Tối 5/3, tại Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Xô, Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội tổ chức Hội nghị tổng kết phong trào thi đua 'Giỏi việc nước, đảm việc nhà' năm 2022 và 'Chương trình nghệ thuật tri ân nữ cán bộ, đoàn viên công đoàn Thủ đô xuất sắc'.
Thứ Hai, 6 tháng 3, 2023
TÔN VINH NỮ CÁN BỘ, ĐOÀN VIÊN CÔNG ĐOÀN THỦ ĐÔ XUẤT SẮC
"CHÍNH TRỊ VIÊN PHẢI LÀ NGƯỜI KIỂU MẪU TRONG MỌI VIỆC"
Cách đây 77 năm, ngày 6-3-1946 là một thời điểm nghiêm trọng. Buổi sáng, đụng độ đã nổ ra giữa quân Pháp và quân Tưởng Giới Thạch tại cảng biển Hải Phòng. Ngoại giao con thoi giữa tất cả các bên đều diễn ra khẩn trương để tháo n.gòi n.ổ. Tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội đồng Chính phủ họp để hoàn chỉnh dự thảo một văn bản để ký kết với Pháp. Toàn thể hội đồng đã nhất trí và ký vào biên bản tán thành.
HÀNH TRÌNH THEO CHÂN BÁC HỒ
Ngày 07 tháng 3
VỮNG VÀNG CHÈO LÁI TRƯỚC MUÔN TRÙNG SÓNG GIÓ, ĐƯA ĐẤT NƯỚC TIẾN LÊN
Trải
qua 93 năm chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua bao sóng gió, thác
ghềnh đến bến bờ thắng lợi đã chứng minh một sự thật không thể chối cãi rằng:
không một tổ chức nào đủ khả năng lãnh đạo đất nước, ngoài đảng cộng sản Việt
Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đứng lên khai tử chế độ thực dân,
đế quốc, làm nên những cuộc chiến vệ quốc vĩ đại nhất trong thế kỷ 20, đập tan
âm mưu diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Đánh tan
Fulro và bè lũ Việt Tân do Hoàng Cơ Minh cầm đầu và các mưu đồ khủng bố, kích
động bạo loạn; xây dựng một Việt Nam hòa bình, ổn định có cơ đồ, tiềm năng, vị
thế và uy tín như hôm nay.
Nhìn
lại suốt quá trình trong lịch sử của cách mạng Việt Nam có thể thấy, cuối những
năm 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, Liên Xô - hòn đá tảng và là “anh cả”
của CNXH đã sụp đổ; kéo theo đó là các nước ở Đông Âu cũng vì thế mà sụp đổ
theo. Nhiều người cho rằng, Liên Xô và các nước theo chế độ XHCN trên toàn thế
giới sụp đổ là thất bại của học thuyết Mác - Lê Nin, họ đồn đoán về sự thất bại
toàn diện trên phạm vi toàn thế giới của chủ nghĩa cộng sản. Thế nhưng tất cả
đã lầm! Việt Nam nhanh chóng nhận ra những sai lầm khuyết điểm mà đảng cộng sản
Liên Xô mắc phải, để từ đó có những quyết sách đúng đắn, kịp thời; đưa cả dân
tộc tiến lên. Thực tế cho thấy, việc Liên Xô và các nước theo con đường XHCN
tan rã là do nhiều nguyên nhân, tuy nhiên nguyên nhân chính vẫn là các vấn đề
nội tại; chính đảng viên của họ đã tiêu diệt đảng của họ. Đúng như lãnh tụ
V.I.Lênin từng nói: “Không có kẻ thù nào, dù là hung bạo nhất, có thể chiến
thắng được những người cộng sản, ngoại trừ chính họ tự tan rã, chính những lỗi
lầm của họ và họ không kịp sửa chữa”. Đảng Cộng sản Liên Xô đã trải qua rất nhiều
khó khăn thử thách và đã vượt qua tất cả: Năm 1917, 35 vạn đảng viên đã lãnh
đạo giai cấp công nhân Nga lật đổ ách thống trị của Sa hoàng, cùng nhân dân
chống lại sự can thiệp vũ trang của 14 nước để bảo vệ thành công cách mạng. Năm
1941, 5.540.000 đảng viên đã cùng nhân dân chiến thắng phát xít Đức trong cuộc
chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, lãnh đạo công cuộc xây dựng Liên Xô trở thành siêu
cường. Vậy nhưng, năm 1991, Đảng Cộng sản Liên Xô với 20 triệu đảng viên lại
sụp đổ, không phải do kẻ thù bên ngoài, mà chính là do những mầm mống diễn
biến, tự diễn biến tư tưởng bên trong nội bộ Đảng. Phi chính trị hóa quân đội,
truyền thông, báo chí và cả xét lại lịch sử. Từ năm 1986 đến 1988, một loạt cán
bộ chủ chốt của các tờ báo có ảnh hưởng lớn tại Liên Xô được thay thế bởi những
người ủng hộ chủ trương “Tây hóa” của Gorbachev, từ đó các tờ báo này đã khuynh
đảo dư luận, làm cho nhiều người dân ảo tưởng vào phương Tây và như thế “cả đàn
sói đã chồm lên cắn vào lịch sử/ cào chiến công, xé xác những anh hùng”. Hàng loạt
tướng lĩnh và đảng viên lão thành đều bị cho nghỉ hưu để nhường cho “lớp trẻ
cấp tiến”, kinh tế chậm đổi mới, các vấn đề nội tại phát sinh cấp số nhân và
ngày càng gay gắt…Điều gì đến đã phải đến, công lao mà Lê Nin và các thế hệ
đảng viên đảng cộng sản Lên Xô trong phút chóc đã chìm xuống biển sâu! Đó là
nỗi đau đoạn trường của những người cộng sản trên thế giới và là bài học máu
xương cho chúng ta.
Với
bản lĩnh chính trị vững vàng, Đảng cộng sản Việt Nam không hề hoảng loạn hay
hoang mang, giao động; vẫn trung thành với Chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng
Hồ Chí Minh. Một mặt sáng tạo, đổi mới phù hợp với tình hình Việt Nam, một mặt
mở rộng quan hệ quốc tế; chủ động đối thoại với Mỹ, Trung để bình thường hóa
quan hệ. Những năm cuối thập niên 80, đầu 90 của thế kỷ XX, Việt Nam đối diện
với muôn trùng gian khó, tưởng chừng không thể gượng dậy được. Giải phóng miền
Nam, thống nhất đất nước chưa lâu, lại phải đánh Pôn Pốt và quân bành trướng
Bắc kinh, kéo dài đến cuối những năm 80. Đất nước kiệt quệ về kinh tế, bị tàn
phá nặng nề; bị cấm vận kéo dài. Sau ngày Liên Xô sụp đổ, chúng ta đã khó lại
càng khó hơn. Yêu cầu cấp bách là phải đổi mới, nói như cố Tổng Bí thư Nguyễn
Văn Linh là “những việc cần làm ngay”. Ta dần dân tháo được những khó khăn,
bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc năm 1991 và Hoa Kỳ là 1995, cùng năm
1995, ta trở thành thành viên Asean, tổ chức ban đầu lập ra là để chống Việt
Nam và chủ nghĩa cộng sản. Ngày nay, ta quan hệ trên bình diện rộng, vừa làm
bạn được với cả Mỹ - Trung, vừa làm bạn được với Hàn Quốc – Triều Tiên…đó là sự
sáng suốt trong đường lối ngoại giao của đảng; tạo dựng môi trường hòa bình,
thu hút đầu tư để phát triển đất nước, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh”. Từ 1995 đến nay, chúng ta mới được yên để tập trung
phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh. Từ chỗ bị cô lập,
đến nay ta đã thiết lập mối quan hệ với gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Từ
chỗ đói ăn trước đổi mới mà trở thành quốc gia có thu nhập trung bình; nhân dân
ngày càng ấm no, hạnh phúc. Dân lấy ăn làm trời; nghĩa là họ chỉ cần biết tự
do, ấm no, hạnh phúc và phẩm giá là tiêu chí hàng đầu và chính đảng Cộng sản
Việt Nam đã đem lại cho nhân dân Việt Nam điều đó.
Nhìn
lại lịch sử của cách mạng Việt Nam gắn với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam, có thể khẳng định rằng: sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định
hàng đầu đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi. Mặc dù Liên Xô và các nước theo
CNXH sụp đổ nhưng Đảng ta vẫn vững vàng; chế độ ta vẫn chiếm trọn niềm tin yêu
và cả trái tim của nhân dân Việt Nam đời đời văn hiến. Điiều đó chứng minh
rằng: Liên Xô sụp đổ là do tự chính tay họ đã tạo ra chứ không phải là thất bại
của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin; sai lầm khuyết điểm không thể vãn hồi đó chính là
bài học xương máu để Đảng ta lấy làm gương tự sửa đổi, tự chấn chỉnh mình.
Trong không khí hân hoan chào mừng kỷ niệm 93 năm ngày thành lập đảng cộng sản
Việt Nam (03/2/1930-03/2/2023), nhân dân Việt Nam tin tưởng sâu sắc vào sự lãnh
đạo của Đảng sẽ đưa đất nước ta sánh vai với
các cường quốc năm châu, như lúc tâm nguyện sinh thời của Chủ tịch Hồ Chí
Minh./.
GIỮ VỮNG NGUYÊN TẮC “ĐẢNG LÃNH ĐẠO TUYỆT ĐỐI, TRỰC TIẾP VỀ MỌI MẶT ĐỐI VỚI QUÂN ĐỘI”
Hiện nay, các thế lực thù
địch luôn đẩy mạnh các hoạt động phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng. Trong
đó, những luận điệu xuyên tạc, công kích Quân đội nhân dân Việt Nam, hòng gây
mất ổn định chính trị, xã hội và làm cho quân đội ta mất định hướng chính trị,
là những luận điệu phản động, hết sức nguy hiểm và thâm độc cần kiên quyết đấu
tranh, vạch trần, lật tẩy bản chất. Lợi dụng nhiều diễn đàn, một số người đã
viết cái gọi là “tâm thư” góp ý, kiến nghị: “Quân đội phải trung lập, phải đứng
ngoài chính trị”, “quân đội chỉ bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc
gia”, “quân đội phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân, chứ không phải trung thành
với bất kỳ tổ chức chính trị nào”. Cùng với đó, nhiều ý kiến đưa ra yêu sách
đòi Đảng, Nhà nước phải sửa đổi Hiến pháp năm 2013; theo đó, phải có điều khoản
hiến định kiểu “nhập khẩu” phương Tây, rằng “quân đội phải duy trì tính trung
lập về chính trị, đặt lợi ích của nhân dân lên trước bất kỳ tổ chức hay cá nhân
nào”, phải thực hiện “dân sự hóa” quân đội theo mô hình của quân đội các nước
tư bản chủ nghĩa.
Thực chất của các quan
điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch chỉ nhằm mục đích duy nhất là
phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân
đội; làm cho quân đội xa rời sự lãnh đạo của Đảng, bị tha hóa, biến chất, mơ hồ
về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trở nên
vô dụng; không còn là lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với
Đảng, Nhà nước; không còn là quân đội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân,
“phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”. Theo đó, chúng đã và đang tìm mọi cách để
thủ tiêu sức mạnh chiến đấu của quân đội, lấy chiêu trò “phi chính trị hóa”,
“dân sự hóa” quân đội gắn chặt với âm mưu, chiến lược “diễn biến hòa bình”,
thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ quân đội, làm đòn bẩy
“đánh gục Đảng”, tước bỏ vũ khí “tuyệt đối trung thành của quân đội ta với
Đảng”.
Để tiếp tục giữ vững và
tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng đối với quân đội; làm thất
bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, thời
gian tới cần thực hiện tốt một số nội dung sau:
Một là, đổi mới nội dung, hình thức giáo dục nâng cao nhận thức và thực
hiện nghiêm túc nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối
với quân đội trong bối cảnh tình hình mới.
Khâu then chốt của mọi
vấn đề then chốt để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân
đội là tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị;
tăng cường giáo dục cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, giúp họ có nhận thức, hiểu
biết đầy đủ, sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng; bản chất giai
cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của quân đội. Quan tâm chăm lo xây
dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, tiêu biểu; nâng cao chất lượng,
hiệu quả, hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị; bảo vệ vững chắc nền tảng
tư tưởng của Đảng, giữ vững trận địa tư tưởng, văn hóa văn nghệ của Đảng trong
quân đội; quan tâm chăm lo xây dựng, củng cố vững chắc mối quan hệ mật thiết
giữa quân đội với nhân dân. Trên cơ sở đó, xây dựng, rèn luyện bản lĩnh chính
trị vững vàng cho cán bộ, chiến sĩ; giúp họ có đủ sức đề kháng, miễn dịch trước
âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch.
Thông qua giáo dục chính
trị để xây dựng, phát triển thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận
khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh để vạch trần bản
chất, âm mưu, thủ đoạn và tác hại của các quan điểm sai trái, âm mưu “phi chính
trị hóa” quân đội như Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Quân đội ta có sức mạnh vô
địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và
giáo dục”(1). Đây là sự tổng kết thực tiễn và khái quát cô đọng nhất quy luật
xây dựng, phát triển tư duy lý luận của Đảng ta về vai trò lãnh đạo của Đảng đối
với Quân đội nhân dân Việt Nam.
Hai là, tiếp tục xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch vững mạnh tiêu
biểu, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức
đảng các cấp trong toàn quân.
Quân ủy Trung ương là cơ
quan lãnh đạo cao nhất trong Đảng bộ Quân đội, có thẩm quyền, chức năng, nhiệm
vụ nghiên cứu, tham mưu đề xuất với Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban
Bí thư quyết định những vấn đề trọng yếu về chủ trương, đường lối, chính sách,
nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và lãnh đạo mọi mặt công tác, như
chính trị, tham mưu, hậu cần, kỹ thuật trong quân đội,... Cấp ủy, tổ chức đảng
các cấp và đội ngũ chính ủy, chính trị viên, những người chủ trì về công tác
đảng, công tác chính trị trong quân đội chịu trách nhiệm trước Đảng về lãnh đạo
mọi mặt của đơn vị theo nội dung, chức trách, nhiệm vụ, phạm vi quy định cụ thể
cho từng cấp. Trong quá trình lãnh đạo quân đội, nhất là trong những năm đổi
mới đất nước, Đảng ta, trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, luôn dành sự quan
tâm đặc biệt, chăm lo xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư
tưởng, tổ chức và đạo đức; tập trung củng cố, kiện toàn hệ thống cấp ủy, tổ
chức đảng các cấp; kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng cấp ủy với xây dựng đội ngũ
cán bộ chủ trì; giữa xây dựng đội ngũ cán bộ với xây dựng đội ngũ đảng viên và
xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Nhờ đó, sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp
về mọi mặt của Đảng đối với quân đội được củng cố và tăng cường, đáp ứng yêu
cầu xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Ba là, Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ và chủ động đấu tranh
phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng,
văn hóa của Đảng trong quân đội. Đây là giải pháp rất quan trọng để xây dựng
quân đội vững mạnh về chính trị; thực hiện nghiêm nguyên tắc Đảng lãnh đạo
tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội. Cấp ủy, đội ngũ chính ủy,
chính trị viên và người chỉ huy các cấp trong toàn quân cần quan tâm chăm lo
thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; chú trọng bảo vệ tổ chức, con
người, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, chiến dịch trong sạch, vững mạnh,
an toàn tuyệt đối về chính trị, chống sự xâm nhập, móc nối, cài cắm, lộ, lọt
thông tin; có biện pháp phòng ngừa “từ sớm, từ xa”, không để xảy ra tình trạng
cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của quân đội; đồng
thời, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là âm
mưu, thủ đoạn, hoạt động “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội và những
biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đơn vị, góp phần bảo vệ vững
chắc trận địa tư tưởng, văn hóa văn nghệ của Đảng trong toàn quân, toàn quốc.
Trong quá trình đó, phải đẩy mạnh tự phê bình và phê bình; chú trọng đấu tranh
trực diện với các âm mưu, thủ đoạn nguy hiểm của kẻ thù, kiên quyết bác bỏ
những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, kích động, gây tâm lý hoài nghi, bi
quan, chán nản ở cán bộ, chiến sĩ, đi đôi với khẳng định bản chất, giá trị khoa
học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thành tựu của
cách mạng, của Đảng và Quân đội nhân dân Việt Nam.
Cùng với đó, cần giúp cho
cán bộ, chiến sĩ và nhân dân thấy rõ bản chất, âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa
bình”, “phi chính trị hóa” quân đội là cuộc đấu tranh về tư tưởng, lý luận, văn
hóa; là sự giành giật niềm tin, trái tim, khối óc con người; quyền quản lý địa
hạt chính trị, trận địa tư tưởng, văn hóa giữa ta và địch. Cuộc chiến đấu này
không có giới tuyến, đối phương không lộ diện rõ hình, ta không nhìn thấy mặt,
nhưng lại diễn ra thường xuyên, quyết liệt trên các lĩnh vực đối với quân đội
và nhân dân, ngay trong đời sống tinh thần của từng cán bộ, chiến sĩ. Vì lẽ đó,
đội ngũ cán bộ chính trị, trước hết là chính ủy, chính trị viên các cấp cần coi
trọng công tác dự báo, nắm bắt tư tưởng, tăng cường giáo dục chính trị, làm cho
cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của
các thế lực thù địch; từ đó, có giải pháp phòng, chống hiệu quả, bảo vệ và tự
bảo vệ an toàn cho đơn vị, gia đình và bản thân.
Bốn là, tiếp tục đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu phát triển lý
luận công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng quân đội về chính trị; đổi mới
và hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội sao cho phù hợp với
thực tiễn xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước
hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại,
thích ứng với những đòi hỏi khách quan của cuộc Cách mạng khoa học công nghệ
giai đoạn hiện nay, là biện pháp có ý nghĩa chiến lược trong xây dựng quân đội
“tinh, gọn, mạnh”, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa. Đây cũng là vấn đề có tính nguyên tắc trong giữ vững và tăng cường sự
lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân
Việt Nam, quyết định mọi thắng lợi của quân đội ta trong bối cảnh, điều kiện
lịch sử mới./.
KIÊN ĐỊNH NGUYÊN TẮC TÍNH ĐẢNG MÁCXÍT TRONG ĐẤU TRANH TRÊN MẶT TRẬN TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN HIỆN NAY
Trong quá trình bảo vệ, phát triển
và hiện thực hóa tư tưởng khoa học của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã nêu
lên một kiểu mẫu về sự kiên định nguyên tắc tính đảng mácxít trong mọi hoạt động
lý luận và thực tiễn, đặc biệt trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa giáo điều
và những khuynh hướng cơ hội, xét lại trong phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế.
Giờ
đây trước những diễn biến phức tạp của tình hình, cuộc đấu tranh trên phương diện
lý luận và tư tưởng trở nên gay gắt, và thực sự chiếm vị trí hàng đầu trong đấu
tranh giai cấp, đồng thời xuất hiện nhiều trào lưu cơ hội, xét lại dưới nhiều
màu sắc phức tạp. Trong bối cảnh đó, nguyên tắc tính đảng của V.I.Lênin không
những vẫn giữ nguyên giá trị lịch sử, mà còn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
quan trọng.
Khi
công kích, bài xích chủ nghĩa Mác, các lý luận gia tư sản và những phần tử xét
lại thường lớn tiếng hô hào về sự “phi tính đảng” của lý luận. Theo họ, lý luận
muốn thực sự khách quan, khoa học thì phải “phi tính đảng”, phải “đứng trên
giai cấp”; nếu lý luận phản ánh địa vị và lợi ích giai cấp, trở thành vũ khí đấu
tranh giai cấp thì sẽ mất tính khách quan và khoa học… Có thể nói, sai lầm cơ bản
của những phần tử cơ hội, xét lại là đã đối lập tuyệt đối tính đảng và tính
khoa học của lý luận, nhất là đã phủ nhận sự thống nhất biện chứng tính khoa học
với tính đảng của chủ nghĩa Mác.
Với
quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử, V.I.Lênin đã phê phán sâu sắc các quan
điểm của chủ nghĩa cơ hội, xét lại. Người khẳng định rằng, trong xã hộ có đối
kháng giai cấp, không có thứ lý luận “phi tính đảng”, nếu không có quan điểm
giai cấp rõ ràng thì không thể luận giải khách quan, khoa học các hiện tượng xã
hội. V.I.Lênin đã vạch trần bản chất phản động được che đậy bởi những thủ đoạn
mập mờ xảo trá và bộ mặt giả nhân, giả nghĩa của những phần tử cơ hội, xét lại.
Họ đã xuyên tạc lịch sử, mưu toan bỏ nội dung giai cấp và tính cách mạng của chủ
nghĩa Mác nhằm đi tới phủ định học thuyết khoa học của C.Mác, đồng thời ra sức
biện hộ cho chủ nghĩa tư bản, phụ họa và tán dương quan điểm của các lý luận
gia tư sản về “tính hợp lý”, về tính chất tiến bộ của chủ nghĩa tư bản.
Vì
vậy, trong quá trình bảo vệ phát triển và hiện thực hóa những tư tưởng khoa học
của chủ nghĩa Mác-Lênin trong thời đại ngày nay, chúng ta cần kiên định nguyên
tắc tính đảng mácxít, tỉnh táo và kiên quyết đấu tranh chống lại những âm mưu
và thủ đoạn của chủ nghĩa cơ hội, xét lại hiện đại./.
Âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề “xã hội dân sự” để chống phá Việt Nam
Những năm gần đây, khái niệm “xã hội dân sự” xuất
hiện trên các diễn đàn, báo chí, truyền thông xã hội với tần suất ngày càng nhiều
hơn. Sở dĩ như vậy là trong vòng hai thập niên qua, “xã hội dân sự” được các thế
lực thù địch, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng nhằm thực hiện chiến lược “diễn
biến hòa bình” chống phá Đảng, Nhà nước ta.
Một số học giả trên thế giới có quan điểm chống cộng
rất đề cao vai trò của “xã hội dân sự” trong các cuộc “cách mạng sắc màu” lật đổ
chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữa những năm 80 của thế kỷ XX, ngay sau khi khởi xướng
cải tổ với việc M. Goócbachốp chủ trương “công khai hóa” và “dân chủ hóa”, các
tổ chức đoàn thể phi chính thức và các ấn phẩm tuyên truyền cho tự do hóa tư sản
dưới nhiều hình thức đã mọc lên “như nấm sau mưa” ở Liên Xô. M. Goócbachốp
không những cho phép các đoàn thể phi chính thức tồn tại mà còn cổ vũ các đảng
phái, từng bước thực hiện chế độ đa đảng. Các đảng đối lập ra đời và sau đó đã
giành được chính quyền tại một loạt địa phương dưới cái gọi là “bầu trời tự do”
là hệ quả trực tiếp của chính sách nêu trên. Những tổ chức này trắng trợn xuyên
tạc lịch sử, bôi nhọ, hạ bên các nhà lãnh đạo Liên Xô trước đây, phủ nhận thành
tựu của chủ nghĩa xã hội, ngang nhiên hô hào chống chế độ và Nhà nước Xôviết.
Đây là một trong những nhân tố trực tiếp dẫn đến sự tan rã của Liên Xô.
Ở Đông Âu, những năm 70, đầu 80 của thế kỷ XX, ở một
số nước đã hình thành các công đoàn, hội có xu hướng tách khỏi quản lý của Nhà
nước, đối lập với chính quyền, hoạt động với danh nghĩa là “tổ chức xã hội dân
sự” nhân danh bảo vệ công nhân, bảo vệ các quyền dân sự. Thông qua việc lôi kéo
quần chúng, với sự hỗ trợ từ nước ngoài, một số tổ chức công giáo, được kích hoạt
thêm bởi các chính sách “công khai hóa” “dân chủ hóa” và chính sách đối ngoại với
đồng minh của M. Goócbachốp, những tổ chức này nhanha chóng chuyển hóa thành tổ
chức chính trị đối lập, đóng vai trò trọng yếu trong việc hạ bệ uy tín của nhà
nước, thúc đẩy hình thành chế độ đa đảng và giành chính quyền thông qua cái gọi
là “bầu cử dân chủ”. Các cuộc cách mạng đường phố tại các nước khu vực Trung
Đông - Bắc Phi hay “cách mạng nhung”, “cách mạng màu” ở một số nước thuộc không
gian hậu Xôviết thời gian qua cũng cho thấy vai trò của các cơ quan đặc biệt nước
ngoài trong việc hỗ trợ các tổ chức xã hội dân sự trong nước lôi kéo, kích động
quần chúng lật đổ các chính thể hợp pháp, gây nên tình trạng khủng hoảng chính
trị, thậm chí có nước còn lâm vào cảnh chia rẽ, xung đột triền miên, lãnh thổ bị
chia cắt lâu dài.
Như vậy, cần thấy rõ, ở nhiều quốc gia, nhất là các
nước đang phát triển, sự hình thành các tổ chức của “xã hội dân sự” thường chịu
sự tác động của nhiều nhân tố, trong đó có các lực lượng chính trị từ bên ngoài
thông qua hình thức và con đường khác nhau.
Đối với Việt Nam, nhận thức về “xã hội dân sự” để
thấy được âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong việc lợi dụng nó để
chống phá Đảng, Nhà nước ta là một vấn đề cấp bách, cần thiết. Tuy nhiên, đây
là một vấn đề chính trị, xã hội phức tạp, còn có nhiều nhận thức khác biệt, thậm
chí đối lập nhau. Tùy theo góc độ tiếp cận, hiện nay đang tồn tại hai phương diện
phổ biến về xã hội dân sự. Một là,
tuyệt đối hóa, đề cao quá mức vai trò của tổ chức “xã hội dân sự”, cho rằng cần
dẩy mạnh sự phát triển của “xã hội dân sự” ở Việt Nam, đồng nhất quá trình này
với thực hiện dân chủ hóa, xem đây là “liều thuốc vạn năng” cho khắc phục những
giới hạn của quản lý nhà nước và giải quyết tiêu cực trong đời sống xã hội phát
sinh từ cơ chế thị trường; hai là,
coi “xã hội dân sự” mang tính chất tiêu cực đối lập với nhà nước xã hội chủ
nghĩa, là vấn đề nhạy cảm nên né tránh, ngại đề cập và không khuyến khích
nghiên cứu, tìm hiểu, thậm chí dựa vào các tổ chức xã hội hoạt động theo kiểu
“bất tuân dân sự”, gây nên tình trạng vô chính phủ, bất ổn chính trị - xã hội ở
nhiều nước trên thế giới rồi bài xích, phủ nhận sạch trơn vai trò các hội, quỹ,
diễn đàn trong tham gia quản lý, phát triển xã hội.
Như vậy, quan niệm “xã hội dân sự” hiện nay vẫn còn
nhiều tranh cãi. Đây chính là kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá Đảng,
Nhà nước ta. Thời gian qua, các thế lực thù địch đã và đang triệt để lợi dụng,
thúc đẩy hình thành xã hội dân sự đối lập với Đảng, hoạt động ngoài sự quản lý
của Nhà nước, tạo tiền đề cho can thiệp, lật đổ dưới danh nghĩa “chuyển hóa dân
chủ”, đưa các lực lượng chống đối lên nắm chính quyền. Vì vậy, cần nhận thức đầy
đủ về “xã hội dân sự” và có cách ứng xử phù hợp với vấn đề “xã hội dân sự”.
Bác bỏ, phê phán, đấu tranh kiên quyết với các quan điểm khuyến khích, cổ vũ
cho “xã hội dân sự” với ý đồ thúc đẩy hình thành các tổ chức chính trị đối lập.
Bởi, hiện nay nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn liên quan đến “xã hội dân sự”
chưa được nghiên cứu thấu đáo, hiệu lực và công cụ quản lý Nhà nước, ý thức
pháp luật của người dân còn có những hạn chế. Do đó, nếu chúng ta buông lỏng,
thả nổi cho sự hình thành, phát triển “xã hội dân sự” sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy
phức tạp, khó kiểm soát, nhất là dưới góc độ quản lý nhà nước cũng như bảo vệ Đảng,
bảo vệ Nhà nước và bảo vệ an ninh quốc gia.
Nhận diện và đấu tranh với quan điểm sai trái về sở hữu đất đai
Lợi dụng việc toàn dân đang đóng góp ý kiến cho dự án Luật Đất đai (sửa đổi), các thế lực xấu từ bên ngoài đã tăng cường chống phá.
Họ đưa ra các quan điểm phủ nhận sạch trơn giá trị của việc đất đai thuộc sở hữu toàn dân và xuyên tạc rằng quy định như vậy để tạo điều kiện cho "chính quyền cướp đất của dân", là trở lực cho phát triển kinh tế. Họ cho rằng để chống tham nhũng, tiêu cực, để thúc đẩy phát triển kinh tế Việt Nam phải thừa nhận sở hữu tư nhân về đất đai hoặc thừa nhận chế độ đa sở hữu đất đai. Có thể thấy, việc đồng nhất vấn đề sở hữu toàn dân về đất đai với thực trạng tham nhũng, tiêu cực có liên quan tới đất đai là sự đánh tráo giá trị, không đúng bản chất của vấn đề, chỉ lừa phỉnh được những người thiếu hiểu biết về vấn đề này.
Thực hiện đồng bộ "4 không" để phòng, chống tham nhũng hiệu quả
Quyết liệt triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp để bảo đảm "4 không" thì chắc chắn tham nhũng, tiêu cực sẽ được đẩy lùi, giảm nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"...
CHA GIUSE MARIA NGUYỄN DUY TÂN LẠI ĐƯỢC “VIỆT TÂN” NHẮC ĐẾN
Đúng vào dịp kỷ niệm 44 năm cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc (17/02/1979-17/02/2023) trang mạng của tổ chức khủ.ng bố Việt Tân có đăng tải hình ảnh về Cha Giuse Maria Nguyễn Duy Tân khi cầm 02 tờ giấy với dòng chữ “muốn làm nô lệ thì học tiếng Tàu”, “Muốn làm giàu thì học tiếng Mỹ” và cho rằng đại đa số người dân Việt Nam đồng quan điểm với Cha Giuse Maria Nguyễn Duy Tân. Vậy quan điểm của Cha Giuse Maria Nguyễn Duy Tân cũng như Việt Tân đưa ra có đúng với thực tế?
Phát huy tiềm năng, nội lực Phụ nữ Việt Nam vững bước trên con đường đổi mới toàn diện đất nước
Cần phát huy hơn nữa vai trò, chức năng của tổ chức Công đoàn trong bảo vệ quyền lợi cho người lao động hiện nay
Trung Quốc vẫn ưu tiên sức mạnh cứng
Trung
Quốc vẫn ưu tiên sức mạnh cứng
Chính quyền Bắc Kinh đề xuất ngân sách quốc phòng tăng 7,2%, tương đương 225 tỉ USD, với phần đáng kể chi cho vũ khí. Nhưng đó chưa phải là tất cả.
Cần gìn giữ và phát huy văn hóa ứng xử tốt đẹp con người Việt Nam trong thời kỳ mới
NHỮNG NGƯỜI ANH GẦN GŨI CỦA CHIẾN SĨ MỚI
BÁM SÁT ĐỊA BÀN, GIÚP DÂN HIỆU QUẢ
NHẬP NGŨ ĐỂ TRƯỞNG THÀNH (Phần 2: Rèn luyện tốt - Tương lai rộng mở)
NHẬP NGŨ ĐỂ TRƯỞNG THÀNH (Bài 1: Quân đội - Môi trường để rèn luyện tổng hợp)
PHÁT TRIỂN HỆ GIÁ TRỊ VĂN HOÁ GIA ĐÌNH VIỆT NAM THỜI KỲ MỚI
Liệu chủ nghĩa tư bản có thể là con đường phát triển cho các dân tộc?
Các thế lực phản động, thù địch luôn tìm mọi thủ đoạn nhằm bẻ lái con tàu của chúng ta đi theo con đường CNTB. Tất nhiên, chúng ta không phủ nhận rằng dưới chế độ TBCN, đã có nhiều thành tựu về khoa học - kỹ thuật được tạo ra và đóng góp cho nhân loại. Tuy nhiên, cần nhìn thẳng vào sự thật, chế độ đó vẫn là chế độ nhằm bảo đảm sự thống trị, bóc lột của giai cấp tư sản đối với tuyệt đại đa số người dân lao động trong xã hội với đầy rẫy những bất công, tích lũy ngày càng nhiều mâu thuẫn xã hội, những trạng thái “phản phát triển” đó chính là căn cứ chứng minh cho triển vọng khách quan và tất yếu của CNXH.
Về vận mệnh, tiền đồ của CNTB, tuy vẫn tồn tại nhiều nhận định khác nhau, nhưng khoảng cách có xu hướng ngày càng được thu hẹp. Kết luận về “sự cáo chung của lịch sử”, “lịch sử tư tưởng của loài người dừng lại ở CNTB” đã bị thực tế chứng minh ngược lại, rằng đó là nhận định hấp tấp, vội vàng.
Sau sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu, CNTB đắc thắng không ngừng rêu rao về “sự cáo chung của lịch sử”, về “một trật tự thế giới mới”. Nhưng khi không còn CNXH ở Liên Xô và Đông Âu với tư cách là đối trọng lớn nhất mà họ vẫn coi là nguy cơ đe dọa vận mệnh của CNTB thì bao nhiêu mâu thuẫn nội tại trong lòng chế độ này lại dồn nén và bùng phát từ bên trong.
Xã hội tư bản ngày nay mặc dù đang có sự ổn định tương đối bởi giai cấp tư sản còn khả năng áp dụng các biện pháp làm dịu tạm thời các mâu thuẫn, nhưng không thể xóa bỏ được đối kháng và đấu tranh giai cấp, không xóa bỏ được căn nguyên những mâu thuẫn đó.
Cần lưu ý rằng, trong bối cảnh hiện tại, nhiều người có thể choáng ngợp bởi sự vượt trội về điều kiện vật chất, trình độ phát triển của nền kinh tế, tiềm năng khoa học - công nghệ và một số lĩnh vực khác của các nước tư bản phát triển so với các nước theo con đường đi lên CNXH. Tuy nhiên, cần phải nhìn cho thấu, những thành tựu của các nước tư bản do đâu mà có. Trong lịch sử nhiều trăm năm tồn tại và phát triển của mình, bánh xe vận hành của CNTB đã chà đạp lên các tầng lớp nhân dân lao động cần lao, thống khổ trên khắp các lục địa. Chẳng cần tìm đâu xa, chúng ta sẽ thấy ngay những tội ác mà chế độ tư bản đã gây ra khi nhìn lại các trang lịch sử của Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha...
Thế nhưng, phải chăng CNTB đã thật sự “hết đất sống”? Nói “không còn” e rằng bất chấp thực tế. Nhưng phải ý thức rõ rằng phần còn đang tồn tại của CNTB chứa đầy những mâu thuẫn nan giải.
Về quyền lực và quyền lợi trong chế độ TBCN, vấn đề này đã được thể hiện hết sức rõ ràng trong thực tế. Trong chế độ TBCN quyền lực thuộc về ai? Quần chúng nhân dân có được làm chủ hay không? Ai là người hưởng lợi? Xin thưa, quyền lực ở đây được “nhân dân ủy quyền” qua cái gọi là “khế ước xã hội” đã bị giai cấp tư sản lợi dụng để thống trị lại nhân dân vì lợi ích của bản thân giai cấp đó.
Họ luôn tán dương chế độ “bầu cử tự do”, nhưng thực chất nó đã bị biến thành “tự do” của nhân dân trong lựa chọn những người thống trị mình, chứ không phải lựa chọn những người đại diện cho lợi ích của mình theo đúng nghĩa.
Sự “phân chia quyền lực” trong nhà nước tư bản theo cơ chế tam quyền phân lập, thực chất chỉ là sự phân chia các thế lực tư bản; quần chúng nhân dân không phải là chủ thể của bất kỳ quyền lực nào trong đó.
Pháp luật với tư cách là công cụ quản lý nhà nước trong nhà nước tư bản không gì khác hơn là “ý chí của giai cấp tư sản được đưa lên thành luật” (C.Mác). Do vậy, quản lý theo pháp luật thực sự là quản lý lợi ích của giai cấp tư sản chứ không phải vì lợi ích chung của xã hội.
Ở trong lòng CNTB hiện đại, đời sống của người lao động tuy có được cải thiện, nhưng đó là sự cải thiện do tiến bộ chung của xã hội, trong khi đó, số người lao động bị thất nghiệp, số người nghèo khổ ngày càng tăng lên không ngừng. Nhiều nước tư bản giàu có, nhưng thực chất, không phải là “dân giàu” mà chỉ là một nhóm người giàu nắm giữ phần lớn của cải xã hội, đây cũng chính là bản chất và cũng là điểm yếu cốt tử của nó. Trong lòng xã hội TBCN, kể cả ở những nước tư bản phát triển nhất đều đang tồn tại “hai thế giới”: một thế giới giàu có, phát triển và một thế giới nghèo nàn, lạc hậu với tình trạng phân hóa ghê gớm, của cải tập trung trong tay một số người giàu, còn tuyệt đại bộ phận dân cư sống trong nghèo đói, thiếu thốn.
Liệu một xã hội như vậy có đáng được tung hô, đáng để trở thành sự lựa chọn của chúng ta? Câu trả lời đã quá rõ ràng: Ở Việt Nam, không có đất cho CNTB thống trị như một chế độ xã hội.
Bản chất của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam luôn được khẳng định: tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; nhân dân thông qua lập hiến mà trao quyền lực của mình cho Quốc hội, cho Chính phủ và các cơ quan tư pháp. Ở Việt Nam, ngay từ những năm đầu thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn đặc biệt chú ý đến vấn đề mấu chốt nhất, then chốt nhất trong quan điểm của Đảng, đó là: Dân là chủ, Chính phủ là đầy tớ của dân. Người khẳng định, “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(10).
Do đó, thực sự vì tiến bộ xã hội, vì con người, vì tuyệt đại đa số quần chúng nhân dân, thì lẽ tất nhiên, chỉ có CNXH là lựa chọn duy nhất. Thực tiễn tự nó đã cho chúng ta câu trả lời chắc chắn, độc lập dân tộc và CNXH dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là con đường cách mạng nhất quán và duy nhất đúng của Việt Nam, dứt khoát không thay đổi và không ai có thể thay đổi.