Các thế lực phản động, thù địch luôn tìm mọi thủ đoạn nhằm bẻ lái con tàu của chúng ta đi theo con đường CNTB. Tất nhiên, chúng ta không phủ nhận rằng dưới chế độ TBCN, đã có nhiều thành tựu về khoa học - kỹ thuật được tạo ra và đóng góp cho nhân loại. Tuy nhiên, cần nhìn thẳng vào sự thật, chế độ đó vẫn là chế độ nhằm bảo đảm sự thống trị, bóc lột của giai cấp tư sản đối với tuyệt đại đa số người dân lao động trong xã hội với đầy rẫy những bất công, tích lũy ngày càng nhiều mâu thuẫn xã hội, những trạng thái “phản phát triển” đó chính là căn cứ chứng minh cho triển vọng khách quan và tất yếu của CNXH.
Về vận mệnh, tiền đồ của CNTB, tuy vẫn tồn tại nhiều nhận định khác nhau, nhưng khoảng cách có xu hướng ngày càng được thu hẹp. Kết luận về “sự cáo chung của lịch sử”, “lịch sử tư tưởng của loài người dừng lại ở CNTB” đã bị thực tế chứng minh ngược lại, rằng đó là nhận định hấp tấp, vội vàng.
Sau sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu, CNTB đắc thắng không ngừng rêu rao về “sự cáo chung của lịch sử”, về “một trật tự thế giới mới”. Nhưng khi không còn CNXH ở Liên Xô và Đông Âu với tư cách là đối trọng lớn nhất mà họ vẫn coi là nguy cơ đe dọa vận mệnh của CNTB thì bao nhiêu mâu thuẫn nội tại trong lòng chế độ này lại dồn nén và bùng phát từ bên trong.
Xã hội tư bản ngày nay mặc dù đang có sự ổn định tương đối bởi giai cấp tư sản còn khả năng áp dụng các biện pháp làm dịu tạm thời các mâu thuẫn, nhưng không thể xóa bỏ được đối kháng và đấu tranh giai cấp, không xóa bỏ được căn nguyên những mâu thuẫn đó.
Cần lưu ý rằng, trong bối cảnh hiện tại, nhiều người có thể choáng ngợp bởi sự vượt trội về điều kiện vật chất, trình độ phát triển của nền kinh tế, tiềm năng khoa học - công nghệ và một số lĩnh vực khác của các nước tư bản phát triển so với các nước theo con đường đi lên CNXH. Tuy nhiên, cần phải nhìn cho thấu, những thành tựu của các nước tư bản do đâu mà có. Trong lịch sử nhiều trăm năm tồn tại và phát triển của mình, bánh xe vận hành của CNTB đã chà đạp lên các tầng lớp nhân dân lao động cần lao, thống khổ trên khắp các lục địa. Chẳng cần tìm đâu xa, chúng ta sẽ thấy ngay những tội ác mà chế độ tư bản đã gây ra khi nhìn lại các trang lịch sử của Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha...
Thế nhưng, phải chăng CNTB đã thật sự “hết đất sống”? Nói “không còn” e rằng bất chấp thực tế. Nhưng phải ý thức rõ rằng phần còn đang tồn tại của CNTB chứa đầy những mâu thuẫn nan giải.
Về quyền lực và quyền lợi trong chế độ TBCN, vấn đề này đã được thể hiện hết sức rõ ràng trong thực tế. Trong chế độ TBCN quyền lực thuộc về ai? Quần chúng nhân dân có được làm chủ hay không? Ai là người hưởng lợi? Xin thưa, quyền lực ở đây được “nhân dân ủy quyền” qua cái gọi là “khế ước xã hội” đã bị giai cấp tư sản lợi dụng để thống trị lại nhân dân vì lợi ích của bản thân giai cấp đó.
Họ luôn tán dương chế độ “bầu cử tự do”, nhưng thực chất nó đã bị biến thành “tự do” của nhân dân trong lựa chọn những người thống trị mình, chứ không phải lựa chọn những người đại diện cho lợi ích của mình theo đúng nghĩa.
Sự “phân chia quyền lực” trong nhà nước tư bản theo cơ chế tam quyền phân lập, thực chất chỉ là sự phân chia các thế lực tư bản; quần chúng nhân dân không phải là chủ thể của bất kỳ quyền lực nào trong đó.
Pháp luật với tư cách là công cụ quản lý nhà nước trong nhà nước tư bản không gì khác hơn là “ý chí của giai cấp tư sản được đưa lên thành luật” (C.Mác). Do vậy, quản lý theo pháp luật thực sự là quản lý lợi ích của giai cấp tư sản chứ không phải vì lợi ích chung của xã hội.
Ở trong lòng CNTB hiện đại, đời sống của người lao động tuy có được cải thiện, nhưng đó là sự cải thiện do tiến bộ chung của xã hội, trong khi đó, số người lao động bị thất nghiệp, số người nghèo khổ ngày càng tăng lên không ngừng. Nhiều nước tư bản giàu có, nhưng thực chất, không phải là “dân giàu” mà chỉ là một nhóm người giàu nắm giữ phần lớn của cải xã hội, đây cũng chính là bản chất và cũng là điểm yếu cốt tử của nó. Trong lòng xã hội TBCN, kể cả ở những nước tư bản phát triển nhất đều đang tồn tại “hai thế giới”: một thế giới giàu có, phát triển và một thế giới nghèo nàn, lạc hậu với tình trạng phân hóa ghê gớm, của cải tập trung trong tay một số người giàu, còn tuyệt đại bộ phận dân cư sống trong nghèo đói, thiếu thốn.
Liệu một xã hội như vậy có đáng được tung hô, đáng để trở thành sự lựa chọn của chúng ta? Câu trả lời đã quá rõ ràng: Ở Việt Nam, không có đất cho CNTB thống trị như một chế độ xã hội.
Bản chất của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam luôn được khẳng định: tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; nhân dân thông qua lập hiến mà trao quyền lực của mình cho Quốc hội, cho Chính phủ và các cơ quan tư pháp. Ở Việt Nam, ngay từ những năm đầu thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn đặc biệt chú ý đến vấn đề mấu chốt nhất, then chốt nhất trong quan điểm của Đảng, đó là: Dân là chủ, Chính phủ là đầy tớ của dân. Người khẳng định, “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(10).
Do đó, thực sự vì tiến bộ xã hội, vì con người, vì tuyệt đại đa số quần chúng nhân dân, thì lẽ tất nhiên, chỉ có CNXH là lựa chọn duy nhất. Thực tiễn tự nó đã cho chúng ta câu trả lời chắc chắn, độc lập dân tộc và CNXH dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là con đường cách mạng nhất quán và duy nhất đúng của Việt Nam, dứt khoát không thay đổi và không ai có thể thay đổi.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét