Thứ Tư, 30 tháng 3, 2022
NGỜI SÁNG PHẨM CHẤT BỘ ĐỘI CỤ HỒ TRONG THIÊN TAI, DỊCH BỆNH!
Hậu Covid-19, hiểu đúng để tránh hoang mang
Khi số ca nhiễm Covid-19 tăng nhanh thì tâm lý người dân xuất hiện việc coi con số nhiễm bệnh không còn mang nhiều ý nghĩa, mà thay vào đó là nỗi lo về những di chứng hậu Covid-19 để lại.
Nhắm trúng tâm lý của
người dân, nhiều nơi “nở rộ” gói dịch vụ khám hậu Covid-19 với đa
dạng mức phí. Tình trạng loạn giá xảy ra khiến một số sở y tế, ngành chức năng
phải vào cuộc chấn chỉnh, yêu cầu không tăng giá các dịch vụ khám chữa bệnh,
không lạm dụng các chỉ định cận lâm sàng khi khám sức khỏe cho người bệnh hậu
Covid-19 trong trường hợp không cần thiết. Thế nhưng tâm lý lo lắng, hoang mang
của người dân thì vẫn còn đó, bởi không phải F0 nào cũng kịp thời nhận ra tình
trạng sức khỏe của mình để khám, điều trị hậu Covid-19 khoa học và đúng cách.
Tâm lý sợ hãi một cách
thái quá sau khi nhiễm Covid-19 xuất hiện do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự
tác động mạnh mẽ từ những luồng thông tin thiếu chính xác, vô căn cứ lan truyền
trên mạng xã hội về mối nguy hại trầm trọng hậu Covid-19. Rồi các bài thuốc
“truyền miệng”, gói thăm khám, điều trị hậu Covid-19 được giới thiệu nhan nhản
trên mạng xã hội, trở thành lựa chọn của không ít người, dù triệu chứng không
có gì bất thường. Đó là chưa kể thời tiết đang ở giai đoạn chuyển mùa, nhiều
người bị cảm cúm hay xuất hiện những bệnh lý khác đã tự cho rằng mình bị di
chứng hậu Covid-19 và sốt sắng tìm đến bệnh viện, hay những địa chỉ theo quảng
cáo.
Trước thực trạng trên, để giúp người dân
bớt lo lắng, các chuyên gia y tế đưa ra khuyến cáo: Hậu Covid-19 không hề đáng
sợ. Chúng ta sẽ không còn hoang mang nếu hiểu rõ, hiểu đúng về nó. Theo ghi
nhận, hầu hết những biến chứng hậu Covid-19 không gây nguy hiểm hay tử vong.
Rất nhiều trường hợp đã vượt qua các triệu chứng phổ biến hậu Covid-19 như mất
ngủ, mệt mỏi, lo âu kéo dài... chỉ bằng cách thay đổi suy nghĩ, tích cực tập
luyện, chế độ dinh dưỡng khoa học. Để không rơi vào tình trạng stress, mỗi
người cần biết cách tự điều chỉnh bản thân và giúp đỡ, động viên người thân,
đồng nghiệp, láng giềng... Nếu tiếp tục tự cường điệu các dấu hiệu tiêu cực của
sức khỏe, rất dễ dẫn đến sang chấn tâm lý. Cần có tư duy mạch lạc về trách
nhiệm, nghĩa vụ của bản thân với cuộc sống sẽ làm giảm nguy cơ trầm cảm, rối
loạn lo âu...
Thực tiễn cho thấy, ngành y tế đã có
những bước chuẩn bị cho sự xuất hiện của hội chứng hậu Covid-19 để giúp người
bệnh điều trị kịp thời. Điều quan trọng là người dân cần nâng cao nhận thức,
tỉnh táo chọn lọc khi tiếp nhận thông tin, đặc biệt là mạng xã hội. Trong
trường hợp xuất hiện di chứng hậu Covid-19, cần lựa chọn khám bệnh tại cơ sở y
tế uy tín, tránh tự ý sử dụng các loại thuốc không rõ nguồn gốc, không có giấy
phép của Bộ Y tế hay các bài thuốc truyền miệng để chữa bệnh. Việc tiêm vaccine
đầy đủ giúp hạn chế ca bệnh trở nặng cũng như nguy cơ bị ảnh hưởng hậu
Covid-19. Bởi vậy, thông tin cần biết từ giới chuyên môn về các trường hợp cần
theo dõi chặt chẽ biểu hiện hậu Covid-19, phương pháp điều trị theo triệu chứng
và lưu ý khi nào cần đến bệnh viện... cho phép chúng ta không chủ quan nhưng
cũng không hoang mang, lo lắng thái quá.
Cùng với những biện pháp quyết liệt
trong chấn chỉnh hành vi trục lợi, ngành y tế và các cơ quan chức năng cần đẩy
mạnh công tác tuyên truyền, giúp người dân nhận thức đầy đủ hơn về những di
chứng có thể gặp phải sau khi nhiễm Covid-19 và phương pháp điều trị khoa học.
Không phải ai nhiễm virus SARS-CoV-2 rồi cũng "bị hậu Covid". Sự hiểu
biết đầy đủ của mỗi người để tránh hoang mang và lựa chọn điều trị đúng cách,
cũng là liệu pháp để những dịch vụ khám, chữa bệnh loạn giá hậu Covid-19 không
còn đất nảy nở, sinh sôi./.
Dân cử và dân nguyện
Các cơ quan dân cử, bao gồm Quốc hội và hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp, có trách nhiệm rất quan trọng là thể hiện ý chí và nguyện vọng chính đáng của nhân dân trong các mặt hoạt động.
Trong suốt lịch sử hình
thành và hoạt động, Quốc hội Việt Nam và HĐND các cấp luôn chú trọng công tác
tiếp xúc cử tri, lắng nghe và tiếp nhận ý kiến của cử tri, nhân dân qua nhiều
kênh thông tin khác nhau để thực hiện chức năng theo Hiến pháp và pháp luật.
Tại Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội
(UBTVQH) khóa XV, công tác dân nguyện đã nhận được sự quan tâm đặc biệt hơn.
UBTVQH khóa XV tiến hành giám sát chuyên đề về “Việc thực hiện chính sách, pháp
luật về tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo từ ngày 1-7-2016 đến ngày
1-7-2021”.
Bắt đầu từ phiên họp thứ
2 của UBTVQH khóa XV, công tác dân nguyện được báo cáo hằng tháng tại các phiên
họp của UBTVQH. Qua 8 phiên họp UBTVQH nghe báo cáo công tác dân nguyện, UBTVQH
đã đánh giá rằng, công tác dân nguyện, công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu
nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị của cử tri, nhân dân ngày càng nền nếp hơn,
hiệu quả hơn.
Nhiều vụ khiếu nại, tố cáo đông người,
tồn đọng, kéo dài đã được giải quyết, góp phần rất quan trọng trong việc bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân. Niềm tin của cử tri và nhân dân vào Quốc
hội, UBTVQH, các cơ quan của Quốc hội ngày càng được củng cố và nâng cao.
Lan tỏa tinh thần đổi mới và hiệu quả từ
việc đổi mới công tác dân nguyện của Quốc hội, UBTVQH, HĐND các cấp ở các địa
phương cũng đang rục rịch đổi mới công tác dân nguyện. Tuy vậy, công tác dân
nguyện ở cơ quan dân cử một số địa phương vẫn chưa đạt hiệu quả như mong muốn
và kỳ vọng.
Tại 3 hội nghị tổng kết công tác HĐND
các tỉnh, thành phố do UBTVQH tổ chức, tinh thần đánh giá chung về những tồn
tại, hạn chế của công tác HĐND trong công tác dân nguyện là việc đôn đốc, theo
dõi kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cử tri ở một số địa
phương có lúc, có nơi còn chậm; công tác tổng hợp và gửi báo cáo ý kiến, kiến
nghị sau tiếp xúc cử tri của một số tổ đại biểu HĐND chưa bảo đảm về chất lượng
và thời gian quy định. Còn có địa phương không tổ chức tiếp xúc cử tri sau kỳ
họp thứ hai của HĐND...
Đây là những mặt hạn chế cần được các cơ
quan dân cử địa phương nhanh chóng khắc phục và triển khai đổi mới mạnh mẽ hơn
để công tác dân nguyện đạt hiệu quả cao hơn, đáp ứng yêu cầu, kỳ vọng ngày càng
cao của cử tri, nhân dân gửi gắm nơi các cơ quan dân cử.
Qua đó góp phần làm giảm áp lực tiếp dân
ở các cơ quan Trung ương và giữ vững môi trường ổn định để phát triển ở ngay
từng địa phương. Giải pháp mở rộng các kênh tiếp nhận ý kiến phản ánh, kiến
nghị của cử tri và nhân dân; thường xuyên nghe báo cáo về công tác dân nguyện
và trực tiếp yêu cầu các cơ quan hữu quan đẩy nhanh tiến độ giải quyết khiếu
nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị của cử tri, nhân dân mà UBTVQH đang thực hiện
hiệu quả rất cần được triển khai ở HĐND các cấp.
Để nâng cao hiệu quả công tác dân nguyện
ở các cơ quan dân cử địa phương, ngoài kênh giám sát trực tiếp từ cử tri và
nhân dân, UBTVQH cũng nên có hướng dẫn cụ thể và tiến hành giám sát thường
xuyên để thúc đẩy tinh thần đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND các
cấp trong lĩnh vực này./.
CHIÊU BÀI "NHÂN QUYỀN" - MŨI TẤN CÔNG THÂM ĐỘC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ!
Hạn chế "nhân tai" để giảm thiệt hại do thiên tai
Hạn chế "nhân tai" để giảm thiệt hại do thiên tai
Nước ta có hệ thống đê điều lớn với khoảng 9.300km đê sông và đê biển.
Những năm qua, Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT)
đã quan tâm bố trí kinh phí cho các địa phương thực hiện duy tu, cải tạo, xử lý
những hư hỏng của đê điều.
Thế nhưng thực tế cho
thấy, hiện nay, tình trạng vi phạm pháp luật về đê điều đang diễn ra khá phổ biến ở nhiều địa
phương, khi mùa mưa đã cận kề; tại những đoạn đê qua các khu đô thị, khu tập
trung đông dân cư, khu vực có mỏ vật liệu xây dựng và bến bãi tập kết, trung
chuyển vật liệu...làm ảnh hưởng đến an toàn đê.
Trước tình trạng này, Vụ Quản lý đê
điều, Tổng cục Phòng, chống thiên tai (Bộ NN&PTNT) đã tham mưu và
thường xuyên phối hợp với các ngành, địa phương kiểm tra, đôn đốc chấn chỉnh,
xử lý các vi phạm nhằm bảo đảm an toàn đê điều, bảo vệ thành quả đầu tư. Tuy
nhiên, việc ngăn chặn, xử lý vi phạm còn hạn chế, số vụ tồn đọng chưa được xử lý
hoặc xử lý chưa dứt điểm còn nhiều, với khoảng 70% số vụ vi phạm. Thực trạng
này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng đáng nói nhất là còn tình trạng lãnh
đạo một số địa phương chủ quan, nhận thức chưa đầy đủ dẫn đến thiếu quan tâm,
chưa coi trọng công tác quản lý, bảo vệ an toàn đê.
Có câu “thiên tai không
bằng nhân tai”, ý nói rằng, hậu quả từ những hành vi thiếu trách nhiệm của con
người có thể lớn hơn nhiều so với thiên nhiên gây ra. Hơn nữa, dù thiên tai
khốc liệt, khó lường nhưng con người vẫn có thể hạn chế thiệt hại nhờ các giải
pháp phòng ngừa, kiểm soát rủi ro và chủ động trong ứng phó. Năm 2021, mặc dù
hứng chịu nhiều thiên tai trong bối cảnh vừa phải đối phó với dịch Covid-19
nhưng nước ta đã hạn chế tối đa được thiệt hại nhờ thực hiện tốt các giải pháp,
phương châm trong phòng, chống thiên tai.
Cụ thể, năm 2021, cả nước hứng chịu 841
trận thiên tai, làm 108 người chết, mất tích, 95 người bị thương; giá trị thiệt
hại ước tính hơn 5.200 tỷ đồng. Năm 2020, tổng số người thiệt mạng và mất tích
do thiên tai gây ra là 357 người, thiệt hại về kinh tế lên tới 39.945 tỷ đồng
(gấp gần 8 lần năm 2021)... Thế nhưng, chỉ cần một địa phương chủ quan, sơ hở
để vỡ một mét đê xung yếu cũng có thể nhấn chìm cả một vùng rộng lớn, cuốn đi
mọi thành quả phát triển, thiệt hại khôn lường về con người và của cải vật
chất.
Nhằm hạn chế những tình huống xấu, rủi
ro xảy ra, công tác phòng, chống thiên tai nói chung và quản lý, bảo vệ đê điều
nói riêng phải luôn được các ngành, các cấp, các địa phương quan tâm. Để tăng
cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo vệ an toàn đê điều, cơ quan chức
năng và cấp ủy, chính quyền các cấp cần phát huy tinh thần trách nhiệm, chủ
động, tích cực đấu tranh ngăn chặn, xử lý vi phạm theo đúng quy định của pháp
luật, trong đó chú trọng mở các đợt cao điểm xử lý vi phạm, nhất là những vụ
nổi cộm để xem xét xử lý nghiêm minh, kịp thời...
Một vấn đề quan trọng là nhận thức và ý chí của người đứng đầu các địa phương. Muốn quản lý tốt, bảo vệ đê điều an toàn, lãnh đạo các địa phương cần quan tâm, coi trọng công tác này, kịp thời ngăn chặn, xử lý kiên quyết, dứt điểm vi phạm ngay từ khi mới phát sinh; cần gắn trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong việc để xảy ra vi phạm và kết quả xử lý vi phạm về đê điều.
Khi tri thức bị đánh cắp
Thời gian gần đây, dư luận truyền thông lại rộ lên chuyện một số tác phẩm văn học nghệ thuật (VHNT) sau khi được hội đồng chuyên môn xét, đề nghị trao giải thưởng thì tác giả bị tố là “đạo văn”.
Sự việc này khiến truyền
thông dậy sóng, môi trường sáng tạo VHNT bị ảnh hưởng xấu. Giới chuyên môn và
các cơ quan liên quan phải tốn nhiều thời gian, công sức để điều tra, kết luận
nhằm xử lý...
Một vấn đề được dư luận
đặt ra là, liệu vấn nạn “đạo văn” chỉ xảy ra ở một số tác phẩm được xét trao
giải hay đây chỉ là phần nổi của tảng băng chìm? Còn bao nhiêu tác phẩm, công
trình nghiên cứu, luận văn, luận án... có hành vi tương tự chưa bị phát hiện?
Và trên thực tế, có bao nhiêu danh xưng, danh hiệu cao quý dành cho nhà văn,
nghệ sĩ, trí thức... đã được trao tặng những người không thực sự xứng đáng? Khi
những đối tượng này được phong học hàm, học vị, danh hiệu, giải thưởng... nhờ
vào các hành vi không trong sáng, hậu quả đối với xã hội sẽ thế nào?... Ai cũng
hiểu, tác động của nó đối với đời sống xã hội, tương lai đất nước là vô cùng
nguy hại.
Bàn đến vấn đề này, nhà thơ Nguyễn Quang
Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam cho rằng, vi phạm bản quyền là hành vi ăn
cắp tri thức. Nó thực rất tồi tệ trong đời sống VHNT và giới trí thức.
Chuyện đánh cắp tri thức không phải đến
bây giờ mới diễn ra, mà nó đã tồn tại âm ỉ lâu nay. Bởi đây là môi trường của
nguồn lực tinh hoa, mang tính lao động đặc thù, nhạy cảm, nên khi vụ việc nào
đó được phát hiện, dư luận luôn dành sự quan tâm đặc biệt. Tham nhũng về vật
chất gây hậu quả trực tiếp về kinh tế, nhưng đánh cắp tri thức là một kiểu tham
nhũng gây hậu quả lâu dài, nặng nề về văn hóa, phát triển. Tuy nhiên, chế tài
xử lý những hành vi này cho đến nay vẫn chưa thực sự đủ sức răn đe. Những đối
tượng vi phạm, khi có đủ căn cứ xử lý theo kết luận của cơ quan chức năng, mới
chỉ dừng lại ở việc thu hồi danh hiệu, giải thưởng, bằng cấp...
Hành trình nghiên cứu, sáng tạo cho phép
các chủ thể tận dụng những tác phẩm, công trình đã được công bố để kế thừa,
phát triển, vươn tới những đỉnh cao phía trước. Trên thực tế, biên độ giữa kế
thừa, vận dụng, tiếp biến, phát triển... và việc lấy cái của người khác làm cái
của mình nhiều khi rất khó phân định rạch ròi, nhất là trong sáng tạo VHNT. Thế
nên tình trạng “chôm” ý tưởng, sửa đổi câu từ, “thêm mắm thêm muối” vào tác
phẩm của người khác để “xào nấu”, “chế biến” thành tác phẩm của mình vẫn diễn
ra không ít. Đó là kiểu đánh cắp tri thức một cách tinh vi, rất nguy hại.
Lao động nghiên cứu, sáng tạo, trước hết
đó là công cụ và sản phẩm của một môi trường văn hóa thuộc thượng tầng kiến
trúc, có tính phổ quát rất cao. Dù chế tài pháp luật khó có thể can thiệp đến
mọi ngóc ngách của đời sống văn hóa trí thức, song nó lại được điều chỉnh bởi
đạo đức nghề nghiệp, đạo đức xã hội và chịu can thiệp sâu sắc bằng chính sự tác
động của môi trường đặc thù, đặc biệt ấy. Bất cứ hành vi phản văn hóa nào xảy
ra trong môi trường văn hóa ấy đều phải trả giá rất đắt. Khi sự việc bị đưa ra
ánh sáng, sự mất mát về uy tín, danh dự, phẩm giá... nhiều khi còn đáng sợ hơn
cả một bản án của tòa án.
Cánh cửa của tri thức, danh tiếng không
đóng với bất kỳ ai, nhưng nó chỉ thực sự mở rộng khi bạn là một người có văn
hóa và mở nó bằng một hành vi văn hóa.
Muốn người ta không chê cười thì đừng
làm điều xấu!
Những cái gì không phải của mình thì
đừng lấy!
Giữ gìn vẻ đẹp ca từ trong sáng tác
Với giai điệu trẻ trung, lời ca trong sáng, chất liệu âm nhạc mang hơi hướng world music (pha trộn chất liệu dân gian với các thể loại khác, có thể là jazz, cổ điển...), những ca khúc như “Chúng em yêu Bác Hồ Chí Minh”, “Có Đảng sáng soi vững bước ta đi”, “Việt Nam ngày nắng mới”... được Thiếu tá, nhạc sĩ Tạ Duy Tuấn (Nhà hát Ca múa nhạc Quân đội) sáng tác đang tạo nên sức sống mới cho thể loại âm nhạc tưởng chừng như ít được giới trẻ quan tâm.
Nghe câu hát mở đầu “Non xa xa, nước xa xa/ Nào phải thênh thang mới gọi là...” trong giọng hát lúc cao vút, lúc thăm thẳm đầy sức hút của Sao mai Khánh Ly khi thể hiện ca khúc “Có Đảng sáng soi vững bước ta đi”, tạo ấn tượng cho người nghe. Chất dân gian đương đại lấy từ âm hưởng vùng trung du và miền núi phía Bắc làm chủ đạo, sự cộng hưởng từ các loại nhạc cụ dân tộc như sáo Mông, đàn tính, đàn môi, ca từ đậm đặc ngợi ca, giai điệu mới mẻ trong phối khí tạo nên sức sống mới trong dòng ca khúc viết về Đảng và Bác Hồ. Ca khúc được ê kíp nghệ sĩ thực hiện thành MV “Có Đảng sáng soi vững bước ta đi”, ra mắt dịp kỷ niệm 92 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 / 3-2-2022), khiến giới âm nhạc đánh giá cao về cách tiếp cận cũng như tư duy sáng tạo của nhạc sĩ Tạ Duy Tuấn.
![]() |
| Nhạc sĩ Tạ Duy Tuấn đoạt giải triển vọng tại Cuộc thi sáng tác ca khúc "Hát lên Việt Nam-Let’s sing Vietnam" năm 2021. |
Ca sĩ Khánh Ly cho biết, lần đầu tiên nghe ca khúc của nhạc sĩ Tạ Duy Tuấn, cô thực sự bất ngờ vì sự trẻ trung, mới mẻ. “Tôi đã đặt vấn đề với nhạc sĩ Tạ Duy Tuấn thực hiện tác phẩm thành MV, với ý nghĩa thay đổi cách thể hiện, vì bản thân mình và cũng vì lớp trẻ kế cận. Là một người thầy, trước hết mình phải dám chinh phục con đường mới trước đã, sau đó mới có thể truyền lại cho học trò”, nữ ca sĩ là giảng viên thanh nhạc của Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, chia sẻ.
Thời gian qua, nhạc sĩ Tạ Duy Tuấn được giới làm nghề và công chúng biết đến qua loạt các dự án âm nhạc lớn, đa dạng cách thể hiện, như: Ca khúc “Việt Nam ngày nắng mới” đoạt giải triển vọng tại Cuộc thi sáng tác ca khúc “Hát lên Việt Nam-Let’s sing Vietnam" do Hội Nhạc sĩ Việt Nam phối hợp với Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức, có quy mô lớn với gần 900 tác phẩm dự thi của các nhạc sĩ chuyên và không chuyên, nhằm thể hiện tình yêu quê hương, đất nước Việt Nam; giám đốc âm nhạc liveshow “In the Mirror” của ca sĩ Tùng Dương và Bùi Anh Tuấn; bên cạnh đó là những ca khúc về chủ đề người lính như: “Màu áo trắng tinh khôi”, “Tin yêu trong em”...
Nhạc sĩ Tạ Duy Tuấn cho biết, để thu hút được giới trẻ hiện nay tiếp nhận những ca khúc mang tính chất ca ngợi Đảng, Bác Hồ, tình yêu quê hương, đất nước, chủ đề xã hội, người lính... thì phải bắt kịp nhu cầu thưởng thức của họ. Đó cũng chính là điều trăn trở của nhạc sĩ trong quá trình sáng tác, hoặc ở vị trí đạo diễn nghệ thuật hay sản xuất chương trình. Bởi vậy, trong những sáng tác, sản phẩm, nhạc sĩ thường kết hợp phong cách âm nhạc hiện đại, tạo sự trẻ trung, tươi mới cả về phần âm nhạc lẫn hình ảnh, thể hiện tình yêu nước, khát khao cống hiến bằng cách riêng của người trẻ thời đại 4.0. “Những tác phẩm của các thế hệ đi trước sáng tác về Đảng, Bác Hồ, người lính, tình yêu quê hương, đất nước sẽ luôn đi cùng năm tháng. Tuy nhiên, thế hệ trẻ nghe nhạc ngày nay có nhiều lựa chọn và luôn thay đổi xu hướng tiếp nhận, đòi hỏi tư duy người sáng tác cũng phải thay đổi để làm sao vừa đáp ứng nhu cầu công chúng, vừa có thể định hướng thẩm mỹ của công chúng bằng những sáng tác mang hơi thở của thời đại”, nhạc sĩ Tạ Duy Tuấn cho hay.
Thời gian này, Thiếu tá, nhạc sĩ Tạ Duy Tuấn đang cùng các nghệ sĩ của Nhà hát Ca múa nhạc Quân đội dồn tâm huyết, sức sáng tạo cho những dự án âm nhạc mới, với hy vọng trong các cuộc thi nghệ thuật chuyên nghiệp sắp tới như: Liên hoan Ca múa nhạc toàn quốc 2022 (dự kiến tổ chức vào tháng 6 tại Đắc Lắc); Hội diễn nghệ thuật chuyên nghiệp toàn quân... sẽ vang lên những tác phẩm về người lính-Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.
nguồn báo QĐND
Một biểu tượng tiêu biểu và đáng tự hào
Bài hát “nằm lòng” của những người lính có từ hơn 70 năm nay là bài hát “Vì nhân dân quên mình” (của nhạc sĩ Doãn Quang Khải). Bài hát của thời tân binh, bài hát khởi đầu của đời binh nghiệp chỉ có dân và Bác.
Dân và Bác là máu thịt, là bản chất của
Quân đội ta từ khi mới chỉ có 34 người cùng ít lưỡi lê và súng kíp cách đây sắp
trọn 80 năm. Trên thế giới chắc chẳng có quân đội nào mà người lính lại gọi
lãnh tụ của mình là Bác, là “người Cha thân yêu”; đồng thời gọi vị Đại tướng
Tổng Tư lệnh của mình là “người Anh Cả” như Quân đội nhân dân Việt Nam. Thật
gia đình, thật “một lòng phụ tử”, “huynh đệ chi binh” và cũng thật Việt Nam!
Hình ảnh và tên gọi Bộ đội
Cụ Hồ là hiện tượng độc đáo trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân
tộc Việt Nam nói chung và văn hóa Việt Nam nói riêng. Ít thấy có dân tộc nào
trên thế giới mà nhân dân lấy tên lãnh tụ tối cao của mình đặt cho quân đội.
Đây vừa là tình cảm vừa là niềm tin của
quần chúng dành cho lực lượng vũ trang. Hiếm có một dân tộc nào mà hình ảnh
người lính lại được toàn dân coi đó là một hình mẫu của con người trong thời
đại mới, để hết lòng tin yêu, quý trọng, động viên mọi thế hệ con cháu kế tiếp
và noi theo gương sáng của Bộ đội Cụ Hồ như dân tộc Việt Nam.
Bộ đội Cụ Hồ là cách gọi rất Việt Nam,
thật gần gũi. Bộ đội Cụ Hồ không chỉ là tên gọi trìu mến mà nhân dân dành cho
quân đội mà còn là một danh hiệu, một vinh dự lớn đối với những chiến sĩ nhân
dân.
Về xuất xứ của tên gọi Bộ đội
Cụ Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong một hồi ức của mình, kể: “Tôi nhớ rằng
từ trong Khu giải phóng Việt Bắc, đồng bào các dân tộc đã trìu mến gọi các đơn
vị vũ trang ta là “Bộ đội ông Ké”, hay “Bộ đội ông Cụ” một cách thân thương,
chân chất như tấm lòng của đồng bào đối với lãnh tụ của mình mà nhiều người lúc
đó chưa biết tên Bác.
Có lẽ về sau khi biết tên Người, đó là
Bác Hồ, là Chủ tịch Hồ Chí Minh của nước Việt Nam mới, mọi người đã gọi “Bộ đội
ông Ké” là “Bộ đội Cụ Hồ” và cũng từ chiến khu Việt Bắc, tên gọi yêu dấu ấy
xuất hiện từ thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp”...
Về những đặc trưng văn hóa của Bộ đội Cụ
Hồ, nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rất cụ thể; trong đó có cuốn sách
“Nuôi dưỡng giá trị văn hóa trong nhân cách người chiến sĩ Quân đội nhân dân
Việt Nam” (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 1999)-một công trình khoa học xã hội
và nhân văn quân sự cấp Bộ do GS, TS Đinh Xuân Dũng làm chủ biên với sự tham
gia của nhóm tác giả: Đoàn Mô, Phạm Hoa, Ngô Vĩnh Bình và Vũ Hồng Quân.
Nói thêm, công trình khoa học này nhấn
mạnh nội dung “Bộ đội Cụ Hồ-một giá trị độc đáo của văn hóa Việt Nam hiện đại”
được đích thân đồng chí Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp (khi là Phó chủ nhiệm
Tổng cục Chính trị) chỉ đạo nghiên cứu và tiến hành thực hiện biên soạn.
Bộ đội Cụ Hồ là đỉnh cao về hình
tượng của người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Họ từ nhân dân mà ra,
vì nhân dân mà chiến đấu. Ngay từ khi mới ra đời, họ đã được nhân dân coi như
con em. Biết bao bài ca, câu chuyện, cuốn sách, vần thơ về “những người nông
dân mặc áo lính” còn được lưu truyền đến bây giờ.
Họ là “những người tứ xứ” nhưng có chung
lý tưởng chiến đấu, họ luôn luôn gắn bó với dân, được dân tin, dân phục, dân
yêu vì chẳng những “không lấy cái kim sợi chỉ của nhân dân” mà còn “cần, kiệm,
liêm, chính, chí công vô tư”, dám xả thân “vì nhân dân quên mình, vì nhân dân
hy sinh”. Quân đội ta là Quân đội nhân dân vì lý do như vậy. Nói Quân đội ta
“hiếu với dân” cũng do là như vậy.
Bộ đội Cụ Hồ với những biểu hiện
đẹp đẽ đó là biểu tượng tiêu biểu và đáng tự hào của dân tộc Việt Nam anh hùng,
một thời đã được nhân dân ca tụng là “con người đẹp nhất”, một thời được coi là
khát vọng vươn tới của tuổi trẻ. Và thật đặc biệt, Bộ đội Cụ Hồ từ một biểu
tượng mang ý nghĩa xã hội lại trở thành một hình ảnh gần gũi, thân thương, trở
thành nơi gửi gắm tình cảm thầm kín, khát vọng hạnh phúc riêng tư và trong
sáng.
Tôi rất tâm đắc về hình tượng người lính
Cụ Hồ được phác họa bằng một biểu trưng nghệ thuật vô cùng sinh động và độc
đáo: “Đầu súng trăng treo” của nhà thơ Chính Hữu mà Báo Quân đội nhân dân đã có
thời kỳ lấy làm tên một chuyên mục, một chuyên mục văn nghệ được bạn đọc rất
yêu thích! Nuôi dưỡng, phát huy vẻ đẹp của Bộ đội Cụ Hồ cũng là nuôi dưỡng,
phát huy sức mạnh nội sinh của Quân đội ta!
Bộ đội Cụ Hồ là thế, Quân đội ta là thế.
Vậy mà gần đây, đi ngược với ý chí, tình cảm, nguyện vọng của tuyệt đại đa số
người Việt Nam yêu nước nói chung và cán bộ, chiến sĩ, công nhân, viên chức
quốc phòng nói riêng, có những nhóm người thông qua một số trang mạng, blog cá nhân
hay qua những "cái loa" của một số hãng thông tấn, báo chí nước
ngoài, truyền bá những tư tưởng ngoại đạo lạc thời, ác ý, âm mưu kích động
xuyên tạc lực lượng vũ trang, gây bất ổn xã hội, phá hoại tiến trình đổi mới,
hội nhập và phát triển của đất nước và làm phai nhạt hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ-một
nét độc đáo và rất đáng tự hào của Quân đội nhân dân Việt Nam, của văn hóa Việt
Nam mà Bác Hồ cùng nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ ta đã dày công vun đắp dựng
xây.
Để nuôi dưỡng, phát huy những bản chất
tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, để hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ mãi mãi tỏa sáng, tôi nghĩ
không chỉ là nhiệm vụ, là công việc của các nhà tuyên huấn, các nhà khoa học xã
hội nhân văn mà còn phải là nhiệm vụ thường xuyên của báo chí, văn nghệ.
Trong một lần tọa đàm về việc tiếp tục
nuôi dưỡng, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ như thế này, một thủ trưởng nói một
câu thật giản dị, chân tình, nhưng làm tôi nhớ mãi: “Các ông làm thế nào thì
làm, nhưng phải làm thế nào để hình ảnh bộ đội mình thường xuyên và mãi mãi đẹp
trong mắt nhân dân, dân mãi mãi tin yêu gọi là “anh bộ đội”, “chú bộ đội”, “Bộ
đội Cụ Hồ”.
Một câu nói thật giản dị nhưng thực hiện
được không hề dễ dàng. Biết vậy, nhưng đó là nhiệm vụ đầy vinh quang và tự hào
của giới văn học, nghệ thuật nước nhà nói chung, mà nòng cốt là giới văn nghệ sĩ,
báo chí quân đội./.
"Trao yêu thương nơi rẻo cao"
Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, thời gian qua, Ban CHQS huyện Anh Sơn (Nghệ An) đã có nhiều cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả, có sức lan tỏa lớn trong giúp đỡ nhân dân ở địa bàn khó khăn.
Tờ mờ sáng, khi màn sương còn giăng kín lối, chúng tôi theo cán bộ, nhân viên Ban CHQS huyện Anh Sơn đến với bà con dân bản Ồ Ồ Già Hóp (xã Tường Sơn, huyện Anh Sơn). Chiếc xe mang theo chăn màn, quần áo, bánh kẹo, nhu yếu phẩm... vượt qua quãng đường khúc khuỷu hàng chục cây số về với bà con có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Cầm trên tay gói chăn màn, quần áo, mì ăn liền, ông Lương Văn Hợi, người dân tộc Thái ở bản Ồ Ồ Già Hóp xúc động cho biết: “Được các chú bộ đội Ban CHQS huyện Anh Sơn thăm, tặng quà, gia đình chúng tôi rất vui. Cảm ơn bộ đội nhiều lắm! Chúng tôi sẽ cố gắng lao động, sản xuất để nâng cao đời sống, xây dựng thôn, bản ngày một ấm no”.
![]() |
| Ban CHQS huyện Anh Sơn tặng quà và sách các cháu nhỏ có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn. |
Trao đổi với chúng tôi, Thượng tá Nguyễn Văn Mạnh, Chính trị viên Ban CHQS huyện Anh Sơn cho biết: “Anh Sơn là huyện miền núi phía tây tỉnh Nghệ An, có hơn 2.000 hộ đồng bào dân tộc thiểu số, 5,6km đường biên giới tiếp giáp với nước bạn Lào. Đời sống của bà con nhiều bản, làng còn gặp khó khăn như: Bản Cao Vều, xã Phúc Sơn; bản Ồ Ồ Già Hóp, xã Tường Sơn; thôn Nhân Tài, xã Cẩm Sơn; bản Đông Thọ, bản Khe Trằng, xã Thọ Sơn... Với tinh thần "tương thân tương ái", "lá lành đùm lá rách", hưởng ứng Phong trào thi đua “Cả nước chung tay vì người nghèo, không để ai bị bỏ lại phía sau”, Đảng ủy, Ban CHQS huyện Anh Sơn đã triển khai thực hiện mô hình “Trao yêu thương nơi rẻo cao” giúp đỡ bà con có hoàn cảnh khó khăn vươn lên thoát nghèo, ổn định cuộc sống, xây dựng tình đoàn kết quân-dân nơi biên giới.
Để thực hiện mô hình, Đảng ủy Ban CHQS huyện Anh Sơn tổ chức kêu gọi cán bộ, chiến sĩ, dân quân tự vệ, lực lượng vũ trang (LLVT) huyện, các cơ quan, doanh nghiệp, cá nhân chung tay, góp sức. Căn cứ vào số tiền và những chăn bông, quần áo, sách vở, nhu yếu phẩm quyên góp được, hằng năm, Ban CHQS huyện tổ chức đi thăm, tặng quà các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn với số tiền hơn 100 triệu đồng. Bên cạnh đó, ban CHQS huyện triển khai mô hình “Gom phế liệu, đổi sách hay”. Vào những ngày nghỉ cuối tuần, cán bộ, chiến sĩ LLVT huyện phối hợp với đoàn thanh niên các địa phương tổ chức vệ sinh môi trường, dọn rác và thu gom phế liệu từ các hộ dân, vừa góp phần làm cho môi trường nông thôn thêm sạch đẹp, vừa phân loại rác có thể bán được để lấy tiền mua sách tặng các em học sinh nghèo trên địa bàn. Chị Lang Thị Chín ở bản Khe Trằng chia sẻ: “Năm nào cũng vậy, các cô, các chú bộ đội đều đến thăm, tặng quà gia đình, tặng các cháu sách vở. Đây là nguồn động viên rất lớn để gia đình vượt qua khó khăn, vươn lên thoát nghèo”.
Mô hình “Trao yêu thương nơi rẻo cao” được Ban CHQS huyện Anh Sơn triển khai tổ chức thực hiện từ đầu năm 2019 với thông điệp “Hãy chia sẻ yêu thương để nhận về tình yêu thương nhiều hơn nữa”. Những việc làm thiết thực đã để lại dấu ấn sâu sắc và tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng. Bà Nguyễn Thị Thúy An, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Trưởng ban Dân vận huyện Anh Sơn cho biết: “Chính sự nhiệt huyết, tận tâm, chân thành của cán bộ, chiến sĩ LLVT huyện Anh Sơn đã tạo sự lan tỏa sâu rộng, thu hút các tổ chức đoàn thể trong huyện cũng như cộng đồng dân cư trên địa bàn chung tay đồng hành với cán bộ, chiến sĩ nhằm giúp đỡ, ủng hộ đồng bào khó khăn vươn lên. Những món quà tình nghĩa, ấm áp, đong đầy yêu thương của cán bộ, chiến sĩ đã góp phần tô thắm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân nơi rẻo cao, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn vùng biên”.
nguồn báo QĐND
Rèn giũa thực hành "nói đi đôi với làm"
Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương (sau đây gọi là Nghị quyết 847) về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới bao hàm nhiều nội dung quan trọng, toàn diện. Một trong những đặc trưng cơ bản mang giá trị cốt lõi đó là: Nói đi đôi với làm, luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân.
Người xưa có câu: “Nói chín thì phải làm mười/ Nói mười làm chín kẻ cười người chê”. Chỉ có một phần không làm được như lời đã nói, đã hứa mà bị kẻ cười, người chê, điều đó cho thấy các cụ ta ngày xưa đã rất quan tâm đến chữ tín, đề cao hành vi “nói đi đôi với làm”. Tìm hiểu sâu hơn nội hàm thuật ngữ “nói đi đôi với làm” trong Nghị quyết 847 cho thấy: Đây không đơn thuần là vấn đề đạo đức thông thường, mà ở tầm cao hơn chính là sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động trong thực tiễn để được tập thể, nhân dân tin tưởng, ủng hộ.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về tinh thần nói đi đôi với làm. Người căn dặn cán bộ, đảng viên: "Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước".
![]() |
| Bộ đội giúp dân gặt lúa. Ảnh minh họa: TTXVN. |
Bộ đội Cụ Hồ là danh hiệu cao quý được Đảng và nhân dân dành tặng cho cán bộ, chiến sĩ. Với sứ mệnh, trách nhiệm cao cả là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ cần giữ gìn, phát huy phẩm chất: Nói đi đôi với làm, đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân. Gần 8 thập kỷ trôi qua nhưng nội dung, ý nghĩa 10 lời thề danh dự của quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam vang lên dưới lá cờ Tổ quốc luôn là kim chỉ nam trong lời nói và hành động của mỗi cán bộ, chiến sĩ trên mọi mặt trận. Phẩm chất ấy được minh chứng trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, kiến quốc thời bình, tựa như “ngọc càng mài càng sáng”, qua thời gian ngày càng thêm sáng đẹp.
Hòa bình, đất nước không còn tiếng súng nhưng các thế lực thù địch vẫn luôn tìm cách chống phá sự nghiệp cách mạng. Đáng chú ý là chúng lôi kéo, dụ dỗ đồng bào tham gia các tà đạo, lập "vương quốc" riêng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc. Xác định là lực lượng nòng cốt, để “nói dân nghe, làm dân tin”, phát huy phẩm chất nói đi đôi với làm, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đã thực hiện “3 bám, 4 cùng” (bám dân, bám địa bàn, bám chủ trương, chính sách; cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng đồng bào) với dân bản.
Bằng phương pháp tuyên truyền linh hoạt, kết hợp vừa nói vừa làm, vừa tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, vừa cầm tay chỉ việc giúp dân xây dựng các mô hình kinh tế, Bộ đội Cụ Hồ trở thành điểm tựa của đồng bào, nhờ đó an ninh chính trị, trật tự địa bàn nơi phên giậu Tổ quốc được giữ vững. Hay, trong cuộc chiến chống "giặc Covid-19" vừa qua, hình ảnh bộ đội nhường lại doanh trại cho nhân dân cách ly, còn mình dựng lán ngủ ngoài rừng, ăn cơm bưng lá chuối đã làm lay động trái tim nhiều người. Hành động, nghĩa cử ấy càng làm tô thắm thêm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, bộ đội của dân, do dân, vì dân.
Khẳng định phẩm chất nói đi đôi với làm, luôn đặt lợi ích tập thể lên trên hết là đặc trưng cơ bản cần tiếp tục lan tỏa, nhân rộng, thế nhưng thực tiễn cho thấy, trong bối cảnh hiện nay, không ít cán bộ, đảng viên nói không đi đôi với làm, nói và làm có những khoảng cách, thậm chí nói một đằng làm một nẻo. Không ít người cho mình quyền được nói, được đề cao người này, phê phán người kia mà thực tâm không phải để đóng góp xây dựng mà cốt là để hạ bệ người khác, nâng cao bản thân và những người cùng lợi ích. Không ít người trong hội nghị thì im lặng, dĩ hòa vi quý, "tránh voi không xấu mặt nào" nhưng sau hội nghị thì xì xèo, bàn tán, đả kích người khác. Một hiện tượng hay gặp ở những người có thói quen xu nịnh là tâng bốc cấp trên bằng lời lẽ hoa mỹ, sáo rỗng nhưng khi hết quyền lợi thì thờ ơ, vô cảm. Xót xa hơn, vừa qua, một số cán bộ bị đưa ra khởi tố mà trước đó chưa lâu họ còn phô trương, tô vẽ những việc mình làm là “cống hiến vì dân, vì nước”.
Tình trạng trên được Nghị quyết 847 nhận diện là những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, đó là: “Không quan tâm đến lợi ích chung, làm việc gì cũng chỉ mưu cầu cho lợi ích cá nhân; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi... Nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội...”. Những biểu hiện trên không chỉ là sự suy thoái về tư tưởng đạo đức, lối sống mà còn là biểu hiện của “tự diễn biến", "tự chuyển hóa”, trở thành rào cản sự phát triển, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta.
Bộ đội Cụ Hồ ngày nay có nhiều điều kiện thuận lợi để phát huy phẩm chất, tài năng cống hiến cho đất nước, song cũng đặt ra thách thức lớn bởi lối sống thực dụng, ưa thụ hưởng và những cám dỗ về vật chất, các tệ nạn xã hội đang len lỏi. Bởi vậy, phát huy phẩm chất nói đi đôi với làm, đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân cho bộ đội là việc làm quan trọng và cần thiết. Một trong những nhiệm vụ quan trọng mà Nghị quyết 847 nhấn mạnh là: “Tăng cường công tác lãnh đạo tư tưởng, giáo dục chính trị, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng tiếp tục phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân”.
Đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ, để nói đi đôi với làm, trước hết cần phải có nhận thức đúng và quyết tâm vượt qua chính mình. Bởi, có nhận thức đúng nhưng không vượt qua được sự cám dỗ của lợi ích cá nhân sẽ dẫn đến nói không đi đôi với làm. Muốn vậy, mỗi cán bộ, chiến sĩ cần thường xuyên rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, tư cách đảng viên; khắc phục mọi biểu hiện cơ hội, thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, mơ hồ mất cảnh giác. Nói đi đôi với làm phải thể hiện bằng kết quả công việc, với những sản phẩm cụ thể. Kết quả công việc là thước đo sự cống hiến của mỗi người. Việc gì làm được thì nói, chưa làm được thì không thể phô trương, tô vẽ.
Bên cạnh đó, các cơ quan, đơn vị cần có nhiều chủ trương, giải pháp phát huy dân chủ trong Đảng, tăng cường giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nâng cao nhận thức, quán triệt, thực hiện nghiêm 10 lời thề danh dự, 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân và chức trách quân nhân. Đồng thời cần biểu dương, khen thưởng những gương cán bộ, đảng viên tận tụy, tâm huyết, chịu khó, tìm tòi, sáng tạo, thật thà, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Phát huy phẩm chất nói đi đôi với làm, đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân, quân nhân sẽ ngày càng khẳng định được tài năng, bản lĩnh, trí tuệ và được tập thể, quần chúng ghi nhận, xứng đáng với danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ.
nguồn báo QĐND













