|
|
|
|
Tư tưởng
ngoại giao Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh, là
di sản tinh thần vô giá, là nền tảng sức mạnh và là chìa khóa để triển khai
thắng lợi, hiệu quả đường lối, chiến lược và chính sách đối ngoại của Đảng và
Nhà nước ta qua các giai đoạn cách mạng. Hiện nay, đất nước đang trong quá
trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế khi tình
hình trong nước và quốc tế diễn biến hết sức phức tạp, việc nghiên cứu, vận
dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là việc làm cấp thiết để mở
rộng quan hệ đối ngoại, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Chủ tịch
Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam và là người sáng lập
nền ngoại giao Việt Nam hiện đại. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và ánh sáng của
tư tưởng Hồ Chí Minh, nền ngoại giao hiện đại Việt Nam đã trưởng thành và lớn
mạnh cùng với những bước đường cách mạng của cả dân tộc, đóng góp xứng đáng
vào những thành quả cách mạng của đất nước (1). Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí
Minh với những nguyên lý và nội dung cơ bản, phương pháp, phong cách và nghệ
thuật ngoại giao, là bộ phận quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Hoạt động
đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay cũng như mai sau tiếp tục
xuất phát từ nền tảng tư tưởng đó và theo hướng kim chỉ nam ấy. Vì thế, việc
không ngừng nghiên cứu, học tập, quán triệt và thấm nhuần tư tưởng ngoại giao
Hồ Chí Minh sẽ góp phần rất quan trọng vào việc xây dựng và triển khai thành
công đường lối đối ngoại của Việt Nam, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới,
hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay. Có như vậy, ngoại giao Việt Nam mới có
thể vươn lên ngang tầm với thời đại, trở thành nền ngoại giao cách mạng,
chính quy và hiện đại, có đủ khả năng để xử lý linh hoạt, kịp thời và hiệu
quả những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, đóng góp quan trọng cho sự nghiệp
xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc. Vai
trò của ngoại giao trong lịch sử dân tộc và trong tư tưởng Hồ Chí Minh Lịch sử
dân tộc Việt Nam là lịch sử của một dân tộc anh hùng, bền bỉ và kiên cường
chinh phục thiên nhiên, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược để tồn tại và phát
triển. Hiếm có một dân tộc nào như dân tộc Việt Nam, lịch sử dựng nước gắn
liền với giữ nước. Từ buổi đầu dựng nước cho đến nay, các thế hệ người Việt
Nam nối tiếp nhau thường xuyên phải cầm vũ khí chống trả các thế lực xâm
lược, bảo vệ non sông, nòi giống và bản sắc văn hóa dân tộc. Hiếm có một dân
tộc nào trên thế giới mà sự nghiệp giữ nước lại thường xuyên gặp phải tình
thế cam go như dân tộc Việt Nam: kẻ thù xâm lược luôn mạnh hơn rất nhiều lần.
Do có vị trí địa - chính trị, địa - quân sự, địa - kinh tế quan trọng trong
khu vực, nên từ khi dựng nước, trải qua hàng nghìn năm lịch sử, Việt Nam luôn
bị các thế lực đế quốc thực dân hùng mạnh nhất nhòm ngó, xâm lược. Nhưng cuối
cùng, chiến thắng luôn thuộc về Việt Nam, dân tộc Việt Nam vẫn luôn trường
tồn và phát triển. Có thể nói, trong lịch sử, Việt Nam là dân tộc luôn có khả
năng vượt qua những trở ngại lớn vì có sức sống mạnh mẽ. Đó là một dân tộc
anh hùng, không chịu khuất phục trước bất cứ thế lực ngoại xâm nào. Lịch sử
đấu tranh bảo vệ đất nước của dân tộc Việt Nam đã khẳng định: Mặc dù kẻ xâm
lược thường lớn hơn và mạnh hơn Việt Nam rất nhiều lần, nhưng do đoàn kết
được các tầng lớp xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, cho
nên dân tộc Việt Nam thường lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh, và cuối
cùng đã đánh bại được mọi kẻ thù. Trong tất cả các thời kỳ lịch sử, bảo vệ
độc lập luôn là nhiệm vụ quan trọng nhất của dân tộc Việt Nam. Để bảo vệ được
độc lập dân tộc, nhân dân Việt Nam thường phải đấu tranh trên nhiều mặt trận,
trong đó mặt trận quân sự có tầm quan trọng hàng đầu. Nhưng để làm cho cuộc
đấu tranh quân sự có được nhiều thuận lợi, dân tộc Việt Nam còn đấu tranh tài
giỏi trên mặt trận ngoại giao. Trong quá
trình dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã biết đến vai trò quan trọng
của ngoại giao như là một công cụ đấu tranh hòa bình với các quốc gia khác
nhằm đạt mục đích “quốc phú, binh cường, nội yên, ngoại tĩnh”. Bậc minh quân
và hiền tài các triều đại phong kiến đều thể hiện quan điểm: đấu tranh ngoại
giao luôn luôn hỗ trợ cho đấu tranh quân sự chống ngoại xâm. Đấu tranh ngoại
giao có thể diễn ra sau hoặc đi trước đấu tranh quân sự. Có nhiều trường hợp,
đấu tranh ngoại giao đi trước và diễn ra song song với đấu tranh quân sự,
nhằm kết thúc đấu tranh quân sự với những điều kiện có lợi cho dân tộc, đất
nước. Lịch sử
ngoại giao của Việt Nam được biết đến từ thời đại Hùng Vương. Từ thời kỳ Ngô,
Đinh, Lê trở về sau, các hoạt động ngoại giao của ông cha ta ngày càng trở
nên tài tình, khôn khéo, lúc cương, lúc nhu, luôn luôn thích hợp với tình
hình cụ thể. Thế kỷ XV, những cuộc vận động ngoại giao do Lê Lợi và Nguyễn
Trãi tiến hành với quân Minh đã tạo điều kiện cho nghĩa quân Lam Sơn đi từ
thắng lợi quân sự này đến thắng lợi quân sự khác. Những thắng lợi này là tiền
đề buộc Vương Thông ở Đông Quan phải chấp nhận các điều kiện đầu hàng do
nghĩa quân Lê Lợi đề ra. Trong tất
cả các thời kỳ lịch sử, mục tiêu của ngoại giao Việt Nam bao giờ cũng là độc
lập dân tộc, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và hạnh phúc, ấm no của
nhân dân. Vì mục tiêu đó, nhân dân Việt Nam phải hy sinh cả xương máu để đấu
tranh chống ngoại xâm. Nhưng khi chiến tranh nổ ra, cụ thể là khi đã giành
được những thắng lợi quyết định trên chiến trường bằng sức mạnh quân sự thì
Việt Nam chủ động tiến hành các biện pháp ngoại giao để chấm dứt chiến tranh,
kể cả mở cơ hội cho kẻ địch rút quân khỏi nước ta trong danh dự. Đầu năm
1077, Lý Thường Kiệt đã làm cho quân Tống của Quách Quỳ khổ sở, mỏi mệt ở bờ
bắc sông Cầu (Như Nguyệt). Ông biết nếu cứ để chiến tranh tiếp tục thì quân
Tống có thể bị tiêu diệt. Nhưng chờ đến ngày đó, quân và dân Việt Nam phải
mất nhiều xương máu, đất nước Việt Nam còn bị tàn phá. Lý Thường Kiệt thấy
rằng mở một lối thoát cho Quách Quỳ để kéo quân về nước, trả đất Việt Nam cho
người Việt Nam, thì có lợi hơn là để cho chiến tranh tiếp tục. Do đó, ông đã
cho biện sĩ sang doanh trại Quách Quỳ mở mặt trận đấu tranh ngoại giao. Chấp
nhận các điều kiện của Lý Thường Kiệt, Quách Quỳ đã mang tàn quân về nước.
Chiến tranh chấm dứt, hòa bình trở lại trong những điều kiện có lợi cho Việt
Nam. Trong
trường hợp quân thù quá mạnh mà quân và dân chưa sẵn sàng chiến đấu hoặc nếu
chiến đấu ngay khó có thể giành thắng lợi thì ông cha ta đã dùng biện pháp
ngoại giao nhằm tranh thủ thời gian hòa hoãn để có cơ hội tăng cường và củng
cố lực lượng. Khi lực lượng ta đã lớn mạnh, nếu quân thù vẫn cứ cố tình gây
chiến tranh để thực hiện âm mưu xâm lược, thì dân tộc Việt Nam quyết đem lực
lượng ra đánh trả để tiêu diệt chúng. Những năm 1258, 1285, 1288, vua Trần
Thánh Tông, vua Trần Nhân Tông và Trần Quốc Tuấn đã làm như thế,... Có thể
nói, lịch sử ngoại giao của Việt Nam là một kho tàng về kinh nghiệm xử thế vô
cùng quý báu cho những người làm công tác ngoại giao cũng như làm công tác
quân sự. Trong kho tàng kinh nghiệm này, ông cha ta tỏ ra mưu trí, “biết
mình”, “biết người” đến cao độ, biết dồn đối phương đến chỗ phải chấp nhận
các điều kiện của mình và trong mọi thời kỳ đã luôn luôn bám sát mục tiêu chủ
yếu là: độc lập dân tộc, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và hạnh
phúc, ấm no của nhân dân. Phát huy
truyền thống ngoại giao của dân tộc, trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tư
tưởng về ngoại giao chiếm một vị trí quan trọng. Tư tưởng về ngoại giao của
Người được hình thành trên cơ sở kế thừa những giá trị tốt đẹp của truyền
thống dân tộc, từ sự tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, đặc
biệt là vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, thông qua quá trình khảo
sát thực tiễn trong nước và thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Ngoại
giao là cuộc đấu tranh bằng biện pháp hòa bình để bảo vệ lợi ích dân tộc, là
một lĩnh vực hoạt động rất quan trọng của sự nghiệp cách mạng. Trong quá
trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người luôn đánh giá cao vai trò của ngoại
giao: “... dùng binh giỏi nhất, là đánh bằng mưu. Thứ hai là đánh bằng ngoại
giao. Thứ ba mới là đánh bằng binh” (2) và “Ngoại giao ai thuận lợi hơn, thì
thắng” (3). Đánh giá cao vai trò của ngoại giao, Nghị quyết của Hội nghị Tân
Trào diễn ra trước Tổng khởi nghĩa Tháng 8-1945 đã đặt “Vấn đề ngoại giao”
thành mục riêng, ngang với mục “Chủ trương của Đảng” và mục “Nhiệm vụ quân
sự”. Ngay sau
Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định:
“Sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập”
(4); từ đó, kiên quyết đấu tranh giữ vững chủ quyền ngoại giao và coi đó là
biểu hiện quan trọng của nền độc lập. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, cụm từ “mặt trận ngoại giao” chính thức
ra đời trong Văn kiện của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 13 khóa III năm
1967: Đấu tranh quân sự và chính trị ở miền Nam là nhân tố quyết định sự
thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại
giao. Đến tháng 4-1969, Nghị quyết Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định: Ngoại
giao trở thành một mặt trận quan trọng, có ý nghĩa chiến lược. Việc thay đổi
các cụm từ khi nói về ngoại giao, như từ “cuộc đấu tranh ngoại giao”, “vấn đề
ngoại giao” thành “mặt trận ngoại giao”, “ngoại giao trở thành mặt trận quan
trọng”... đã thể hiện sự đánh giá ngày càng cao của Đảng ta và Chủ tịch Hồ
Chí Minh về vai trò của công tác ngoại giao trong sự nghiệp cách mạng. Đứng trên
quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử - cụ thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
đánh giá đúng vị trí, vai trò của công tác ngoại giao và mối liên hệ biện
chứng giữa ngoại giao với các lĩnh vực khác của cách mạng. Ngoại giao là một
trong ba mặt trận đấu tranh cơ bản, các hoạt động ngoại giao, chính trị, quân
sự luôn bổ trợ mạnh mẽ cho nhau; thắng lợi về quân sự là điều kiện quan trọng
quyết định thắng lợi về ngoại giao, vì người ta chỉ nhận được những gì trên
bàn đàm phán tương đương với những gì đạt được trên chiến trường. Nói về tác
động của quân sự, chính trị tới đàm phán ngoại giao, Người chỉ rõ: “Những
thắng lợi của ta làm cho nhân dân ta và nhân dân thế giới phấn khởi, làm cho
địa vị ngoại giao của ta ở Giơ-ne-vơ vững chắc, những thắng lợi của ta buộc
địch phải nói chuyện với ta” (5). Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Người
nói: “Bây giờ nội trong nước ta cứ đánh cho thắng, thì ngoại giao dễ làm ăn”
(6). Sự liên kết chặt chẽ giữa các lĩnh vực chính trị, quân sự và ngoại giao
dẫn đến yêu cầu phải phối hợp nhịp nhàng các hoạt động đó trong một cuộc đấu
tranh. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cho rằng, ngoại giao chỉ phát huy vai trò và
công dụng trên cơ sở thực lực dân tộc, trên nền tảng sức mạnh tổng hợp của
đất nước từ mọi phương diện: kinh tế, chính trị, quân sự... Người viết: “Nếu
tự mình không có thực lực làm cơ sở thì không thể nói gì đến ngoại giao” (7).
Người còn ví dụ: “Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng
có to tiếng mới lớn” (8). Có nghĩa là, thắng lợi ngoại giao lớn hay nhỏ, hoạt
động ngoại giao thuận lợi hay khó khăn tùy thuộc vào thực lực của dân tộc,
đất nước. Thực tế đã chứng minh quan điểm đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đúng
đắn. Rõ ràng, nếu không có những chiến thắng to lớn của quân và dân ta trong
9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp thì không thể có Hội nghị và Hiệp định
Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương, năm 1954.
Nếu không có thắng lợi của quân và dân hai miền Nam - Bắc, nhất là thắng lợi
của trận “Điện Biên Phủ trên không” vào cuối năm 1972, thì không có thắng lợi
của Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, năm
1973. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: “Ngoại giao ở Hội nghị Giơnevơ thắng
lợi là vì Điện Biên Phủ đánh thắng lớn. Bây giờ cũng thế, đánh thắng lợi thì
ngoại giao thắng nhiều. Không cứ gì ở ta mà ở nước nào cũng vậy. Cố nhiên
ngoại giao là rất quan trọng, nhưng cái vốn chính là mình phải đánh thắng và
mình phải có sức mạnh thì ngoại giao sẽ thắng” (9). Mặt khác, thắng lợi trên
mặt trận ngoại giao sẽ tạo tiền đề để tăng cường thực lực cách mạng, tạo
“thế” cho đất nước trong quan hệ chính trị quốc tế. |
bài rất hay
Trả lờiXóa