại tướng Tổng Tư lệnh của mình là “người Anh Cả” như Quân đội nhân dân Việt Nam. Thật gia đình, thật “một lòng phụ tử”, “huynh đệ chi binh” và cũng thật Việt Nam!

Hình ảnh và tên gọi Bộ đội Cụ Hồ là hiện tượng độc đáo trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc Việt Nam nói chung và văn hóa Việt Nam nói riêng. Ít thấy có dân tộc nào trên thế giới mà nhân dân lấy tên lãnh tụ tối cao của mình đặt cho quân đội.

Đây vừa là tình cảm vừa là niềm tin của quần chúng dành cho lực lượng vũ trang. Hiếm có một dân tộc nào mà hình ảnh người lính lại được toàn dân coi đó là một hình mẫu của con người trong thời đại mới, để hết lòng tin yêu, quý trọng, động viên mọi thế hệ con cháu kế tiếp và noi theo gương sáng của Bộ đội Cụ Hồ như dân tộc Việt Nam.

Bộ đội Cụ Hồ là cách gọi rất Việt Nam, thật gần gũi. Bộ đội Cụ Hồ không chỉ là tên gọi trìu mến mà nhân dân dành cho quân đội mà còn là một danh hiệu, một vinh dự lớn đối với những chiến sĩ nhân dân.

Về xuất xứ của tên gọi Bộ đội Cụ Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong một hồi ức của mình, kể: “Tôi nhớ rằng từ trong Khu giải phóng Việt Bắc, đồng bào các dân tộc đã trìu mến gọi các đơn vị vũ trang ta là “Bộ đội ông Ké”, hay “Bộ đội ông Cụ” một cách thân thương, chân chất như tấm lòng của đồng bào đối với lãnh tụ của mình mà nhiều người lúc đó chưa biết tên Bác.

Có lẽ về sau khi biết tên Người, đó là Bác Hồ, là Chủ tịch Hồ Chí Minh của nước Việt Nam mới, mọi người đã gọi “Bộ đội ông Ké” là “Bộ đội Cụ Hồ” và cũng từ chiến khu Việt Bắc, tên gọi yêu dấu ấy xuất hiện từ thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp”...

Về những đặc trưng văn hóa của Bộ đội Cụ Hồ, nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rất cụ thể; trong đó có cuốn sách “Nuôi dưỡng giá trị văn hóa trong nhân cách người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam” (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 1999)-một công trình khoa học xã hội và nhân văn quân sự cấp Bộ do GS, TS Đinh Xuân Dũng làm chủ biên với sự tham gia của nhóm tác giả: Đoàn Mô, Phạm Hoa, Ngô Vĩnh Bình và Vũ Hồng Quân.

Nói thêm, công trình khoa học này nhấn mạnh nội dung “Bộ đội Cụ Hồ-một giá trị độc đáo của văn hóa Việt Nam hiện đại” được đích thân đồng chí Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp (khi là Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị) chỉ đạo nghiên cứu và tiến hành thực hiện biên soạn.

Bộ đội Cụ Hồ là đỉnh cao về hình tượng của người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Họ từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Ngay từ khi mới ra đời, họ đã được nhân dân coi như con em. Biết bao bài ca, câu chuyện, cuốn sách, vần thơ về “những người nông dân mặc áo lính” còn được lưu truyền đến bây giờ.

Họ là “những người tứ xứ” nhưng có chung lý tưởng chiến đấu, họ luôn luôn gắn bó với dân, được dân tin, dân phục, dân yêu vì chẳng những “không lấy cái kim sợi chỉ của nhân dân” mà còn “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, dám xả thân “vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh”. Quân đội ta là Quân đội nhân dân vì lý do như vậy. Nói Quân đội ta “hiếu với dân” cũng do là như vậy.

Bộ đội Cụ Hồ với những biểu hiện đẹp đẽ đó là biểu tượng tiêu biểu và đáng tự hào của dân tộc Việt Nam anh hùng, một thời đã được nhân dân ca tụng là “con người đẹp nhất”, một thời được coi là khát vọng vươn tới của tuổi trẻ. Và thật đặc biệt, Bộ đội Cụ Hồ từ một biểu tượng mang ý nghĩa xã hội lại trở thành một hình ảnh gần gũi, thân thương, trở thành nơi gửi gắm tình cảm thầm kín, khát vọng hạnh phúc riêng tư và trong sáng.

Tôi rất tâm đắc về hình tượng người lính Cụ Hồ được phác họa bằng một biểu trưng nghệ thuật vô cùng sinh động và độc đáo: “Đầu súng trăng treo” của nhà thơ Chính Hữu mà Báo Quân đội nhân dân đã có thời kỳ lấy làm tên một chuyên mục, một chuyên mục văn nghệ được bạn đọc rất yêu thích! Nuôi dưỡng, phát huy vẻ đẹp của Bộ đội Cụ Hồ cũng là nuôi dưỡng, phát huy sức mạnh nội sinh của Quân đội ta!

Bộ đội Cụ Hồ là thế, Quân đội ta là thế. Vậy mà gần đây, đi ngược với ý chí, tình cảm, nguyện vọng của tuyệt đại đa số người Việt Nam yêu nước nói chung và cán bộ, chiến sĩ, công nhân, viên chức quốc phòng nói riêng, có những nhóm người thông qua một số trang mạng, blog cá nhân hay qua những "cái loa" của một số hãng thông tấn, báo chí nước ngoài, truyền bá những tư tưởng ngoại đạo lạc thời, ác ý, âm mưu kích động xuyên tạc lực lượng vũ trang, gây bất ổn xã hội, phá hoại tiến trình đổi mới, hội nhập và phát triển của đất nước và làm phai nhạt hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ-một nét độc đáo và rất đáng tự hào của Quân đội nhân dân Việt Nam, của văn hóa Việt Nam mà Bác Hồ cùng nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ ta đã dày công vun đắp dựng xây.

Để nuôi dưỡng, phát huy những bản chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, để hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ mãi mãi tỏa sáng, tôi nghĩ không chỉ là nhiệm vụ, là công việc của các nhà tuyên huấn, các nhà khoa học xã hội nhân văn mà còn phải là nhiệm vụ thường xuyên của báo chí, văn nghệ.

Trong một lần tọa đàm về việc tiếp tục nuôi dưỡng, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ như thế này, một thủ trưởng nói một câu thật giản dị, chân tình, nhưng làm tôi nhớ mãi: “Các ông làm thế nào thì làm, nhưng phải làm thế nào để hình ảnh bộ đội mình thường xuyên và mãi mãi đẹp trong mắt nhân dân, dân mãi mãi tin yêu gọi là “anh bộ đội”, “chú bộ đội”, “Bộ đội Cụ Hồ”.

Một câu nói thật giản dị nhưng thực hiện được không hề dễ dàng. Biết vậy, nhưng đó là nhiệm vụ đầy vinh quang và tự hào của giới văn học, nghệ thuật nước nhà nói chung, mà nòng cốt là giới văn nghệ sĩ, báo chí quân đội./.

"Trao yêu thương nơi rẻo cao"

 

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, thời gian qua, Ban CHQS huyện Anh Sơn (Nghệ An) đã có nhiều cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả, có sức lan tỏa lớn trong giúp đỡ nhân dân ở địa bàn khó khăn.

Tờ mờ sáng, khi màn sương còn giăng kín lối, chúng tôi theo cán bộ, nhân viên Ban CHQS huyện Anh Sơn đến với bà con dân bản Ồ Ồ Già Hóp (xã Tường Sơn, huyện Anh Sơn). Chiếc xe mang theo chăn màn, quần áo, bánh kẹo, nhu yếu phẩm... vượt qua quãng đường khúc khuỷu hàng chục cây số về với bà con có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.

Cầm trên tay gói chăn màn, quần áo, mì ăn liền, ông Lương Văn Hợi, người dân tộc Thái ở bản Ồ Ồ Già Hóp xúc động cho biết: “Được các chú bộ đội Ban CHQS huyện Anh Sơn thăm, tặng quà, gia đình chúng tôi rất vui. Cảm ơn bộ đội nhiều lắm! Chúng tôi sẽ cố gắng lao động, sản xuất để nâng cao đời sống, xây dựng thôn, bản ngày một ấm no”.

"Trao yêu thương nơi rẻo cao"
 Ban CHQS huyện Anh Sơn tặng quà và sách các cháu nhỏ có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn. 

 

Trao đổi với chúng tôi, Thượng tá Nguyễn Văn Mạnh, Chính trị viên Ban CHQS huyện Anh Sơn cho biết: “Anh Sơn là huyện miền núi phía tây tỉnh Nghệ An, có hơn 2.000 hộ đồng bào dân tộc thiểu số, 5,6km đường biên giới tiếp giáp với nước bạn Lào. Đời sống của bà con nhiều bản, làng còn gặp khó khăn như: Bản Cao Vều, xã Phúc Sơn; bản Ồ Ồ Già Hóp, xã Tường Sơn; thôn Nhân Tài, xã Cẩm Sơn; bản Đông Thọ, bản Khe Trằng, xã Thọ Sơn... Với tinh thần "tương thân tương ái", "lá lành đùm lá rách", hưởng ứng Phong trào thi đua “Cả nước chung tay vì người nghèo, không để ai bị bỏ lại phía sau”, Đảng ủy, Ban CHQS huyện Anh Sơn đã triển khai thực hiện mô hình “Trao yêu thương nơi rẻo cao” giúp đỡ bà con có hoàn cảnh khó khăn vươn lên thoát nghèo, ổn định cuộc sống, xây dựng tình đoàn kết quân-dân nơi biên giới.

Để thực hiện mô hình, Đảng ủy Ban CHQS huyện Anh Sơn tổ chức kêu gọi cán bộ, chiến sĩ, dân quân tự vệ, lực lượng vũ trang (LLVT) huyện, các cơ quan, doanh nghiệp, cá nhân chung tay, góp sức. Căn cứ vào số tiền và những chăn bông, quần áo, sách vở, nhu yếu phẩm quyên góp được, hằng năm, Ban CHQS huyện tổ chức đi thăm, tặng quà các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn với số tiền hơn 100 triệu đồng. Bên cạnh đó, ban CHQS huyện triển khai mô hình “Gom phế liệu, đổi sách hay”. Vào những ngày nghỉ cuối tuần, cán bộ, chiến sĩ LLVT huyện phối hợp với đoàn thanh niên các địa phương tổ chức vệ sinh môi trường, dọn rác và thu gom phế liệu từ các hộ dân, vừa góp phần làm cho môi trường nông thôn thêm sạch đẹp, vừa phân loại rác có thể bán được để lấy tiền mua sách tặng các em học sinh nghèo trên địa bàn. Chị Lang Thị Chín ở bản Khe Trằng chia sẻ: “Năm nào cũng vậy, các cô, các chú bộ đội đều đến thăm, tặng quà gia đình, tặng các cháu sách vở. Đây là nguồn động viên rất lớn để gia đình vượt qua khó khăn, vươn lên thoát nghèo”.

Mô hình “Trao yêu thương nơi rẻo cao” được Ban CHQS huyện Anh Sơn triển khai tổ chức thực hiện từ đầu năm 2019 với thông điệp “Hãy chia sẻ yêu thương để nhận về tình yêu thương nhiều hơn nữa”. Những việc làm thiết thực đã để lại dấu ấn sâu sắc và tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng. Bà Nguyễn Thị Thúy An, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Trưởng ban Dân vận huyện Anh Sơn cho biết: “Chính sự nhiệt huyết, tận tâm, chân thành của cán bộ, chiến sĩ LLVT huyện Anh Sơn đã tạo sự lan tỏa sâu rộng, thu hút các tổ chức đoàn thể trong huyện cũng như cộng đồng dân cư trên địa bàn chung tay đồng hành với cán bộ, chiến sĩ nhằm giúp đỡ, ủng hộ đồng bào khó khăn vươn lên. Những món quà tình nghĩa, ấm áp, đong đầy yêu thương của cán bộ, chiến sĩ đã góp phần tô thắm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân nơi rẻo cao, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn vùng biên”.

nguồn báo QĐND

Rèn giũa thực hành "nói đi đôi với làm"

 

Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương (sau đây gọi là Nghị quyết 847) về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới bao hàm nhiều nội dung quan trọng, toàn diện. Một trong những đặc trưng cơ bản mang giá trị cốt lõi đó là: Nói đi đôi với làm, luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân.

Người xưa có câu: “Nói chín thì phải làm mười/ Nói mười làm chín kẻ cười người chê”. Chỉ có một phần không làm được như lời đã nói, đã hứa mà bị kẻ cười, người chê, điều đó cho thấy các cụ ta ngày xưa đã rất quan tâm đến chữ tín, đề cao hành vi “nói đi đôi với làm”. Tìm hiểu sâu hơn nội hàm thuật ngữ “nói đi đôi với làm” trong Nghị quyết 847 cho thấy: Đây không đơn thuần là vấn đề đạo đức thông thường, mà ở tầm cao hơn chính là sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động trong thực tiễn để được tập thể, nhân dân tin tưởng, ủng hộ. 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về tinh thần nói đi đôi với làm. Người căn dặn cán bộ, đảng viên: "Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước". 

Rèn giũa thực hành "nói đi đôi với làm"
Bộ đội giúp dân gặt lúa. Ảnh minh họa: TTXVN. 

Bộ đội Cụ Hồ là danh hiệu cao quý được Đảng và nhân dân dành tặng cho cán bộ, chiến sĩ. Với sứ mệnh, trách nhiệm cao cả là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ cần giữ gìn, phát huy phẩm chất: Nói đi đôi với làm, đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân. Gần 8 thập kỷ trôi qua nhưng nội dung, ý nghĩa 10 lời thề danh dự của quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam vang lên dưới lá cờ Tổ quốc luôn là kim chỉ nam trong lời nói và hành động của mỗi cán bộ, chiến sĩ trên mọi mặt trận. Phẩm chất ấy được minh chứng trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, kiến quốc thời bình, tựa như “ngọc càng mài càng sáng”, qua thời gian ngày càng thêm sáng đẹp.

Hòa bình, đất nước không còn tiếng súng nhưng các thế lực thù địch vẫn luôn tìm cách chống phá sự nghiệp cách mạng. Đáng chú ý là chúng lôi kéo, dụ dỗ đồng bào tham gia các tà đạo, lập "vương quốc" riêng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc. Xác định là lực lượng nòng cốt, để “nói dân nghe, làm dân tin”, phát huy phẩm chất nói đi đôi với làm, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đã thực hiện “3 bám, 4 cùng” (bám dân, bám địa bàn, bám chủ trương, chính sách; cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng đồng bào) với dân bản.

Bằng phương pháp tuyên truyền linh hoạt, kết hợp vừa nói vừa làm, vừa tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, vừa cầm tay chỉ việc giúp dân xây dựng các mô hình kinh tế, Bộ đội Cụ Hồ trở thành điểm tựa của đồng bào, nhờ đó an ninh chính trị, trật tự địa bàn nơi phên giậu Tổ quốc được giữ vững. Hay, trong cuộc chiến chống "giặc Covid-19" vừa qua, hình ảnh bộ đội nhường lại doanh trại cho nhân dân cách ly, còn mình dựng lán ngủ ngoài rừng, ăn cơm bưng lá chuối đã làm lay động trái tim nhiều người. Hành động, nghĩa cử ấy càng làm tô thắm thêm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, bộ đội của dân, do dân, vì dân.

Khẳng định phẩm chất nói đi đôi với làm, luôn đặt lợi ích tập thể lên trên hết là đặc trưng cơ bản cần tiếp tục lan tỏa, nhân rộng, thế nhưng thực tiễn cho thấy, trong bối cảnh hiện nay, không ít cán bộ, đảng viên nói không đi đôi với làm, nói và làm có những khoảng cách, thậm chí nói một đằng làm một nẻo. Không ít người cho mình quyền được nói, được đề cao người này, phê phán người kia mà thực tâm không phải để đóng góp xây dựng mà cốt là để hạ bệ người khác, nâng cao bản thân và những người cùng lợi ích. Không ít người trong hội nghị thì im lặng, dĩ hòa vi quý, "tránh voi không xấu mặt nào" nhưng sau hội nghị thì xì xèo, bàn tán, đả kích người khác. Một hiện tượng hay gặp ở những người có thói quen xu nịnh là tâng bốc cấp trên bằng lời lẽ hoa mỹ, sáo rỗng nhưng khi hết quyền lợi thì thờ ơ, vô cảm. Xót xa hơn, vừa qua, một số cán bộ bị đưa ra khởi tố mà trước đó chưa lâu họ còn phô trương, tô vẽ những việc mình làm là “cống hiến vì dân, vì nước”.

Tình trạng trên được Nghị quyết 847 nhận diện là những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, đó là: “Không quan tâm đến lợi ích chung, làm việc gì cũng chỉ mưu cầu cho lợi ích cá nhân; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi... Nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội...”. Những biểu hiện trên không chỉ là sự suy thoái về tư tưởng đạo đức, lối sống mà còn là biểu hiện của “tự diễn biến", "tự chuyển hóa”, trở thành rào cản sự phát triển, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta.

Bộ đội Cụ Hồ ngày nay có nhiều điều kiện thuận lợi để phát huy phẩm chất, tài năng cống hiến cho đất nước, song cũng đặt ra thách thức lớn bởi lối sống thực dụng, ưa thụ hưởng và những cám dỗ về vật chất, các tệ nạn xã hội đang len lỏi. Bởi vậy, phát huy phẩm chất nói đi đôi với làm, đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân cho bộ đội là việc làm quan trọng và cần thiết. Một trong những nhiệm vụ quan trọng mà Nghị quyết 847 nhấn mạnh là: “Tăng cường công tác lãnh đạo tư tưởng, giáo dục chính trị, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng tiếp tục phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân”.

Đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ, để nói đi đôi với làm, trước hết cần phải có nhận thức đúng và quyết tâm vượt qua chính mình. Bởi, có nhận thức đúng nhưng không vượt qua được sự cám dỗ của lợi ích cá nhân sẽ dẫn đến nói không đi đôi với làm. Muốn vậy, mỗi cán bộ, chiến sĩ cần thường xuyên rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, tư cách đảng viên; khắc phục mọi biểu hiện cơ hội, thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, mơ hồ mất cảnh giác. Nói đi đôi với làm phải thể hiện bằng kết quả công việc, với những sản phẩm cụ thể. Kết quả công việc là thước đo sự cống hiến của mỗi người. Việc gì làm được thì nói, chưa làm được thì không thể phô trương, tô vẽ.

Bên cạnh đó, các cơ quan, đơn vị cần có nhiều chủ trương, giải pháp phát huy dân chủ trong Đảng, tăng cường giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nâng cao nhận thức, quán triệt, thực hiện nghiêm 10 lời thề danh dự, 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân và chức trách quân nhân. Đồng thời cần biểu dương, khen thưởng những gương cán bộ, đảng viên tận tụy, tâm huyết, chịu khó, tìm tòi, sáng tạo, thật thà, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Phát huy phẩm chất nói đi đôi với làm, đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân, quân nhân sẽ ngày càng khẳng định được tài năng, bản lĩnh, trí tuệ và được tập thể, quần chúng ghi nhận, xứng đáng với danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ.

nguồn báo QĐND