Thứ Sáu, 9 tháng 6, 2023

Một số giải pháp tăng cường hiệu quả hoạt động tư tưởng, lý luận trên không gian mạng

 


Không gian mạng có đặc điểm là dung lượng thông tin lớn, tốc độ truyền tải nhanh, vừa có độ bao phủ rộng khắp, vừa tương tác thông tin mạnh, tức thời. Trong thời đại internet thì mỗi một người chính là một IP; trong thời đại internet vạn vật thì mỗi một vật phẩm là một IP; trong thời đại trí tuệ nhân tạo thì mỗi một người máy cũng là một IP. Sự phát triển của công nghệ mới đang phá bỏ liên tục những ranh giới, những biên giới của không gian mạng. Cùng với việc mở rộng không gian mạng và tính liên kết ngày càng cao thì các vấn đề của xã hội, của con người lại càng nhiều và càng phức tạp. Không gian mạng đang chiếm lĩnh không gian và thời gian thực của con người ngày càng nhiều, ảnh hưởng ngày càng lớn với tốc độ ngày càng nhanh, chính vì vậy nó ảnh hưởng sâu rộng và phức tạp đến lĩnh vực tư tưởng, lý luận ở Việt Nam hiện nay.

          Một là, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, gắn lý luận với thực tiễn trên không gian mạng.

Không ngừng nghiên cứu lý luận, vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn cụ thể, đồng thời thường xuyên tổng kết thực tiễn, đúc rút và khái quát lý luận là yêu cầu đầu tiên, là nhiệm vụ căn bản. Trận địa tư tưởng cần vũ khí quan trọng nhất là vũ khí lý luận, song lý luận phải thật sự khoa học chứ không phải lý thuyết suông, lý luận phải xuất phát từ thực tiễn và mang hơi thở của cuộc sống, phải bao quát được những vấn đề nền tảng, có tính quy luật và đưa ra hướng giải quyết những vấn đề then chốt. Bất kể sự phát triển của không gian mạng và các phương tiện truyền thông như thế nào, thì suy nghĩ và quan điểm vẫn là thành tố quan trọng nhất của nội dung tư tưởng. Nếu không có nội dung, không có chiều sâu thì lý luận dù hay đến đâu cũng chỉ là hô khẩu hiệu, trống rỗng, không có bất kỳ ảnh hưởng tích cực nào. Chúng ta phải sử dụng lý luận làm nền tảng vững chắc cho định hướng chính trị và dẫn dắt dư luận. Trong trận địa tư tưởng trên không gian mạng, việc chúng ta có đứng vững và chiến thắng hay không liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ. Trước tình hình trong nước và quốc tế có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những biến động khó lường như hiện nay, không gian mạng trở thành công cụ nền tảng mới để giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ và nhân dân; đồng thời, đó cũng là một không gian mới để đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu lý luận, là một phương thức mới để định hướng dư luận xã hội về mặt tư tưởng. Đây thực sự là một mặt trận quan trọng và không thể buông lỏng. Do đó, cần giữ vững và không ngừng tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác nghiên cứu lý luận, giáo dục chính trị, tư tưởng trên mặt trận trực tuyến.

Hai là, lấy dân làm gốc kết hợp với xây dựng đội ngũ làm công tác lý luận trên địa hạt không gian mạng.

Dù trong tình huống nào đi nữa, nhất là trên không gian mạng, chúng ta càng cần phải tuân thủ nguyên tắc “lấy dân làm gốc”, nghĩa là chúng ta cần cần có sự ủng hộ của những người quản trị , người điều hành , người điều tiết, người gây ảnh hưởng ,… cũng như của toàn thể cư dân mạng. Chúng ta cần phải luôn tôn trọng địa vị cao nhất của nhân dân, tin tưởng và dựa vào quần chúng nhân dân trên không gian mạng. Vấn đề cốt lõi của công tác tư tưởng trực tuyến là cách đối xử với quần chúng trên không gian mạng. Chúng ta nói lên tiếng nói của người dân, bênh vực nhân dân, đứng về phía quyền lợi của nhân dân thì nhân dân sẽ tin yêu chúng ta, bảo vệ chúng ta.

Định hướng tư tưởng bằng công tác lý luận không thể tách rời việc xây dựng đội ngũ những người làm công tác lý luận. Định hướng tư tưởng, lãnh đạo dư luận bằng chuyên gia và học giả là xu thế tất yếu. Mối quan hệ biện chứng giữa “xây” và “chống” chính là thể hiện ở đây. Những người làm công tác tư tưởng, lý luận trên không gian mạng đòi hỏi phải có tầm cao của tư tưởng, độ sắc nét của các nhận định, đánh giá và độ vững chắc của lý luận. Giống như Bác Hồ trước đây nói ai cũng hiểu, ai cũng thấm thía, những người làm công tác tư tưởng, lý luận cũng phải học theo phương pháp diễn ngôn đó. Nói một cách hình ảnh, lý luận không chỉ như một món ăn cầu kỳ dành cho khách sành ăn trong nhà hàng sang trọng, mà cần thiết hơn, nó còn phải là món ăn đường phố cho người lao động, món ăn hàng ngày trong mỗi gia đình. Những vấn đề lý luận mà quần chúng quan tâm cần được giải thích rõ ràng, cặn kẽ bằng ngôn ngữ của quần chúng; người làm lý luận phải nắm vững cách nói của quần chúng, sử dụng ngôn ngữ sinh động, gần gũi với nhiều hình thức đa dạng để dễ được quần chúng chấp nhận, để lý luận thực sự bén rễ và đi vào suy nghĩ,cũng như trở thành hành động cụ thể, thiết thực của người dân.

Ba là,truyền thông tư tưởng trên không gian mạng cần hay hơn, hấp dẫn hơn.

Thời đại thông tin ngày nay tạo ra những thay đổi lớn trong cấu trúc dư luận, thay đổi cách thức và phương tiện truyền thông, thậm chí còn tái tạo lại “hệ sinh thái” mới của nội dung. Trên không gian mạng, mọi người không muốn xem, nghe các bài viết một chiều.Trên không gian mạng, quyền lực của các tổ chức không tác động được đến cơ chế tiếp cận thông tin. Đồng thời, quan niệm truyền thông truyền thống lấy tin tức làm trung tâm đã dần thay đổi, chức năng giáo dục, chức năng tư tưởng của truyền thông ngày càng giảm đi, đồng thời các chức năng giao tiếp, chức năng giải trí ngày càng tăng lên. Nội dung thể hiện luận điểm của những người tham gia không gian mạng có xu hướng ngày càng ngắn lại, từ những cuộc tranh luận hàng trăm trang trên các diễn đàn trước kia, giờ đây được rút gọn, cá nhân hoá thành các bài dài trên trang cá nhân (blog), rồi rút ngắn hơn nữa ở các tút trên Facebook, rồi các thông điệp cực ngắn trên Twitter. Bản thân các video dài trên Youtube đã ngắn đi nhiều ở các nền tảng video khác, đặc biệt là ở TikTok với độ dài chỉ khoảng 15 giây. Với không gian mạng như vậy thì các bài nghiên cứu lý luận, các bài viết mang tính tư tưởng như hiện nay dường như dài và khô khan với cư dân mạng. Chính vì vậy, truyền thông tư tưởng trên không gian mạng muốn đạt hiệu quả thì thông tin cần phải thực sự hấp dẫn, thu hút và lấy được sự yêu thích của không chỉ đảng viên, mà cả của người dân, đặc biệt là giới trẻ./.

Giải pháp Phòng, chống âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch phản động

 


             Là một trong những nước XHCN còn lại đang tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới, cho nên, Việt Nam là một trong những trọng điểm chống phá của các thế lực thù địch. Chúng đang ra sức đẩy mạnh chiến lược DBHB và không loại trừ khả năng tiến hành CMM để chống phá cách mạng nước ta. Một trong những thách thức đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đã được Đảng ta chỉ ra là: “Hoạt động “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch sẽ gia tăng. Các thế lực phản động tiếp tục sử dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào nội bộ ta”. Đây là nguy cơ lớn đối với sự ổn định và phát triển của đất nước.

Để phòng, chống DBHB và CMM của các thế lực thù địch, các cấp, các ngành, LLVT và toàn dân phải tỉnh táo trước những âm mưu thủ đoạn DBHB và CMM của các thế lực thù địch, phản động. Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn các hoạt động chống Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch, phản động; đảm bảo an ninh chính trị nội bộ; phòng ngừa, ngăn chặn không để xảy ra CMM trong mọi tình huống. Nâng cao ý thức cảnh giác của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trước âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, từ đó tham gia vào công tác phòng, ngừa, ngăn chặn làm thất bại ý đồ thực hiện CMM. 

Từng bước hạn chế, tiến tới loại bỏ các nguyên nhân, điều kiện có thể dẫn đến CMM ở nước ta. Trong đó tập trung giải quyết dứt điểm các “điểm nóng” về an sinh xã hội như khiếu kiện, đình công, chủ động triển khai các biện pháp bảo đảm an ninh trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội, kinh tế, tài chính, thông tin truyền thông, an ninh mạng, đẩy lùi tình trạng tham nhũng, lợi ích nhóm, không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để tập hợp lực lượng, hình thành, công khai hóa tổ chức chính trị đối lập ở trong nước, tiến hành các hoạt động biểu tình, bạo loạn trên quy mô lớn nhằm thực hiện CMM ở Việt Nam.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, củng cố bảo vệ vững chắc an ninh chính trị nội bộ; đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bất mãn, vi phạm pháp luật, nhất là trong hàng ngũ cán bộ các cấp. Kiên quyết loại trừ các điều kiện hình thành tổ chức chính trị đối lập, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. 

Củng cố lòng tin của các tầng lớp nhân dân đối với Đảng và chế độ XHCN. Tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, mở rộng hợp tác quốc tế tạo nền tảng, sức mạnh chính trị, phục vụ phát triển kinh tế, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, đảm bảo giải quyết triệt để mầm mống, nguy cơ CMM ở Việt Nam.

Phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc được định hướng và quy tụ bởi chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, do Đảng Cộng sản lãnh đạo và Nhà nước XHCN quản lý, điều hành; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để phòng, chống DBHB và CMM. Đây là một nguyên tắc chiến lược, quán triệt quan điểm tổng hợp trong lãnh đạo và tổ chức đấu tranh phòng, chống DBHB và CMM. Sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc được định hướng và quy tụ bởi chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là một đặc trưng bản chất và là một ưu thế vượt trội để giành chiến thắng trong suốt quá trình dựng nước, giữ nước của dân tộc ta. Nhờ đó, chúng ta có thể tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ to lớn của các lực lượng yêu chuộng hoà bình và tiến bộ trên thế giới, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để vượt qua mọi khó khăn, thách thức và giành chiến thắng./.

Đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng

 


          Trước tình hình trong nước, thế giới và khu vực, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng Internet, các trang mạng xã hội để đăng tải thông tin xấu độc, bịa đặt, sai sự thật, bóp méo, xuyên tạc, làm lẫn lộn đúng - sai, thật - giả; hoặc có một phần sự thật nhưng được đưa tin với dụng ý xấu, phân tích và định hướng dư luận bằng luận điệu sai trái, thù địch; bôi nhọ, vu khống lãnh tụ, kích động bạo lực, lừa đảo trên mạng, đánh cắp thông tin.

Song do nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về âm mưu, hoạt động “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa cũng như tác hại của quan điểm sai trái, thù địch đối với xã hội còn hạn chế; sự phối hợp giữa các cơ quan ban, ngành trong tuyên truyền và đấu tranh, phản bác còn mang tính hình thức, thụ động, chưa đa dạng, phong phú về nội dung, có nơi, có lúc còn thiếu sắc bén, tính thuyết phục chưa cao; việc thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại một số địa phương còn sơ hở, thiếu sót; việc giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện ở một số nơi còn chậm, kéo dài, vượt cấp, gây bức xúc trong nhân dân… là những yếu tố để kẻ địch triệt để lợi dụng tuyên truyền các luận điệu sai trái, thù địch với nước ta.

Thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng 2 trang mạng xã hội là Facebook và Youtube để đăng, chia sẻ những thông tin sai trái, cơ hội chính trị lên không gian mạng Internet. Thủ đoạn thường được chúng sử dụng đó là dùng những tin, bài, những hình ảnh trên các báo chí chính thống của ta ở trong nước, sau đó viết lại, chỉnh sửa thành những nội dung bịa đặt hoặc định hướng sai lệch để đăng tải. Điều này thu hút sự quan tâm của người xem, người đọc trước những thông tin có nội dung giống với các thông tin chính thống, tạo cảm giác nửa tin, nửa ngờ và nếu không tìm hiểu, nghiên cứu kỹ sẽ bị tác động xấu bởi những thông tin xuyên tạc này. Ngoài ra, các đối tượng sử dụng trang Blog để nói xấu, chống phá Đảng, Nhà nước, khi nó kết hợp với mạng xã hội, các bài viết trên Blog được chia sẻ lên mạng xã hội tạo sức lan tỏa lớn.

Để  đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội hiện nay cần phải đổi mới, nâng cao chất lượng nội dung thông tin chính thống, đảm bảo phong phú, đa dạng, nhiều cấp độ, tùy theo đối tượng để cung cấp, phổ biến, truyền tải. Đồng thời luôn xây dựng bản lĩnh vững vàng, có nhận thức đúng đắn, có sự suy xét khi tiếp cận những thông tin nhạy cảm, ở những thời điểm diễn ra các sự kiện mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để xuyên tạc, chống phá. Loại bỏ những thông tin xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch ra khỏi không gian mạng bằng cách tạo môi trường trong sạch về thông tin. Đặc biệt, các cơ quan báo chí, truyền thông, các tổ chức đoàn thể và toàn thể nhân dân cần phối hợp chặt chẽ, tạo nên sức mạnh tổng hợp chỉ rõ các quan điểm sai trái, vạch trần các âm mưu phản động thù địch, từng bước cô lập chúng trên mạng xã hội. Chủ động chia sẻ, lan tỏa những tin, bài, ảnh có nội dung tích cực, gương người tốt việc tốt trong học tập, công tác, lao động sản xuất, trong cuộc sống, sinh hoạt thường ngày... “lấy cái đẹp để dẹp cái xấu”. Nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không tin theo, không truy cập và tán phát, chia sẻ những thông tin xấu độc, cũng là góp phần đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ngăn chặn hình thành điểm nóng trên không gian mạng

 


Những năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống internet và mạng xã hội, hầu hết người dân đã có điều kiện tiếp cận với không gian mạng tràn ngập thông tin và hình ảnh được cập nhật liên tục. Bên cạnh những mặt tích cực, không gian mạng hiện nay còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ về những thông tin giả mạo, trái chiều, thất thiệt từ những tên tội phạm, thế lực thù địch, những phần tử cơ hội… Ðáng chú ý, một bộ phận người dân do thiếu hiểu biết, cả tin cho nên vẫn còn nhầm lẫn, chưa phân biệt được đúng, sai khi tiếp nhận các thông tin xấu độc này. Ðánh giá mức độ nguy hiểm của tội phạm trên không gian mạng, Bộ Công an và công an các địa phương đã triển khai nhiều kế hoạch rà soát, phát hiện sớm để xử lý những điểm nóng trên không gian mạng, không để tình hình diễn biến phức tạp.

Tại địa bàn các tỉnh, thành phố trên cả nước thời gian gần đây, tình hình an ninh chính trị nội bộ, tư tưởng cán bộ và nhân dân cơ bản ổn định, chưa phát hiện các khuynh hướng chính trị cực đoan, công khai chống đối, song vẫn còn tiềm ẩn vấn đề phức tạp như: Công tác giải quyết tranh chấp đất đai, giải phóng mặt bằng, việc thực hiện chế độ chính sách tại một số nơi còn chưa kịp thời, chưa thỏa đáng dẫn đến đơn thư khiếu nại, tố cáo kéo dài; tình hình mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ còn diễn ra ở một số cơ quan, địa phương; cán bộ, đảng viên, công chức sai phạm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ… Thông qua không gian mạng, một số đối tượng xấu lợi dụng để phát tán tài liệu có nội dung xấu, hạ uy tín lãnh đạo và các cơ quan nhà nước; lợi dụng các vấn đề nóng đang được đông đảo nhân dân quan tâm để xuyên tạc, làm sai lệch bản chất hòng lôi kéo, dụ dỗ, hướng lái dư luận theo chiều hướng tiêu cực. Thời gian qua, các đơn vị nghiệp vụ của Công an trên cả nước đã rà soát trên không gian mạng, lập danh sách, thống kê các hội nhóm trên mạng xã hội thường xuyên đưa tin nhạy cảm về chính trị, phức tạp về an ninh trật tự; các trang mạng của các tổ chức xã hội dân sự đối lập; các diễn đàn, hội nhóm đông thành viên có liên quan đến tình hình an ninh chính trị, kịp thời phát hiện các cá nhân thường xuyên hoạt động đăng tải, chia sẻ, bình luận các bài viết có nội dung xấu trên không gian mạng, từ đó kịp thời triển khai công tác xác minh, ngăn chặn các hoạt động phức tạp; những trường hợp có biểu hiện bất mãn, tiêu cực, thường xuyên tham gia bình luận, chia sẻ các bài viết có nội dung trái chiều, tham gia các nhóm, diễn đàn mạng xã hội phức tạp, phản động…

Cùng với công tác đấu tranh, xử lý, cần phối hợp với ngành giáo dục làm tốt công tác tuyên truyền cho nhóm thanh, thiếu niên, vì đây là nhóm tuổi tiếp cận với không gian mạng thường xuyên, liên tục. Ðồng thời, nêu ra một số biện pháp phòng ngừa để các em học sinh chủ động phòng tránh loại tội phạm này, cụ thể như: Giữ bí mật thông tin cá nhân, số điện thoại, địa chỉ nhà ở, thông tin tài khoản ngân hàng, tài khoản các dịch vụ trên in-tơ-nét, không chia sẻ, bình luận những thông tin về lịch sử, chính trị của đất nước không đúng sự thật, cần phải tỉnh táo trước các thông tin bịa đặt sai sự thật. Mọi thông tin liên quan tội phạm đề nghị kịp thời thông báo đến cơ quan công an nơi gần nhất để được xử lý../

Thứ Năm, 8 tháng 6, 2023

Khánh thành cây cầu thứ 6 thuộc dự án “Xây cầu đến lớp”

Ngày 19-3, Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam và Công ty Grab Việt Nam đã chính thức khánh thành và đưa vào sử dụng cầu liên hợp đập tràn qua suối Tiên Hiên, thôn Gia Giã, xã Hướng Hiệp, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị.

Đây là cây cầu thứ 6 thuộc dự án “Xây cầu đến lớp” do Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam (thuộc Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội) và Công ty Grab Việt Nam phối hợp triển khai với mục tiêu tạo điều kiện cho trẻ em vùng khó khăn có cơ hội đến lớp thuận tiện, an toàn hơn cũng như cải thiện môi trường sống, phát triển xã hội và kinh tế của địa phương, đồng thời góp phần thực hiện chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới tại địa phương. Dự án là một trong những hoạt động thiết thực nhằm thực hiện sứ mệnh Grab Vì Cộng Đồng của Grab tại Việt Nam.

Hướng Hiệp là xã miền núi phía Bắc của huyện Đakrông, thuộc diện xã đặc biệt khó khăn, cư dân sống trên địa bàn chủ yếu là dân tộc thiểu số Vân Kiều. Thôn Gia Giã là thôn có điều kiện tự nhiên và kinh tế khó khăn nhất của xã, thuộc vùng sâu cách trung tâm xã khoảng 10km. Hằng ngày, hơn 350 trẻ em trong thôn và người dân phải di chuyển qua suối Tiên Hiên rộng khoảng 50m. Mỗi khi vào mùa mưa, mực nước dâng cao và chảy xiết khiến học sinh và người dân đi qua con suối này rất nguy hiểm, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người dân và việc học tập của các em.

Công trình cầu liên hợp đập tràn qua suối Tiên Hiên có tổng kinh phí thực hiện 990 triệu đồng, trong đó 900 triệu đồng do Công ty Grab Việt Nam và người dùng Grab ủng hộ, cùng với 90 triệu đồng đối ứng từ địa phương. Sau khi hoàn thành, công trình sẽ giúp hơn 350 em học sinh, giáo viên và gần 1.400 người dân xã Hướng Hiệp đi lại an toàn, thuận lợi, góp phần giao thương hàng hóa để phát triển kinh tế địa phương.

Bà Nguyễn Thái Hải Vân, Giám đốc điều hành Grab Việt Nam, chia sẻ: “Dù gặp rất nhiều khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, chúng tôi rất vui mừng khi cây cầu thứ 6 trong dự án ‘Xây cầu đến lớp’ vẫn được hoàn thành đúng tiến độ. Đặc biệt khi mùa mưa lũ sắp đến, cây cầu này càng có thêm ý nghĩa khi sẽ giúp các em học sinh, thầy cô giáo đến trường an toàn, giảm thiểu tai nạn đuối nước vì các em sẽ không còn phải vượt suối đi học như trước. Chúng tôi sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ cùng Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam để xây dựng thêm nhiều cây cầu nữa, góp phần mang đến những thay đổi thật sự ý nghĩa và tích cực để nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Việt Nam”.

 

Huyện đoàn vận động kinh phí xây cầu giúp dân

 Từ đầu năm 2022 đến nay, Huyện đoàn Bạch Thông (Bắc Kạn) đã phối hợp kết nối, huy động nguồn lực và tham gia xây dựng được 27 cây cầu giao thông nông thôn, thiết thực tạo thuận lợi để người dân đi lại thuận tiện, đồng thời góp phần vào công cuộc xây dựng nông thôn mới của địa phương.

Anh Nguyễn Vũ Mão, Bí thư Huyện đoàn Bạch Thông cho biết: "Huyện Bạch Thông còn nhiều thôn, xã khó khăn. Địa hình tự nhiên của huyện có nhiều dòng suối, gây bất lợi cho việc đi lại của bà con. Ở nhiều nơi, người dân tự làm cầu tạm bằng tre, nứa hoặc đặt những viên đá to giữa dòng suối để đi qua. Việc này không bảo đảm an toàn, chưa kể mỗi khi có mưa to, nước dâng cao là cầu bị cuốn đi, giao thông tê liệt. Từ thực tế đó, Huyện đoàn đã chủ động kết nối, huy động các nguồn lực để xây dựng cầu giao thông nông thôn phục vụ người dân. Từ đầu năm 2022 đến nay, Huyện đoàn Bạch Thông đã phối hợp với Tỉnh đoàn Bắc Kạn kết nối với các đơn vị từ thiện, nhà hảo tâm để huy động nguồn lực xây dựng, đưa vào sử dụng 27 cây cầu với tổng kinh phí hơn 4 tỷ đồng".

Năm 2022, xã Lục Bình đã đưa vào sử dụng 5 cây cầu giao thông nông thôn ở các thôn: Lủng Chang, Pác Chang, Cao Lộc và Nam Lanh Chang. Các cây cầu có chiều dài 6-12,6m, rộng 2,5-3,3m, với tổng mức đầu tư hơn 700 triệu đồng, kinh phí được huy động từ các nhà tài trợ và một phần do người dân địa phương đóng góp. Từ đầu năm 2023 đến nay, trên địa bàn xã Lục Bình tiếp tục có 3 cây cầu được hoàn thành.

Bà Lý Thị Gấm ở thôn Nam Lanh Chang cho biết: “Trước đây không có cầu thì người dân chúng tôi tự xếp đá làm lối đi. Vì vậy, việc đi lại của chúng tôi hết sức vất vả. Mỗi khi mưa to, việc đi lại bị gián đoạn. Được cán bộ, đoàn viên giúp xây cầu mới, cả thôn gần 100 hộ dân ai cũng phấn khởi. Không chỉ kết nối, huy động tài trợ, các bạn đoàn viên, thanh niên còn trực tiếp đóng góp ngày công xây cầu. Có cầu kiên cố rồi, việc đi lại, chở thóc, ngô của bà con thuận lợi hơn rất nhiều...”.

Tại xã Vi Hương cũng có 2 cây cầu được xây dựng nhờ sự kết nối của Huyện đoàn Bạch Thông. Có cầu, không những việc đi lại của người dân trong xã trở nên thuận tiện mà còn phục vụ hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của gần 150 hộ dân ở các thôn: Đon Bây, Địa Cát. Đồng chí Mạc Thiêm Dương, Phó bí thư Thường trực Đảng ủy xã Vi Hương cho biết: “Nếu như trước đây bà con phải đi cầu tạm rất khó khăn thì nay đã đi được xe máy, ô tô nhỏ, việc buôn bán thuận lợi hơn rất nhiều, từ đó cuộc sống của các hộ dân có sự đổi thay tích cực. Cũng từ sự kết nối của Huyện đoàn, thanh niên trong xã còn có những hoạt động ý nghĩa, thiết thực, như: Hỗ trợ xây dựng cổng chào, xây dựng công trình thắp sáng đường quê...”.

27 cây cầu được xây dựng và đưa vào sử dụng trên địa bàn huyện là sự nỗ lực không nhỏ của cán bộ, đoàn viên, thanh niên huyện Bạch Thông, từ việc kết nối với các đơn vị tài trợ đến tổ chức khảo sát thực tế và xây dựng phương án xây cầu hiệu quả nhất... Theo anh Nguyễn Vũ Mão, để hoàn thành một cây cầu phải trải qua nhiều bước với không ít khó khăn. Huyện đoàn đã tổ chức tìm hiểu thực tế để nắm tình hình và nhu cầu đi lại của người dân; việc liên hệ với đơn vị tài trợ cũng cần thực hiện khẩn trương, hiệu quả.

Ngoài ra, cần linh hoạt, sáng tạo trong vận động người dân địa phương góp công lao động... Mỗi cây cầu được hoàn thành, đưa vào sử dụng là niềm vui của hàng chục, hàng trăm hộ dân; là sự thuận tiện trong lưu thông hàng hóa; là những bước chân hân hoan đến lớp của các em học sinh trên cây cầu mới... Đó chính là động lực để cán bộ, đoàn viên, thanh niên nỗ lực làm việc hết sức mình. Thời gian tới, Huyện đoàn Bạch Thông sẽ tiếp tục vận động, kết nối với các nhà tài trợ, các tấm lòng hảo tâm để có thêm nhiều công trình “nối những bờ vui” như thế...

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trình Chính phủ phương án tăng lương hưu, trợ cấp

 


Ngày 23-5, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho biết, Bộ đã trình Chính phủ phương án tăng lương hưu, trợ cấp với đề xuất tăng thêm 20,8% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng; điều chỉnh mức hưởng của một số đối tượng.

So với dự thảo lấy ý kiến trước đó, trong dự thảo trình Chính phủ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã bổ sung thêm nhóm được điều chỉnh tăng lương hưu, trợ cấp, khi thêm nhóm: Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng.

Dự thảo nghị định do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xây dựng đề xuất, từ ngày 1-7-2023, tăng lương thêm 12,5% với người đang nhận lương hưu, trợ cấp Bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng. Tăng thêm 20,8% với người nhận lương hưu, trợ cấp hằng tháng chưa được tăng lương từ ngày 1-1-2022 (nghỉ hưu sau ngày điều chỉnh tăng lương hưu lần gần nhất). 

Sau khi tăng lương hưu theo các mức chung kể trên, người nhận lương hưu, trợ cấp Bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng trước ngày 1-1-1995 có mức lương dưới 3 triệu đồng/tháng sẽ được điều chỉnh tăng thêm. Cụ thể: Với người có lương hưu sau tăng dưới 2,7 triệu đồng/tháng được tăng thêm 300 nghìn đồng/tháng; người có lương từ 2,7 triệu đồng đến dưới 3 triệu đồng/tháng được tăng bù số còn thiếu để được 3 triệu đồng/tháng.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội lý giải việc đề xuất điều chỉnh tăng lương hưu: Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 69/2022/QH15 thì đối tượng đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng do ngân sách Nhà nước đảm bảo được thực hiện điều chỉnh tăng 12,5% và hỗ trợ thêm đối với người nghỉ hưu trước năm 1995 có mức hưởng thấp.

Theo quy định tại Điều 57 Luật Bảo hiểm xã hội, lương hưu được điều chỉnh trên cơ sở mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế, phù hợp với khả năng của ngân sách và quỹ bảo hiểm xã hội. Kể từ ngày 1-7-2023, thực hiện việc điều chỉnh mức lương cơ sở tăng từ 1.490.000 đồng/tháng lên thành 1.800.000 đồng/tháng (mức tăng 20,8%). Điều này tác động làm tăng mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng của một số người nghỉ hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng từ ngày 1-7-2023 trở đi. Do việc xác định mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng đối với một số chế độ bảo hiểm của Luật Bảo hiểm xã hội được xác định theo mức lương cơ sở.

Cùng với đó, do trong năm 2022, chỉ thực hiện điều chỉnh lương hưu mà không thực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở cho nên những người lao động có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định khi nghỉ hưu, hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng từ ngày 1-1-2022 cho đến trước ngày 1-7-2023 sẽ thấp hơn 7,4% so với những người nghỉ hưu trước ngày 1-1-2022 và những người nghỉ hưu từ ngày 1-7-2023 trở đi.

Nguyên nhân là do trong thời gian từ ngày 1-1-2022 đến trước ngày 1-7-2023, người lao động không được điều chỉnh tiền lương đã đóng bảo hiểm xã hội để làm căn cứ tính hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội. Vì trong thời gian này mức lương cơ sở chưa được điều chỉnh nhưng cũng không được điều chỉnh mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng theo Nghị định số 108/2021/NĐ-CP.

 

Người từ 75 tuổi không có lương sẽ được hưởng trợ cấp hưu trí?

 Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đề xuất hạ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội từ 80 xuống 75 với người không có lương hưu lẫn trợ cấp bảo hiểm xã hội.

Tại dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi mới nhất gửi Bộ Tư pháp thẩm định, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đề xuất ngoài hạ tuổi, người cao tuổi đủ điều kiện nhận trợ cấp 500.000 đồng mỗi tháng từ ngân sách nhà nước thay vì 360.000 đồng như hiện hành và được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí. Tùy điều kiện kinh tế-xã hội và ngân sách từng thời kỳ, Chính phủ báo cáo Quốc hội quyết định điều chỉnh giảm dần độ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.

Nếu đề xuất được thông qua, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội ước tính thêm 700.000 người cao tuổi vào lưới an sinh. Kinh phí phát sinh mỗi năm khoảng 7.100 tỷ đồng.

Cơ quan soạn thảo cho rằng, giảm tuổi hưởng trợ cấp hưu trí giúp người già có thêm tiền cải thiện cuộc sống. Chính sách cũng giảm áp lực cho các địa phương có ngân sách hạn hẹp do tiền chi trợ cấp cho người trên 80 tuổi hiện do các tỉnh thành đảm nhiệm. Song nâng mức tiền trợ cấp dễ gây so sánh với nhóm đang hưởng chính sách bảo trợ xã hội, tạo áp lực phải tăng mức trợ giúp.

Trợ cấp hưu trí xã hội là khoản tiền ngân sách nhà nước cấp cho người già trên 80 tuổi không có lương hưu cũng như trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng. Độ bao phủ an sinh cho người già sau tuổi nghỉ hưu của cả nước mới đạt 35%, trong đó 2,7 triệu người hưởng lương hưu, 630.000 người hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng và hơn 1,8 triệu người hưởng trợ cấp hưu trí xã hội. Nghị quyết số 28 của Trung ương đặt mục tiêu bao phủ 55% vào năm 2025 và khoảng 60% vào năm 2030.

Tổ chức Lao động quốc tế dự báo nếu không có sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước thì năm 2030 Việt Nam sẽ có hơn 16 triệu người cao tuổi không có lương hưu do tốc độ già hóa xảy ra nhanh hơn cả tốc độ phát triển kinh tế. Còn khảo sát của Chương trình Quỹ dân số Liên hợp quốc cho kết quả nguồn thu nhập của người già Việt Nam phần lớn đến từ sự hỗ trợ của con cái, tới 38%; 29% từ tiếp tục làm việc, chỉ 15% hưởng hưu trí và 10% nhận trợ cấp xã hội.

 

Thúc đẩy hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam với Brazil, Pháp, EC và Canada

 Nhân dịp dự Hội nghị Bộ trưởng Hội đồng OECD tại Thủ đô Paris, Cộng hòa Pháp, ngày 8-6, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn đã có cuộc gặp với Bộ trưởng Ngoại giao Brazil Mauro Viera, Cố vấn đối ngoại của Tổng thống Pháp Emmanuel Bonne; Phó chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC) Valdis Dombrovskis; Bộ trưởng Thương mại quốc tế Canada Mary Ng.

* Tại cuộc gặp Bộ trưởng Ngoại giao Brazil, Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn khẳng định coi trọng và mong muốn tăng cường quan hệ Đối tác toàn diện với Brazil, một trong những đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam tại khu vực Mỹ Latin; đề nghị hai bên tiếp tục duy trì trao đổi đoàn cấp cao; đề nghị Brazil ủng hộ, thúc đẩy sớm khởi động đàm phán hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Khối Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR); tiếp tục phối hợp và ủng hộ lẫn nhau tại các tổ chức quốc tế và diễn đàn đa phương, nhất là tại Liên hợp quốc, WTO và các diễn đàn đa phương khác mà hai bên là thành viên tích cực. Việt Nam sẵn sàng làm cầu nối để tăng cường quan hệ giữa ASEAN và Brazil với vai trò Đối tác theo lĩnh vực cũng như giữa ASEAN và Khối MERCOSUR.

Bộ trưởng Mauro Vieira chúc mừng thành tựu của Việt Nam trong phục hồi phát triển kinh tế-xã hội. Về phương hướng hợp tác thời gian tới, Bộ trưởng Mauro Vieira nhất trí với các đề xuất của Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn, nhất là việc thúc đẩy hợp tác hiệu quả, thực chất trên các lĩnh vực.

Về vấn đề Biển Đông, hai bên nhấn mạnh việc bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông đóng vai trò quan trọng cho hòa bình, phát triển thịnh vượng của khu vực và thế giới; nhất trí mọi tranh chấp cần được giải quyết hòa bình thông qua đối thoại, trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS 1982.

* Tiếp Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn tại phòng làm việc, Cố vấn đối ngoại của Tổng thống Pháp, ông Emmanuel Bonne bày tỏ quyết tâm thúc đẩy mạnh mẽ khuôn khổ quan hệ Đối tác chiến lược Pháp-Việt Nam; tăng cường trao đổi đoàn cấp cao giữa hai nước trong thời gian tới; cho rằng, hợp tác thương mại, đầu tư giữa hai nước còn nhiều không gian để phát triển hơn nữa; nhất trí hai bên cần triển khai đầy đủ, hiệu quả Hiệp định tự do thương mại châu Âu-Việt Nam (EVFTA); Pháp sẽ xem xét sớm phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư (EVIPA). Hai bên nhất trí ủng hộ mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực tiềm năng như ứng phó biến đổi khí hậu, sản xuất năng lượng tái tạo; cùng ứng phó hiệu quả với các vấn đề khu vực và toàn cầu…

Thúc đẩy hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam với Brazil, Pháp, EC và Canada

 Nhân dịp dự Hội nghị Bộ trưởng Hội đồng OECD tại Thủ đô Paris, Cộng hòa Pháp, ngày 8-6, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn đã có cuộc gặp với Bộ trưởng Ngoại giao Brazil Mauro Viera, Cố vấn đối ngoại của Tổng thống Pháp Emmanuel Bonne; Phó chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC) Valdis Dombrovskis; Bộ trưởng Thương mại quốc tế Canada Mary Ng.

* Tại cuộc gặp Bộ trưởng Ngoại giao Brazil, Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn khẳng định coi trọng và mong muốn tăng cường quan hệ Đối tác toàn diện với Brazil, một trong những đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam tại khu vực Mỹ Latin; đề nghị hai bên tiếp tục duy trì trao đổi đoàn cấp cao; đề nghị Brazil ủng hộ, thúc đẩy sớm khởi động đàm phán hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Khối Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR); tiếp tục phối hợp và ủng hộ lẫn nhau tại các tổ chức quốc tế và diễn đàn đa phương, nhất là tại Liên hợp quốc, WTO và các diễn đàn đa phương khác mà hai bên là thành viên tích cực. Việt Nam sẵn sàng làm cầu nối để tăng cường quan hệ giữa ASEAN và Brazil với vai trò Đối tác theo lĩnh vực cũng như giữa ASEAN và Khối MERCOSUR.

Bộ trưởng Mauro Vieira chúc mừng thành tựu của Việt Nam trong phục hồi phát triển kinh tế-xã hội. Về phương hướng hợp tác thời gian tới, Bộ trưởng Mauro Vieira nhất trí với các đề xuất của Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn, nhất là việc thúc đẩy hợp tác hiệu quả, thực chất trên các lĩnh vực.

Về vấn đề Biển Đông, hai bên nhấn mạnh việc bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông đóng vai trò quan trọng cho hòa bình, phát triển thịnh vượng của khu vực và thế giới; nhất trí mọi tranh chấp cần được giải quyết hòa bình thông qua đối thoại, trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS 1982.

* Tiếp Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn tại phòng làm việc, Cố vấn đối ngoại của Tổng thống Pháp, ông Emmanuel Bonne bày tỏ quyết tâm thúc đẩy mạnh mẽ khuôn khổ quan hệ Đối tác chiến lược Pháp-Việt Nam; tăng cường trao đổi đoàn cấp cao giữa hai nước trong thời gian tới; cho rằng, hợp tác thương mại, đầu tư giữa hai nước còn nhiều không gian để phát triển hơn nữa; nhất trí hai bên cần triển khai đầy đủ, hiệu quả Hiệp định tự do thương mại châu Âu-Việt Nam (EVFTA); Pháp sẽ xem xét sớm phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư (EVIPA). Hai bên nhất trí ủng hộ mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực tiềm năng như ứng phó biến đổi khí hậu, sản xuất năng lượng tái tạo; cùng ứng phó hiệu quả với các vấn đề khu vực và toàn cầu…

 

Ý NGHĨA CỦA TỰ SOI TỰ SỬA


Ý NGHĨA “TỰ MÌNH”

Năm 1927, trong sách Đường cách mệnh, khi bàn về tư cách một người cách mệnh, Hồ Chí Minh đề cập 3 mối quan hệ: Tự mình phải, đối người phải, làm việc phải. Đáng lưu ý là trong tất cả các mối quan hệ trên dù bất cứ ở thời kỳ nào, Hồ Chí Minh đều đặt “đối với tự mình” lên trên hết. Vì sao như vậy?

Về lý luận và thực tiễn, “đối với tự mình” là nói đến yếu tố chủ quan, yếu tố bên trong, còn “đối với người” là nói đến yếu tố khách quan, yếu tố bên ngoài. Triết học mácxít chỉ rõ rằng yếu tố chủ quan, yếu tố bên trong bao giờ cũng là yếu tố đóng vai trò quyết định.

ĐẢNG CHÂN CHÍNH CÁCH MẠNG PHẢI TỰ SOI, TỰ SỬA

Trong đổi mới, nhận thức rõ ý nghĩa to lớn, sâu xa của tự soi, tự sửa, Đảng ta khẳng định: “Sức mạnh của Đảng, của mỗi đảng bộ và đảng viên không chỉ ở ưu điểm mà còn ở chỗ nhận rõ và sửa chữa bằng được những vấn đề tồn tại, những sai lầm, khuyết điểm và tự vượt lên chính bản thân mình”

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TỰ SOI, TỰ SỬA

Vì sao cán bộ, đảng viên phải tự soi, tự sửa, tự rèn, tự tu dưỡng, tự điều chỉnh, tu thân, tự vượt lên chính mình?

Vì đảng viên, cán bộ trong sạch, vững mạnh thì Đảng trong sạch, vững mạnh. Mặt khác, cán bộ, đảng viên trong điều kiện Đảng cầm quyền thường có nhiều hoặc ít quyền hành, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà không giữ được đạo đức cách mạng thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân. Nguy hiểm nhất là đảng viên hư hỏng sẽ đưa quần chúng đến hư hỏng. Vì vậy, cán bộ, đảng viên phải tự soi, tự sửa, tự thực hành cần kiệm liêm chính để làm kiểu mẫu cho dân.

Vừa qua, Đảng ta ra nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định phục vụ cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng. Ví như Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021, Kết luận Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 về những điều đảng viên không được làm. Đảng có những kết luận, nghị quyết, quy định như thế là rất cần thiết để giúp đảng viên trong tu dưỡng rèn luyện.

Đảng viên, cán bộ phải tự giác, thường xuyên, hằng ngày, suốt đời tự soi, tự sửa như chuyện rửa mặt hằng ngày để giữ vững đạo đức cách mạng, cao nhất là chí công vô tư.

Tự soi, tự sửa là để mỗi ngày cố làm một việc có lợi cho nước, cho dân, cho Đảng. Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước, cho dân, cho Đảng không? Nếu không có lợi mà có hại cho nước, cho dân thì quyết không làm.

Tự soi tự sửa là để tránh tự kiêu, tự đại, vì tự kiêu, tự mãn như cái chén, cái đĩa cạn, một chút nước cũng tràn đầy vì độ lượng nó hẹp. Đảng viên phải như sông to, biển rộng, bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng nó rộng và sâu.

Tự soi, tự sửa là để luôn luôn chân thành, khiêm tốn, thật thà đoàn kết, phải học và giúp người tiến bộ. Không nịnh hót người trên. Không xem thường người dưới.

Tự soi, tự sửa là để luôn luôn chân thành, khiêm tốn, thật thà đoàn kết, phải học và giúp người tiến bộ. Không nịnh hót người trên. Không xem thường người dưới.

Một số nội dung cơ bản trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh

 

Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, là hòa bình và chống chiến tranh xâm lược, là hữu nghị và hợp tác với các nước láng giềng có chung biên giới với Việt Nam, là xây dựng quan hệ hữu hảo với các nước lớn, là xác định ngoại giao phải là một mặt trận, một binh chủng hợp thành của cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định cách mạng Việt Nam có mối liên hệ mật thiết với các trào lưu và lực lượng tiến bộ của thế giới, việc tăng cường các mối liên hệ và hợp tác quốc tế là một trong những điều giúp ta kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công. Tuy vậy, Người cũng chỉ rõ, muốn người ta giúp cho, thì trước hết mình phải tự giúp lấy mình đã; và tự lực cánh sinh là một truyền thống quý báu của cách mạng nước ta. Sức mạnh của Việt Nam là ở sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc, là ở việc phát huy mọi nguồn lực của đất nước, đồng thời, tranh thủ sự ủng hộ và hợp tác quốc tế. Đó cũng chính là cơ sở để phát huy sức mạnh dân tộc gắn với sức mạnh thời đại.

Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tính chất thời đại và cuộc đấu tranh của nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao chính nghĩa, đạo lý và nhân nghĩa trong quan hệ quốc tế. Người nêu rõ: “Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa như thế. Từ khi có Đảng ta lãnh đạo và giáo dục, tình nghĩa ấy càng cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà” (10). Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở phải làm sao cho trong Đảng và trong nhân dân ta giữ được lòng yêu mến, biết ơn các nước bạn anh em, phấn đấu tăng cường đoàn kết quốc tế. Người rất chú trọng tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng, xử lý đúng đắn quan hệ với các nước lớn, phấn đấu mở rộng quan hệ quốc tế của Việt Nam theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa - “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” (11).

 Cùng với những nội dung cơ bản về ngoại giao, ở Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nổi bật ở nghệ thuật, phong cách ngoại giao xuất chúng. Nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh thể hiện rõ nét qua việc vận dụng những phương pháp, phong cách ứng xử nhạy bén, sáng tạo, mang lại hiệu quả cao trong hoạt động đối ngoại. Nghệ thuật đó còn thể hiện trong việc thực hiện nhân nhượng có nguyên tắc, lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ đối phương, am hiểu và vận dụng nhuần nhuyễn “năm cái biết” (ngũ tri) của triết lý phương Đông: biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng, biết biến. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận xét rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là con người biết mình muốn gì và đi đến đâu, biết tránh thác ghềnh, biết thắng quân địch..., nắm vững nghệ thuật của điều có thể và không ngừng mở rộng giới hạn của điều có thể (12).

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người vận dụng nhuần nhuyễn phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”, tức là lấy cái không thể thay đổi (bất biến) để ứng phó với muôn sự thay đổi (vạn biến). Theo đó, cái “bất biến” là lợi ích của quốc gia, dân tộc, mà độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc,... là cốt lõi. Cái “vạn biến” là cách ứng phó tài tình, khéo léo, linh hoạt; kết hợp hài hòa giữa mềm dẻo và kiên quyết, giữa chiến lược và sách lược, giữa cương và nhu, giữa chủ động và sáng tạo trong những tình huống cụ thể, mà dù trong hoàn cảnh nào, khó khăn đến đâu cũng phải giữ vững nguyên tắc để đạt cho được cái “bất biến”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt” (13). Để thực hiện được “ứng vạn biến”, điều quan trọng là phải đánh giá đúng tình hình quốc tế và sự tác động đối với nước ta, cả mặt thuận lợi và mặt bất lợi. Đặc biệt, về sách lược, phải xác định được giới hạn của sự nhân nhượng để đề ra chính sách, phương pháp, cách thức tiến hành phù hợp, hiệu quả, bảo đảm giữ vững nguyên tắc chiến lược: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Kinh nghiệm thực tiễn trong các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, bảo vệ Tổ quốc đã chỉ ra rằng, chỉ có thể đạt được thắng lợi trên bàn đàm phán khi giành thắng lợi trên chiến trường. Bởi vậy, về lâu dài, ta phải mạnh lên cả về mặt chính trị và kinh tế, có vị thế quan trọng trên trường quốc tế thì tiếng nói trong ngoại giao mới có trọng lượng.

Là nhà hoạt động cách mạng đấu tranh vì quyền lợi của các tầng lớp nhân dân, ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh thấm đẫm tính nhân văn sâu sắc. Người thực hiện chính sách ngoại giao “tâm công” (đánh vào lòng người), phân biệt rất rõ đâu là thù, đâu là bạn để có những ứng xử phù hợp nhằm khơi dậy những tình cảm tốt đẹp của nhân dân thế giới yêu chuộng hòa bình, kêu gọi sự ủng hộ Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc. Người từng nói: Đường lối tấn công vào lòng người, chinh phục bằng đạo lý, chuyển hóa bằng nhân tình, thuyết phục lòng người để nhân lên sức mạnh của chính nghĩa. Với hiểu biết sâu rộng về văn hóa, ngôn ngữ, phong tục, tập quán của nhiều dân tộc trên thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những cử chỉ ngoại giao tinh tế, mẫu mực, để lại dấu ấn tốt đẹp trong lòng bè bạn quốc tế. Đó là khi Người cởi khăn của mình quàng vào cổ một bạn người Đức bị ho khi thăm Việt Nam. Có khi là hành động nghĩa tình cởi áo khoác cho một tù binh Pháp đang lạnh run giữa thời tiết mùa đông Việt Nam. Khi sang thăm Ấn Độ vào năm 1958, Người đã gửi vòng hoa và một cây đào để kỷ niệm cụ thân sinh ra đương kim Thủ tướng Ấn Độ G. Nê-ru (Người đã gặp ông cụ ở Thủ đô nước Bỉ từ năm 1927 trong Hội nghị quốc tế chống chủ nghĩa thực dân, một cuộc gặp gỡ ngắn ngủi và đã lâu năm), điều đó đã khiến Thủ tướng Ấn Độ xúc động: “Đó tuy là một việc bình thường nhưng nó chứng tỏ một cách rõ rệt phẩm chất vĩ đại của Hồ Chủ tịch”. Nhiều nhà báo quốc tế khi đến Việt Nam đều mong muốn được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng những lời thuyết phục có lý, có tình của Người, thông qua báo chí, những thiện chí của nhân dân Việt Nam đã đến được với nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, qua đó, họ hiểu và đấu tranh ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Tấm lòng chân thành cùng sự mẫn cảm chính trị đề cao chính nghĩa, đạo lý và khả năng xử thế tinh tế trong giao tiếp đối ngoại đã tạo ra sự cảm hóa và trở thành nét đặc trưng của ngoại giao “tâm công” Hồ Chí Minh.

Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh soi đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay

Đổi mới đường lối đối ngoại của Đảng được đánh dấu từ Nghị quyết Đại hội VI của Đảng (năm 1986) và Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày 20-5-1988, của Bộ Chính trị khóa VI, “Về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới”. Kể từ đó, quá trình đổi mới tư duy và thực hành ngoại giao diễn ra liên tục và từng bước dần hoàn thiện. Trên nền tảng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Đảng ta đã đánh giá tình hình thế giới một cách khách quan, khoa học, từ đó xây dựng chính sách đối ngoại ngày càng có hiệu quả. Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (14) được hình thành và phát triển từ trong lý luận và thực tiễn sinh động của công cuộc đổi mới. Đó là nền ngoại giao sử dụng sức mạnh tổng hợp, phối hợp hiệu quả hoạt động của mọi lực lượng đối ngoại, được triển khai trên nhiều lĩnh vực và hướng đến nhiều đối tượng, tạo tiền đề và động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, hội nhập và phát triển.

Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực đang diễn biến phức tạp, khó lường; các nước lớn có sự điều chỉnh về chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau. Việc nghiên cứu, quán triệt, vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh nhằm nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, để xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước có ý nghĩa hết sức quan trọng.

 Sự vận động của quan hệ quốc tế trong tiến trình tác động của toàn cầu hóa làm thay đổi tương quan lực lượng, dẫn đến những đổi thay về địa - chính trị trên thế giới. Lôi cuốn vào sự thay đổi có tính toàn cầu đó với sự đấu tranh giữa các nước lớn hiện nay là sự tập hợp của các liên minh, lợi ích đã buộc các nước phải lựa chọn chiến lược cho phù hợp với những biến đổi, thế giới đang đối mặt với nguy cơ của một cuộc chiến tranh lạnh mới trong tương lai, theo đó, tính chất của cuộc chiến tranh này phụ thuộc vào thực lực của cuộc đấu cân sức giữa các nước lớn. Bởi vậy, Việt Nam phải có sự lựa chọn và xây dựng đường lối ngoại giao phù hợp, để bảo vệ lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc trong sự vận động của tình hình quốc tế.

Trong bối cảnh hiện nay, vận dụng tư tưởng ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự lựa chọn chiến lược hàng đầu của Việt Nam là: Không ngừng tăng cường nội lực về kinh tế, quốc phòng; xây dựng sự đoàn kết và đồng thuận trong và ngoài nước; chủ động ứng phó các diễn biến địa - chính trị quốc tế để nâng cao vị thế chiến lược của Việt Nam; bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích chiến lược của đất nước; chăm lo bảo vệ các quyền tự do, hạnh phúc của nhân dân.

Thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 189 quốc gia trên thế giới, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, toàn diện với 30 nước (15); có quan hệ kinh tế thương mại với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ (16). Trong khi vẫn duy trì chính sách quốc phòng mang tính chất hòa bình, tự vệ; không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; Việt Nam tiếp tục thắt chặt quan hệ chiến lược an ninh với các nước lớn và các quốc gia trong khu vực một cách linh hoạt, hiệu quả để nâng cao vị thế chiến lược của mình. Đó chính là sự vận dụng đúng đắn quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để tăng cường thế và lực cho cuộc đấu tranh ngoại giao bảo vệ chủ quyền và các lợi ích chiến lược của đất nước. Tư tưởng đó bao gồm cả việc liên kết và ràng buộc, cộng đồng lợi ích với những quốc gia ủng hộ lợi ích dân tộc chính đáng của Việt Nam. Bởi vậy, Việt Nam tiếp tục duy trì chính sách ngoại giao đa phương, đa dạng, nhằm hạn chế tối đa các tác động tiêu cực do cạnh tranh giữa các nước lớn. Để làm được điều này, với chính sách ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, Việt Nam phải chủ động tham gia và góp phần định hình các diễn biến địa - chính trị khu vực, để không bị động, trở thành kẻ ngoài lề và là nạn nhân bị đem ra mặc cả trong ván cờ giữa các nước lớn.

Hoàn thiện và thực thi đường lối ngoại giao đề cao hòa bình, độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc là mục tiêu, đồng thời chính là mẫu số chung để đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là cơ sở thống nhất tư tưởng, xây dựng niềm tin của toàn dân, tạo ra một hiệu ứng tích cực, phát huy lòng tự tôn dân tộc, làm gia tăng tối đa sức mạnh dân tộc để vượt qua mọi khó khăn khi phải đối diện trước bất kỳ thử thách cam go nào trong xây dựng, bảo vệ đất nước và chấn hưng dân tộc. Khẳng định Nhà nước Việt Nam phấn đấu vì quyền của dân tộc và quyền con người - những giá trị mà toàn thể loài người đã, đang và sẽ tiếp tục đấu tranh để hoàn thiện, bởi vậy, “hòa bình - độc lập - tự do - hạnh phúc” thể hiện văn minh chính trị của dân tộc Việt Nam trước sự tiến hóa chung của nhân loại, đồng thời cũng là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế và sức mạnh thời đại. “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, hoạt động đối ngoại nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân” (17). Như vậy, mẫu số chung đó không chỉ phản ánh giá trị chung của nhân loại, mà còn là cơ sở cho Việt Nam hội nhập quốc tế, tạo ra lợi thế cho ngoại giao Việt Nam trong tiến trình toàn cầu hóa. Đó cũng chính là cơ sở cho sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại và quốc tế trong hoạt động ngoại giao của nước ta.

 Ngoại giao Việt Nam cần xác định một cách rõ ràng mục tiêu vì lợi ích của dân tộc, trên cơ sở thực tiễn của sự vận động địa - chính trị hiện nay, giải quyết đúng đắn mối quan hệ dân tộc - giai cấp là cơ sở khoa học vững chắc cho nhận thức để xây dựng chính sách ngoại giao đúng đắn, nhất quán và lâu dài cho đất nước. Đồng thời, đặt cơ sở lý luận cho ngoại giao có thể uyển chuyển trong xác định và thực hiện sách lược với những phương pháp đa dạng, không bị trói buộc hoặc chi phối bởi những yếu tố chủ quan, cứng nhắc tạo ra trước sự vận động phức tạp và rất nhanh chóng trong quan hệ quốc tế hiện nay và trong tương lai. Hơn nữa, trên thế giới ngày nay, dưới mọi danh nghĩa, các nước lớn, nhỏ đều đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc. Bảo vệ lợi ích dân tộc Việt Nam trên cơ sở luật pháp quốc tế, thuận theo quy luật tiến hóa và xu hướng phát triển chung vì sự tiến bộ của nhân loại phải là định hướng của ngoại giao nước ta. Khi Việt Nam tuyên bố “là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”, thì đó cũng là thông điệp của Việt Nam về sự hợp tác quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa, dựa trên cơ sở tôn trọng luật pháp và thông lệ quốc tế. Lấy mục tiêu xây dựng đất nước là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và tiến hành chính sách đối ngoại trên cơ sở luật pháp quốc tế để hội nhập và phát triển, đó là việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và quốc tế, dân tộc và thời đại. Quan điểm đó vừa là cơ sở để thực hiện phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong ngoại giao, vừa là điều kiện để thực hiện chính sách ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, tạo ra sự cân bằng để giữ vững hòa bình, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

Thấm nhuần quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của lực lượng hòa bình dân chủ, xã hội chủ nghĩa trên thế giới” (18); “Tình hình của nước ta có ảnh hưởng đến thế giới, mà tình hình thế giới cũng có quan hệ đến nước ta” (19); đứng trước yêu cầu mới của tình hình trong nước và quốc tế, Việt Nam tiếp tục xây dựng chiến lược ngoại giao toàn diện, phục vụ hiệu quả hơn nữa cho các mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Nguyên tắc cao nhất của hoạt động ngoại giao là: “Vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh” (20). Hai mục tiêu này thống nhất với nhau; trong đó, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc là cơ sở để xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa; và xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh là điều kiện cần để đạt được các lợi ích đó. Triển khai đồng bộ, toàn diện hoạt động đối ngoại và chủ động đẩy mạnh hội nhập quốc tế, nhiệm vụ của công tác đối ngoại là “giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới” (21). Đó là chủ trương đúng đắn, kịp thời và sáng suốt của Đảng và Nhà nước ta, phù hợp với đòi hỏi của tình hình mới./.


Vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay

 


Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh, là di sản tinh thần vô giá, là nền tảng sức mạnh và là chìa khóa để triển khai thắng lợi, hiệu quả đường lối, chiến lược và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta qua các giai đoạn cách mạng. Hiện nay, đất nước đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế khi tình hình trong nước và quốc tế diễn biến hết sức phức tạp, việc nghiên cứu, vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là việc làm cấp thiết để mở rộng quan hệ đối ngoại, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam và là người sáng lập nền ngoại giao Việt Nam hiện đại. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh, nền ngoại giao hiện đại Việt Nam đã trưởng thành và lớn mạnh cùng với những bước đường cách mạng của cả dân tộc, đóng góp xứng đáng vào những thành quả cách mạng của đất nước (1). Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh với những nguyên lý và nội dung cơ bản, phương pháp, phong cách và nghệ thuật ngoại giao, là bộ phận quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay cũng như mai sau tiếp tục xuất phát từ nền tảng tư tưởng đó và theo hướng kim chỉ nam ấy. Vì thế, việc không ngừng nghiên cứu, học tập, quán triệt và thấm nhuần tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh sẽ góp phần rất quan trọng vào việc xây dựng và triển khai thành công đường lối đối ngoại của Việt Nam, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay. Có như vậy, ngoại giao Việt Nam mới có thể vươn lên ngang tầm với thời đại, trở thành nền ngoại giao cách mạng, chính quy và hiện đại, có đủ khả năng để xử lý linh hoạt, kịp thời và hiệu quả những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, đóng góp quan trọng cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc.

Vai trò của ngoại giao trong lịch sử dân tộc và trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử của một dân tộc anh hùng, bền bỉ và kiên cường chinh phục thiên nhiên, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược để tồn tại và phát triển. Hiếm có một dân tộc nào như dân tộc Việt Nam, lịch sử dựng nước gắn liền với giữ nước. Từ buổi đầu dựng nước cho đến nay, các thế hệ người Việt Nam nối tiếp nhau thường xuyên phải cầm vũ khí chống trả các thế lực xâm lược, bảo vệ non sông, nòi giống và bản sắc văn hóa dân tộc. Hiếm có một dân tộc nào trên thế giới mà sự nghiệp giữ nước lại thường xuyên gặp phải tình thế cam go như dân tộc Việt Nam: kẻ thù xâm lược luôn mạnh hơn rất nhiều lần. Do có vị trí địa - chính trị, địa - quân sự, địa - kinh tế quan trọng trong khu vực, nên từ khi dựng nước, trải qua hàng nghìn năm lịch sử, Việt Nam luôn bị các thế lực đế quốc thực dân hùng mạnh nhất nhòm ngó, xâm lược. Nhưng cuối cùng, chiến thắng luôn thuộc về Việt Nam, dân tộc Việt Nam vẫn luôn trường tồn và phát triển. Có thể nói, trong lịch sử, Việt Nam là dân tộc luôn có khả năng vượt qua những trở ngại lớn vì có sức sống mạnh mẽ. Đó là một dân tộc anh hùng, không chịu khuất phục trước bất cứ thế lực ngoại xâm nào.

Lịch sử đấu tranh bảo vệ đất nước của dân tộc Việt Nam đã khẳng định: Mặc dù kẻ xâm lược thường lớn hơn và mạnh hơn Việt Nam rất nhiều lần, nhưng do đoàn kết được các tầng lớp xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, cho nên dân tộc Việt Nam thường lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh, và cuối cùng đã đánh bại được mọi kẻ thù. Trong tất cả các thời kỳ lịch sử, bảo vệ độc lập luôn là nhiệm vụ quan trọng nhất của dân tộc Việt Nam. Để bảo vệ được độc lập dân tộc, nhân dân Việt Nam thường phải đấu tranh trên nhiều mặt trận, trong đó mặt trận quân sự có tầm quan trọng hàng đầu. Nhưng để làm cho cuộc đấu tranh quân sự có được nhiều thuận lợi, dân tộc Việt Nam còn đấu tranh tài giỏi trên mặt trận ngoại giao.

Trong quá trình dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã biết đến vai trò quan trọng của ngoại giao như là một công cụ đấu tranh hòa bình với các quốc gia khác nhằm đạt mục đích “quốc phú, binh cường, nội yên, ngoại tĩnh”. Bậc minh quân và hiền tài các triều đại phong kiến đều thể hiện quan điểm: đấu tranh ngoại giao luôn luôn hỗ trợ cho đấu tranh quân sự chống ngoại xâm. Đấu tranh ngoại giao có thể diễn ra sau hoặc đi trước đấu tranh quân sự. Có nhiều trường hợp, đấu tranh ngoại giao đi trước và diễn ra song song với đấu tranh quân sự, nhằm kết thúc đấu tranh quân sự với những điều kiện có lợi cho dân tộc, đất nước.

Lịch sử ngoại giao của Việt Nam được biết đến từ thời đại Hùng Vương. Từ thời kỳ Ngô, Đinh, Lê trở về sau, các hoạt động ngoại giao của ông cha ta ngày càng trở nên tài tình, khôn khéo, lúc cương, lúc nhu, luôn luôn thích hợp với tình hình cụ thể. Thế kỷ XV, những cuộc vận động ngoại giao do Lê Lợi và Nguyễn Trãi tiến hành với quân Minh đã tạo điều kiện cho nghĩa quân Lam Sơn đi từ thắng lợi quân sự này đến thắng lợi quân sự khác. Những thắng lợi này là tiền đề buộc Vương Thông ở Đông Quan phải chấp nhận các điều kiện đầu hàng do nghĩa quân Lê Lợi đề ra.

Trong tất cả các thời kỳ lịch sử, mục tiêu của ngoại giao Việt Nam bao giờ cũng là độc lập dân tộc, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và hạnh phúc, ấm no của nhân dân. Vì mục tiêu đó, nhân dân Việt Nam phải hy sinh cả xương máu để đấu tranh chống ngoại xâm. Nhưng khi chiến tranh nổ ra, cụ thể là khi đã giành được những thắng lợi quyết định trên chiến trường bằng sức mạnh quân sự thì Việt Nam chủ động tiến hành các biện pháp ngoại giao để chấm dứt chiến tranh, kể cả mở cơ hội cho kẻ địch rút quân khỏi nước ta trong danh dự.

Đầu năm 1077, Lý Thường Kiệt đã làm cho quân Tống của Quách Quỳ khổ sở, mỏi mệt ở bờ bắc sông Cầu (Như Nguyệt). Ông biết nếu cứ để chiến tranh tiếp tục thì quân Tống có thể bị tiêu diệt. Nhưng chờ đến ngày đó, quân và dân Việt Nam phải mất nhiều xương máu, đất nước Việt Nam còn bị tàn phá. Lý Thường Kiệt thấy rằng mở một lối thoát cho Quách Quỳ để kéo quân về nước, trả đất Việt Nam cho người Việt Nam, thì có lợi hơn là để cho chiến tranh tiếp tục. Do đó, ông đã cho biện sĩ sang doanh trại Quách Quỳ mở mặt trận đấu tranh ngoại giao. Chấp nhận các điều kiện của Lý Thường Kiệt, Quách Quỳ đã mang tàn quân về nước. Chiến tranh chấm dứt, hòa bình trở lại trong những điều kiện có lợi cho Việt Nam.

Trong trường hợp quân thù quá mạnh mà quân và dân chưa sẵn sàng chiến đấu hoặc nếu chiến đấu ngay khó có thể giành thắng lợi thì ông cha ta đã dùng biện pháp ngoại giao nhằm tranh thủ thời gian hòa hoãn để có cơ hội tăng cường và củng cố lực lượng. Khi lực lượng ta đã lớn mạnh, nếu quân thù vẫn cứ cố tình gây chiến tranh để thực hiện âm mưu xâm lược, thì dân tộc Việt Nam quyết đem lực lượng ra đánh trả để tiêu diệt chúng. Những năm 1258, 1285, 1288, vua Trần Thánh Tông, vua Trần Nhân Tông và Trần Quốc Tuấn đã làm như thế,...

Có thể nói, lịch sử ngoại giao của Việt Nam là một kho tàng về kinh nghiệm xử thế vô cùng quý báu cho những người làm công tác ngoại giao cũng như làm công tác quân sự. Trong kho tàng kinh nghiệm này, ông cha ta tỏ ra mưu trí, “biết mình”, “biết người” đến cao độ, biết dồn đối phương đến chỗ phải chấp nhận các điều kiện của mình và trong mọi thời kỳ đã luôn luôn bám sát mục tiêu chủ yếu là: độc lập dân tộc, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và hạnh phúc, ấm no của nhân dân.

Phát huy truyền thống ngoại giao của dân tộc, trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về ngoại giao chiếm một vị trí quan trọng. Tư tưởng về ngoại giao của Người được hình thành trên cơ sở kế thừa những giá trị tốt đẹp của truyền thống dân tộc, từ sự tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, đặc biệt là vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, thông qua quá trình khảo sát thực tiễn trong nước và thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Ngoại giao là cuộc đấu tranh bằng biện pháp hòa bình để bảo vệ lợi ích dân tộc, là một lĩnh vực hoạt động rất quan trọng của sự nghiệp cách mạng. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người luôn đánh giá cao vai trò của ngoại giao: “... dùng binh giỏi nhất, là đánh bằng mưu. Thứ hai là đánh bằng ngoại giao. Thứ ba mới là đánh bằng binh” (2) và “Ngoại giao ai thuận lợi hơn, thì thắng” (3). Đánh giá cao vai trò của ngoại giao, Nghị quyết của Hội nghị Tân Trào diễn ra trước Tổng khởi nghĩa Tháng 8-1945 đã đặt “Vấn đề ngoại giao” thành mục riêng, ngang với mục “Chủ trương của Đảng” và mục “Nhiệm vụ quân sự”.

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định: “Sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập” (4); từ đó, kiên quyết đấu tranh giữ vững chủ quyền ngoại giao và coi đó là biểu hiện quan trọng của nền độc lập. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, cụm từ “mặt trận ngoại giao” chính thức ra đời trong Văn kiện của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 13 khóa III năm 1967: Đấu tranh quân sự và chính trị ở miền Nam là nhân tố quyết định sự thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. Đến tháng 4-1969, Nghị quyết Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định: Ngoại giao trở thành một mặt trận quan trọng, có ý nghĩa chiến lược. Việc thay đổi các cụm từ khi nói về ngoại giao, như từ “cuộc đấu tranh ngoại giao”, “vấn đề ngoại giao” thành “mặt trận ngoại giao”, “ngoại giao trở thành mặt trận quan trọng”... đã thể hiện sự đánh giá ngày càng cao của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của công tác ngoại giao trong sự nghiệp cách mạng.

Đứng trên quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử - cụ thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá đúng vị trí, vai trò của công tác ngoại giao và mối liên hệ biện chứng giữa ngoại giao với các lĩnh vực khác của cách mạng. Ngoại giao là một trong ba mặt trận đấu tranh cơ bản, các hoạt động ngoại giao, chính trị, quân sự luôn bổ trợ mạnh mẽ cho nhau; thắng lợi về quân sự là điều kiện quan trọng quyết định thắng lợi về ngoại giao, vì người ta chỉ nhận được những gì trên bàn đàm phán tương đương với những gì đạt được trên chiến trường. Nói về tác động của quân sự, chính trị tới đàm phán ngoại giao, Người chỉ rõ: “Những thắng lợi của ta làm cho nhân dân ta và nhân dân thế giới phấn khởi, làm cho địa vị ngoại giao của ta ở Giơ-ne-vơ vững chắc, những thắng lợi của ta buộc địch phải nói chuyện với ta” (5). Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Người nói: “Bây giờ nội trong nước ta cứ đánh cho thắng, thì ngoại giao dễ làm ăn” (6). Sự liên kết chặt chẽ giữa các lĩnh vực chính trị, quân sự và ngoại giao dẫn đến yêu cầu phải phối hợp nhịp nhàng các hoạt động đó trong một cuộc đấu tranh. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cho rằng, ngoại giao chỉ phát huy vai trò và công dụng trên cơ sở thực lực dân tộc, trên nền tảng sức mạnh tổng hợp của đất nước từ mọi phương diện: kinh tế, chính trị, quân sự... Người viết: “Nếu tự mình không có thực lực làm cơ sở thì không thể nói gì đến ngoại giao” (7). Người còn ví dụ: “Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn” (8). Có nghĩa là, thắng lợi ngoại giao lớn hay nhỏ, hoạt động ngoại giao thuận lợi hay khó khăn tùy thuộc vào thực lực của dân tộc, đất nước. Thực tế đã chứng minh quan điểm đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đúng đắn. Rõ ràng, nếu không có những chiến thắng to lớn của quân và dân ta trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp thì không thể có Hội nghị và Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương, năm 1954. Nếu không có thắng lợi của quân và dân hai miền Nam - Bắc, nhất là thắng lợi của trận “Điện Biên Phủ trên không” vào cuối năm 1972, thì không có thắng lợi của Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, năm 1973. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: “Ngoại giao ở Hội nghị Giơnevơ thắng lợi là vì Điện Biên Phủ đánh thắng lớn. Bây giờ cũng thế, đánh thắng lợi thì ngoại giao thắng nhiều. Không cứ gì ở ta mà ở nước nào cũng vậy. Cố nhiên ngoại giao là rất quan trọng, nhưng cái vốn chính là mình phải đánh thắng và mình phải có sức mạnh thì ngoại giao sẽ thắng” (9). Mặt khác, thắng lợi trên mặt trận ngoại giao sẽ tạo tiền đề để tăng cường thực lực cách mạng, tạo “thế” cho đất nước trong quan hệ chính trị quốc tế.


Vạch trần Bộ mặt “Rắn độc giả lươn”

 

Không khó để tìm các bài viết, video clip mang nội dung kêu gọi hãy “cứu dân”, bảo vệ “dân oan”, “thương cho người Việt phải chịu đựng cái đảng cầm quyền bất lực, tham lam, tàn ác đến bao giờ”,… mà các thế lực thù địch đăng tải trên các trang mạng xã hội. Thoạt nghe, người ta dễ lầm tưởng họ đang “thương cho dân, lo cho nước”, song thực chất là họ cố tình che đậy bản chất phản động đằng sau những luận điệu xuyên tạc, lừa bịp, mị dân; làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước.

Được “ngụy trang” dưới danh nghĩa các hội, đoàn, tổ chức xã hội dân sự, như: “nhóm tuổi trẻ yêu nước”, “hội dân oan”, “hội cựu tù nhân lương tâm”, “mạng lưới nhân quyền Việt Nam”, “liên đoàn lao động Việt tự do”,… các đối tượng chống phá tổ chức nhiều diễn đàn như: “tiếng nói người dân”, “người dân lên tiếng”, “diễn đàn dân chủ”,… để rêu rao cho cái gọi là “đại diện cho người dân”, đưa ra những yêu sách về tự do dân chủ, tự do ngôn luận,…; thậm chí viết “thư ngỏ”, tham gia “hiến kế” cho Đảng, Nhà nước ta với những nội dung ngông cuồng, phi thực tế. Bỉ ổi hơn, với thủ đoạn “bí mật giật dây”, “sau bức màn che”, chúng mua chuộc, lừa gạt, ép buộc người dân nhẹ dạ tham gia làm bình phong, lá chắn cho những cuộc biểu tình, đập phá, để rồi khi vi phạm pháp luật tất cả hậu quả người dân đều gánh chịu, còn những kẻ tự xưng “đại diện cho người dân” thì ung dung ở trời Tây nhận thưởng với thành tích lừa dân của chúng.

Đóng vai “một người lạ”, những kẻ cơ hội chính trị, có tư tưởng bất mãn cũng lân la tận các ngõ xóm, tìm đến những người có hoàn cảnh khó khăn; chúng giả nhân, giả nghĩa, vờ đồng cảm với người nghèo, lao động thất nghiệp, tự cho mình “đại diện” để nói lên tiếng nói cho họ, dựng lên bức tranh bi thảm về một xã hội bất công rồi kích động người dân đấu tranh với chính quyền để đòi công bằng.

Song, dù có “khoác tấm áo người dân” với bất kỳ cái tên gì thì bản chất giả nhân, giả nghĩa của các thế lực chống đối đã dần bị bộc lộ. Mọi ngôn từ mĩ miều “thương cho dân”, đồng cảm với “nỗi khổ” của người dân cuối cùng đều dẫn đến mục đích chính trị của chúng là chống phá Đảng, Nhà nước. Bản chất xấu xa của những kẻ “đại diện cho người dân” đã bộc lộ hoàn toàn khi đưa ra những lời hô hào, xúi giục, kích động nhân dân “đoàn kết”, đấu tranh đòi “cái bánh vẽ” tự do, dân chủ, nhân quyền,... để phá hoại sự bình yên của cuộc sống, chống phá công cuộc xây dựng và phát triển của đất nước ta.

Thực tế đã chứng minh, bản chất côn đồ, coi thường pháp luật của “tổ đồng thuận” không thể đại diện cho đa số người dân xã Đồng Tâm chất phác, lương thiện; hay sự trơ trẽn của “nhóm dân oan” do Cấn Thị Thêu cầm đầu không thể đánh đồng với những người dân đang kiến nghị theo đúng trình tự pháp luật. Những chứng cứ không thể chối cãi cùng những lời thú tội của những kẻ “đại diện cho người dân” này trước tòa cho thấy rõ chân tướng xấu xa của chúng. Và những kẻ ảo tưởng ngông cuồng về quyền lực, sống lưu vong, tị nạn chính trị theo đuôi các tổ chức phản động ở nước ngoài không có đủ tư cách để đại diện cho quyền lợi của người dân Việt Nam trong nước và người Việt yêu nước ở nước ngoài. Và, rắn độc vẫn mãi là rắn độc, các thủ đoạn, chiêu trò của họ nhằm gài bẫy người dân sẽ ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Do vậy, mỗi người dân cần đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện, tránh trở thành người tiếp tay cho tội phạm, là “con rối” bị các đối tượng chống đối lợi dụng, đưa vào vòng lao lý.