Thứ Hai, 3 tháng 7, 2023

Quan niệm mới về sự phát triển

 


Cuối thế kỷ XX, khái niệm phát triển không thể dừng lại trong phạm vi kinh tế và đã được mở rộng nội hàm. Tổ chức UNESCO đã đưa ra quan niệm về phát triển như sau: “Khái niệm phát triển phải bao gồm các nhân tố kinh tế và xã hội, cũng như các giá trị đạo đức và văn hóa, quy định sự nảy nở và phẩm giá con người trong xã hội. Nếu như con người là nguồn lực của phát triển, nếu như con người vừa là tác nhân lại vừa là người được hưởng, thì con người phải được coi chủ yếu như là sự biện minh và là mục đích của sự phát triển”.

Như vậy, phát triển là một bước tiến tương đối toàn diện và đồng bộ của một cộng đồng, quốc gia trong một thời kỳ nhất định của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa tinh thần. Phát triển phải bao hàm cả sự tăng trưởng về kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú của con người, bảo vệ môi trường sinh thái. Cần phải phát triển toàn diện cả kinh tế, văn hóa, xã hội, ổn định về chính trị và hướng tới sự phát triển bền vững. Cụ thể như sau: Về kinh tế: không chỉ chú trọng đến vật chất, quy mô và số lượng mà còn quan tâm đến chất lượng phục vụ cuộc sống. Về xã hội: cuộc sống văn minh, bình yên, an sinh xã hội được đảm bảo, con người sống hài hòa, công bằng, cuộc sống được cải thiện, không có nhóm xã hội nào đứng ngoài cuộc sống cộng đồng và mở mang quốc gia. Về môi trường tự nhiên: tăng cường khả năng tái sinh của hệ sinh thái, mức độ ô nhiễm thấp. Về chính trị: kết hợp và dung hòa các vấn đề xã hội. Các quyết sách chính trị phù hợp với đạo lý và nguyện vọng của con người, giảm thiểu căng thẳng, tôn trọng và bảo vệ sự công bằng, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tôn trọng luật pháp quốc tế, hướng tới phát triển bền vững: “Phát triển bền vững được hiểu là hoạt động phát triển nhằm đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ mai sau”.

Trong Hội nghị về môi trường toàn cầu tại Rio de Janeiro (Brazil), quan điểm phát triển mới của nhân loại được khẳng định: Phát triển bền vững được hình thành trong sự hội nhập, đan xen và thỏa hiệp của ba hệ thống tương tác là hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệ văn hóa xã hội. Cần phải đẩy mạnh hợp tác quốc tế, hợp tác toàn cầu để cùng phát triển, phát triển kinh tế - xã hội nhằm mục tiêu để phát triển con người - vấn đề trung tâm của phát triển. Nếu tách phát triển khỏi văn hóa, chạy theo mô hình “xã hội tiêu thụ” là ngõ cụt của phát triển. Không thể coi một xã hội là phát triển với lối sống sa đọa đạo đức, nhân phẩm, tình người... bị chà đạp. Không thể coi là con người phát triển hài hòa với kiểu sống thực dụng chỉ biết có hiện tại, chỉ biết hưởng thụ chạy theo lạc thú mà không có hoài bão, ước mơ về tương lai và quay lưng lại với quá khứ.

Trước những hậu quả của việc tách rời văn hóa khỏi phát triển trong thế kỷ XX, loài người đã thức tỉnh lương tri và trí tuệ, phản ứng gay gắt trước những hướng đi sai lầm. Nhân loại tiến bộ phê phán mạnh mẽ việc coi nhẹ nhân tố văn hóa trong phát triển. Từ những kinh nghiệm sâu sắc về sự tách rời văn hóa và phát triển, quan niệm phát triển chỉ đơn thuần là tăng trưởng kinh tế, Liên hợp quốc và UNESCO đã chính thức phát động Thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa (1988-1997) với bốn mục tiêu lớn: Thừa nhận vị trí của văn hóa trong phát triển, tìm ra mọi phương thức có thể có cho sự hòa hợp giữa sản xuất, sáng tạo, và để kinh tế có thể bắt rễ trong văn hóa. Khẳng định và làm phong phú bản sắc văn hóa (của các cộng đồng, dân tộc). Mở rộng sự tham gia vào đời sống văn hóa của các cá nhân và cộng đồng. Đẩy mạnh hợp tác văn hóa quốc tế.

Trong dịp này, Tổng Thư ký Liên hợp quốc P.Decuellar nêu rõ: “Thập kỷ này sẽ kêu gọi cộng đồng quốc tế tạo ra những hình mẫu phát triển mà không chỉ đơn thuần phát triển kinh tế mà còn phải tính đến tầm quan trọng của con người với những di sản, khát vọng và trong tổng thể các giá trị vật chất, tinh thần; cá nhân và xã hội của mình... Phát triển, tất nhiên có nghĩa là sự thay đổi đầu tiên và trên hết, sự thay đổi phải đem lại cuộc sống phồn vinh và có chất lượng, được mỗi cộng đồng chấp nhận”.

 Tiếp theo quan điểm này, nguyên Tổng Giám đốc UNESCO, F.Mayor nhấn mạnh: “Kinh nghiệm của hai thập kỷ qua cho thấy rằng, trong mọi xã hội ngày nay, bất luận ở trình độ phát triển kinh tế nào hoặc theo xu hướng chính trị nào, văn hóa và phát triển là hai mặt gắn liền với nhau. Hễ nước nào tự đặt ra cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà tách rời môi trường văn hóa thì nhất định sẽ xảy ra những mất cân đối nghiêm trọng cả về mặt kinh tế lẫn văn hóa và tiềm năng sáng tạo của nước ấy sẽ bị suy yếu rất nhiều. Một sự phát triển chân chính đòi hỏi phải sử dụng một cách tối ưu nhân lực và vật lực của mỗi cộng đồng. Vì vậy phân tích đến cùng, các trọng tâm, các động lực và các mục đích của phát triển phải được tìm trong văn hóa.

Từ nay trở đi văn hóa cần coi mình là một nguồn bổ sung trực tiếp cho phát triển và ngược lại phát triển cần thừa nhận văn hóa giữ một vị trí trung tâm, một vai trò điều tiết xã hội. Đòi hỏi bức thiết ấy không chỉ đặt ra tại các nước đang phát triển. Đòi hỏi ấy cũng được đặt ra ngày càng mãnh liệt tại các nước công nghiệp. Đòi hỏi bức thiết ấy cuối cùng được đặt ra trong quan hệ giữa các quốc gia và các khu vực...”.

Đi lên chủ nghĩa xã hội không phải là con đường bất định.

 

Từ khi mô hình chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Đông Âu, Liên Xô sụp đổ, chủ nghĩa tư bản (CNTB) và thế lực thù địch tăng cường xuyên tạc, cố tình gieo rắc vào nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân lao động rằng: Con đường đi lên CNXH là bất định, không có thật.

Tuy nhiên, từ lý luận cho đến thực tiễn, thành tựu của đất nước ta trong suốt những năm qua cho thấy, việc đi lên CNXH là tất yếu của loài người và là con đường hoàn toàn đúng đắn của đất nước ta, dân tộc ta, là tương lai rộng mở.

Vì sao chủ nghĩa tư bản cố sức phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội?

Sự sụp đổ của mô hình CNXH ở Đông Âu và Liên Xô khiến cách mạng thế giới lâm vào thoái trào, các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thừa cơ xuyên tạc, chống phá, phủ nhận CNXH. Ngay trong chính những người cộng sản cũng có không ít người hoài nghi, bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn khoa học và khả năng hiện thực của CNXH. Thậm chí nhiều người còn phụ họa theo các luận điệu thù địch, ra sức công kích, bài bác CNXH, ca ngợi CNTB, cổ xúy cho CNTB, lấy ví dụ từ các nước TBCN giàu có để quy kết cho những giá trị cuối cùng mà nhân loại phải hướng tới.

Một trong những luận điệu hết sức thâm độc, nguy hiểm tác động mạnh mẽ vào nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân chính là luận điệu cho rằng: Con đường đi lên CNXH là bất định, không có thật. Nhiều người nhìn vào điều kiện vật chất, trình độ phát triển của nước tư bản phát triển để nhầm tưởng rằng: CNTB là chế độ xã hội ưu việt, là mục tiêu vươn tới của nhân loại. Đồng thời ra sức chê bai, phủ nhận CNXH, từ đó cho rằng con đường đi lên CNXH ở Việt Nam chỉ là bánh vẽ viển vông, thiếu thực tế.

Vì sao CNTB, các lực lượng thù địch lại quyết liệt chống phá CNXH, quả quyết khẳng định con đường đi lên CNXH là bất định? Đó là vì con đường đi lên CNXH và những mục tiêu cách mạng XHCN đang đe dọa sự tồn vong của CNTB. Là vì con đường đi lên CNXH ngày càng sáng rõ, ngày càng khẳng định giá trị hiện thực.

Tranh minh họa. Nguồn: internet
Tranh minh họa. Nguồn: internet

Thực tế, nhiều nước tư bản đã phát triển ở trình độ cao và đang tiếp tục phát triển. Tuy nhiên, đó chỉ là cái nhìn phiến diện một chiều về kết quả của CNTB ở thời điểm hiện tại. Hãy quay lại lịch sử ra đời của CNTB, ngay trong bước đi đầu tiên ở giai đoạn tích lũy nguyên thủy tư bản, giai cấp tư sản đã in hằn vào lịch sử nhân loại những dòng đầy máu và nước mắt. Giai cấp tư sản ở các nước tư bản phương Tây đã ra sức tước đoạt của cải, bóc lột sức người, vơ vét tài nguyên của các nước thuộc địa và người lao động ở chính quốc để phục vụ mục đích làm giàu vô hạn độ. Khoảng cách giàu nghèo trong xã hội tư bản ngày càng mở rộng, lớn lên và không bao giờ có thể khỏa lấp. V.I.Lênin khẳng định bản chất về chính trị của CNTB là thối nát và phản động; chủ nghĩa đế quốc là bạn đường của chiến tranh; còn chủ nghĩa đế quốc là còn nguy cơ chiến tranh. Rõ ràng đến nay, luận điểm đó không những còn nguyên giá trị mà còn khắc sâu hơn bản chất của CNTB đương đại.

Chính học giả người Anh là Terry Eagleton, trong tác phẩm “Tại sao Mác đúng” đã phải cay đắng thừa nhận: “Những nước tư bản hiện đại là kết quả của một lịch sử nô dịch, diệt chủng, bạo lực và bóc lột một cách ghê tởm”.

Ngày nay, các nước tư bản vẫn tiếp tục gây chiến tranh, xung đột, áp đặt cường quyền, áp đặt giá trị dân chủ tư bản cho cả thế giới, để gieo rắc nỗi đau, sự bất bình đẳng, áp bức bóc lột với giai cấp vô sản, nhân dân lao động, với các quốc gia khác và coi đó là giá trị đương nhiên.

Thu hoạch cà phê ở Lâm Đồng. Ảnh minh họa: TTXVN 
Thu hoạch cà phê ở Lâm Đồng. Ảnh minh họa: TTXVN 

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội có đích đến hiện thực

Hoàn toàn có cơ sở khoa học để khẳng định chắc chắn rằng: Con đường đi lên CNXH trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng không hề viển vông, bất định như CNTB và các thế lực thù địch xuyên tạc. Ngược lại, nó được minh chứng thuyết phục, sinh động cả về lý luận và thực tiễn.

Trước hết, CNXH là sự vận động tất yếu của lịch sử. Bằng hai phát kiến vĩ đại là học thuyết giá trị thặng dư và chủ nghĩa duy vật lịch sử, C.Mác đã luận giải thuyết phục sự vận động, phát triển của xã hội loài người. Dựa trên các quy luật vận động nội tại của xã hội, nhất là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất và quy luật mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, C.Mác đã đi đến khẳng định: “Sự phát triển của những hình thái kinh tế-xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên”.

Ở đây C.Mác và Ph.Ănghen đã phát triển CNXH từ không tưởng thành khoa học khi luận chứng nó từ quy luật vận động của lịch sử như sự vận động tất yếu của các quy luật kinh tế, quy luật xã hội đã hình thành ngay trong lòng CNTB. Như vậy, biện chứng khách quan của lịch sử chính là sự vận động phát triển không ngừng của các hình thái kinh tế-xã hội. Theo đó, hình thái kinh tế-xã hội XHCN tất yếu sẽ thay thế hình thái kinh tế-xã hội TBCN. Con đường đi lên của nhân loại không gì khác là chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn thấp là CNXH. Đó là tất yếu của lịch sử chứ không phải là ảo vọng hay sự tự biện của những người cộng sản.

Thứ hai, mục tiêu của CNXH là không xa vời mà rất cụ thể. Đó là xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xóa bỏ sự phân chia giai cấp, xây dựng một xã hội bình đẳng, tự do, hạnh phúc. Ở CNXH có sự khác biệt rất căn bản so với tất cả phương thức sản xuất trước đó chính là nằm ở mục tiêu hay con đường đi tới. Trong xã hội trước đây chỉ là sự thay thế phương thức sản xuất này bằng phương thức sản xuất khác thông qua một cuộc cách mạng xã hội. Tuy nhiên, đó chỉ là thay thế giai cấp thống trị này bằng giai cấp thống trị khác, quần chúng cần lao vẫn là giai cấp bị trị, vẫn chịu sự bóc lột bằng cách này hoặc cách khác. CNXH là một xã hội được xây dựng nhằm hướng tới mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng con người, xóa bỏ triệt để chế độ người bóc lột người.

V.I.Lênin đã chỉ ra xu thế tất yếu của thời đại là quá độ đi lên CNXH trên toàn thế giới với mục tiêu rất cụ thể là xây dựng thành công CNXH. Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, dân tộc khác nhau thì lựa chọn con đường, cách thức, biện pháp khác nhau. Mỗi quốc gia phải dựa vào đặc điểm tình hình cụ thể của mình để định hình con đường đi lên CNXH phù hợp. Tùy theo tư duy, nhận thức, cách thức tổ chức thực hiện ở từng Đảng Cộng sản, từng quốc gia khác nhau sẽ có độ dài-ngắn trên con đường đi đến đích.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “CNXH là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân và do nhân dân tự xây dựng lấy”. 

Thứ ba, CNXH là chế độ xã hội đã được hiện thực hóa trên thực tế, khác biệt về chất so với các chế độ xã hội trước đó.

Từ học thuyết của Chủ nghĩa Mác về CNXH khoa học, thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đã biến CNXH trở thành hiện thực với đầy đủ hình hài của một xã hội tương lai: Giải phóng giai cấp vô sản thoát khỏi ách áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản; giải phóng giai cấp nông dân khỏi gông cùm của địa chủ phong kiến... Những thành tựu trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam, ở Trung Quốc cho thấy con đường đi lên CNXH hoàn toàn là hiện thực, hướng tới xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn xã hội cũ, chứ không phải là điều không tưởng.

Thứ tư, CNXH đang được xây dựng toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở Việt Nam. Đây là minh chứng sinh động, cụ thể về một mô hình CNXH được xác định qua 8 đặc trưng cơ bản về mục tiêu; về trình độ lực lượng sản xuất; quan hệ sản xuất; nền văn hóa; về con người, về nhà nước pháp quyền XHCN... 8 đặc trưng này là sự khái quát hóa mô hình của CNXH, nó không chỉ dừng lại trong chiến lược, trong nghị quyết mà được hiện thực hóa trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Biểu hiện rất cụ thể của dân chủ XHCN là “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đó là minh chứng rõ ràng, thuyết phục về sự hiện thực hóa nội hàm của con đường đi lên CNXH. Bởi xét cho cùng, giá trị của cách mạng XHCN đều kết tinh ở chỗ người dân làm chủ cái gì, thụ hưởng được cái gì. Và cũng chính điều này khẳng định sự khác biệt về bản chất của chế độ XHCN so với chế độ TBCN.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Xã hội chúng ta đang xây dựng là một xã hội mà ở đó mọi sự phát triển thực sự là vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà chà đạp lên phẩm giá con người; đó cũng là một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới những giá trị tiến bộ, nhân văn chứ không vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và phe nhóm. Đảng và Nhà nước ta, toàn dân ta nỗ lực xây dựng một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có.

Rõ ràng những giá trị tốt đẹp chúng ta đang xây dựng không hề xa vời, viển vông mà ngược lại đó là những giá trị đích thực của CNXH, chúng ta hoàn toàn có thể xác lập, xây dựng và hiện thực hóa. Điều đó cũng khẳng định rằng con đường đi lên CNXH không phải là bất định như nhiều kẻ xấu rêu rao mà là con đường hiện thực, có đích đến cụ thể mà chúng ta có quyền lựa chọn, có quyền nỗ lực, kiên định, kiên trì thực hiện và có quyền tin tưởng rằng CNXH sẽ được xây dựng thành công trên đất nước Việt Nam. Tuy nhiên, CNXH không phải là cái gì đó sẵn có, nó phải được định hình về mục tiêu, cách thức xây dựng, nó phải do chính bàn tay, khối óc và quyết tâm chính trị mạnh mẽ của những người cộng sản, những người lao động để đấu tranh, xác lập, sáng tạo nên.

Hạn chế của lý thuyết phát triển phương Tây thế kỷ XX

 


Ở phương Tây, nhiều nhà kinh tế học đã cố gắng xây dựng những nội dung chủ yếu của khái niệm phát triển như Keynes, Berry, Lacoste... Đặc biệt các lý thuyết về phát triển của Nurkse (thuyết phát triển cân bằng), Kodan (thuyết “cái huých lớn”) Rostow (thuyết các giai đoạn phát triển) chủ yếu nhấn mạnh tới mặt kinh tế, coi kinh tế như động lực quan trọng nhất của phát triển. Các lý thuyết phát triển trong thế kỷ XX dường như chỉ chú ý đến sự tăng trưởng kinh tế, thậm chí đồng nhất phát triển với tăng trưởng kinh tế, lấy tăng trưởng kinh tế làm mục tiêu duy nhất. Người ta đưa ra chỉ số thu nhập bình quân đầu người GDP, hiệu năng của nền sản xuất, hay mức đáp ứng yêu cầu vật chất làm thước đo duy nhất để đánh giá sự phát triển. Do vậy, nhiều quốc gia theo quan điểm này đem hết mọi nỗ lực vào sự tăng trưởng kinh tế, đặc biệt chú ý đến sự phát triển khoa học công nghệ, chiếm lĩnh và khai thác tất cả các tài nguyên thiên nhiên.

Trong thực tế, các lý thuyết trên đã không chú ý đến những vấn đề văn hóa, xã hội (thực chất là con người) gạt bỏ các yếu tố văn hóa, truyền thống, di sản tinh thần, đạo đức, lối sống... ra ngoài sự tăng trưởng kinh tế. Người ta cho rằng, các yếu tố ấy không gắn với kinh tế, hay “không kinh tế”, “phi kinh tế” hoặc chỉ là cái đuôi của kinh tế “thuộc lĩnh vực phúc lợi xã hội”. Mô hình của chủ nghĩa tư bản đã ra đời hơn 300 năm qua phần lớn nhân loại đi theo đã tạo ra một tiềm lực kinh tế, khoa học to lớn. Tuy nhiên, mô hình ấy vẫn chưa đem lại hạnh phúc cho nhân loại. Ngược lại, nó còn tạo ra những nghịch lý của phát triển (như: sự phân cực giàu nghèo ngày càng gia tăng cách biệt, môi trường ô nhiễm nặng nề, cạn kiệt tài nguyên, khủng hoảng xã hội và gia đình...). Sự thực mọi giá trị được xã hội tư bản cổ súy như: tự do, dân chủ, nhân quyền hiện nay đã không đủ hấp dẫn nhân loại. Nhiều nước “thế giới thứ ba” đi theo mô hình này hoặc đi theo mô hình kia đều đã không thành công. Cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, người ta ước tính ra có khoảng hơn 60 nước không đạt được sự thành công như mong muốn. Dấu hiệu của sự không thành công chính là: Tăng trưởng kinh tế nhưng việc làm ngày càng giảm đi, gia tăng sự thất nghiệp; Tăng trưởng kinh tế nhưng phân hóa giàu nghèo và bất công xã hội ngày càng sâu sắc; Tăng trưởng kinh tế nhưng đa số dân chúng không có quyền làm chủ, họ bị lũng đoạn của các thế lực đồng tiền; Tăng trưởng kinh tế nhưng suy thoái về văn hóa, đạo đức; Tăng trưởng kinh tế nhưng môi trường ô nhiễm, tài nguyên cạn kiệt, sự cân bằng sinh thái bị phá vỡ, dẫn đến nguy cơ của một cuộc “tự sát” toàn cầu...; Tăng trưởng kinh tế nhưng tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định về chính trị, xã hội...

Dĩ nhiên, không thể phủ nhận vai trò của tăng trưởng kinh tế, bởi đó là cơ sở, tiền đề, là điều kiện cho phát triển. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế phải nhằm phục vụ mục tiêu phát triển xã hội, phát triển con người. Tăng trưởng kinh tế phải gắn với tiến bộ và công bằng xã hội. Nếu chỉ chạy theo chủ nghĩa kinh tế đơn thuần (duy kinh tế) thì sự tăng trưởng kinh tế là vô nghĩa, có hại và thực chất là phản phát triển.

Nhận thức khoa học về sự phát triển

 


Quan điểm mácxít giải thích sự vận động, biến đổi của tự nhiên, xã hội và tư duy bằng quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập; quy luật phủ định của phủ định (phát triển không đi theo đường thẳng mà theo con đường xoáy ốc); quy luật sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, cùng với các cặp phạm trù: cái riêng, cái chung và cái đơn nhất; nguyên nhân và kết quả; tất nhiên và ngẫu nhiên; nội dung và hình thức; bản chất và hiện tượng; khả năng và hiện thực…

“Phát triển” trong tư cách một thuật ngữ khoa học chính là sự khái quát về quá trình vận động, biến đổi của thế giới khách quan. V.I.Lênin từng nêu rõ: Phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện”2 để khái quát quá trình vận động từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện của sự vật, hiện tượng. Véctơ (chiều hướng) của sự phát triển là vận động tiến bộ đi lên theo vòng xoáy ốc, vòng xoáy sau lặp lại vòng xoáy trước nhưng ở một nấc cao hơn chứ không phải quay về điểm xuất phát ban đầu.

Con đường của phát triển thường quanh co, phức tạp nhưng cuối cùng vẫn đi lên theo quy luật khách quan, xóa bỏ cái cũ, cái lạc hậu và cái mới tiến bộ, hoàn thiện hơn, phù hợp hơn tất yếu sẽ ra đời. Nói cách khác, phát triển là thay đổi về bản chất theo hướng tiến bộ đi lên bi những nội dung mới và hình thức mới phù hợp. Cần đánh giá sự phát triển và kiến tạo sự phát triển bằng quan điểm duy vật biện chứng khoa học, tức là đánh giá hoặc kiến tạo sự phát triển sự vật trong mối liên hệ phổ biến với các sự vật khác, trong các chiều so sánh đồng đại và lịch đại, lịch sử, cụ thể, có minh chứng thuyết phục về lượng và chất, về hình thức và nội dung, về khả năng và hiện thực.



2 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005, t.23, tr.53.

Không mơ hồ, lẫn lộn giữa tự do ngôn luận, tự do báo chí với ngôn luận tự do, báo chí tự do

 

Một trong những luận điệu thiếu thiện chí của một số tổ chức, cá nhân đối với Việt Nam là xuyên tạc ở đất nước Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí. Tuy nhiên, lập luận của họ đa phần có sự đánh tráo khái niệm giữa tự do ngôn luận, tự do báo chí với ngôn luận tự do, báo chí tự do.

Ý nghĩa chân chính của tự do ngôn luận, tự do báo chí

Vốn dĩ tự do là quyền cơ bản của con người, nhưng cùng với đó là nhận thức và hành xử phù hợp với cộng đồng, quốc gia, dân tộc, để tôn trọng quyền tự do của người khác và tuân thủ pháp luật. Điều 29 trong “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền” năm 1948 của Liên hợp quốc nêu rõ: “Mỗi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.

Tự do ngôn luận và tự do báo chí là hai khái niệm trong cùng lĩnh vực, chỉ khác nhau về cấp độ. Báo chí là diễn đàn trong một xã hội phát triển, để mọi công dân, mọi tầng lớp, mọi độ tuổi, giới tính, ngành nghề khác nhau được quyền phát ngôn, bày tỏ tư tưởng, ý kiến, thể hiện hành động và báo chí trở thành nơi mà tự do ngôn luận thể hiện tập trung, mạnh mẽ và được lan tỏa nhiều nhất.

Cũng chính vì thế, tự do báo chí trở thành mối quan tâm đặc biệt ở mọi nơi, mọi quốc gia, mọi thể chế chính trị-xã hội. Dù ở nền báo chí tư bản hay báo chí xã hội chủ nghĩa, thì báo chí đều có những chức năng chung như: Thông tin, phản ánh, hình thành và định hướng dư luận xã hội, giáo dục, giải trí...

Báo chí được tạo điều kiện tác nghiệp tại Việt Nam. Ảnh minh họa: cand.com.vn
Báo chí được tạo điều kiện tác nghiệp tại Việt Nam. Ảnh minh họa: cand.com.vn

Những chức năng cơ bản này tạo ra cho báo chí một trách nhiệm xã hội, vì sự tiến bộ và phát triển chung của xã hội, hướng tới những giá trị hạnh phúc phổ quát của con người. Vì vậy, khi thực hiện quyền tự do báo chí cũng phải gắn với các chức năng đó, không đi ngược lại các giá trị chân lý, đạo đức, văn hóa, không chống lại an ninh chung của cộng đồng, không trái với xu thế tiến bộ của nhân loại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có lời giải thích rất rành mạch về tự do ngôn luận, tự do báo chí như sau: “Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý... Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý”. Như vậy, có thể thấy, tự do báo chí chân chính phải đặt trên nền tảng một xã hội dân chủ, tốt đẹp, nhân văn, mọi hoạt động báo chí đều phục vụ lợi ích của đông đảo nhân dân.

Không có tự do báo chí thuần túy, tuyệt đối, đứng bên ngoài xã hội, cộng đồng, thể chế chính trị và bị bóp nghẹt trong chế độ độc tài, khi nhà cầm quyền đã trở thành vật cản bước tiến xã hội. Không có quyền nào vượt lên ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển xã hội do chế độ kinh tế đó quy định. Chỉ có tự do báo chí trong xã hội dân chủ, khi giai cấp cầm quyền có vai trò tiến bộ dẫn dắt xã hội.

Trong thực tiễn, hầu hết mọi thể chế chính trị khác nhau đều coi việc chống lại nhà cầm quyền là vi phạm pháp luật và không có nơi nào có văn bản coi tự do ngôn luận, tự do báo chí là quyền tuyệt đối. Khi là Tổng thư ký Liên hợp quốc, ông Ban Ki-moon từng nói: “Tự do ngôn luận được bảo vệ khi nó được sử dụng vào mục đích công lý và cộng đồng... Khi một số người sử dụng quyền tự do này để khiêu khích hoặc sỉ nhục các giá trị niềm tin của người khác thì hành động đó sẽ không được bảo vệ”.

Cảnh giác mưu đồ cổ xúy “ngôn luận tự do, báo chí tự do”

Trong các luận điệu chỉ trích Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí, có thể thấy các lập luận đã cố tình tập trung vào vế đầu của “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền” năm 1948, khẳng định tự do tư tưởng, tự do xuất bản là quyền cơ bản của con người, mà bỏ đi vế sau là quyền tự do đó nằm trong khuôn khổ pháp luật và thể chế mỗi quốc gia.

Thay vì xem xét các mối quan hệ giữa Hiến pháp, pháp luật và hoạt động báo chí thực tiễn, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí chỉ tập trung vào các vụ việc và cá nhân cụ thể để xuyên tạc về tự do ngôn luận, tự do báo chí của Việt Nam. Khái niệm mà họ sử dụng chính là "ngôn luận tự do", "báo chí tự do", gần với khái niệm tự do tuyệt đối, không có giới hạn.

Tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) nhiều năm gần đây xếp Việt Nam ở vị trí gần cuối bảng xếp hạng về tự do báo chí của 180 quốc gia, với những lý do chủ yếu là “đàn áp các blogger”, “bắt giam các nhà báo”, nhưng trong những vụ việc này, các đối tượng bị bắt giữ đều có hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ để đưa tin sai sự thật, tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước, xuyên tạc tình hình kinh tế-xã hội ở Việt Nam.

Trên một kênh truyền thông ở hải ngoại thiếu thiện chí, khi bình luận về Việt Nam gần đây, có một bài viết về bảng xếp hạng của RSF. Nhưng tổ chức RSF lại không đưa ra được khái niệm hay cách hiểu nào về tự do báo chí. Nếu họ cho rằng không thể bắt giữ các nhà báo và cho rằng không ai đáng bị bắt vì lý do tham gia ngôn luận, thì có lẽ họ đã bỏ qua hoàn toàn việc hoạt động báo chí phải nằm trong khuôn khổ pháp luật. Với cách lập luận như vậy, họ đang cổ xúy cho ngôn luận tự do, báo chí tự do mà không chịu bất cứ trách nhiệm xã hội nào.

Trong vụ việc bắt giữ một nữ nhà báo gần đây, có thể thấy rõ trong thời gian dài, nhà báo này đã công khai chỉ trích nhiều cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức trên trang cá nhân của mình, như Công ty Cổ phần Đại Nam, Quỹ Sống Foundation, Mạng lưới Tự kỷ Việt Nam... với lời lẽ nặng nề nhưng không có căn cứ xác đáng. Núp dưới chiêu bài “nêu nghi vấn”, “đặt dấu hỏi”, “phân tích giả định”, “đấu tranh chống tiêu cực”, nhà báo này đã tùy tiện đưa ra những thông tin có nhiều dấu hiệu quy chụp, phán xét không khách quan, sai sự thật, bất chấp luật pháp và đạo lý.

Ngôn luận tự do dựa theo những phán đoán, suy diễn chủ quan, ác ý đã dẫn một người từng là nhà báo kiêm luật sư phải chịu trách nhiệm trước pháp luật vì lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức khác. Một số nhà báo, luật sư, người dùng mạng xã hội khác bị bắt cũng có chung vi phạm pháp luật như vậy.

Khi phê phán, chỉ trích Việt Nam không có tự do ngôn luận và tự do báo chí, các thế lực thù địch cũng không chỉ ra được điều luật nào, quy định nào ngăn cản tự do của nhà báo, mà có xu hướng áp đặt hình mẫu phương Tây cho Việt Nam. Đó là một cách tiếp cận không có cơ sở khoa học. Nội hàm của tự do ở mỗi quốc gia, mỗi thời điểm có thể giống nhau về phổ quát, còn lại sẽ mang đặc điểm của mỗi thể chế chính trị-xã hội. Thực chất, không có nơi nào có tự do tuyệt đối, đây chỉ là một khái niệm mang tính tương đối và có sự phát triển trong các nền tảng xã hội khác nhau.

Như vậy, ngôn luận tự do, báo chí tự do theo cách mà các thế lực thù địch tuyên truyền là đề cao tư tưởng của các cá nhân, không đi kèm trách nhiệm và các khuôn khổ luật pháp, đạo đức xã hội, không quan tâm hoặc xem nhẹ những hệ quả gây ra cho xã hội, cộng đồng. Điều đó khác rất xa với tự do ngôn luận, tự do báo chí chân chính có trách nhiệm với sự phát triển tiến bộ của xã hội và nhân loại.  

Việt Nam luôn bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận

Ở Việt Nam, ngay từ trong cuộc đấu tranh giành độc lập, Mặt trận Việt Minh do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đứng đầu đã giương cao ngọn cờ đòi quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức, tín ngưỡng, đi lại, bác bỏ áp bức bất công của chính quyền thực dân.

Khi giành được chính quyền, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 đã hiến định quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản và các quyền tự do khác của công dân. Trải qua các lần sửa đổi, bổ sung, Hiến pháp các năm 1959, 1980, 1992 và gần đây là Hiến pháp năm 2013 luôn nhất quán khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân.

Cùng với Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác, Luật Báo chí cũng đặt ra các nền móng cơ bản và thống nhất cho tự do ngôn luận, tự do báo chí. Điều 10 Luật Báo chí năm 2016 quy định: “Công dân có quyền: 1. Sáng tạo tác phẩm báo chí; 2. Cung cấp thông tin cho báo chí; 3. Phản hồi thông tin trên báo chí; 4. Tiếp cận thông tin báo chí; 5. Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí; 6. In, phát hành báo in”. Như vậy, dù Việt Nam không có báo chí tư nhân nhưng luật pháp quy định mọi công dân đều có quyền tham gia vào hoạt động báo chí.

Các thế lực chống phá thường vin vào việc Việt Nam không có mô hình báo chí tư nhân mà cố tình lờ đi rằng, mọi công dân đều được quyền tham gia sáng tạo và xuất bản báo chí, mọi tầng lớp, tổ chức trong xã hội đều có cơ quan báo chí đại diện của mình.

Điều 11 Luật Báo chí năm 2016 nêu rõ: Công dân có quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác. Điều 13 ghi rõ: “Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”.

Không chỉ về phương diện pháp lý mà trong thực tiễn, tự do báo chí ở Việt Nam cũng được biểu hiện sinh động. Nền báo chí Việt Nam phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, loại hình, quy mô, công nghệ làm báo. Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến tháng 5-2023, cả nước có 808 cơ quan báo chí (trong đó: 138 báo, 670 tạp chí) và 42.400 người hoạt động trong lĩnh vực báo chí, gấp khoảng 6 lần so với thập niên 2000.

Ngoài ra, không thể không kể đến mạng xã hội đã tham gia mạnh mẽ vào môi trường truyền thông trong khoảng 10 năm trở lại đây. Ở Việt Nam, công dân không bị ngăn cấm tham gia mạng xã hội. Quyền phát ngôn, tham gia ý kiến, thảo luận về mọi vấn đề xã hội đã được mở rộng rất nhiều trên các phương tiện truyền thông mới này. Báo chí cùng với mạng xã hội đã trở thành một diễn đàn lớn, nơi mà mọi người dân đều có tiếng nói, mọi vấn đề quốc kế dân sinh được trao đổi, thảo luận, đó là những biểu hiện rất rõ ràng của tự do báo chí, tự do ngôn luận.

Báo chí hiện đại trong những năm gần đây, cùng sự hỗ trợ của công nghệ truyền thông số, đã tăng cường tính tương tác với công chúng. Trên các báo điện tử đều mở phần bình luận cho người đọc. Các kênh phát thanh, truyền hình đều có những chương trình phát sóng trực tiếp, có số điện thoại đường dây nóng để người nghe, người xem gọi điện tương tác ngay khi chương trình đang diễn ra.

Với những thiết bị hiện đại, nhà đài có thể di chuyển đến phỏng vấn và phát sóng trực tiếp ngay tại nhà của các công dân. Mặt khác, các cơ quan báo chí đều thiết lập những chương trình thu thập chất liệu phản ánh từ các “nhà báo công dân”. Đó là minh chứng rất rõ ràng về việc báo chí có thể xuất bản ngay mà không qua kiểm duyệt.

Như vậy, cả trên phương diện pháp lý và hoạt động thực tiễn, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam đều được thể hiện rõ ràng, luôn gắn với quy định pháp luật, luôn hướng tới mục đích phụng sự nhân dân, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội. Tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam không phải là ngôn luận tự do, báo chí tự do theo ý chí cá nhân, mà là tự do xây dựng vì những mục tiêu tốt đẹp, vì trách nhiệm chân chính với cộng đồng, vì một thể chế chính trị-xã hội của dân, do dân, vì dân.

Các thế lực thù địch dù có tấn công, chỉ trích, chống phá như thế nào cũng không thể thay đổi bản chất tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Thực ra đó chỉ là những tiếng nói tiêu cực, lạc lõng của những người cố tình đi ngược chiều với sự phát triển bền vững của đất nước ta, nhân dân ta và của nền báo chí cách mạng đáng tự hào của chúng ta.  

Nghĩ thấu đáo trước khi phát ngôn.

 

Vừa đến cửa, ông Cường đã kéo ông Nam ngồi xuống, giọng bức xúc:- Tại sao Quân đội chưa đề nghị tăng tuổi nghỉ hưu cho sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp? Chẳng nhẽ bây giờ chúng ta sợ cán bộ, nhân viên không đủ sức khỏe để phục vụ? Tôi đọc mấy bình luận trên mạng xã hội mà tức anh ách!

Ông Nam từ tốn hỏi:

- Thế họ bình luận sao mà ông tức?

- Thì chỉ vì chuyện đề nghị tăng tuổi hưu hay không mà họ bảo bộ đội thời nay sợ gian khổ, kém rèn luyện, không đủ sức phục vụ lâu dài.

- Tôi theo dõi thông tin thấy Quốc hội chưa thảo luận vấn đề này. Vậy mà các “chuyên gia bàn phím” trên mạng xã hội đã “bàn” xong hết rồi. Việc tăng hay giảm tuổi nghỉ hưu Bộ Quốc phòng phải nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng trước khi báo cáo Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định. Vậy mà ông lại tự “chốt” là không đề xuất tăng tuổi nghỉ hưu? Chính ông cũng chưa nắm vững vấn đề và đang bị kích động đấy ông Cường ạ!

 Chiến sĩ mới thực hành kiểm tra gói buộc lượng nổ. Ảnh: qdnd.vn

 Chiến sĩ mới thực hành kiểm tra gói buộc lượng nổ. Ảnh: qdnd.vn

Ông Cường vẫn khăng khăng:

- Tôi thấy trên mạng người ta nói thế thì tôi nói thôi.

- Ông có biết là nếu tăng tuổi nghỉ hưu đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp thì cũng chỉ phù hợp với một bộ phận thôi. Ông từng trong quân ngũ, cũng biết không phải vị trí nào tuổi cao cũng làm tốt. Nếu ở đơn vị cơ sở, suốt ngày bám nắm bộ đội, trực tiếp huấn luyện, tham gia diễn tập, sẵn sàng chiến đấu thì tuổi cao cán bộ có đủ sức theo bám bộ đội không? Hơn nữa, những năm gần đây, khi đang tinh giản biên chế thì giữ tuổi nghỉ hưu như hiện nay, tôi nghĩ cũng là một phương án để giải quyết bài toán số lượng. Ông đọc thông tin trên mạng xã hội thì phải chọn lọc. Các thế lực phản động bây giờ toàn dựa vào mấy “chuyện nóng” để xuyên tạc, tung tin thất thiệt, chống phá, gây hoang mang trong dư luận. Mình không phân biệt được lại đi tuyên truyền cho chúng là “tự diễn biến” đấy. Ông cần suy nghĩ thấu đáo và nắm chắc thông tin chính thống trước khi nói nhé.

Ông Cường cười xuê xoa:

- Ờ thì, tôi chỉ nghĩ sao nói vậy. May cũng mới nói với ông, chứ nói ra ngoài thì có khi lại mang tiếng “phản động”. Cảm ơn ông, tôi sẽ rút kinh nghiệm!

Nhận thức đúng về công tác cán bộ của Đảng ta.

 

Trước yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, Đảng ta xác định tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đồng thời, kiên quyết, kiên trì rà soát, sàng lọc đưa những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất ra khỏi Đảng và bộ máy chính trị các cấp, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Tuy nhiên, có một số cán bộ, đảng viên và quần chúng hiểu chưa thấu đáo vấn đề này, trong khi đó, các thế lực thù địch đang sử dụng nhiều thủ đoạn xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng, gây nên tâm lý hoài nghi trong một bộ phận nhân dân. Bởi thế, nhận thức đúng công tác cán bộ của Đảng là một yêu cầu, biện pháp quan trọng trong đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay.

Thấu suốt việc “then chốt” không thể bị “gài chốt”

 Hiện tượng một bộ phận dư luận hoài nghi về các chủ trương, biện pháp trong tiến hành công tác cán bộ của Đảng có nhiều nguyên nhân. Đó có thể là những người (có cả cán bộ, đảng viên) bản lĩnh chính trị thiếu vững vàng, dao động trước các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc. Đó có thể là những người không có thông tin và bị các thế lực thù địch dẫn dắt bằng những thông tin thiếu cơ sở...

Để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ hơn luận điệu của các thế lực thù địch xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng ta, xin được minh chứng bằng một việc cụ thể. Những người am hiểu về công tác cán bộ của Đảng đều biết rõ, Đại hội lần thứ XIII là kỳ đại hội dành rất nhiều tâm huyết, trí tuệ của Đảng để làm tốt nhất công tác cán bộ, bởi Đảng ta luôn xác định, đó là việc “then chốt của then chốt”. Trong bài viết “Một số vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Việc giới thiệu nhân sự, nói chung phải trên cơ sở quy hoạch; giữ vững nguyên tắc, quy chế, quy định, phát huy trách nhiệm, dân chủ, công khai, minh bạch, khách quan trong đánh giá, giới thiệu, lựa chọn nhân sự tham gia Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ tới. Lấy phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ các mặt, uy tín và hiệu quả công tác làm căn cứ và tiêu chí cơ bản để đánh giá, lựa chọn, bố trí cán bộ phù hợp với công việc”.

Để chuẩn bị nhân sự cho Đại hội XIII, Đảng ta đã làm rất bài bản. Tiểu ban Nhân sự chuẩn bị Đại hội XIII được thành lập sớm từ Hội nghị Trung ương 8 khóa XII (tháng 10-2018). Tiếp đó, ngày 30-5-2019, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 35-CT/TW xác định rõ, việc chuẩn bị nhân sự đại hội có vị trí, ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Bộ Chính trị xác định cần tập trung lãnh đạo xây dựng quy hoạch cấp chiến lược nhiệm kỳ 2021-2026 theo phương châm “làm từng bước, làm đến đâu chắc đến đó” với lộ trình cụ thể. Quy trình rà soát, thẩm tra, phê duyệt quy hoạch cán bộ ở Trung ương thực hiện theo 5 bước với khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí rõ ràng, chặt chẽ. Dù công tác cán bộ được làm chặt chẽ, quy trình rõ ràng như vậy, nhưng những thông tin xuyên tạc, bịa đặt về công tác nhân sự đại hội vẫn “như nấm sau mưa”. Một số cán bộ, đảng viên và người dân thiếu thông tin, thiếu hiểu biết đã bị dư luận xấu dẫn dắt, có khi tiếp tay tán phát những thông tin sai trái đó.

Những nhận thức sai trái, thiếu thông tin của cán bộ, đảng viên, quần chúng và sự xuyên tạc công tác cán bộ của các thế lực thù địch thường tập trung vào các vấn đề sau:

Trước hết, nắm bắt được nhu cầu thông tin của nhân dân về công tác chuẩn bị nhân sự trước mỗi kỳ Đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội, hoặc trước khi Đảng, Quốc hội kiện toàn nhân sự, một số cá nhân, đặc biệt là các thế lực thù địch đưa ra những “nhận định”, “dự báo” thiếu thông tin, không chính xác về nhân sự một số vị trí quan trọng. Và, nếu như công tác nhân sự của một số vị trí lãnh đạo đúng như “dự báo” đó thì họ lại vỗ ngực về khả năng tiên đoán, từ đó hướng lái, xuyên tạc những chiều hướng tiếp theo để lôi kéo, dẫn dắt dư luận xã hội theo mục đích của họ. Ngược lại, nếu như những “dự báo” đó không chính xác, họ lại đưa ra luận điệu của cái gọi là “do phe cánh đấu đá nhau” nên người này, người kia bị hạ bệ để đưa người khác lên. Từ đó, họ tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc nhằm gây mất đoàn kết trong nội bộ, gây tâm lý hoài nghi của nhân dân đối với công tác cán bộ của Đảng và phẩm chất, năng lực của một số cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt của Đảng và Nhà nước.

Thứ hai, lợi dụng kết quả cuộc đấu tranh chống tham nhũng do Đảng ta tiến hành, một số người, trong đó có cả cán bộ, đảng viên suy thoái, biến chất lại xuyên tạc, suy diễn cho rằng: Đó là cuộc “thanh toán phe phái”, “trả thù cá nhân” vì “lợi ích nhóm”. Hoặc, lấy hiện tượng một số cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, nguyên tắc sinh hoạt của Đảng, pháp luật của Nhà nước bởi những hành vi tham nhũng, tiêu cực để đưa ra luận điệu của cái gọi là: Tham nhũng là do độc đảng lãnh đạo... quy chụp mọi khuyết điểm, yếu kém trong các lĩnh vực của đời sống xã hội là do công tác cán bộ của Đảng...

Bên cạnh đó, lợi dụng chủ trương luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, một số cá nhân cùng với các thế lực thù địch tung ra nhiều thông tin sai sự thật. Họ phản ánh xuyên tạc về mục đích luân chuyển; rằng việc Đảng luân chuyển cán bộ từ Trung ương về địa phương hoặc từ địa phương này đến địa phương khác là vì thiếu tin tưởng vào phẩm chất, năng lực, uy tín của cán bộ sở tại, hoặc là để “thanh trừng”, “bóp nghẹt” cán bộ địa phương nhằm làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ở địa phương thiếu tin tưởng vào cán bộ được luân chuyển, gây mất đoàn kết trong nội bộ. Đích đến cuối cùng của họ là làm cho “then chốt của then chốt” bị “gài chốt”.

Ảnh minh họa/lyluanchinhtri.vn.
Ảnh minh họa/lyluanchinhtri.vn.

 

Xây dựng bản lĩnh, làm chủ thông tin

 Đảng ta xác định công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”, có liên quan đến sự sống còn của Đảng và vận mệnh của chế độ. Vì vậy, Đảng luôn đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu thật sự có đức, có tài, có uy tín trong Đảng và nhân dân; đồng thời, kiên quyết, kiên trì đấu tranh loại bỏ những cán bộ thoái hóa, biến chất khỏi Đảng và bộ máy lãnh đạo, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị các cấp tinh, gọn, mạnh, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Từ mục đích lớn lao đó, mỗi chúng ta cũng cần nhận thức đúng các vấn đề trong công tác cán bộ, cả về lý luận và thực tiễn hiện nay.

Thứ nhất, Đảng lãnh đạo công tác cán bộ là bất di bất dịch

Trong hơn 93 năm qua, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Nhờ phát huy tốt vai trò, trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ mà Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ. Đảng ta luôn thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, qua đó Đảng đã xây dựng được đội ngũ cán bộ ngày càng trưởng thành, lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng. Chính vì vậy, việc nhận thức chưa đúng, cũng như mọi luận điệu phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo cán bộ và công tác cán bộ là phi thực tế.

Thứ hai, “mục tiêu đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhằm làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước, để phát triển đất nước”

Quan điểm Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn. Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời, không có vùng cấm, không có ngoại lệ những hành vi tham nhũng, lãng phí và bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, lãng phí”(1). Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã nhiều lần khẳng định quan điểm mục tiêu của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhằm làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước, để phát triển đất nước. Đây là cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm”, không phải là cuộc đấu giữa các “phe cánh” hay “đấu đá nội bộ”, như có người không hiểu hoặc cố tình xuyên tạc với động cơ sai, dụng ý xấu. Cuộc đấu tranh này để làm cho Đảng ta mạnh hơn, nước ta mạnh hơn, xây dựng được đội ngũ cán bộ có đức, có tài, có tâm, có tầm, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Hiện tượng một số cán bộ bị xử lý, cho ra khỏi Đảng và bộ máy nhà nước do hành vi tham nhũng, tiêu cực thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng, phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Đó hoàn toàn không phải là “đấu đá quyền lực”, “lợi ích nhóm” như luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.

Thứ ba, công tác luân chuyển cán bộ nhằm mục tiêu đào tạo, rèn luyện đội ngũ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ

Luân chuyển cán bộ là một chủ trương rất quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng nhằm tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo toàn diện của đội ngũ cán bộ. Đồng thời, tạo điều kiện cho cán bộ trẻ, có triển vọng, cán bộ trong diện quy hoạch được rèn luyện, thử thách; tạo nguồn cán bộ lâu dài cho đất nước; tăng cường cán bộ cho các lĩnh vực và địa bàn cần thiết; khắc phục tình trạng cục bộ trong công tác cán bộ, khép kín trong từng ngành, từng địa phương và từng đơn vị. Công tác luân chuyển cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược luôn là chủ trương lớn của Đảng, chủ trương này tiếp tục được thực hiện theo Quy định số 65-QĐ/TW ngày 28-4-2022 của Bộ Chính trị “về luân chuyển cán bộ”.

Công tác luân chuyển cán bộ thời gian qua được kết hợp chặt chẽ với việc thực hiện chủ trương bố trí người đứng đầu không là người địa phương và đạt được kết quả rất tích cực, tạo sự thống nhất cao trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội. Qua đó, góp phần đào tạo, rèn luyện cán bộ và chủ động chuẩn bị nguồn cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, tạo sự chuyển tiếp vững vàng giữa các thế hệ cán bộ. Đồng thời, đây cũng là minh chứng để phản bác các quan điểm sai trái, nhận thức chưa đúng mục tiêu công tác luân chuyển cán bộ của Đảng hiện nay.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác cán bộ đã đạt được những kết quả rất quan trọng: Kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong từng khâu của công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền; hoàn thiện thể chế, tiêu chuẩn, chức danh, tiêu chí, cơ chế đánh giá cán bộ; xây dựng, hoàn thiện cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, hành động quyết liệt vì lợi ích chung”... Điều đó khẳng định chủ trương, cách làm đúng đắn, nhất quán của Đảng, đồng thời là động lực để mỗi cán bộ nỗ lực phấn đấu, vươn lên, xứng đáng với niềm tin của nhân dân.