Thứ Tư, 1 tháng 6, 2022

Vững vàng cánh bay trên biển xanh, rừng thẳm

 

Trong những năm qua, Binh đoàn 18 - Tổng công ty Trực thăng Việt Nam (Bộ Quốc phòng) luôn thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao, vừa sản xuất-kinh doanh hiệu quả, vừa hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ quân sự-quốc phòng.

Nhờ được huấn luyện bài bản, công phu, nghiêm túc nên hiện nay Binh đoàn 18 có đội ngũ phi công đạt trình độ cao, làm chủ và khai thác hiệu quả nhiều loại trực thăng hiện đại đang có trong biên chế. Ngoài thực hiện tốt các nhiệm vụ như: Bay chuyên cơ, bay tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, bay hiệp đồng diễn tập, phối hợp huấn luyện với các đơn vị… Binh đoàn 18 còn cung cấp nhiều loại hình dịch vụ như: Bay cấp cứu y tế, bay du lịch, bay phục vụ thăm dò, khai thác dầu khí, bay tìm kiếm người Mỹ mất tích trong chiến tranh (MIA)... Những năm gần đây, binh đoàn đã xuất khẩu thành công dịch vụ bay cứu hỏa ra nước ngoài, được các đối tác tin cậy, đánh giá cao, qua đó khẳng định được trình độ, thương hiệu, uy tín của đội ngũ phi công trực thăng quân sự Việt Nam. Trong nhiều năm qua, Binh đoàn 18 còn thực hiện tốt nhiệm vụ huấn luyện phi công, kỹ sư, nhân viên kỹ thuật hàng không cho một số đơn vị.

Trong những tháng đầu năm 2022, mặc dù còn có nhiều khó khăn chi phối, tác động, nhất là những ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19, song Binh đoàn 18 vẫn hoàn thành tốt các nhiệm vụ theo kế hoạch. Tính đến nay, toàn binh đoàn đã bay được gần 4.900 giờ, đạt 45% kế hoạch năm, bảo đảm chất lượng và an toàn tuyệt đối.

Báo Quân đội nhân dân Online giới thiệu cùng bạn đọc một số hình ảnh hoạt động của những cánh bay Binh đoàn 18.

 
Vững vàng cánh bay trên biển xanh, rừng thẳm
Trong nhiều năm qua, các tổ bay của Binh đoàn 18 đã thực hiện thành công nhiều chuyến bay cấp cứu y tế, cứu hộ, cứu nạn, trong đó có chuyến bay cứu nạn các thuyền viên trên tàu Vietship 01 bị mắc cạn ở biển Cửa Việt (Quảng Trị) trong bão lớn năm 2020.  

 

Vững vàng cánh bay trên biển xanh, rừng thẳm
… hay bay vận chuyển người bệnh từ các đảo xa trở về đất liền điều trị kịp thời. 

 

Vững vàng cánh bay trên biển xanh, rừng thẳm
 

Vững vàng cánh bay trên biển xanh, rừng thẳm
Nhiều khoa mục bay khó, như bay hạ cánh trên tàu biển… 

 
Vững vàng cánh bay trên biển xanh, rừng thẳm
 

Vững vàng cánh bay trên biển xanh, rừng thẳm
… hoặc hạ cánh trên nóc nhà cao tầng được các tổ bay của Binh đoàn 18 huấn luyện thường xuyên, bảo đảm cho binh đoàn hoàn thành tốt các nhiệm vụ khi có tình huống xảy ra. 

 
Vững vàng cánh bay trên biển xanh, rừng thẳm
Bay MIA luôn là nội dung bay khó, do thường được thực hiện ở khu vực rừng núi, địa hình hiểm trở, điều kiện khí tượng diễn biến phức tạp. 

 
Vững vàng cánh bay trên biển xanh, rừng thẳm
Tuy nhiên, với trình độ kỹ thuật lái điêu luyện, các tổ bay MIA của Binh đoàn 18 luôn thực hiện nhiệm vụ với độ chính xác hoàn hảo, được đối tác đánh giá cao. 

 
Vững vàng cánh bay trên biển xanh, rừng thẳm
Trực thăng của Binh đoàn 18 sử dụng gầu treo, huấn luyện bay cứu hỏa...

  
Vững vàng cánh bay trên biển xanh, rừng thẳm
 … làm cơ sở cho những chuyến bay cứu hỏa đạt hiệu quả cao tại nước ngoài. Trong ảnh: Máy bay của Binh đoàn 18 bay cứu hỏa tại Indonesia.

Vững vàng cánh bay trên biển xanh, rừng thẳm
 Máy bay của Công ty Trực thăng miền Bắc (Binh đoàn 18) bay dịch vụ ngắm cảnh vịnh Hạ Long (Quảng Ninh).

Nhiều giải pháp đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân lực cho quân đội

 

Sáng 1-6, Bộ Quốc phòng tổ chức Hội nghị tổng kết thực hiện Nghị quyết số 86/NQ-ĐUQSTW ngày 29-3-2007 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) về công tác giáo dục, đào tạo (GD-ĐT) trong tình hình mới (gọi tắt là Nghị quyết 86).

Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì. Hội nghị đánh giá, GD-ĐT trong quân đội có nhiều đổi mới, chuyển biến tích cực về mọi mặt, cơ bản đạt mục tiêu đề ra. Đây là tiền đề quan trọng để tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhân lực cho toàn quân trong tình hình mới.

Phát huy vai trò của đội ngũ nhà giáo

Báo cáo tổng kết do Thiếu tướng Nguyễn Văn Oanh, Cục trưởng Cục Nhà trường (Bộ Tổng Tham mưu) trình bày đã đánh giá toàn diện kết quả thực hiện Nghị quyết 86 và khẳng định: Qua 15 năm thực hiện Nghị quyết 86, công tác GD-ĐT trong quân đội có nhiều đổi mới, chuyển biến tích cực về mọi mặt, cơ bản đạt mục tiêu đề ra. Hệ thống nhà trường xây dựng tinh, gọn, chính quy, vững mạnh toàn diện, mẫu mực, tiêu biểu. Chương trình, nội dung đào tạo được đổi mới, chuẩn hóa theo hướng hiện đại, sát thực tế. Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục kiện toàn đủ số lượng, cơ cấu hợp lý, chất lượng nâng lên. Công tác tuyển sinh, tạo nguồn đào tạo thực hiện đúng quy chế, chất lượng giữ vững. Hoạt động nghiên cứu khoa học được quan tâm, chú trọng; nhiều đề tài khoa học đã ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn. Cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo ngày càng hiện đại...

Ý kiến của các đại biểu tại hội nghị đều khẳng định, trong hoạt động GD-ĐT, đội ngũ nhà giáo là nhân tố then chốt. Thực hiện Nghị quyết 86, đội ngũ nhà giáo quân đội đã được quy hoạch, xây dựng căn bản, phát huy tốt vai trò, trách nhiệm. Tuy nhiên có hai vấn đề lớn cần phải quan tâm khắc phục, đó là: Kinh nghiệm thực tiễn của giảng viên đang ngày càng ít; tỷ lệ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong quân đội có trình độ cao (tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư) còn thấp.

Nhiều giải pháp đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân lực cho quân đội
Giảng viên Khoa Văn hóa, Ngoại ngữ (Trường Sĩ quan Chính trị) trao đổi nội dung bài học với học viên. Ảnh: VĂN HẢI 

Theo Thượng tướng Trần Việt Khoa, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Quốc phòng: Đội ngũ cán bộ, giảng viên có kinh nghiệm thực tiễn hiện nay chưa nhiều, thậm chí ngày càng ít đi, do đó quá trình giảng dạy còn nặng tính lý thuyết. Việc thu hút cán bộ quân đội có kinh nghiệm thực tiễn từ các đơn vị về nhà trường cũng khó khăn. Đây là vấn đề cần quan tâm giải quyết, nhất là việc tuyển chọn, tập huấn, bồi dưỡng cán bộ, giảng viên cần được tiến hành một cách đồng bộ, đáp ứng yêu cầu thực tế công tác đào tạo tại các trường. Bên cạnh chú trọng bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị và trình độ chuyên môn cho đội ngũ giảng viên, giáo viên và tăng cường đi thực tế, cần có chính sách thu hút cán bộ có kinh nghiệm thực tiễn, đặc biệt thu hút những nhà khoa học đầu ngành về các nhà trường quân đội.

Nhiều đại biểu cho rằng, bên cạnh việc chú trọng tuyển chọn nguồn đào tạo, bồi dưỡng toàn diện đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục, cần quan tâm nghiên cứu các chính sách để động viên, thu hút nhân lực chất lượng cao, tạo động lực cho đội ngũ nhà giáo quân đội phấn đấu cống hiến.

Để tăng số lượng giáo sư, phó giáo sư, Nhà giáo Ưu tú và nâng tầm cán bộ, giảng viên, Trung tướng Phạm Đức Dũng, Giám đốc Học viện Hậu cần kiến nghị Bộ Quốc phòng cần xem xét tăng cường các đề tài khoa học quân sự cho các nhà trường để không chỉ tạo điều kiện cho giảng viên tham gia nghiên cứu, nâng cao trình độ mà còn đáp ứng các tiêu chí, điều kiện phong hàm chức danh khoa học đòi hỏi ngày càng cao.

Tăng cường đổi mới nội dung, phương pháp dạy học

Một trong những vấn đề cốt lõi được đề cập nhiều là về đổi mới nội dung, phương pháp dạy học. 15 năm qua, các nhà trường quân đội đã xây dựng mới thêm 184 chương trình đào tạo và điều chỉnh, bổ sung gần 650 chương trình. Điều đó cho thấy sự quyết liệt trong đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, cập nhật liên tục những tri thức và kiến thức khoa học quân sự, sát hơn với thực tiễn tác chiến trong tình hình mới.

Về nội dung này, Thiếu tướng Đỗ Minh Xương, Giám đốc Học viện Lục quân cho rằng, việc đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo đang được các nhà trường đẩy mạnh. Mặc dù vậy, có chương trình vẫn chưa sát với đòi hỏi của thực tiễn. Học viện Lục quân luôn chú trọng đổi mới nội dung chương trình, thường xuyên tổ chức các buổi rút kinh nghiệm, trao đổi với các đơn vị trong toàn quân, cả các địa phương và đơn vị chủ lực ở nhiều địa bàn khác nhau để nắm bắt tình hình thực tiễn, liên tục bổ sung chương trình đào tạo phù hợp với yêu cầu.

Chia sẻ của Thiếu tướng Đỗ Minh Xương nhận được sự tán thành của nhiều đồng chí lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị sử dụng nhân lực. Theo Thiếu tướng Lê Tất Thắng, Phó tư lệnh Quân khu 4: Để đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, bảo đảm đầu ra tốt thì cần thiết phải có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa nhà trường và đơn vị. Các nhà trường cần đổi mới theo hướng xây dựng chương trình đào tạo gắn với nhiệm vụ của cán bộ, học viên sau khi ra trường; thường xuyên cập nhật thực tế đơn vị vào chương trình đào tạo để học viên không bị bỡ ngỡ khi về nhận công tác tại đơn vị.

Trung tướng Nguyễn Văn Bạo, Giám đốc Học viện Chính trị cho rằng, những năm tới, các nhà trường cần tiếp tục đổi mới cho phù hợp, sát với đòi hỏi của tình hình mới với quan điểm lấy người học làm trung tâm. Kinh nghiệm của Học viện Chính trị là việc đổi mới dạy học trong những năm qua luôn bám sát phương châm “3 tính” (tính lý luận, tính tư tưởng, tính thực tiễn) và bảo đảm “3 sát” (sát đối tượng, sát nhiệm vụ, sát đơn vị).

Phát biểu kết luận hội nghị, Thượng tướng Nguyễn Tân Cương biểu dương kết quả các nhà trường quân đội đã đạt được trong thời gian qua và nhấn mạnh: Thành quả của quá trình đào tạo là học viên tốt nghiệp ra trường bảo đảm đủ số lượng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; có trình độ, kiến thức đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, hội nhập quốc tế và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thượng tướng Nguyễn Tân Cương yêu cầu, việc xây dựng, đổi mới nội dung, chương trình đào tạo trong nhà trường quân đội cần bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại... Phương pháp dạy học phải đổi mới theo hướng khoa học, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học...; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động GD-ĐT. Cùng với đó, hoàn thiện và triển khai thực hiện hiệu quả đề án xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong quân đội; tập trung đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo chuẩn mực về phẩm chất đạo đức, chất lượng cao, đạt chuẩn theo quy định... 

NGHIÊN CỨU - PHÊ BÌNH - TRAO ĐỔI!

         Khẳng định trọng tội rước voi giày mả tổ của Nguyễn Ánh và công lao to lớn thống nhất đất nước của Quang Trung.

CÔNG HAY TỘI
ĐỀU CẦN ĐƯỢC GHI NHẬN ĐẦY ĐỦ, RÕ RÀNG
Gần đây tôi có đọc một số bài trên tạp chí Xưa & Nay thấy có vài bài viết về nhân vật Nguyễn Ánh-Gia Long và vấn đề Nguyễn Huệ hay Nguyễn Ánh có công thống nhất đất nước. Các bài viết có nhiều điều không ổn nhưng trước mắt có hai vấn đề cần bàn:

1. Phải xét tội của Nguyễn Ánh trong chủ trương cầu viện nước ngoài nặng, nhẹ thế nào cho thỏa đáng.

2. Giữa Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh trong thành quả thống nhất đất nước phải ghi nhận sao cho công bằng, thấu tình đạt lý.

Cá nhân tôi hoàn toàn thống nhất với những ý kiến phân tích của tác giả trong bài báo. Và để làm căn cứ cho quan điểm của mình, tôi xin được phép ghi lại một đoạn văn sau đây của cố Giáo sư Ca Văn Thỉnh, nhà sử học có uy tín cùng thời với các nhà sử học bậc thầy kỳ cựu: Trần Huy Liệu, Phạm Thiều, Đặng Thai Mai… được viết trong quyển “Hào khí Đồng Nai”, xuất bản năm 1983, từ trang 36 đến 38:

“Vào thế kỷ XVIII, tập đoàn phong kiến họ Nguyễn ra sức biến xứ Đàng Trong (từ sông Gianh ở Quảng Bình trở vào) thành một “quốc gia” riêng biệt, gia tăng thế lực ở Đàng Trong để chống lại tập đoàn phong kiến họ Trịnh phản động và mục nát ở Đàng Ngoài. Đó cũng là lúc mà phong trào đấu tranh của nhân dân Đàng Trong, trong đó có Sài Gòn và Nam bộ xưa, nổi lên liên tục, mạnh mẽ.

Nổi bật hơn cả trong thời gian này là phong trào khởi nghĩa Tây Sơn được đông đảo nông dân hưởng ứng, nổi lên từ mùa Xuân năm 1771. Từ trước đến nay, sử sách nước ta đã nói nhiều về thành tích của phong trào Tây Sơn nhưng người ta biết nhiều về chiến công hiển hách đánh tan quân đội nhà Thanh trận Đống Đa hơn là những điều làm được ở Đàng Trong.

Thực ra, trong hơn 8 năm (1776 – 1783), phong trào Tây Sơn đã 5 lần đánh bọn phong kiến phản động Đàng Trong, đứng đầu là Nguyễn Ánh, đã 5 lần Nguyễn Ánh đều bị thất bại và bị đánh bật ra khỏi đất liền. Được giai cấp đại địa chủ ủng hộ, có lần Nguyễn Ánh đã quay lại chiếm Gia Định nhưng cuối cùng Nguyễn Ánh và tàn quân của hắn lại bị đánh bật ra ngoài và chạy sang cầu viện quân Xiêm. Trong bước đường cùng, tập đoàn Nguyễn Ánh đã đi đến chỗ phản bội Tổ quốc, đặt quyền lợi của chúng lên trên quyền lợi dân tộc. Chúng đã rước 5 vạn quân Xiêm, do hai cháu của vua Xiêm là Chiêu Tăng, Chiêu Sương chỉ huy, theo hai đường thủy bộ tiến đánh Gia Định.

Cần phải nói rõ rằng cuộc tiến quân tháng 7-1774 của quân Xiêm về thực chất là một cuộc xâm lược và hành động của Nguyễn Ánh là hành động rước voi giày mả tổ. Ngược lại, quân đội Tây Sơn, do tướng Trương Văn Đa chỉ huy, tuy lực lượng không nhiều nhưng lại được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân đã kháng chiến rất anh dũng, bảo vệ bờ cõi của đất nước. Vấp phải sự đánh trả của quân khởi nghĩa Tây Sơn, đến cuối năm 1774, tức là sau 5 tháng xâm lược, quân Xiêm chỉ chiếm được quá nửa đất phía Tây Gia Định (Nam bộ). Thành Mỹ Tho, thành Gia Định và nửa phần phía Đông vẫn được giữ vững.

Trong những cuộc chiến đấu chống bọn phản động Nguyễn Ánh và chống quân xâm lược Xiêm do Nguyễn Ánh rước về, quân đội Tây Sơn đã giành được 3 chiến thắng đáng kể:

Trận năm 1777, tiêu diệt bọn đầu sỏ chúa Nguyễn là Tân Chính Vương và Thái Thượng Vương (trận này Nguyễn Ánh thoát chết).

Trận năm 1782, đại phá hàng trăm chiến thuyền của Nguyễn Ánh ở Ngã Bảy (Cần Giờ) diệt cả tên Pháp đánh thuê là Mạn Hòe (Manuel) do giám mục Bá Đa Lộc đề cử chỉ huy chiến hạm của Pháp.

Trận năm 1785, đại phá thủy quân Xiêm xâm lược ở Rạch Gầm – Xoài Mút, giải phóng miền Tây Gia Định, đuổi quân giặc về nước. Trận đánh này làm nức lòng người Đồng Nai – Gia Định. Chính những nhà viết sử của triều Nguyễn, những người thù ghét phong trào Tây Sơn đến xương tủy cũng phải thừa nhận rằng sau trận này “người Xiêm sợ quân Tây Sơn như sợ cọp”.

Đến giai đoạn này, có thể nói là phong trào Tây Sơn dưới sự lãnh đạo tài tình của anh hùng Nguyễn Huệ, đã làm sụp đổ chế độ thống trị trên 200 năm của tập đoàn chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Đối với tập đoàn phong kiến họ Trịnh ở Đàng Ngoài, sau khi đánh thắng quân Xiêm xâm lược và quân bán nước Nguyễn Ánh, tháng 6-1786, Nguyễn Huệ tiến quân ra Thuận Hóa, đánh lui quân Trịnh, giải phóng toàn bộ đất Đàng Trong, tiến luôn ra Đàng Ngoài, đánh tan quân Trịnh, giải phóng Thăng Long ngày 21-7-1786.

Thế là phong trào cách mạng nông dân Tây Sơn, từ cuộc khởi nghĩa ở Quy Nhơn, đã thực sự trở thành phong trào quật khởi của nhân dân cả nước, quét sạch các tập đoàn phong kiến Trịnh, Nguyễn phân tranh, cát cứ hơn hai thế kỷ, thống nhất lại đất nước từ Nam chí Bắc.

Đây là thành tựu vĩ đại trong lịch sử dân tộc mà vinh quang thuộc về phong trào khởi nghĩa nông dân Tây Sơn và thủ lãnh kiệt xuất Nguyễn Huệ”.

Thiết nghĩ, nhà sử học khi viết mỗi sự kiện của lịch sử thì quan trọng hàng đầu là cách đánh giá, nó thể hiện sự công tâm và lương tâm của nhà viết sử, không thể xu thời mà tiền hậu bất nhất. Về điểm này thì cho phép tôi được đặt nghi vấn với nhà sử học Phan Huy Lê về thái độ “trở cờ” khi nhìn nhận các vấn đề có liên quan đến tội trạng phản bội Tổ quốc của Nguyễn Ánh và công lao thống nhất Đất nước của Quang Trung. Động cơ của sự “trở cờ” này là gì, chuyện này chỉ có Phan Huy Lê mới tự hiểu mình để có thể tự trả lời với lương tâm mình./.
Ảnh : Vua Quang Trung.
Yêu nước ST.

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI-SỰ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN TA!

     Đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 03/02/1930 là sự kiện lịch sử, có ý nghĩa trọng đại đối với cách mạng Việt Nam.
     Nhờ có sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đang phát triển theo con đường cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đảng đã lãnh đạo nhân dân kiên định mục tiêu con đường đã lựa chọn, đã thu được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Sau hơn 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn: chính trị - xã hội ổn định, kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được khẳng định, “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. 
     Đó là sự thật không thể phủ nhận. Đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam là sự lựa chọn hoàn toàn đúng đắn./.


Yêu nước ST.

 

Cơ chế bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng hiện nay

Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản, chỉ đạo mọi hoạt động xây dựng tổ chức, sinh hoạt và lãnh đạo của Đảng, đồng thời cũng chi phối các nguyên tắc tổ chức, hoạt động khác của Đảng, nhằm bảo đảm sự thống nhất về tư tưởng và chính trị của Đảng thông qua sự củng cố, thống nhất về tổ chức. Để nguyên tắc tập trung dân chủ phát huy được hiệu quả trong Đảng, cần có cơ chế bảo đảm việc thực hiện nghiêm ở các cấp ủy và tổ chức đảng.

Nhận thức về cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng hiện nay

Trong quá trình đổi mới, Đảng ta đã có bước tiến mới về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng, trong việc chuẩn bị các quyết định của Đảng, bầu cử cấp ủy và đánh giá, đề bạt cán bộ. Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng không ít cá nhân lợi dụng chính nguyên tắc tập trung dân chủ để cố tình thực hiện sai nguyên tắc, lợi dụng yếu tố tập trung để thâu tóm quyền lực; nhiều cán bộ, đảng viên đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ, trong đó có cả đảng viên là cán bộ cấp cao. Nguyên nhân dẫn đến vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ có cả yếu tố chủ quan và khách quan. Một trong những nguyên nhân là do nguyên tắc tập trung dân chủ có nội dung chi phối rất rộng và khá trừu tượng, khó nắm bắt; hơn nữa, mỗi lĩnh vực, mỗi mặt công tác, hoạt động xây dựng Đảng lại có những yêu cầu cụ thể riêng. Mặc dù gần đây, Đảng ta đã có nhiều văn bản quy định, hướng dẫn, trong đó cụ thể hóa cách tiến hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ; nhưng vẫn còn không ít lĩnh vực, mặt công tác chưa có được những quy định cụ thể như vậy; hoặc, có quy định nhưng vẫn chưa đủ rõ, tức là chưa có những quy định có tính hệ thống về cách thức thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Thực tế đó cho thấy, để các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; đồng thời, ngăn ngừa, hạn chế tình trạng cán bộ, đảng viên vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, thì rất cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng hiện nay.

Theo cách hiểu thông thường, cơ chế là “cách thức theo đó một quá trình thực hiện”(1). Khái niệm cơ chế được dùng từ lâu trong khoa học tự nhiên, kỹ thuật, như cơ chế quang hợp của cây xanh, cơ chế hoạt động của máy phát điện... Ngày nay, khái niệm cơ chế được sử dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Có thể thấy, cơ chế là những quy định về cách thức tiến hành hoạt động nào đó trong xã hội, trong tổ chức. Cơ chế do tổ chức, con người đặt ra nhưng lại quy định về hoạt động của tổ chức, con người; do vậy, cơ chế có thể đúng và có thể sai, phù hợp hoặc không phù hợp, tiến bộ hay lạc hậu. Cơ chế có nhiều cấp độ, từ đơn giản đến phức tạp. Ở cấp độ cao, cơ chế còn bao gồm cả quan điểm chính trị - xã hội, các quy phạm pháp luật, các quy định, quy chế, quy tắc, quy trình cụ thể trong từng tổ chức, từng công việc.

Từ nhận thức về khái niệm cơ chế như vậy, cho thấy: Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng là hệ thống những quy định về cách thức thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Vì cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng bao gồm những quy định về cách thức thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; do đó, xây dựng cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng thực chất là xây dựng hệ thống các quy định về cách thức thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Xây dựng tốt cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng tức là xây dựng, hoàn thiện hệ thống các quy định chỉ rõ cách thức thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng, sẽ vừa hướng dẫn cho các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng thực hiện đúng nguyên tắc này, vừa ngăn ngừa tình trạng tùy tiện, lúng túng, cố tình làm sai, bóp méo trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ càng được hoàn thiện, rõ ràng, sẽ càng bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng.

Những nội dung cụ thể của cơ chế cần được xây dựng, hoàn thiện để bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng hiện nay

Cơ chế bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng là loại cơ chế chính trị cấp độ cao, bao gồm cả quan điểm chính trị, các quy định, quy chế, quy trình cụ thể trong từng tổ chức, từng công việc của Đảng, để bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong toàn Đảng.

Để xác định nội dung cơ chế thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, cần nhận thức rõ phạm vi thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Có thể chia ra các lĩnh vực chính trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, như thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tổ chức của Đảng; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động lãnh đạo; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong các mặt công tác xây dựng Đảng khác.

Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tổ chức của Đảng.

Công tác tổ chức là một trong các mặt công tác xây dựng Đảng, nhưng do nguyên tắc tập trung dân chủ trước hết là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng và do tính chất quan trọng của công tác tổ chức, nên cần tách ra thành một lĩnh vực chi phối chính của nguyên tắc tập trung dân chủ. Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tổ chức của Đảng bao gồm: Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thiết kế mô hình tổ chức của Đảng, trong mối quan hệ giữa các tổ chức trong Đảng, giữa đảng viên với tổ chức; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong xây dựng và tuân thủ quy chế làm việc của các cấp ủy, tổ chức đảng; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thành lập tổ chức mới, kiện toàn, đổi mới tổ chức...

Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động lãnh đạo, gồm các khâu: Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong quy trình ban hành nghị quyết, quyết định lãnh đạo; chế độ thảo luận, ra quyết định, bảo lưu ý kiến thiểu số; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong chấp hành nghị quyết, như chế độ chấp hành, chế độ trách nhiệm, chế độ kiểm tra, giám sát; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách...

Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng, gồm các nội dung: Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tự phê bình và phê bình; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong đại hội đảng, trong sinh hoạt cấp ủy, chi bộ; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện quyền và trách nhiệm của đảng viên; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện bầu cử trong Đảng; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện chế độ báo cáo, thông báo trong Đảng...

Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong các mặt công tác xây dựng Đảng, gồm các phương diện: Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác lý luận, như mối quan hệ giữa chấp hành nghị quyết với yêu cầu sáng tạo, đổi mới trong nghiên cứu lý luận; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tuyên truyền, cổ động; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác văn hóa, văn nghệ, trong xử lý mối quan hệ giữa chấp hành nghị quyết, phục vụ đường lối, chủ trương của Đảng với đòi hỏi sự sáng tạo của văn hóa, văn nghệ; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong các khâu của công tác cán bộ, như đánh giá, tuyển chọn, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, kỷ luật, chính sách cán bộ...; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác đảng viên, như kết nạp đảng viên, đánh giá đảng viên, kỷ luật đảng viên...; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác dân vận; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ...

Sự phân chia nêu trên là cần thiết để nhận thức rõ hơn về nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng và có cơ sở để xác định nội dung cơ chế cần xây dựng, hoàn thiện nhằm bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Tuy nhiên, sự phân loại này cũng chỉ mang tính tương đối, vì trong thực hiện các hoạt động lãnh đạo, sinh hoạt nội bộ và các mặt công tác xây dựng Đảng luôn có sự đan xen nhau. 

Những vấn đề cần chú ý trong xây dựng, hoàn thiện cơ chế để bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng hiện nay

Như vậy, để bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, phải xây dựng và hoàn thiện cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng trên các phương diện chính là: Trong công tác tổ chức; trong hoạt động lãnh đạo trong sinh hoạt đảng và trong các mặt khác của công tác xây dựng Đảng. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng là việc phức tạp, phạm vi phải xây dựng các quy định rất rộng, cần sự kiên trì và sự chỉ đạo tập trung.

Việc hoàn thiện cơ chế để bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng hiện nay cần tập trung vào xây dựng, hoàn thiện các quy định về cách thức thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ sao cho khắc phục được những hạn chế, bất cập trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, như tình trạng dân chủ hình thức; bóp méo dân chủ để phục vụ ý đồ cá nhân; không quy được trách nhiệm cá nhân khi có sai phạm xảy ra; nhân danh nguyên tắc tập trung dân chủ nhưng hành xử gia trưởng, độc đoán... Trong xây dựng, hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng hiện nay, cần lưu ý một số vấn đề sau:

1- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng, bầu người đứng đầu trong các tổ chức của Đảng.

Cần hoàn thiện các quy định về chế độ bầu cử theo hướng mở rộng bầu cử trực tiếp cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy từ cơ sở đến cấp huyện, tỉnh từ nay đến năm 2030. Để khắc phục tình trạng dân chủ hình thức và bóp méo dân chủ trong bầu cử ở nơi này hay nơi khác, theo tinh thần mở rộng quyền đề cử và tự ứng cử, cần giới thiệu nhiều phương án nhân sự để lựa chọn, quy định bắt buộc có số dư trong giới thiệu ứng cử và bầu cử cấp ủy và cả các chức danh là người đứng đầu. Sự không hài lòng trong dư luận, tính hình thức và nguy cơ làm biến dạng dân chủ do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu ở tình trạng phổ biến là chỉ có một ứng viên cho một chức danh lãnh đạo trong bầu cử hiện nay.

Bên cạnh đó, cũng cần tập trung nghiên cứu thực hiện chế độ để những người tham gia bầu có thể bãi miễn đại biểu do mình bầu ra.

2- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong Đảng.

Cần hoàn thiện các quy chế làm việc của các cấp ủy, tổ chức đảng, trong đó quy định rõ về thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể lãnh đạo (cấp ủy, ban thường vụ, ban cán sự đảng...) theo hướng chỉ bàn và quyết định những vấn đề lớn, chỉ trực tiếp quản lý cán bộ là người đứng đầu; đồng thời, tăng thẩm quyền, trách nhiệm của cá nhân là thành viên tập thể lãnh đạo, người đứng đầu (nhất là bí thư, các phó bí thư cấp ủy), đi đôi với hoàn thiện các quy định, thiết chế kiểm soát quyền lực bằng chế độ kiểm tra, giám sát, bỏ phiếu bất tín nhiệm...

Hoàn thiện quy định về chế độ tổ chức, làm việc của thường trực cấp ủy, ban cán sự đảng và đảng đoàn vì đây là những cơ cấu tổ chức đặc biệt, được hình thành không do bầu cử trực tiếp, nhưng có trách nhiệm, thẩm quyền rất lớn, dễ vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ nếu thiếu các quy định cụ thể và chế độ kiểm tra, giám sát chặt chẽ. Trong trường hợp bí thư cấp ủy đồng thời làm chủ tịch ủy ban nhân dân, vẫn phải bố trí thường trực cấp ủy đủ ba thành viên lãnh đạo để thực hiện được nguyên tắc tập trung dân chủ.

3- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong đại hội đảng.

Cần xây dựng, hoàn thiện các quy định bảo đảm Đại hội đại biểu toàn quốc thật sự là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng; đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên là cơ quan lãnh đạo có vị trí, vai trò cao nhất trong tổ chức đảng, khắc phục biểu hiện hình thức của đại hội đảng các cấp. Ngay trong chính đảng mác-xít đầu tiên do C. Mác và Ph. Ăng-ghen sáng lập là Liên đoàn những người cộng sản, Điều lệ của Liên đoàn năm 1847 đã quy định Ban chấp hành trung ương tham dự Đại hội, nhưng không có quyền biểu quyết(2). Với quy định này, cho thấy C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã rất quan tâm đến ngăn chặn ảnh hưởng của ban chấp hành đối với đại hội đảng và là chỉ dẫn có ý nghĩa đối với vấn đề hạn chế ảnh hưởng quá mức của ban chấp hành đến đại hội đảng.

Cần xây dựng quy định về chế độ thảo luận trong đại hội đảng bảo đảm sự thảo luận, tranh luận thật sự trong đại hội đảng, khắc phục tính hình thức của tham luận tại đại hội.

4- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện chế độ ra nghị quyết và chấp hành nghị quyết.

Xây dựng, hoàn thiện quy chế ra quyết định của Đảng, bảo đảm phát huy trí tuệ tập thể. Các quy định phải bảo đảm để mọi cán bộ, đảng viên thực hiện được quyền tham gia quyết định công việc của Đảng; quyền được thông tin, thảo luận, tranh luận, nêu ý kiến riêng, bảo lưu ý kiến trong tổ chức; khi Đảng đã có nghị quyết thì phải nói và làm theo nghị quyết. Quy định rõ chế độ lãnh đạo các cấp phải lắng nghe ý kiến của cấp dưới, của đảng viên và nhân dân, hồi đáp các ý kiến góp ý, các kiến nghị.

 Xây dựng, hoàn thiện chế độ thảo luận, tranh luận trong xây dựng nghị quyết bảo đảm khuyến khích mọi đảng viên thảo luận dân chủ tất cả mọi vấn đề trong phạm vi chức năng tổ chức đảng của mình; đồng thời, cấp ủy, tổ chức đảng phải tạo cơ chế để khơi gợi, khuyến khích được đảng viên dân chủ thảo luận, phát huy cao nhất tính sáng tạo và giá trị đóng góp của đảng viên. Bảo đảm tất cả ý kiến của đảng viên phải được tôn trọng, ghi nhận, kể cả có đúng, có sai, dù xuôi chiều hay trái chiều. Không đưa ra các quy định hạn chế ý kiến góp ý, chất vấn, hay đồng nhất việc có ý kiến trái chiều với sự mất đoàn kết trong tổ chức đảng.

Chế độ ra quyết định phải bảo đảm việc ban hành nghị quyết của Đảng đều trên cơ sở được tổ chức thảo luận dân chủ rộng rãi, lấy ý kiến của các tổ chức đảng và đảng viên từ cơ sở trở lên, lấy ý kiến góp ý của nhân dân nếu cần, được cân nhắc nhiều mặt, phân tích thấu đáo, nhất là những vấn đề có ý kiến trái chiều trước khi quyết định. Đối với những vấn đề mới, khó, phức tạp thì cần được tổ chức hội thảo, tọa đàm để tiến hành thảo luận, trao đổi kỹ lưỡng, xin ý kiến chuyên gia trước khi quyết định.

5- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện quyền và nhiệm vụ của đảng viên.

Cần cụ thể hóa các quy định để thực sự thực hiện được các quyền của đảng viên về: Quyền được thông tin và thảo luận các vấn đề về Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, đường lối, chủ trương của Đảng; biểu quyết công việc của Đảng; quyền ứng cử, đề cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương; quyền phê bình, chất vấn về hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên ở mọi cấp trong phạm vi tổ chức; báo cáo, kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu được trả lời; quyền trình bày ý kiến khi tổ chức đảng nhận xét, quyết định công tác hoặc thi hành kỷ luật đối với mình. 

6- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện thẩm quyền của tổ chức đảng các cấp.

Cần xây dựng, hoàn thiện các quy định về việc tổ chức đảng quyết định các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của mình nhưng không trái với nguyên tắc, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên. Điều này sẽ ngăn ngừa được tình trạng vi phạm thẩm quyền khi ban hành các nghị quyết, dẫn đến việc ban hành các nghị quyết sai trái của một số tổ chức đảng như trong thời gian vừa qua. Thực hiện có nền nếp chế độ kiểm tra, giám sát các quyết định của tổ chức đảng các cấp và xử lý các quyết định trái với nguyên tắc, đường lối của Đảng, nghị quyết của cấp trên và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

7- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện chế độ báo cáo và thông báo hoạt động của cấp ủy.

Quy định rõ về chế độ cấp ủy các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước đại hội cùng cấp; cấp ủy các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước cấp dưới, bảo đảm thật sự là một “kênh” kiểm soát quyền lực trong Đảng; chế độ định kỳ thông báo tình hình hoạt động của mình đến các tổ chức đảng trực thuộc, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, thực chất tự phê bình và phê bình.

8- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng người có đức, có tài. Cơ chế phát hiện, tuyển chọn phải bảo đảm phát hiện từ cơ sở để lựa chọn được người có đầy đủ phẩm chất, năng lực, xứng đáng được bầu vào cấp ủy khóa mới; phát hiện người có tài, đức để tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng.

Thực hiện nghiêm và hoàn thiện chế độ ràng buộc trách nhiệm cả về chính trị, tinh thần và kinh tế với người đề cử, tiến cử trong công tác nhân sự nếu việc đề cử, tiến cử vi phạm các quy định, để chống tư tưởng cục bộ, bản vị, địa phương, thân quen, “cánh hẩu”, “lợi ích nhóm”; đồng thời, tránh cách làm giản đơn, tùy tiện, vô nguyên tắc trong công tác cán bộ. Tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát có nền nếp việc chấp hành nghiêm Quy định số 205-QĐ/TW, ngày 23-9-2019, của Bộ Chính trị, “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”. Cần tập trung kiểm tra, giám sát thực hiện quy định về không bố trí những người có quan hệ gia đình (vợ, chồng; bố, mẹ của vợ hoặc chồng; con, anh chị em ruột) cùng đảm nhiệm các chức danh có liên quan như: Bí thư, phó bí thư, trưởng ban tổ chức, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra cùng cấp ủy; chủ tịch ủy ban nhân dân và người đứng đầu cơ quan nội vụ, thanh tra cùng cấp ở một địa phương; thành viên trong cùng ban cán sự đảng, đảng đoàn; người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu trong cùng địa phương, cơ quan, đơn vị. Tăng cường kiểm tra, giám sát để phát hiện, xử lý nghiêm những trường hợp xen ghép ý đồ cá nhân, đề ra tiêu chí, tiêu chuẩn, điều kiện, nhận xét, đánh giá mang tính áp đặt, không đúng bản chất, không đúng sự thật nhằm vụ lợi hoặc có lợi cho nhân sự trong quá trình tham mưu thực hiện quy trình công tác cán bộ; để vợ, chồng, bố, mẹ, con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể, anh chị em ruột lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín của mình để thao túng, can thiệp công tác cán bộ. Cần thực hiện ráo riết các biện pháp trọng tâm như trên để đưa việc chấp hành các quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ đi vào nền nếp, trở thành văn hóa trong Đảng và hệ thống chính trị.

Thường xuyên hoàn thiện cơ chế phát hiện, thay thế kịp thời những cán bộ kém năng lực và kém phẩm chất, có khuyết điểm nghiêm trọng, không còn đủ uy tín. Tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát có nền nếp việc chấp hành Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021, của Bộ Chính trị, “Về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ”.

9- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tư tưởng.

Xây dựng và hoàn thiện chế độ thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác lý luận theo hướng mở rộng dân chủ trong nghiên cứu lý luận, thu hút và phát huy trí tuệ của đông đảo các chuyên gia trên các lĩnh vực cùng tham gia; tạo môi trường cho nghiên cứu dự báo phát triển. Những vấn đề lý luận và thực tiễn mới, khó phải được tổ chức nghiên cứu một cách thấu đáo, chuyên sâu, bài bản.

Cần quy chế hóa trách nhiệm và khuyến khích sự cống hiến của đảng viên làm công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, đồng thời cụ thể hóa các điều cấm đối với đảng viên theo Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về những điều đảng viên không được làm” trong nói, viết, tuyên truyền, để tạo thành chế độ vừa phát huy dân chủ, thúc đẩy sáng tạo, vừa bảo đảm giữ nghiêm kỷ luật trong công tác tư tưởng.

10- Cơ chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực hiện chế độ bảo lưu ý kiến thuộc về thiểu số.

Cần xây dựng quy định về chế độ bảo lưu ý kiến thuộc về thiểu số, gồm: Trường hợp được bảo lưu ý kiến thuộc về thiểu số; quy trình và thời gian xử lý bảo lưu ý kiến thuộc về thiểu số; quyền và trách nhiệm của đảng viên có ý kiến được bảo lưu; phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý nghiêm tình trạng bảo lưu mang tính hình thức; ngăn ngừa sự lợi dụng, lạm dụng quyền dân chủ của một số đảng viên./.

Nguồn:TCCS

(1) Viện Ngôn ngữ học: Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học, Hà Nội - Đà Nẵng, 2003, tr. 214
(2) Xem: C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 737