Thứ Ba, 18 tháng 7, 2023

Phê phán luận điệu xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam

 Phê phán luận điệu xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam

Với âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước ta, lợi dụng internet và mạng xã hội, thời gian qua, một số cá nhân, tổ chức phản động đã “mượn gió bẻ măng”, lộng ngôn xuyên tạc, phủ nhận thành quả đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Những ý kiến xuyên tạc lạc lõng, ác ý

Những năm gần đây, bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, diễn biến phức tạp như cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt hơn; chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa đơn phương, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy. Đại dịch Covid-19 tác động nghiêm trọng và để lại hậu quả nặng nề trên mọi mặt của đời sống xã hội ở hầu hết quốc gia hơn hai năm qua.

Sự kiện Nga thực hiện chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine cũng tác động nhiều mặt đến đời sống chính trị và an ninh quốc tế. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng. Môi trường an ninh, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông của một số quốc gia Đông Nam Á tiếp tục diễn biến phức tạp.

Lợi dụng bối cảnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ráo riết tung ra những luận điệu xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam; trong đó, đường lối đối ngoại là một mặt trận mà họ quyết liệt chống phá nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành ngoại giao Việt Nam.

Thời gian qua, trên một số trang mạng xã hội, nổi cộm như: “Chân trời mới media”, “Hội anh em dân chủ”... đã xuất hiện những quan điểm, ý kiến của cái gọi là “luật sư độc lập”, “nhà báo tự do”, “nhà dân chủ”, “nhà nghiên cứu”, “người Việt yêu nước”... dưới các hình thức “thư góp ý”, “lời kêu gọi”, “tư vấn cho Nhà nước Việt Nam”, “phản biện”, “kiến nghị”... nhằm phê phán, xuyên tạc, phủ nhận đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

Một số hãng truyền thông nước ngoài có phiên bản tiếng Việt như: RFA, VOA, RFI, BBC... còn bịa đặt rằng “đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là “đu dây”, “tự sát”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường quốc. Rồi họ đưa ra "lời khuyên" Việt Nam nên bỏ chính sách quốc phòng “4 không” để nghiêng về phương Tây, gắn với thực hiện “dân chủ hóa Việt Nam”...

Sự nguy hại của những luận điệu phản động nêu trên dễ gây ra sự hoang mang, dao động, chia rẽ từ bên trong, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước, khiến dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam.

Description: Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc. Ảnh minh họa: dangcongsan.vn 

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc. Ảnh minh họa: dangcongsan.vn 

Kiên trì, kiên quyết thực hiện đường lối đối ngoại tiến bộ, nhân văn

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hoạt động đối ngoại, tạo dựng nên truyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của nền ngoại giao và đường lối đối ngoại Việt Nam “đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định. Trong thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống và bản sắc ngoại giao đó càng được bồi đắp, phát huy, tỏa sáng.

Từ khi đổi mới đến nay, Đảng ta không ngừng bổ sung, hoàn thiện quan điểm, phương châm của đường lối đối ngoại, đó là: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” (Đại hội VII); “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội IX); “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội XI, Đại hội XII).

Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Những năm qua, trước các diễn biến phức tạp của thời cuộc, quan hệ ngoại giao của Việt Nam đã góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước. Quan hệ ngoại giao của Việt Nam với một số nước lớn tuy có lúc trải qua thăng trầm nhưng hợp tác hữu nghị vẫn là dòng chảy chính. Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với các nước láng giềng, trong đó có Trung Quốc, coi đây là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Việt Nam kiên quyết sử dụng mọi biện pháp phù hợp với luật pháp của Việt Nam và luật pháp quốc tế để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc; đồng thời quyết tâm, kiên trì, kiên quyết giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Điều này luôn được cộng đồng quốc tế ủng hộ mạnh mẽ.

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng, Nhà nước ta nói chung, trong đó có chính sách đối ngoại quốc phòng “4 không” nói riêng là kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đường lối đó có cơ sở lý luận, khoa học, thực tiễn, cơ sở pháp lý vững chắc, có sự tham khảo ý kiến của các tầng lớp nhân dân một cách dân chủ, công khai.

Thực tế cho thấy, trong quan hệ quốc tế đương đại, các nước, đặc biệt là các nước lớn luôn có xu hướng vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau như: Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ... Do đó, những luận điệu cho rằng việc “đi theo”, “liên minh” với nước này để chống nước khác nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo không những phản động, sai lầm mà còn thể hiện tư tưởng yếu hèn, trái với phương châm đối ngoại thêm bạn, bớt thù của Đảng ta.

Để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước, trước hết cần bảo đảm tuyệt đối vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác ngoại giao. Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị-xã hội, được thể hiện sâu sắc trong các văn kiện đại hội của Đảng thời kỳ đổi mới. Thực tiễn đã minh chứng, đường lối, chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa giúp Việt Nam tạo dựng một mạng lưới quan hệ rộng khắp, tranh thủ được nhiều yếu tố thuận lợi cho công cuộc phát triển đất nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. 

Trong tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, cần tăng cường hiệu quả công tác nghiên cứu, dự báo tình hình, phát huy vai trò của đội ngũ chuyên gia đối ngoại trong nghiên cứu, tham mưu, đóng góp vào việc xây dựng chính sách và triển khai đường lối đối ngoại của Đảng. Tích cực đổi mới nội dung, phương thức thông tin đối ngoại, ứng dụng hiệu quả thành tựu công nghệ thông tin, truyền thông để tăng cường thông tin, quảng bá về đất nước, con người, thành tựu của Việt Nam và đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta.

Cùng với những giải pháp căn cơ trên, trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, cần chủ động phát hiện, xử lý kịp thời và nghiêm minh theo pháp luật đối với các hoạt động chống phá đường lối đối ngoại của Đảng. Kiên quyết không để các thế lực thù địch, cơ hội tập hợp lực lượng, gây rối chính trị, làm mất an ninh trật tự, gây rối loạn lòng dân, ảnh hưởng tới lợi ích đất nước.

Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý các hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, internet, mạng xã hội (Facebook, Zalo, Twitter, Telegram...), các cuộc hội thảo, hợp tác nghiên cứu khoa học xã hội về những vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền, đối ngoại...

Tuyệt đối không để xảy ra sơ hở khiến kẻ thù có thể lợi dụng xâm nhập, thu thập bí mật, phủ nhận, truyền bá quan điểm tư tưởng thù địch, kích động, xuyên tạc phá hoại đường lối đối ngoại đúng đắn, tiến bộ của Đảng và Nhà nước ta.

Trung tá, TS ĐỖ NGỌC HANH, Phụ trách Chủ nhiệm Khoa Triết học Mác-Lênin, Trường Sĩ quan Chính trị

 

Cuộc chiến chống “giặc nội xâm”: Chặng đường ngắn – bước tiến dài (*) - Bài 2: Nền móng vững chắc cho tương lai (tiếp theo và hết)

 Cuộc chiến chống “giặc nội xâm”: Chặng đường ngắn – bước tiến dài (*) - Bài 2: Nền móng vững chắc cho tương lai (tiếp theo và hết)

Không thể bàn cãi gì thêm nữa, chính thành quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTNTC) của Đảng là nền móng vững chắc, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói riêng; đồng thời là nền tảng cho cuộc chiến chống “giặc nội xâm” trong tương lai đi đến thắng lợi to lớn hơn.

Khẳng định trên hoàn toàn có cơ sở vững chắc. Bởi lẽ, từ sau Đại hội XIII của Đảng đến nay, trước tác động tiêu cực của nhiều vấn đề có tính chất thời đại và nhân loại, Việt Nam luôn vững vàng và “gặt hái” nhiều kết quả toàn diện trên mọi mặt đời sống xã hội. Kết quả đó có được là bởi dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta luôn “trong ấm, ngoài êm” và xây dựng được một bộ máy chính trị hoạt động hiệu lực, hiệu quả; nhất quán tinh thần: “Tiền hô hậu ủng”, “Nhất hô bá ứng”, “Trên dưới đồng lòng”, “Dọc ngang thông suốt” trong hiện thực các mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng, nhất là trong vận hành cuộc chiến chống “giặc nội xâm”.

Trong khó khăn chung của các nền kinh tế thế giới, Việt Nam không những đứng vững mà còn phát triển nhanh, bền vững, tiềm lực kinh tế, sức mạnh tổng hợp được tăng cường; uy tín, vị thế quốc tế của đất nước và Đảng Cộng sản Việt Nam được nâng lên rõ rệt. Uy tín và vị thế ở đây thể hiện rõ ở sự ghi nhận, tôn trọng của các quốc gia, các chính đảng và bạn bè thế giới khi đánh giá cao Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền duy nhất có vai trò, sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam và toàn xã hội.

Description:  Ảnh minh họa/Tuyengiao.vn

 Ảnh minh họa/Tuyengiao.vn

Nhờ có bộ máy lãnh đạo ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, Việt Nam đã tích lũy được khối lượng cơ sở vật chất và đầu tư nguồn lực rất lớn cho xây dựng cơ sở kết cấu hạ tầng, kiến trúc thượng tầng của chủ nghĩa xã hội, tạo nền tảng vững chắc để cả nước vững bước, vững tin, phấn đấu thực hiện các mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra. Cùng với đó, nước nhà luôn đảm bảo ổn định chính trị-xã hội, quốc phòng, an ninh được tăng cường, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững, quan hệ đối ngoại tiếp tục đi vào chiều sâu, ngày càng mở rộng; giữ vững môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước. Đến nay, Việt Nam trở thành điểm hẹn của hòa bình, là đất nước có vị thế để sẵn sàng là bạn và đối tác tin cậy của tất cả các nước. Việt Nam có quan hệ hữu nghị hợp tác với 189 quốc gia, có quan hệ kinh tế với hơn 230 nền kinh tế, đã ký 15 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có các FTA thế hệ mới... Đó là cứ liệu vững chắc để trong nhiều Hội nghị Trung ương gần đây, tập thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng và cá nhân Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn tự tin khẳng định: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như hiện nay.

Như vậy, với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có quyền khẳng định rằng: Kết quả PCTNTC đã tự thân khẳng định tính đúng đắn của chủ trương, đường lối lãnh đạo mà Đảng ta đề ra; khẳng định ý nghĩa và thành quả đạt được mà Đảng ta soi đường, chỉ lối. Hơn thế, chất liệu thực tiễn tự nó có khả năng phủ nhận, phủ định hoàn toàn những luận điệu mà những kẻ phản động, chống phá cố tình bịa đặt một cách trắng trợn!

Gần đây, có ý kiến cho rằng, nếu quá tập trung vào chống tham nhũng sẽ làm giảm sự đổi mới, sáng tạo, làm "chùn bước" những người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung và làm "chậm" sự phát triển đất nước. Đây là cách nghĩ sai lệch, bảo thủ, cực đoan. Bởi lẽ, chính nhờ làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong thời gian qua đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đẩy mạnh PCTNTC và xây dựng, chỉnh đốn Đảng chỉ làm "chùn bước" những ai có động cơ không trong sáng, đã chót "nhúng chàm".

Thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước trong những năm qua, cho thấy: Hiệu ứng tích cực, hiệu quả mang lại từ công tác PCTNTC đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội là rất rõ nét. Mỗi tổ chức không ngừng mạnh lên nhờ được củng cố, được mài sáng, luyện trong đội ngũ. Những cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trước đây từng là điểm nóng về tham nhũng, quan liêu, tiêu cực sau khi bị phát hiện, xử lý nghiêm minh đã thanh lọc, đào thải những con sâu mọt đục khoét và từng bước xốc lại đội hình. Đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức từ Trung ương về cơ sở thực hành nghiêm túc tinh thần hành động, liêm chính, kiến tạo, phục vụ vì lợi ích của người dân và doanh nghiệp. Ngay trong chính nội bộ mỗi tổ chức đảng đã thực hành nghiêm túc tự phê bình và phê bình, đấu tranh rất quyết liệt, mạnh mẽ với tham nhũng và lợi ích nhóm. Cùng với đó, chính từ việc làm tốt công tác đấu tranh PCTNTC đã góp phần rất quan trọng giúp chúng ta cải cách hành chính hiệu quả, thực chất, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Dẫn chứng như vậy để thấy, đấu tranh PCTNTC trong thời gian qua đã thực sự trở thành cao trào cách mạng với những bước tiến dài vững chắc, tạo nền tảng cho toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị và toàn dân tiến lên từng bước quét sạch “giặc nội xâm”. Đúng như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng không chỉ là một “cao trào”, càng không thể “chững lại”. Bởi đấu tranh PCTNTC là cuộc đấu tranh lâu dài, đầy chông gai, khắc nghiệt, cắt bỏ những “ung nhọt” trong nội bộ mình, rất đau xót nhưng vẫn phải tiếp tục làm, kiên quyết, kiên trì, bền bỉ và phải làm rất bài bản, chắc chắn, vì sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, vì sự phát triển bền vững của đất nước, vì ý nguyện và hạnh phúc của nhân dân”.

 

Thứ Hai, 17 tháng 7, 2023

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: HÌNH ẢNH ANH BỘ ĐỘI CỤ HỒ "ĐIỀU KHÔNG NGỜ TỚI…"

         Được nghỉ tranh thủ hai ngày cuối tuần, sau khi giao ban anh cố giải quyết nốt mấy việc để đi sớm cho kịp xe mà đến lúc xong việc thì trời đã chạng vạng tối. Giờ này lên bến xe chắc không còn chuyến nào nữa, anh quyết định bắt xe ôm ra thẳng đường quốc lộ vẫy xe may ra được. Ra đến quốc lộ trời đã tối sẫm, mưa ngày càng nặng hạt, gió rít từng cơn lạnh buốt, anh đã vẫy hồi lâu mà tất cả các xe cứ lao qua vun vút. Sau khi vẫy khá nhiều xe tưởng chừng như vô vọng thì may mắn lại tới. Chiếc xe giảm tốc tấp vào lề đường, anh vội vàng chạy theo, tới bên cửa xe, trên xe chỉ có lái xe và ông trung niên, chắc là sếp. Sau khi nhìn anh từ đầu đến chân, ánh mắt ông cứ nhìn đi nhìn lại cái ba lô lộn anh cầm trên tay và đặt rất nhiều câu hỏi như: Đi đâu, làm gì… cuối cùng ông chủ cho anh lên xe.
Biết ông có vẻ lo lắng không rõ trong ba lô có gì nên anh không đặt xuống xe mà cứ ôm trong lòng. Khi xe đã đi được khá xa anh nghĩ mình thật may mắn có người cho đi nhờ, vì cung đường này thời gian gần đây nổi tiếng phức tạp về vận chuyển hàng cấm nên ít người thương cảm sợ làm phúc phải tội. Một lát sau ông chủ tâm sự thẳng thắn:
- Tôi tên là Đức, cậu tên gì? Thấy cậu là bộ đội trông cũng hiền lành nên tôi mới cho đi chứ thâm tâm tôi cũng ái ngại.
- Dạ, cháu cảm ơn chú. Cháu tên là Hùng ạ.
- Cháu thuộc binh chủng nào? Đóng quân ở đâu?
- Dạ, cháu là bộ đội Tên lửa bảo vệ vùng trời Đông bắc Tổ quốc…
Lúc này anh cũng mạnh dạn mở ba lô
- Thưa chú, cháu có mấy gói quà sơn cước này mang về biếu mọi người. Cháu biếu chú gói ba kích mọc tự nhiên trong rừng. Những âu lo tan biến khiến cặp chân mày của ông như giãn ra. Ông tỏ ra thân mật hơn nhưng dứt khoát từ chối không nhận quà.

Về đến đầu thành phố anh xin xuống để bắt xe ôm về nhà.

Khi anh đi đến cây cầu sang phố bỗng nghe thấy tiếng người kêu cứu, anh vỗ bác xe ôm dừng lại, nhìn lướt nhanh xung quanh không một bóng người. Tiếng kêu lại vọng lên, anh nhoài người qua thành cầu ngó xuống lòng sông đen ngòm, qua ánh đèn le lói hình như có người đang chới với. Chỉ kịp cởi nhanh chiếc áo đại cáп và đôi giày da, anh nhảy ùm xuống sông, sau một hồi lặn ngụp anh cũng túm được nạn nhân lôi vào bờ. Trước mắt anh là một em trai khoảng mười lăm tuổi mặt trắng bệch không còn hạt máu, mắt nhắm nghiền, mạch đập yếu ớt lúc có lúc không, anh tiên lượng rất xấu nhưng quyết tâm còn nước còn tát. Vận dụng tất cả kiến thức được đào tạo ở trường sĩ quan anh sơ cứu cho cậu và nhanh chóng cùng bác xe ôm đưa cậu vào bệnh viện. Trong lúc anh trình bày sự việc với nhân viên y tế thì bác xe ôm nói với mọi người sự thán phục của mình về lòng can đảm, tính quyết đoán mau lẹ cứu người của anh. Lúc anh xong việc thì cậu bé cũng được các bác sĩ cấp cứu kết quả đã khả quan hơn, phần nữa bây giờ anh cảm thấy ngấm lạnh nên anh chào mọi người rồi xin phép ra về.

Ông Đức khi về đến nhà một lúc lâu thì có điện thoại báo tin con trai bị đuối nước đang cấp cứu ở bệnh viện. Ông vội vã vào viện. Nhìn con nằm đó không biết sống chết ra sao nước mắt ông cứ trào ra, ông chỉ có mình nó nếu nó làm sao thì đời ông còn ý nghĩa gì nữa. Ông cũng hay giúp người mà sao cuộc đời ngang trái thế. Ông đang cảm thấy kiệt quệ thì cô y tá báo tin cậu bé tỉnh dậy khiến ông khóc nấc lên, lần đầu tiên trong đời ông khóc to như thế. Làm thủ tục nhập viện cho con xong thì bác sĩ cho ông xem ảnh người đã cứu cậu bé. Ông bàng hoàng nhận ra cậu bộ đội vừa đi nhờ xe về thành phố. Vị bác sĩ nói thêm anh ấy chỉ giới thiệu tên Hùng là bộ đội chứ không cho địa chỉ. Hôm ấy, ông ngồi trông con cả đêm trong đầu suy nghĩ miên man mình thật may mắn, bao nhiêu câu hỏi cứ quẩn quanh: Chuyện gì sẽ xảy ra với con ông nếu hôm nay ông không cho cậu bộ đội đi nhờ xe về?…nếu không may mắn gặp người dũng cảm thì bây giờ con ông sẽ ra sao?…làm thế nào tìm được cậu ấy để cảm ơn?…

Mỗi người sẽ nhận được từ cuộc đời những gì mà mình đã gom gửi vào đó. Sẵn sàng giúp đỡ người khác hết mình, thì trước sau gì ta cũng được đền bù xứng đáng, những điều tốt đẹp sẽ đến với ta./.
Môi trường ST.

NHỮNG KẺ KHỦNG BỐ THẬT SỰ TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM!

         Tác giả cuốn "Lạm dụng quyền lực" đã phân tích rõ những tội ác ghê tởm của Mỹ qua việc ném bom dân thường như sau:
Phải gần 2 tuần lễ, các quan chức Mỹ mới chính thức thừa nhận các cuộc ném bom đã gây thương vong cho thường dân, cũng như thiệt hại tràn lan trong các khu vực dân sự. Và chỉ sau khi tờ "Nữu Ước Thời báo" đăng một báo cáo mắt thấy tai nghe từ Hà Nội do Harrison A.Salisbury viết về những thiệt hại như vậy. Lúc này, các quan chức Mỹ vẫn còn nhấn mạnh là bom nhằm vào các "mục tiêu quân sự", thường dân bị thương vong là do tình cờ, khó tránh và nhất là không "cố tình".

Ngày 30/12/1966, phóng viên quân sự của tờ Nữu ước Thời báo là Hanson W.Baldwin tiết lộ: "Bom đạn Mỹ đang được sử dụng ở Bắc và Nam Việt Nam với tỷ lệ hàng năm là 500.000 tấn, nhiều hơn số bom đạn mà không quân và lục quân Mỹ sử dụng đánh Nhật ở Thái Bình Dương trong đại chiến II".

Với mức độ này, mà chẳng bao lâu lại tăng thêm mạnh mẽ, vấn đề đặt ra: phải chăng tính chất không tránh khỏi của hậu quả là không quan trọng bằng sự cố tình của động cơ hay sao? Một người nổ súng máy vào một đám đông với ý định giết một người thôi khó mà biện bạch được là anh ta không có ý định làm bị thương một ai khác nữa "một cách cố tình", nhất là khi anh ta bắn trượt người định giết, giống như những lần ném bom ngoài mục tiêu quân sự. Hậu quả gián tiếp, nhưng khó tránh khỏi của một hành động không thể tha thứ về mặt đạo lý, tương tự cũng nêu ra cho những kẻ Việt cộng khủng bố.

Nhưng mặt đạo lý ở đây, theo tôi nghĩ, có thể là phức tạp ở vấn đề:
1. Liệu sự khủng bố và chống khủng bố của người Việt Nam chống người Việt Nam có nên đặt ngang hàng với bạo lực và phản bạo lực của một số cường quốc bên ngoài chống lại người Việt Nam không?

2. Liệu quy mô tàn phá của một viên đạn súng cối có bằng một trái bom 1.000 cân Anh không?
Tác dụng của bom Napan và phốt pho trắng đối với trẻ con Việt Nam được Wiliam F. Pepper, giám đốc viện nghiên cứu về trẻ em của trường đại học Mercy New York tiến hành điều tra vào mùa xuân năm 1966. Trong một báo cáo xúc động về những kinh nghiệm của ông, Pepper viết:
"Đối với hàng ngàn trẻ em ở Việt Nam, cuộc sống bị đe dọa bởi khủng bố và đau đớn, và mỗi ngày các cơ thể nhỏ nhắn biết đến cái chết nhiều hơn... Điều này đâu cũng có, vì bom Napan rơi từ trên trời xuống, đều đặn và vô tư như những hạt mưa trong mùa mưa. Napan và đồng hành của nó khủng khiếp hơn là phốt pho trắng đem lại cho trẻ em Việt Nam những số phận khủng khiếp cho ý thức văn minh hơn là cuộc sống yên tĩnh. Thịt non bị đốt cháy, hóa lỏng và xé cắt những hình thù kỳ dị. Vật phẩm hoàn thành thường không còn hình người nữa, sau những thử thách chịu đựng đau đớn không thể tưởng tượng được. Người ta không thể không hoàn toàn xúc động khi đối mặt với tác dụng ghê gớm của bom Napan".
Nguồn: T.Draper, "Lạm dụng quyền lực, chính sách đối ngoại của Mỹ từ Cu-Ba đến Việt Nam”./.
Yêu nước ST.

CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NÚI ĐÔI

 


Sóc Sơn, mảnh đất của những câu chuyện mang đầy chất huyền thoại nhưng rất “tình đất, tình người”. Cũng chính nơi này, câu chuyện về một nữ du kích gan dạ đã được nhà thơ Vũ Cao khắc họa thành hình tượng nghệ thuật, đã làm rung động hàng triệu con tim. Người con gái đó chính là nữ Liệt sĩ Trần Thị Bắc (nhân vật nguyên mẫu trong bài thơ “Núi Đôi” của Vũ Cao) mà dòng tên em đã khắc vào vách núi…

Trần Thị Bắc sinh năm 1932 tại thôn Xuân Dục Đoài, xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn – TP. Hà Nội (sau hòa bình, Xuân Dục Đoài thuộc xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn). Từ đỉnh núi Sóc, nhìn về quê hương cô đẹp như bức tranh họa đồ với những con ngòi nhỏ uốn lượn chảy qua, ở giữa cánh đồng lúa chín vàng óng ả mọc lên hai ngọn núi xanh biếc, có hình thù kích thước giống hệt nhau, khiến cho mọi người đều có chung cảm nhận, đó là một cặp núi sinh đôi.

Núi Đôi vốn là một vùng đất giàu truyền thống cách mạng, trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, do địa hình nằm ở giữa hai vùng có những con đường huyết mạch chạy qua như quốc lộ 3 (Hà Nội – Thái Nguyên), đường 131, nối liền tỉnh Vĩnh Phúc qua sông Cầu tới Bắc Giang… nên khu vực Núi Đôi bao gồm các xã: Phù Linh, Tiên Dược, Tân Minh của huyện Sóc Sơn đã trở thành một đầu mối rất quan trọng, ví như một “mắt xích” nối liền giữa Chiến khu Việt Bắc với Thủ đô Hà Nội; giữa các tỉnh đồng bằng, trung du và miền ngược… Vì thế, nơi đây thường diễn ra các cuộc giằng co hết sức quyết liệt giữa ta và địch. Cũng tại nơi đây, nhiều cơ sở cách mạng đã được nhen lên từ phong trào quần chúng và là nơi nuôi giấu cán bộ Việt minh hoạt động trong vùng địch hậu. Chỉ trong phạm vi bán kính chưa đầy 3 cây số, bọn lính Pháp và ngụy quyền đã dựng lên gần 20 đồn, bốt kiên cố, riêng ở Núi Đôi có tới hàng chục bốt lớn, nhỏ. Và ngay trên mảnh đất Phù Linh, quân địch đã lập ra “vành đai trắng” nhằm bao vây, chia cắt, cô lập và tiêu diệt các cơ sở cách mạng của ta.

Vốn sinh trưởng trong một gia đình có bố làm xã đội phó, cậu là xã đội trưởng, các bác, các chú đều là cán bộ Việt minh và bộ đội nên Trần Thị Bắc đã sớm có ý thức giác ngộ cách mạng, nhất là cô được tận mắt chứng kiến bao cảnh càn quét, cướp bóc, đốt phá, bắn giết hết sức dã man của bọn lính Pháp và ngụy quân ngay ở tại quê mình. Năm 1947, lúc đó mới 15 tuổi, nhưng Trần Thị Bắc đã rất tích cực tham gia hoạt động trong các phong trào đoàn thể thanh, thiếu niên. Cuối năm 1949, cô xin gia nhập đội du kích, làm nhiệm vụ giao thông liên lạc, tiếp tế và trực tiếp tham gia chống càn, bảo vệ nhân dân trong lúc tản cư. Sau đó cô được cử ra vùng tự do để theo học lớp y tá. Cũng trong thời gian này, Trần Thị Bắc gặp anh bộ đội Trịnh Khanh, thuộc đại đội Trần Văn Tuấn (là nhân vật “anh đi bộ đội sao trên mũ…” trong bài thơ “Núi Đôi” của Vũ Cao). Sau vài lần gặp gỡ, hẹn hò, họ mới biết rằng cả hai đều là người cùng xã. Chàng trai ở thôn Vệ Linh (dưới chân Núi Sóc), còn cô gái ở thôn Xuân Dục Đoài (dưới chân Núi Đôi). Tình yêu quê hương, đất nước và lòng căm thù giặc sâu sắc đã giúp họ cùng chung một chí hướng cách mạng, vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà đơn vị và đoàn thể giao phó .

Cụ Nguyễn Thị Thân, trên 90 tuổi, là thím ruột của Trần Thị Bắc ở thôn Xuân Dục Đoài kể lại: Cô Bắc là con gái cả trong gia đình, nên sớm biết lo toan công việc, giúp đỡ bố mẹ. Cô vừa nhanh nhẹn tháo vát, lại đẹp người, đẹp nết nên đi đâu hay làm việc gì cũng đều trót lọt. Có một lần, bà Nguyễn Thị Tèo (mẹ của Bắc) bỗng dưng thấy cô sắm đôi quang mới, bà hỏi: “Thế con sắm quang thúng để làm gì…?”. Bắc tươi cười hồn nhiên và nói với mẹ: “Con tập đi buôn đấy mẹ ạ!”. Ai ngờ, chính đôi quang gánh đi buôn ấy vừa là để che mắt địch và cũng là nơi cất giấu tài liệu của cô du kích.

Cũng từ năm 1951, người ta thường thấy ở thôn Đoài có một cô gái trẻ hòa lẫn vào dòng người đi buôn bán ở khắp mọi nơi. Với đôi quang thúng trên vai, cô đi khắp các hang cùng ngõ hẻm. Lúc thì ở trong vùng địch tạm chiếm, khi lại ra vùng tự do. Lúc bán muối, khi bán vải, bán rau… những lần mua bán hàng hóa ấy, chính là lúc cô đang dò la, thu thập tình hình một cách có hiệu quả nhất để kịp thời chuyển những tin tức quan trọng ra vùng tự do. Bọn lính Tây và lính ngụy trong đồn đều quá quen thuộc cô, nên không hề có chút nghi ngờ, ngược lại chúng còn rất quý mến cô. Có những tên chỉ huy khi vào làng càn quét đã tìm đến nhà Trần Thị Bắc và có ý ngỏ lời muốn lấy cô làm vợ bé. Lợi dụng tình thế và cơ hội “ngàn năm có một” ấy, Trần Thị Bắc đã rất linh hoạt, chuyển ngay sang hình thức làm công tác binh, địch vận đối với những tên này. Bằng những lời lẽ khôn khéo đầy tính thuyết phục của mình, Trần Thị Bắc đã thành công trong việc vận động một người cai trong hàng ngũ lính ngụy và một lính Pháp tự động mang súng ra đầu hàng cách mạng. Nhờ có những thông tin rất quan trọng do Trần Thị Bắc cung cấp, mà một số cơ sở của ta không bị lộ. Đặc biệt là tránh được những tổn thất to lớn đối với số cán bộ của ta đang hoạt động ở trong vùng địch hậu.

Đầu năm 1954, thực dân Pháp tăng cường phòng thủ ở Điện Biên Phủ, đồng thời đánh phá quyết liệt, nhằm ngăn chặn chi viện của ta cho chiến trường Điện Biên. Để trấn an tinh thần cho bọn lính Pháp và ngụy quân ở phía sau, chúng ráo riết tổ chức các cuộc vây bắt, lùng sục ở khắp mọi nơi. Vào thời điểm này, Trần Thị Bắc cùng một lúc nhận được hai quyết định của trên: một là về tỉnh để tiếp tục đi học lớp y tá; hai là về làm công tác quân báo tại Huyện đội Đa Phúc (nay là Sóc Sơn) với lý do, khả năng cô đã bị lộ, nên cấp trên có ý định chuyển vị trí công tác của cô. Ông Lê Văn Túc, cán bộ cách mạng thôn Xuân Dục Đoài, xã Phù Linh và là tổ trưởng quân báo của huyện Đa Phúc lúc đó kể lại trận chiến đấu cuối cùng của nữ du kích Trần Thị Bắc:

… Hôm đó là ngày 16-3-1954 (sau 3 ngày quân ta mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ). Vào lúc 10 giờ đêm, sau khi đã bố trí xong lực lượng chuẩn bị cho trận mai phục quân địch ở chùa Táo, Trần Thị Bắc nhận nhiệm vụ đưa đoàn cán bộ khoảng 30 người từ vùng địch hậu Lương Châu ra “vành đai trắng” Phù Linh. Cô đi trước thăm dò, vừa đến chân Núi Đôi, không may rơi vào ổ phục kích của địch. Chúng bắt và bịt miệng cô lại với mưu đồ phục, chờ để bắt sống toàn bộ số người đi sau. Quyết không để cán bộ của ta rơi vào tay giặc. Biết được âm mưu nham hiểm của địch, Bắc đã chống cự quyết liệt. Bất thình lình cô lao vào tên quan Pháp và túm ngay vào chỗ hiểm, dùng hết sức mình bóp chặt lấy hạ bộ của hắn. Bị đòn đau bất ngờ, quên cả việc lớn, tên quan Pháp kêu rống lên như con bò bị chọc tiết. Một tên lính lê dương đứng cạnh đó vội lôi Bắc ra và dùng súng xả trọn một băng vào ngực cô. Thấy động, đoàn cán bộ của ta đã rút lui an toàn tuyệt đối. Còn Trần Thị Bắc đã anh dũng hy sinh, máu chảy loang đỏ và se đọng lại trên vầng ngực tròn căng của cô. Những viên đạn tàn ác của kẻ thù vẫn còn găm nguyên ở đó. Từ trên Núi Đôi, quân địch dùng súng moóc-chi-ê bắn vòng quanh xác Trần Thị Bắc; bất chấp nguy hiểm, anh em trong đội du kích đã vượt qua vòng vây lửa đạn của địch vào đưa thi thể của cô tới nơi Cầu Cốn – Vệ Sơn để làm lễ truy điệu và mai táng cô tại đó trong lòng tiếc thương vô hạn của đồng chí, đồng đội và bà con xã Phù Linh.

Chuyện về người con gái Núi Đôi cách đây đã hơn một nửa thế kỷ, nhưng giờ đây vẫn luôn tỏa sáng về phẩm chất “Anh hùng – bất khuất – trung hậu – đảm đang” của người phụ nữ Việt Nam. Trần Thị Bắc là một trong những tấm gương tiêu biểu biết hy sinh quên mình vì nền độc lập, tự do của dân tộc khi cô vừa mới bước vào độ tuổi 20.


(Chân dung Liệt sỹ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trần Thị Bắc  (1932-1954)

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 18 THÁNG 7 NĂM 1955!

         “Dựa vào nhân dân thì việc gì, dù khó đến đâu cũng có thể làm được”!
     Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Sức mạnh nhân dân” bút danh H.B, đăng trên Báo Nhân dân số 502, ngày 28 tháng 7 năm 1955. Đây là năm đầu miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bắt tay vào khôi phục kinh tế, tiếp tục cải cách ruộng đất, thực hiện người cày có ruộng, nhằm mục đích củng cố hòa bình, tiếp tục thực hiện sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; cần phải phát huy cao độ mọi tiềm năng, trí tuệ, sức mạnh của toàn dân để giành thắng lợi của cách mạng trong giai đoạn mới.
     Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức đúng và đề cao vai trò của nhân dân, Người chỉ rõ: Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra. Đây chính là triết lý về vai trò của nhân dân và mối quan hệ giữa Đảng với dân; là định hướng về tư tưởng, thái độ và hành động cho cán bộ, đảng viên trong quan hệ với nhân dân. Yêu cầu cán bộ, đảng viên phải chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; luôn tôn trọng dân, lắng nghe và học hỏi dân; khơi nguồn sức mạnh trong dân, biết dựa vào dân để giải quyết các công việc cách mạng. Thấm nhuần lời dạy của Người, Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng và làm tốt công tác dân vận, xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy tối đa sức mạnh của nhân dân để giành thắng lợi trong kháng chiến, kiến quốc; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
     Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, được nhân dân thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ, tin tưởng và trao tặng danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. Mối quan hệ quân - dân là một hình mẫu tiêu biểu cho mối quan hệ máu thịt, cá - nước, thủy chung vẹn toàn, trở thành lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng.
     Thực hiện chức năng đội quân công tác, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã tích cực làm tốt công tác dân vận, tham gia xây dựng hệ thống chính trị, giúp dân phát triển kinh tế - xã hội; xóa đói, giảm nghèo; xóa mù chữ; xây dựng nông thôn mới, phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác cho các tầng lớp nhân dân, đấu tranh có hiệu quả với mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, xây dựng mối quan hệ đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên các địa bàn, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo,… Qua đó, không ngừng củng cố, giữ vững mối quan hệ gắn bó quân dân, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc, thiết thực thực hiện tốt công tác dân vận của Đảng, Nhà nước trong tình hình mới./.
Môi trường ST.

 QUYẾT LIỆT TRIỂN KHAI CÁC GIẢI PHÁP MỞ RỘNG ĐỐI TƯỢNG THAM GIA BẢO HIỂM 

Sáu tháng đầu năm 2023, trong bối cảnh khó khăn, nhiều thách thức, kinh tế-xã hội bị ảnh hưởng bởi tình hình chung của thế giới, tuy nhiên, với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Ðảng, Chính phủ, cũng như sự phối hợp, hỗ trợ tích cực của các cơ quan, tổ chức, ngành Bảo hiểm xã hội quyết tâm, nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.

Theo đó, các chỉ tiêu bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cơ bản đều tăng so với cùng kỳ; việc triển khai thực hiện chế độ, chính sách kịp thời, bảo đảm tối đa quyền lợi cho người thụ hưởng; quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế được quản lý và sử dụng theo đúng quy định của pháp luật…

Hơn 30,7 % lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội

Theo báo cáo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, trong sáu tháng đầu năm, toàn ngành đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp linh hoạt, phù hợp tình hình thực tiễn để đôn đốc thu, giảm tiền chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và phát triển hiệu quả số người tham gia vào "lưới" an sinh. Ðến hết tháng 6/2023, số người tham gia đều tăng so cùng kỳ năm 2022, với: 17,48 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 662 nghìn người (khoảng 3,9%) so cùng kỳ năm 2022, đạt 37,5% lực lượng lao động trong độ tuổi. Trong đó, bảo hiểm xã hội bắt buộc có 15,99 triệu người tham gia, tăng 499 nghìn người, bảo hiểm xã hội tự nguyện có 1,487 triệu người tham gia, tăng 163 nghìn người so cùng kỳ năm 2022. 90,89 triệu người tham gia bảo hiểm y tế, tăng 4,35 triệu người (khoảng 5,04%) so cùng kỳ năm 2022, đạt 91,86 % số dân…

Ðồng thời, công tác chi trả chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp được bảo đảm đầy đủ, kịp thời tới từng người tham gia, thụ hưởng, góp phần hỗ trợ, ổn định cuộc sống của người lao động nhất là trong bối cảnh việc làm, thu nhập của người dân còn chịu tác động nặng nề sau đại dịch Covid-19. Kết quả, trong sáu tháng, toàn ngành giải quyết cho khoảng 37 nghìn người hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng; 665.423 người hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội một lần; gần 4,4 triệu lượt người hưởng chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức, phục hồi sức khỏe; phối hợp ngành Lao động-Thương binh và Xã hội giải quyết cho 499.824 người hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp, trong đó có 490.726 người hưởng trợ cấp thất nghiệp và 9.098 người hưởng mới hỗ trợ học nghề.

Ðáng chú ý, để bảo đảm quyền lợi bảo hiểm y tế cho người tham gia, trước tình trạng thiếu thuốc, vật tư y tế kéo dài tại nhiều bệnh viện, Bảo hiểm xã hội Việt Nam phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế và các bộ, ngành liên quan tham mưu, đề xuất Quốc hội, Chính phủ ban hành các chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong mua sắm, đấu thầu, quản lý và sử dụng thuốc, vật tư trang thiết bị y tế. Phối hợp giải quyết các vướng mắc trong thanh toán chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế, phục vụ kịp thời các hoạt động khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho người dân tại các cơ sở khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế. Tính hết tháng 6/2023, cả nước có khoảng 82,98 triệu lượt người khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế nội trú và ngoại trú (tăng 18,76 triệu lượt người so cùng kỳ năm 2022).

Quyết liệt triển khai các giải pháp…

Trưởng ban Quản lý Thu-Sổ thẻ (Bảo hiểm xã hội Việt Nam) Dương Văn Hào cho biết: Ðể phát triển người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, cơ quan bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố đã có nhiều nỗ lực và sáng tạo nhiều mô hình hay. Ðáng chú ý, các hội nghị chia sẻ kinh nghiệm đã được tổ chức tại các vùng, miền, qua đó nhân rộng nhiều cách làm hiệu quả trong thời gian tới. Ðồng thời, đề nghị bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố quyết liệt chỉ đạo, cụ thể hóa kịch bản thu, phát triển người tham gia sáu tháng cuối năm với 17 nội dung, mục tiêu cơ bản mà Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã đề ra.

Tại hội nghị, Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam Nguyễn Thế Mạnh cũng thẳng thắn nêu rõ một số hạn chế, bất cập, cũng như những khó khăn, thách thức mà ngành phải đối mặt, vì vậy, các đơn vị trong toàn ngành phải quyết liệt, bám sát các mục tiêu nhiệm vụ được giao trong sáu tháng cuối năm. Theo đó, cần tăng cường chủ động phối hợp các bộ, ngành trong quá trình sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế; xây dựng các báo cáo đánh giá, phân tích rõ tình hình thực tiễn, chuẩn hóa các số liệu thống kê báo cáo. Ðối với bảo hiểm xã hội các địa phương, Tổng Giám đốc yêu cầu cần khẩn trương, tăng cường công tác tham mưu huy động sự vào cuộc của các cấp trong thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trong đó, giao được chỉ tiêu phát triển người tham gia đến từng cấp xã, phường, bảo đảm kết quả số người tham gia tăng trưởng bền vững…

Yêu cầu tập trung các nhiệm vụ theo Ðề án 06 của Chính phủ, Tổng Giám đốc Nguyễn Thế Mạnh cũng nhấn mạnh việc nghiên cứu, phân tích để nhận diện các dư địa để cải tiến, nâng cấp, có phương án để phát triển thường xuyên, liên tục các chỉ tiêu, nhiệm vụ. Chú trọng các giải pháp bảo đảm an toàn, an ninh, nâng cấp tính bảo mật của hệ thống trong bối cảnh khối cơ sở dữ liệu ngày càng lớn. Ðồng thời, thực hiện tốt hơn nữa quyền lợi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của người dân theo hướng nâng cao chất lượng cải cách hành chính, tăng số dịch vụ công được tích hợp giải quyết để người dân thuận lợi trong quá trình thụ hưởng chính sách./.


 ĐIỂM CỐT LÕI TRONG TƯ DUY CỦA TỔNG BÍ THƯ VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC QUỐC PHÒNG VIỆT NAM

Lần đầu tiên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật ra mắt cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương về lĩnh vực quân sự, quốc phòng. Cuốn sách đã góp phần thể hiện rất rõ nét tư tưởng nhất quán, xuyên suốt của người đứng đầu Đảng ta về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới.

Nhân dịp ra mắt cuốn sách “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Phóng viên Báo Quân đội nhân dân (QĐND) có cuộc trao đổi với Thiếu tướng, PGS, TS Vũ Cương Quyết, Viện trưởng Viện Chiến lược Quốc phòng để cùng phân tích rõ hơn về ấn phẩm này.

Phóng viên (PV): Thưa Thiếu tướng, PGS, TS Vũ Cương Quyết, xin đồng chí cho biết tính nhất quán, tính xuyên suốt trong tư tưởng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về lĩnh vực quân sự, quốc phòng trong tình hình mới hiện nay được thể hiện qua cuốn sách: “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) thời kỳ mới”?

Thiếu tướng PGS, TS Vũ Cương Quyết: Cuốn sách “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới” là hệ thống hóa những chỉ đạo, định hướng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương về đường lối quân sự, quốc phòng Việt Nam hiện nay.

Nội dung cuốn sách đi theo từng nhóm vấn đề cho thấy sự nhất quán, tính xuyên suốt trong tư tưởng của Tổng Bí thư, đó là tiếp tục khẳng định nguyên tắc: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang, sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc; chú trọng nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân; xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa nhiệm vụ quốc phòng, quân sự với nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, ngăn ngừa nguy cơ xung đột, chiến tranh từ sớm, từ xa, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”. 

Xây dựng Quân đội vững mạnh toàn diện, trước hết phải nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Đảng, công tác chính trị trong toàn quân; xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị; phải nâng cao chất lượng công tác chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng, đồng thời, xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân; xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc; tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng của đất nước.

Từng quân, binh chủng, từng lực lượng phải gắn với chức năng, nhiệm vụ cụ thể để xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Các học viện, nhà trường Quân đội cần đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục đào tạo, bồi dưỡng, giảng dạy và nghiên cứu khoa học; kết hợp chặt chẽ tổng kết thực tiễn với nghiên cứu lý luận; tích cực tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận. Thanh niên Quân đội phải xây dựng “Khát vọng đẹp - Trách nhiệm cao; Học tập tốt - Hành động giỏi; Đoàn kết tốt - Kỷ luật nghiêm”, thực sự tiêu biểu cho bản lĩnh, trí tuệ, phẩm chất của thanh niên Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh…

PV: Điểm cốt lõi, bước đột phá trong tư duy của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương trong xây dựng chiến lược quốc phòng Việt Nam là gì, thưa Thiếu tướng?

Thiếu tướng PGS, TS Vũ Cương Quyết: Thông qua 41 trang sách được trình bày trong phần ba của cuốn sách đã cho người đọc thấy một cách khách quan về Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương, một người có tư duy biện chứng, tầm nhìn chiến lược trong xây dựng đường lối quân sự; chiến lược quốc phòng, chiến lược quân sự, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Những chỉ đạo, định hướng ngay từ ngày đầu tiên và trong suốt quá trình xây dựng chiến lược quốc phòng Việt Nam, chiến lược quân sự Việt Nam được thể hiện tập trung nhất ở 13 câu hỏi của Tổng Bí thư nêu ra và chỉ đạo cụ thể, cặn kẽ và sâu sát, cho thấy “sự uyên bác, vốn hiểu biết sâu rộng” cũng như “tư duy chiến lược” của người đứng đầu Đảng ta, là hết sức to lớn; hiện nay còn nguyên giá trị.

Điểm cốt lõi, bước đột phá trong tư duy của Tổng Bí thư trong xây dựng chiến lược quốc phòng Việt Nam chính là tư tưởng “Bảo vệ nền độc lập, tự chủ của đất nước phải gắn với bảo vệ hòa bình”; bảo vệ hòa bình chính là một giá trị thiêng liêng của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ môi trường hòa bình, ổn định là điều kiện căn cốt nhất để đất nước phát triển. Đây là tư tưởng lý luận quân sự, quốc phòng sáng tạo, độc đáo, đó là: “Lấy bảo vệ môi trường hòa bình là mục tiêu xuyên suốt trong xây dựng sức mạnh tổng hợp quốc phòng, quân sự”.

PV: Xin Thiếu tướng cho biết, việc biên soạn và tập hợp các bài viết, bài phát biểu, trả lời phỏng vấn của Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương qua cuốn sách lần này sẽ đem lại những giá trị lý luận và thực tiễn như thế nào, nhất là trong bối cảnh chúng ta đang thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới?

Thiếu tướng PGS, TS Vũ Cương Quyết: Trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó lường, chiến tranh, xung đột gia tăng, cạnh tranh chiến lược ngày càng quyết liệt, những vấn đề an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống đang đặt ra những thách thức mới đối với mọi quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Nội dung cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương đã làm sáng tỏ, bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về đường lối quân sự và chiến lược quốc phòng, đặc biệt là vai trò lãnh đạo và năng lực hoạch định đường lối, chính sách quốc phòng của Đảng ta. Cuốn sách có giá trị định hướng tư tưởng rất lớn; có sự lan tỏa rất sâu rộng trong xây dựng QĐND vững mạnh; xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững chắc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận trong xã hội thực hiện chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước đối với nhiệm vụ tăng cường sức mạnh quốc phòng, quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới.


TÌNH CẢM CỦA BÁC HỒ VỚI THƯƠNG BINH, LIỆT SỸ

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành tình yêu thương đối với mọi tầng lớp nhân dân, trong đó phần dành cho thương binh, gia đình liệt sĩ, những người từng chịu nhiều hy sinh, mất mát trong chiến tranh vẫn là mối quan tâm đặc biệt của Người. Năm 1946, khi nước nhà vừa mới giành được độc lập, giữa bộn bề công việc và khó khăn chồng chất nhưng Người vẫn không quên các thương binh, thân nhân gia đình liệt sỹ: “Vì muốn thay mặt Tổ quốc, toàn thể đồng bào và Chính phủ, cảm ơn những chiến sỹ đã hy sinh tính mệnh cho nền tự do, độc lập và thống nhất của nước nhà, hoặc trong thời kỳ cách mệnh, hoặc trong thời kỳ kháng chiến. Tôi gửi lời chào thân ái cho gia đình các liệt sỹ đó và tôi nhận các con liệt sỹ làm con của tôi”. Khi biết tin một chiến sỹ vệ quốc đoàn, con trai bác sỹ Vũ Đình Tụng hy sinh đầu năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư cho bác sỹ: “Ngài biết rằng tôi không có gia đình, không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất đi một thanh niên là tôi mất đi một đoạn ruột”.

Tháng 6/1947, Người đề nghị Chính phủ chọn một ngày trong năm là Ngày Thương binh, Liệt sỹ để đồng bào cả nước tỏ lòng biết ơn và tri ân đến họ. Trong thư gửi Ban Tổ chức Ngày Thương binh toàn quốc, Người viết: “Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào mà các đồng chí chịu ốm yếu, què quặt. Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”.
Thực hiện lời huấn thị của Người, tại Hội nghị trù bị gồm đại biểu các cơ quan, các ngành, khối ở Trung ương và các tỉnh họp ở Phú Minh (Đại Từ - Thái Nguyên) đã chính thức chọn ngày 27/7 là “Ngày Thương binh” trong cả nước. Đến năm 1955, “Ngày Thương binh” được đổi thành “Ngày Thương binh, Liệt sỹ” để toàn dân thực hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”.
Hằng năm, cứ vào dịp tháng 7, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại gửi thư thăm hỏi, động viên thương binh, gia đình liệt sỹ, một mặt khẳng định công lao, đóng góp của họ, một mặt động viên họ: “Các đồng chí đã anh dũng giữ gìn non sông, các đồng chí sẽ trở nên người công dân kiểu mẫu ở hậu phương, cũng như các đồng chí đã từng là chiến sỹ kiểu mẫu ở ngoài mặt trận”, để mỗi “thương binh tàn nhưng không phế”.
Tình yêu thương của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với thương binh, liệt sỹ còn được thể hiện ở những nghĩa cử cao đẹp, bình dị và rất đỗi tự nhiên trong đời sống thường ngày. Người thường trích một tháng lương, dùng tiền do các Việt Kiều biếu, dùng những bộ quần áo, khăn tay, các vật dụng khác để làm quà tặng cho anh em thương binh tại các trại điều dưỡng. Ghi nhớ công lao của các liệt sỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên đặt vòng hoa viếng tại Đài liệt sỹ Hà Nội vào các dịp lễ tết: “Ngày mai là năm mới.... Trong lúc cả nước vui mừng, thì mọi người đều thương tiếc các liệt sỹ đã hy sinh vì Tổ quốc, vì dân tộc. Bác thay mặt nhân dân, Chính phủ và bộ đội kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn bất diệt của các liệt sỹ”.
Không chỉ dừng lại ở đó, Người còn ký và ban hành các sắc lệnh về chế độ: “Hưu bổng, thương tật và tiền tuất cho thân nhân tử sỹ”; thành lập sở, ty thương binh, cựu binh ở khu và tỉnh, đặt ra Bảng vàng danh dự, Bằng gia đình vẻ vang và truy trặng, phong tặng các danh hiệu anh hùng, huân, huy chương cho các liệt sỹ, thương binh.
Ngoài những việc làm nghĩa cử của bản thân, đối với thương binh, liệt sỹ, Người cũng nhấn mạnh: Để phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” trở thành một phong trào có sức lan tỏa sâu rộng trong thực tiễn, có hiệu quả và thiết thực, toàn Đảng, toàn dân phải vinh danh, ghi nhận công lao to lớn của thương binh, liệt sỹ và làm tốt hơn nữa công tác “Đền ơn đáp nghĩa”.
Nhiều tổ chức Hội như “Hội mẹ chiến sỹ”, “Hội ủng hộ thương binh” được thành lập; nhiều phong trào như “Trần Quốc Toản”, “Đón thương binh về làng” được phát động rộng rãi, góp phần cùng Đảng, Nhà nước chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ, thắt chặt thêm tình quân dân như “cá với nước”.
Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc bất hủ, Người căn dặn: "Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình” cán bộ, binh sỹ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong..." Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách cho họ có nơi ăn, chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”.
Đối với các liệt sỹ mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi nhận sự hy sinh anh dũng của các liệt sỹ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.
Đối với cha, mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sỹ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương... Phải giúp đỡ họ có công ăn, việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đói, rét.
Phát huy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” và lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến các đối tượng thương binh, thân nhân gia đình liệt sỹ. Các hoạt động “đền ơn đáp nghĩa” ngày càng đi vào chiều sâu và xã hội hóa cao.
Các chủ trương, chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước về chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công đã phát huy cao độ truyền thống "Uống nước nhớ nguồn" - truyền thống tốt đẹp đã có từ hàng ngàn năm nay của dân tộc Việt Nam, tiếp thêm ngọn lửa của tình đoàn kết và lòng yêu nước trong các thế hệ con Lạc cháu Hồng. Những câu nói, bài viết của Bác đã và sẽ mãi mãi là phương châm hành động, lẽ sống của thương binh, gia đình liệt sỹ, định hướng cho các hoạt động "Đền ơn đáp nghĩa" của nhân dân ta.
Các phong trào xây dựng nhà tình nghĩa, tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa, Quỹ đền ơn đáp nghĩa, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, chăm sóc con liệt sỹ mồ côi, đi tìm hài cốt đồng đội, tu sửa, nâng cấp các nghĩa trang, đài tưởng niệm liệt sỹ... Ngày càng thu hút sự tham gia của toàn xã hội.
Nhân kỷ niệm 76 năm Ngày Thương binh - Liệt sỹ (27/7/1947 - 27/7/2023), chúng ta càng thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và thực hiện tốt hơn đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, góp phần tri ân đối với những người đã ngã xuống, những người đã gửi lại một phần thân thể của mình nơi chiến trường cho độc lập, tự do của Tổ quốc, cho hạnh phúc của nhân dân./.

KHÔNG BAO GIỜ ĐƯỢC PHÉP LƠ LÀ VIỆC NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn các thế hệ cán bộ cách mạng về vai trò của lý luận. Người chỉ ra rằng: “Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối, vừa chậm chạp vừa hay vấp váp”. Đề cập vai trò của công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Không có lý luận chính trị thì chí khí kém cương quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”.

Những căn dặn của Người đến nay vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn; là “kim chỉ nam” để Đảng ta xác định đúng vị trí, vai trò, tầm quan trọng của giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ lý luận chính trị liên quan trực tiếp đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên cho hệ thống chính trị, có ý nghĩa to lớn trong việc tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến các tầng lớp nhân dân. Trong các văn kiện Đại hội và các nghị quyết chuyên đề của Đảng, Đảng ta luôn thể hiện sự coi trọng công tác tư tưởng, lý luận.
Những năm qua, công tác giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ, đảng viên ở vị trí quản lý, lãnh đạo luôn được đề cao và đạt được những kết quả quan trọng. Nhận thức của cán bộ, đảng viên về ý nghĩa, vai trò và các giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được nâng lên. Cán bộ, đảng viên có bước phát triển về nhận thức, trình độ, bản lĩnh chính trị và năng lực tư duy. Nhận thức, trình độ lý luận chính trị được nâng lên là cơ sở để cán bộ, đảng viên vận dụng vào thực tiễn nâng cao hiệu quả công tác và giải quyết các vấn đề mà cuộc sống đặt ra. Đặc biệt, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã tích cực tham gia phổ biến, tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến quần chúng nhân dân; thực sự là lực lượng nòng cốt, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, là nhân tố kết nối, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân, góp sức cùng nhân dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng của Đảng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh tư tưởng, đấu tranh lý luận, phòng chống âm mưu và thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, góp phần ổn định chính trị, tạo ra bầu không khí dân chủ, cởi mở trong xã hội.
Tuy nhiên, trên thực tế, trình độ lý luận, nhận thức chính trị của cán bộ, đảng viên ta không đồng đều. Một số cán bộ, đảng viên nhận thức, tư duy chính trị còn đơn giản, bản lĩnh chính trị chưa vững vàng, ngại học chính trị. Cấp ủy, lãnh đạo một số cơ quan, đơn vị nhất là cấp cơ sở chưa coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên. Chính từ việc lười học tập, nghiên cứu lý luận chính trị, không thường xuyên trau dồi đạo đức, bản lĩnh chính trị khiến cho một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”…
Như vậy có thể thấy, việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên là một nhiệm vụ rất quan trọng mà mỗi cấp ủy, tổ chức đảng cần đẩy mạnh thực hiện và không bao giờ được phép lơ là, chủ quan, xem nhẹ. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dạy: “Lý luận như kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”. Bởi vậy, bồi dưỡng, nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên cũng chính là bồi dưỡng cái gốc, cái cốt lõi từ trong nhận thức, để mỗi cán bộ, đảng viên trang bị cho mình thế giới quan, phương pháp luận khoa học. Trên cơ sở đó, cán bộ, đảng viên vận dụng tri thức được trang bị vào thực tiễn công tác; thống nhất, xuyên suốt từ trong tư tưởng, nhận thức đến hành động.
Trong những năm gần đây, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam, các thế lực thù địch trong và ngoài nước tập trung vào chống phá Đảng, chế độ và hệ tư tưởng. Trong bối cảnh ấy, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng để không sa ngã, “sập bẫy” của các thế lực thù địch, tích cực tham gia đấu tranh phản bác, đập tan những luận điệu xuyên tạc, chống phá. Điều này một lần nữa cho thấy, việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, viên viên càng trở nên cấp thiết./.

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM CẤP ỦY VÀ NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI

 Quảng Ninh đặt mục tiêu tới năm 2025 trở thành tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại, là một trong những trung tâm phát triển năng động, toàn diện ở miền bắc. Tỉnh xác định ba khâu đột phá chiến lược là phát triển nguồn nhân lực; hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng và xây dựng nền văn hóa gắn với thu hẹp nhanh khoảng cách giữa các vùng miền. Ðể triển khai, Ðảng bộ tỉnh yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền và người đứng đầu phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, quyết tâm hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ.

Rõ người, rõ việc, thực chất, hiệu quả
Ðầu năm 2023, Thành ủy Cẩm Phả được Tỉnh ủy Quảng Ninh giao trách nhiệm tiếp tục đẩy mạnh và hoàn thành việc chuyển đổi phao xốp sang phao theo quy chuẩn (phao nhựa HDPE) trong nuôi trồng thủy sản trên địa bàn và di dời, bố trí, sắp xếp lồng bè theo quy hoạch nuôi lồng bè tập trung trên biển đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
Ðây là việc khó bởi diện tích mặt biển của thành phố khá lớn, số hộ nuôi trồng thủy sản đông, kinh phí chuyển đổi phao xốp sang phao nhựa cao. Một số cán bộ, cơ quan làm chưa hết trách nhiệm cho nên trong những tháng đầu năm 2023 vẫn còn một số hộ chưa chuyển đổi và tồn tại tình trạng lồng bè hoạt động trái phép, trái quy hoạch.
Quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, Thành ủy thành lập Ban Chỉ đạo triển khai nhiệm vụ do đồng chí Bí thư Thành ủy làm Trưởng ban. UBND thành phố tổ chức nhiều đợt ra quân vận động nhân dân chuyển đổi phao xốp sang phao nhựa, rà soát cụ thể các khu vực nuôi trồng thủy sản, xây dựng kế hoạch di dời lồng, bè, mảng nuôi trồng thủy sản trái phép.
Các phường, xã, đơn vị liên quan tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý mọi di chuyển của các bè mảng trái phép trên biển; ra quân đồng loạt tháo dỡ, di dời hoặc tiêu hủy lồng bè nuôi trái phép; nghiêm túc kiểm điểm trách nhiệm trong việc để xảy ra tình trạng nuôi trồng thủy sản trái phép. Ðặc biệt, thành phố đã nhiều lần đối thoại với các tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản trái phép, qua đó tuyên truyền, vận động, tháo gỡ vướng mắc.
Cùng với thành phố Cẩm Phả, nhiều địa phương khác như Hạ Long, Vân Ðồn, Móng Cái cũng đã hoàn thành việc bố trí sắp xếp nuôi trồng thủy sản theo quy hoạch và làm sạch môi trường biển. Ðây là cơ sở để Quảng Ninh tạo bước đột phá trong phát triển kinh tế biển nhằm triển khai nhiệm vụ mà Nghị quyết 30-NQ/TW ngày 23/11/2022 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng-an ninh vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt ra là xây dựng khu vực Hải Phòng-Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển hiện đại, mang tầm quốc tế, hàng đầu ở Ðông Nam Á, là cửa ngõ, động lực phát triển của vùng.
Tăng cường tiếp xúc, đối thoại với nhân dân
Hoàn thiện hạ tầng cơ sở, nhất là giao thông nhằm tạo thuận lợi trong thu hút đầu tư phát triển cũng là một nhiệm vụ quan trọng được tỉnh Quảng Ninh đặc biệt quan tâm. Ðể nhanh chóng tháo gỡ khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng phục vụ mở các công trình trọng điểm, Tỉnh ủy Quảng Ninh quan tâm chỉ đạo tăng cường thực hiện chủ trương người đứng đầu cấp ủy, đơn vị, địa phương tiếp xúc, đối thoại, giải quyết yêu cầu, kiến nghị của nhân dân.
Tháng 7/2020, Quảng Ninh triển khai tuyến đường cao tốc Vân Ðồn-Móng Cái. Quá trình triển khai thi công dự án cao tốc Vân Ðồn-Móng Cái gặp rất nhiều khó khăn do khối lượng thi công lớn trong điều kiện địa chất, thủy văn phức tạp và nhất là công tác giải phóng mặt bằng với 1.186 hộ dân thuộc diện phải di dời; trong đó 326 hộ cần bố trí tái định cư, di chuyển 320 ngôi mộ. Ngay từ khi mới triển khai các địa phương đã nhận được nhiều ý kiến, kiến nghị của nhân dân liên quan đến các chế độ, chính sách đền bù giải tỏa.
Xác định đây là việc khó, Quảng Ninh thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện dự án do Bí thư Tỉnh ủy trực tiếp làm Trưởng ban Chỉ đạo. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm được Ban Chỉ đạo xác định là tiếp xúc, đối thoại với nhân dân. Tỉnh ủy cũng giao cho Mặt trận Tổ quốc tỉnh tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân, tổ chức và giám sát các cuộc đối thoại, báo cáo trực tiếp Ban Chỉ đạo. Ðối với những kiến nghị liên quan đến trách nhiệm của UBND tỉnh, các đồng chí lãnh đạo tỉnh cũng trực tiếp đối thoại với người dân.
Kết quả, sau 15 ngày phát động đợt cao điểm giải phóng mặt bằng với gần 100 cuộc gặp gỡ, đối thoại, tiếp xúc của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức từ cơ sở đến tỉnh, 100% số hộ dân đã đồng thuận bàn giao mặt bằng cho dự án. Sau 500 ngày đêm dồn lực thi công, ngày 1/9/2022, tuyến đường cao tốc Vân Ðồn-Móng Cái chính thức hoàn thành đi vào hoạt động, mở ra nhiều cơ hội thu hút nguồn lực đầu tư cho phát triển kinh tế-xã hội cho địa phương.
Với việc phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, nhất là người đứng đầu trong công tác tiếp công dân, đối thoại giải quyết khiếu nại, tố cáo, đã nhanh chóng tháo gỡ vướng mắc, tạo sự đồng thuận trong nhân dân, thúc đẩy triển khai hoàn thành nhiều dự án trọng điểm quan trọng. Ðể nêu gương trong thực hiện trách nhiệm này, trực tiếp đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, trong năm 2022, đã tiếp 11 cuộc, 223 công dân với 30 vụ việc (11 đoàn đông người). Từ đầu năm 2023 đến nay, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đã tiếp ba cuộc, với gần 100 công dân.
Nhiều người đứng đầu các địa phương cũng nêu cao tinh thần gương mẫu như thành phố Hạ Long, định kỳ hằng quý, đồng chí Bí thư Thành ủy chủ trì hội nghị chỉ đạo rà soát, báo cáo tình hình, kết quả công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư; chỉ đạo tập trung giải quyết đơn thư đúng thời hạn; cho ý kiến chỉ đạo giải quyết một số nội dung vụ việc cụ thể.
Bên cạnh những kết quả đạt được, Tỉnh ủy Quảng Ninh cũng nhận định trong triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, khâu tổ chức thực hiện có lúc, có nơi còn chậm. Vẫn còn tình trạng một cấp ủy, cán bộ sợ sai, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Nhiều nơi, cấp ủy, người đứng đầu chưa thật sự nắm chắc tình hình nhân dân, nhất là một số vùng đang tiềm ẩn những vấn đề phức tạp…
Ðể khắc phục hạn chế, Tỉnh ủy Quảng Ninh yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng các địa phương tiếp tục bám sát các chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ bảo đảm hiệu quả. Cùng đó là siết chặt kỷ luật, kỷ cương, chấn chỉnh, khắc phục tình trạng người đứng đầu và cán bộ, công chức làm việc cầm chừng, né tránh, sợ sai, ngại va chạm. Tiếp tục đề cao vai trò, trách nhiệm của cấp ủy và tinh thần nêu gương của người đứng đầu nhằm vượt qua thách thức, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao./.
Báo Nhân dân

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái về công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam

 Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch vẫn ngày càng chống phá quyết liệt và sử dụng những thủ đoạn hết sức tinh vi, gây ra những hậu quả nhất định cho ta. Đảng ta xác định công tác đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng là cuộc đấu tranh lâu dài và phải được triển khai thường xuyên, liên tục. Do đó, thời gian vừa qua, chúng ta đã chủ động đấu tranh với hoạt động này một cách tích cực nhất.

Góp phần vào hiệu quả công tác đấu tranh này phải kể đến sự đóng góp không nhỏ của các phương tiện truyền thông trên không gian mạng. Chúng ta đã tích cực đấu tranh trên mặt trận truyền thông này một cách triệt để nhằm định hướng dư luận, tuyên truyền những thông tin chính thống đến đông đảo quần chúng, đập tan những âm mưu nhằm hướng lái công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của ta đi lệch khỏi quỹ đạo vốn có của nó.

Bên cạnh đó, vai trò của báo chí trong việc định hướng dư luận, phản biện xã hội cũng đóng góp tích cực vào công cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng. Trên cơ sở công tác nắm tình hình, phát hiện các quan điểm sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng, chúng ta đã tiến hành tổ chức đưa tin để phản bác.

Thông qua hoạt động này, chúng ta đã thực hiện nhiều chương trình, chuyên mục, bài viết phản kích các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc quan điểm sai trái, thù địch của đối tượng. Từ đó mà củng cố niềm tin của nhân dân vào chính quyền, luôn luôn lắng nghe, thấu hiểu những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân./. 

Kiên trì, kiên quyết thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng

 Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hoạt động đối ngoại, tạo dựng nên truyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của nền ngoại giao và đường lối đối ngoại Việt Nam “đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định. Trong thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống và bản sắc ngoại giao đó càng được bồi đắp, phát huy, tỏa sáng.

Từ khi đổi mới đến nay, Đảng ta không ngừng bổ sung, hoàn thiện quan điểm, phương châm của đường lối đối ngoại, đó là: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” (Đại hội VII); “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội IX); “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội XI, Đại hội XII). Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Trong tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, cần tăng cường hiệu quả công tác nghiên cứu, dự báo tình hình, phát huy vai trò của đội ngũ chuyên gia đối ngoại trong nghiên cứu, tham mưu, đóng góp vào việc xây dựng chính sách và triển khai đường lối đối ngoại của Đảng. Tích cực đổi mới nội dung, phương thức thông tin đối ngoại, ứng dụng hiệu quả thành tựu công nghệ thông tin, truyền thông để tăng cường thông tin, quảng bá về đất nước, con người, thành tựu của Việt Nam và đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta./.