Thứ Ba, 29 tháng 8, 2023

CÁCH MẠNG - NƠI QUY TỤ SỨC DÂN VÀ TÌNH QUÂN BỀN CHẶT!

1. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và Quốc khánh 2-9 là một trong những mốc son chói lọi của thời đại Hồ Chí Minh, một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; một nét đẹp văn hóa quân sự đặc sắc về sự quy tụ sức dân và tình quân bền chặt, tạo nên động lực vô cùng to lớn để chiến thắng “giặc ngoại xâm” và “giặc nội xâm”. 
Thời gian càng lùi xa, càng khẳng định tầm vóc, giá trị, ý nghĩa thắng lợi và bài học kinh nghiệm về giành và giữ chính quyền cách mạng và chính nó được bổ sung thêm tính tươi mới mang giá trị trường tồn. Đây là một trong những bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu, mang dấu ấn sâu đậm về sức mạnh của cách mạng, khẳng định rõ ràng chân lý: “Dân là gốc nước”, “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân”. Điều đó đúng với nhận định của Bác Hồ: “Cách mạng muốn thành công, nhất thiết phải dựa vào dân, có nhân dân là có tất cả”. 
Thấu triệt sâu sắc lời dạy của Bác Hồ, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn qua tâm, chăm lo xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - Mặt trận thống nhất đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh, làm cho Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân; lấy cách mạng là nơi quy tụ, tập hợp và phát huy sức mạnh của nhân dân để thực hiện yêu cầu giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc; đem lại cơm no, áo ấm cho đồng bào. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cội nguồn sự quy tụ, tập hợp và phát huy sức mạnh quân - dân “muôn người như một để dời non lấp biển”. 
Vì vậy, chỉ trong khoảng thời gian 15 ngày, tính từ ngày 14 đến ngày 28-8-1945, hơn 25 triệu người Việt Nam từ miền xuôi đến miền ngược, từ Bắc tới miền Nam, đã đồng loạt nổi dậy, kết thành sức mạnh vô địch, đánh tan quân xâm lược Pháp - Nhật, giành chính quyền về tay nhân dân, thiết lập chính quyền công nông và Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa - Nhà nước Dân chủ Nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám khẳng định sức mạnh to lớn của nhân dân - chủ thể sáng tạo vĩ đại, đã làm nên lịch sử; chứng minh nhận định của Bác Hồ: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”, “Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại được”. Đó là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của triệu triệu người như một, luôn quyết chí, đồng lòng đứng lên theo Đảng, đấu tranh giải phóng dân tộc. Cách mạng đúng là nơi hội tụ niềm tin của nhân dân; “Dân một lòng một dạ đi theo Đảng và Bác Hồ kính yêu”. Chiêm nghiệm điều sâu sắc này càng thấy rõ ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với việc vận dụng vào xây dựng “thế trận lòng dân” hiện nay, nhất là việc quy tụ, tập hợp và nhân lên yếu tố “lòng dân” - “lòng người”, “tình quân - dân” trong cách mạng. Đây phải là nơi xuất phát, nơi khởi nguồn để tạo ra động lực mới nhằm phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh tình hình mới.
2. Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, gắn bó máu thịt với nhân dân, gần 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta luôn thực hiện tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, nhân dân tin tưởng giao phó, hoàn thành xuất sắc chức năng, nhiệm vụ là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất. Trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đều tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, một lòng “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”, “vì nhân dân phục vụ”; cùng nhân dân chiến đấu, chiến thắng thù trong, giặc ngoài; luôn toàn tâm, toàn ý nêu cao tinh thần phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa môi trường, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, dịch bệnh... làm sáng thêm phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới; góp phần củng cố niềm tin, tình cảm của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, Quân đội ta.
 Phát huy tinh thần Cách mang Tháng Tám năm 1945 vào xây dựng “thế trận lòng dân” hiện nay, cán bộ, chiến sĩ toàn quân cần đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền về vị trí, vai trò, giá trị của truyền thống đoàn kết, yêu nước, ý chí tự lực, tự cường trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; làm tốt công tác tham mưu với Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về xây dựng, quy tụ, tập hợp, khơi dậy và nhân lên sức mạnh của lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý thức cố kết cộng đồng, ý chí quyết chiến, quyết thắng nghèo nàn, lạc hậu của toàn dân để tạo ra sức mạnh tổng hợp trong xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại; làm cho nhân tố chính trị - tinh thần của quân - dân ta luôn được bồi đắp, củng cố, không ngừng phát triển; là cơ sở để tạo ra nền tảng vững chắc trong xây dựng quốc gia hùng cường, thịnh vượng; phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Cùng với đó là kiên quyết, kiên trì đấu tranh vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Kiên quyết đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn kích động, gây rối, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ Đảng, Nhà nước, Quân đội với nhân dân. Đồng thời, chủ động, tích cực tham gia phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, làm cho dân no, dân yên, dân tin yêu “Bộ đội Cụ Hồ”.
Với ý nghĩa đó, toàn quân đang đẩy mạnh Phong trào thi đua yêu nước, thực hiện tốt Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; ra sức thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 847/NQ-QUTW của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”; lập thành tích cao nhất chào mừng kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng (22/12/1944-22/12/2024) và 35 năm Ngày Hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989-22/12/2024)./.

Yêu nước ST.

LỜI THỪA NHẬN CAY ĐẮNG VÀ BÀI HỌC CHO NHỮNG KẺ ẢO TƯỞNG ẤU TRĨ!

     Trong một lần tọa đàm trên PhobolsaTV gần đây, ông Hà Văn Sơn từng là một biệt kích ngụy và sang Mỹ định cư theo diện HO thừa nhận:
- Thứ nhất, quân đội Việt Nam cộng hòa và trong đó có ông cũng chỉ là đội quân đánh thuê cho Mỹ chống cộng. Chế độ Việt Nam cộng hòa chống lại cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược để thống nhất đã nước, giành độc lập dân tộc là một cuộc chiến tranh ủy nhiệm. Theo đó, Mỹ bỏ tiền và vũ khí, trang bị cho đội quân Việt Nam cộng hòa bắn giết người Việt Nam. Do vậy, chỉ có người Việt Nam là bị thiệt hại do chiến tranh.
- Thứ hai, chiến tranh giữa Ukraina và Nga hiện nay thực chất là một cuộc chiến ủy nhiệm giữ các nước NATO và Nga. Kẻ được ủy nhiệm chính là Ukraina và người chịu sự thiệt hại chính là nhân dân Ukraina và kẻ được lợi chính là các tư bản công nghiệp vũ khí phương Tây, nhiều nhất là các nhà tài phiệt vũ khí Mỹ.
- Thứ ba, khi được người dẫn chương trình hỏi về việc Việt Nam nên chọn theo Mỹ hay Trung Quốc để bảo vệ độc lập, chủ quyền, nhất là chủ quyền biển đảo?. Với kinh nghiệm của một người từng tham gia đội quân đánh thuê cho Mỹ và kinh nghiệm của một người làm báo (vì ông nói mình từng làm báo nhiều năm), ông trả lời “Tốt nhất là không chọn bên nào!”. Chính sách bốn không (không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho phép nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống nước khác; không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế) của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phù hợp nhất để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Ông cũng cho rằng, quan điểm không chọn bên của Đảng, Nhà nước ta trong quan hệ quốc tế và nhất là liên quan đến chiến dịch quân sự đặc biệt của Liên bang Nga tấn công vào Ukraina (đang nhận ủy quyền của phương Tây chống lại Nga) là hoàn toàn đúng đắn!
     Theo dõi những bình luận về quan điểm của ông, tôi thấy đa phần là ca ngợi. Tuy nhiên, cũng có một số người, nhất là những người chống cộng lưu vong lại phản đối và cho rằng, nên theo Mỹ! Thật là nực cười khi họ cố tình quên Việt Nam đang là một quốc gia độc lập có chủ quyền, nhân dân Việt Nam đang sống trong hòa bình và từng bước xây dựng cuộc sống ấm no. Phải chăng, quan điểm của ông Hà Văn Sơn và thực tiễn cuộc sống của nhân dân Ukraina hiện nay là một bài học cho những kẻ ảo tưởng, ấu trĩ!
Yêu nước ST.

ĐỌC GIÚP BẠN: CẦN TẨY SẠCH BỆNH QUAN LIÊU MỆNH LỆNH!

     Ai cũng biết bệnh quan liêu mệnh lệnh là nguy hiểm. Nhưng trong công tác thực tế, như trong việc tạm vay thóc chiêm vừa rồi, nhiều cán bộ ta còn mắc bệnh ấy. Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối "quan" chủ. Miệng thì nói "phụng sự quần chúng", nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng, trái ngược với phương châm và chính sách của Ðảng và Chính phủ.
Bệnh quan liêu mệnh lệnh tự đâu mà ra.
Nguyên nhân bệnh ấy là:
Xa nhân dân: do đó, không hiểu tâm lý, nguyện vọng của nhân dân.
Khinh nhân dân: cho là "dân ngu khu đen", bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị, lý luận cao xa như mình.
Sợ nhân dân: khi có sai lầm, khuyết điểm thì sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sửa chữa.
Không tin cậy nhân dân: họ quên rằng không có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm cũng không xong; có lực lượng nhân dân, thì việc khó mấy, to mấy, làm cũng được.
Không hiểu biết nhân dân: họ quên rằng nhân dân cần trông thấy lợi ích thiết thực (lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cuộc). Ðối với nhân dân, không thể lý luận suông, chính trị suông.
Không yêu thương nhân dân: do đó họ chỉ biết đòi hỏi nhân dân, không thiết thực giúp đỡ nhân dân. Thí dụ: Họ yêu cầu nhân dân đóng góp, nhưng không biết giúp đỡ nhân dân tăng gia sản xuất, cải thiện sinh hoạt, để bồi dưỡng sức của, sức người của nhân dân.
Có nơi, bệnh quan liêu mệnh lệnh trầm trọng đến nỗi cán bộ lừa phỉnh dân, dọa nạt dân!
Bệnh quan liêu mệnh lệnh chỉ đưa đến một kết quả là: hỏng việc. Vì vậy, chúng ta phải mau mau chữa bệnh nguy hiểm ấy.
Cách chữa bệnh ấy gồm có một nguyên tắc là: Theo đúng đường lối nhân dân và sáu điều là:
Ðặt lợi ích nhân dân lên trên hết;
Liên hệ chặt chẽ với nhân dân;
Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ;
Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình;
Sẵn sàng học hỏi nhân dân;
Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo.
Cán bộ Ðảng và chính quyền ta đều sẵn lòng cầu tiến bộ, sẵn chí phụng sự nhân dân. Mong rằng anh chị em đều cố gắng thi đua dùng đơn thuốc này, (thuốc đắng dã tật), chữa hết bệnh quan liêu mệnh lệnh, để trở nên người cán bộ tốt, và làm cho công việc thu thuế nông nghiệp sắp tới đạt được kết quả mỹ mãn.
(*) Bài đã đăng trên Báo Nhân Dân, số 23, ngày 2-9-1951.
C.B.
C.B: Bút danh của Chủ tịch HỒ CHÍ MINH.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: GIỮ GÌN SỰ ĐOÀN KẾT NHẤT TRÍ TRONG ĐẢNG!

     Năm 1927, trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Với hành trang trí thức đúc kết qua quá trình hoạt động và lãnh đạo cách mạng, Người rút ra quy luật: Sức mạnh của một Đảng cầm quyền, cội nguồn trước hết và trên hết suy cho cùng là sự đoàn kết, nhất trí trong nội bộ.

Trong Di chúc, Người viết: “Trước hết nói về Đảng - Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng, một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc cho nên từ ngày thành lập Đảng đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta...”

Đảng có đoàn kết thống nhất thì toàn dân mới đoàn kết thống nhất; Đảng đoàn kết mới có thể kêu gọi, thuyết phục, lôi cuốn, tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân tin tưởng đi theo, mới giữ được vai trò lãnh đạo, để cùng dân tộc thực hiện đấu tranh giành độc lập, thống nhất nước nhà, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thường xuyên nhắc nhở: Trong mọi lúc, mọi nơi, tăng cường đoàn kết, thống nhất là vấn đề mấu chốt của công tác xây dựng Đảng, là nhiệm vụ chiến lược của Đảng cầm quyền, đòi hỏi phải luôn đặt lên hàng đầu và thường xuyên quan tâm, chăm lo đúng mức, “cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.

Một yếu tố cực kỳ quan trọng để phát huy sức mạnh đoàn kết của Đảng là “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi”. Và chỉ trên cơ sở đó mới mở rộng dân chủ xã hội, tạo môi trường nuôi dưỡng sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh quan niệm rằng, đoàn kết trong Đảng phải thể hiện bởi sự thống nhất của tư tưởng và hành động. Sự đoàn kết trong Đảng trước hết phải dựa trên nền tảng, đường lối, quan điểm của Đảng. Trải qua các giai đoạn lịch sử của đất nước, từ khi thành lập Đảng đến nay, Đảng ta luôn giữ vững sự đoàn kết, nhất trí trong nội bộ, tạo sự đồng thuận trong Đảng, trong dân; huy động được tối đa trí tuệ của Đảng; đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ với toàn dân; mở rộng được mối quan hệ đoàn kết quốc tế; hình ảnh của Đảng được nhân dân tôn vinh, ngưỡng mộ “là đạo đức, là văn minh”, đã tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn cho cách mạng Việt Nam.

Thực hiện lời dạy của Người, trong các nhiệm kỳ Đại hội gần đây, Đảng ta luôn xác định: Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược nhất quán của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức Đảng được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức, trong đó các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Là Đảng cầm quyền, Đảng có đoàn kết thống nhất thì hệ thống chính trị, các tầng lớp nhân dân, các dân tộc mới đoàn kết xung quanh Đảng. Đoàn kết của Đảng là hạt nhân, là tấm gương cho cả hệ thống chính trị, là nhân tố quyết định bảo đảm đoàn kết toàn dân tộc./.
Yêu nước ST.

Những viên gạch mang "hồn đất nước" tại đảo Trần

Chùa Trúc Lâm đảo Trần (xã đảo Thanh Lân, huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh) được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu về tín ngưỡng, tôn giáo của người dân và cũng là cột mốc văn hóa, cột mốc chủ quyền nơi tuyến đảo Đông Bắc Tổ quốc. Ít ai biết, mỗi viên gạch, viên ngói để xây chùa đều được khắc biểu tượng Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Biểu tượng văn hóa Việt trên đảo tiền tiêu Đảo Trần là hòn đảo có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh biên giới biển quốc gia. Nơi đây cách đường phân định biên giới Việt Nam-Trung Quốc trên vịnh Bắc Bộ khoảng 10 hải lý. Theo thần tích, vào khoảng cuối triều Trần, đầu Hậu Lê, tại một gò đồi sát mép nước trên hòn đảo tiền tiêu của nhà nước phong kiến Đại Việt, các thương thuyền buôn bán ở thương cảng Vân Đồn và người dân địa phương đã phát tâm xây dựng một ngôi chùa thờ Phật theo thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Khi tam giáo đồng nguyên, khuôn viên chùa có xây dựng nghè miếu thờ nhiên thần và nhân thần, như đền thờ tướng công hiển thánh Trần Hưng Đạo cùng gia thất nhà Trần. Hiện nay, trải qua những biến cố của lịch sử và sự bào mòn của thời gian, hệ thống chùa chiền, đền nghè trên đảo Trần bị hủy hoại, chỉ còn phế tích với rất ít cổ vật... Tiếp tục kế thừa truyền thống yêu nước, tôn giáo của dân tộc, ngôi chùa Trúc Lâm đảo Trần được xây dựng dựa trên yêu cầu củng cố, phát triển huyện đảo Cô Tô và tỉnh Quảng Ninh vững mạnh cả về kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa nhằm cố kết, thống nhất sức mạnh dân tộc, qua đó góp phần hình thành văn hóa truyền thống địa phương gắn với văn hóa Đồng bằng Bắc Bộ. Theo nhà sử học Dương Trung Quốc, đảo Trần là một phần thiêng liêng của lãnh thổ quốc gia. Nơi đó đã có cư dân, lực lượng bảo vệ, khi có thêm một mái chùa sẽ mang lại nhiều giá trị không chỉ với ngư dân ở đây mà còn có ý nghĩa với bà con phật tử. Ông Dương Trung Quốc bày tỏ: “Ngôi chùa có thể không lớn lắm nhưng chắc chắn có một vị thế đặc biệt. Đó là nơi không những thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, nhất là những người dân vùng biển ở xa xôi với đất liền, mà nó còn là cột mốc chủ quyền trên biển, đảo”. Dự án chùa Trúc Lâm đảo Trần có diện tích xây dựng 2,72ha với 22 công trình chính và phụ trợ, được làm từ các chất liệu gỗ lim, đá, gạch nung, bảo đảm mỹ thuật và sự bền vững trước thiên nhiên khắc nghiệt của vùng biển, đảo. Tháng 10-2022, chùa Trúc Lâm đảo Trần được khởi công xây dựng. Đến nay, bóng dáng ngôi chùa sừng sững hiên ngang nơi biển khơi đã dần được hoàn thiện. Với những cư dân sinh sống, cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ trên đảo Trần, mái chùa là điểm tựa tinh thần để họ vững tâm giữ gìn biển, đảo của Tổ quốc. Nghe tiếng chuông chùa vang vọng giữa biển khơi, người dân trên đảo đều cảm thấy ấm lòng. “Mỗi khi đến thắp hương bái Phật, chúng tôi thêm vững tâm hơn và nguyện cầu cho bà con ngư dân cùng các chiến sĩ luôn mạnh khỏe để giữ biển, giữ đảo”, chị Hoàng Thị Ngọc Anh, người dân thôn đảo Trần chia sẻ. Hình đất nước trên từng viên gạch Một điều đặc biệt khác là phía mặt dưới của mỗi viên gạch, viên ngói xây chùa đều được khắc nổi biểu tượng Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tên hiệu và năm xây dựng chùa Trúc Lâm đảo Trần. Đây là sự khẳng định chủ quyền trên từng viên gạch, tấc đất tại nơi biên giới biển, đảo xa xôi. Trải qua biến thiên của thời gian, từng viên gạch, từng mái ngói sẽ là những ẩn ngữ trầm tích văn hóa với nhiều giá trị với nội dung đa dạng, hình thức độc đáo. Thượng tọa Thích Thanh Lịch, Phó trưởng ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Quảng Ninh, trụ trì chùa Trúc Lâm đảo Trần cho biết: “Để hình Quốc huy giữ nguyên hiện trạng, không bị co ngót hay méo chữ khi đưa vào lò nung, Ban Trị sự chùa Trúc Lâm đảo Trần đã phải mất 5 tháng để nghiên cứu, thử nghiệm chế tạo khuôn đúc âm bản từ thép hợp kim đặc biệt”. Từng viên gạch, viên ngói đều khẳng định giá trị tâm thức và để lại giá trị văn hóa cho muôn đời sau, là một trong muôn vàn minh chứng thể hiện ý chí quyết tâm, tinh thần sức mạnh của người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử bảo vệ Tổ quốc. Ông Nguyễn Việt Dũng, Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Cô Tô cho biết: “Việc đồng ý cho gắn hình Quốc huy và tên địa danh trên từng viên gạch đã thể hiện sự quan tâm của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam và của tỉnh Quảng Ninh với việc tôn tạo, bảo tồn, phát huy các công trình văn hóa. Mỗi viên gạch mang theo tài hoa của những người thợ vùng Đồng bằng sông Hồng xuất hiện trên đảo tiền tiêu, khi người dân, du khách đến thăm tuyến đảo sẽ hiểu sâu sắc hơn về chủ quyền biển, đảo và văn hóa Đồng bằng Bắc Bộ, văn hóa thời đại Hồ Chí Minh ngày nay". Mái chùa che chở hồn dân tộc. Mái chùa chứa đựng tâm thức người Việt, văn hóa còn là dân tộc còn. Bởi vậy, với những người dân nơi biên giới hải đảo xa xôi, giữa biển khơi xanh thẳm, mái chùa không chỉ là cột mốc linh thiêng, một "tấm bia" khẳng định chủ quyền của Việt Nam về biển, đảo mà còn là hình ảnh để mỗi người dân, du khách ghé thăm sẽ nhớ về quê hương, nguồn cội và giá trị văn hóa của dân tộc.

Giúp dân là tự giúp mình

Những ngày nắng nóng liên tục đạt đỉnh điểm ở miền Bắc, không quản ngại vất vả, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị thuộc Sư đoàn 312 (Quân đoàn 1) đã tích cực tham gia công tác dân vận, lao động giúp nhân dân địa phương. Hơn 8 giờ, thời tiết oi nồng nhưng tại cánh đồng lúa cao sản của thôn Yên Sào (xã Xuân Giang, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội), gần 100 cán bộ, chiến sĩ Đại đội 3, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 141, Sư đoàn 312 và nhân dân địa phương tay mai, tay cuốc, tích cực nạo vét, khơi thông kênh mương. Cùng bộ đội vạt cỏ hai ven đường, chị Nguyễn Lan Anh phân trần: “Nhiều năm nay, đoạn mương này của thôn thường xuyên bị tắc do rác thải tồn ứ và cỏ dại mọc hoang nên lượng nước dẫn vào ruộng rất ít. Chúng tôi rất phấn khởi khi được bộ đội về lao động giúp dân, khơi thông dòng chảy để cánh đồng được đủ nước”. Cũng mang tâm trạng vui mừng khi được đón cán bộ, chiến sĩ về làm công tác dân vận, nhấp ngụm nước chè xanh tươi mát, tay phe phẩy quạt mo, ông Nguyễn Trường Sơn, Trưởng xóm Phúc Tài (xã Phúc Thuận, TP Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên) tấm tắc khen: “Trong sinh hoạt, bộ đội ý thức rất tốt, đóng quân ở nhà dân mà lúc nào nhà cửa cũng sạch sẽ, gọn gàng, ngăn nắp. Mới đầu giờ chiều, thời tiết còn rất nắng mà các chú ấy đã nhiệt tình giúp bà con vệ sinh sạch đường làng, ngõ xóm. Rất mong cuối năm đơn vị lại về làm công tác dân vận ở địa phương”. Với tinh thần giúp dân là tự giúp mình, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 312 đã và đang thực hiện hiệu quả mô hình “Dân vận khéo” ở các cấp. Hiện nay, 100% đầu mối đơn vị trực thuộc Sư đoàn kết nghĩa với các thôn, xóm, nhà trường và tổ chức đoàn trên địa bàn đóng quân. Trong thời gian về làm công tác dân vận giai đoạn 1 năm 2023 vừa qua, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn thực hiện cùng ăn, cùng ở, cùng làm với nhân dân, với nhiều hoạt động thiết thực. Thông qua hệ thống truyền thanh nội bộ của địa phương, đơn vị phối hợp tuyên truyền về Luật Nghĩa vụ quân sự, Pháp lệnh về lực lượng dự bị động viên, xây dựng nếp sống văn hóa ở khu dân cư. Toàn Sư đoàn huy động hơn 15.000 ngày công lao động của bộ đội giúp dân, vận chuyển hơn 100 tấn rác thải sinh hoạt đến nơi tập kết quy định; vệ sinh đường làng, ngõ xóm, nạo vét hơn 30km kênh mương; khám bệnh, cấp thuốc miễn phí và tặng quà, thăm hỏi các gia đình chính sách trên địa bàn đóng quân... Trung tá Đặng Văn Thương, Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn cho biết: “Trong thời gian qua, cơ quan chính trị tham mưu với Đảng ủy, chỉ huy Sư đoàn nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ công tác dân vận. Trong đó phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp và cấp ủy viên phụ trách, tổ công tác dân vận trong quá trình tổ chức Phong trào thi đua “Dân vận khéo”, xây dựng đơn vị dân vận tốt. Ngoài ra, Sư đoàn chú trọng phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng cụm địa bàn đóng quân an toàn; nhân rộng nhiều điển hình tiên tiến, biểu dương, khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc, tạo khí thế thi đua sôi nổi trong toàn đơn vị”. Bài : ĐÀO NGỌC LÂM nguồn: Báo QĐND

Phát huy vai trò của trí thức trẻ Khối Các cơ quan Trung ương trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Chiều 29-8, tại Hà Nội, Đoàn Thanh niên Khối Các cơ quan Trung ương tổ chức Tọa đàm “Trí thức trẻ trên mặt trận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng” và Lễ trao giải Cuộc thi sáng tác các sản phẩm truyền thông với chủ đề “Thanh niên Khối Các cơ quan Trung ương với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng năm 2023". Đến dự có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Nguyễn Văn Thể, Bí thư Đảng ủy Khối Các cơ quan Trung ương; Hầu A Lềnh, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc; Lê Quốc Minh, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam. Phát biểu khai mạc tại Tọa đàm “Trí thức trẻ trên mặt trận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”, đồng chí Bùi Hoàng Tùng, Ủy viên BTV Trung ương Đoàn, Bí thư Đoàn Khối Các cơ quan Trung ương cho biết, hiện nay, các thế lực thù địch đang tận dụng tối đa sự phát triển mạnh mẽ của in-tơ-nét và công nghệ số để tăng cường xuyên tạc, chống phá quyết liệt nền tảng tư tưởng của Đảng với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, tập trung nhiều hơn vào những người trong độ tuổi thanh niên. Điều đó đặt ra yêu cầu đối với các tổ chức thanh niên nói chung, tổ chức Đoàn nói riêng cần phát huy ưu thế của công nghệ số nhằm tiếp tục nhận diện các phương thức, thủ đoạn mới, tiếp tục nâng cao nhận thức của thế hệ trẻ, từ đó tiếp tục xây dựng và tổ chức lực lượng, nhất là phát huy vai trò của trí thức trẻ trong tiên phong, xung kích bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Trao đổi tại Tọa đàm, các đồng chí khách mời khẳng định, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới hiện nay là nhiệm vụ chính trị vừa cấp bách, vừa thường xuyên và lâu dài, không chỉ là công việc của các cơ quan đảng, nhà nước mà là của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Theo đồng chí Lê Quốc Minh, phòng, chống thông tin xấu độc trên môi trường mạng in-tơ-nét là một cuộc chiến đã bắt đầu từ lâu. Thế hệ thanh niên hiện nay có ưu thế về sự nhạy bén trong tiếp cận thông tin trên môi trường mạng, nhưng chính bản thân những người trẻ cũng chưa thể chắc chắn đó không phải tin giả, tin xấu độc, thậm chí dễ mắc phải những "cái bẫy" vô cùng tinh vi, nhất là trong bối cảnh công nghệ thông tin ngày càng phát triển. Trước tình hình đó, thế hệ trẻ cần tận dụng công nghệ để đẩy lùi những nội dung xấu độc bằng thông tin chính thống, tích cực; xung kích, tiên phong trong tham gia cuộc chiến chống tin giả, nắm vững kỹ năng sử dụng mọi công cụ, nhất là trí tuệ nhân tạo để phát hiện, cảnh báo, ngăn chặn tin giả. Phát biểu tại Tọa đàm, Bí thư Đảng ủy Khối Nguyễn Văn Thể ghi nhận, đánh giá cao sáng kiến của Đoàn Khối Các cơ quan Trung ương trong tổ chức Tọa đàm “Trí thức trẻ trên mặt trận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng” và Lễ trao giải Cuộc thi sáng tác các sản phẩm truyền thông với chủ đề “Thanh niên Khối Các cơ quan Trung ương với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng năm 2023” đúng dịp kỷ niệm 78 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9. Bí thư Đảng ủy Khối Các cơ quan Trung ương khẳng định, thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, tổ chức đoàn đã luôn nhận thức đúng tầm quan trọng của công tác bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch; luôn coi đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc tự giác, thường xuyên, trong đó, lực lượng trí thức trẻ đóng vai trò xung kích, nòng cốt. Đồng chí Nguyễn Văn Thể lưu ý, trong thời gian tới, tuổi trẻ Khối Các cơ quan Trung ương - những trí thức trẻ tiêu biểu cần tích cực, chủ động thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đi đầu và kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời tin tưởng các đơn vị đoàn thuộc Đoàn Khối sẽ tận dụng, phát huy tốt các sản phẩm của cuộc thi thành những giải pháp để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. “Thanh niên là rường cột của nước nhà, là đội dự bị tin cậy của Đảng. Vì vậy công cuộc phát triển đất nước, bảo vệ thành quả của cha ông ta để lại có vai trò quan trọng của thanh niên, mỗi đoàn viên thanh niên cần xác định mục tiêu, phương hướng cụ thể để góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, xây dựng đất nước ngày càng tốt đẹp hơn”, đồng chí Nguyễn Văn Thể nhấn mạnh. Nhân dịp này, Đoàn Khối Các cơ quan Trung ương đã trao giải Cuộc thi sáng tác các sản phẩm truyền thông với chủ đề “Thanh niên Khối Các cơ quan Trung ương với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng năm 2023". Sau 3 tháng phát động, Cuộc thi đã nhận được hơn 100 tác phẩm dự thi ở 2 thể loại infographic và video. Sau 2 vòng chấm sơ khảo và chung khảo, Ban Tổ chức đã chọn ra được 26 tác phẩm xuất sắc nhất để lựa chọn trao giải.

Chuyển đổi số ngành kỹ thuật phải tiến hành đồng bộ, liên tục

“Chuyển đổi số trong ngành kỹ thuật đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa ngành kỹ thuật Quân đội trong giai đoạn mới là nhiệm vụ quan trọng, cần thiết cả trước mắt và lâu dài; phải tiến hành đồng bộ, tập trung, thống nhất, liên tục”. Đó là khẳng định của Trung tướng Trần Minh Đức, Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật (TCKT) trong cuộc trao đổi với phóng viên Báo Quân đội nhân dân (QĐND). rung tướng Trần Minh Đức: Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định: Xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025 cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh; năm 2030 xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Mặt khác, trước tác động to lớn của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; toàn quân được trang bị nhiều loại vũ khí, trang bị kỹ thuật (VKTBKT) thế hệ mới, ứng dụng công nghệ cao; phạm vi, thời gian, không gian, đối tượng tham gia công tác kỹ thuật (CTKT) rộng lớn và phức tạp hơn rất nhiều. Điều đó đặt ra cho toàn quân nói chung, ngành kỹ thuật Quân đội nói riêng cần phải chuyển đổi phương thức công tác, nâng cao năng lực tiếp cận và làm chủ công nghệ, kỹ thuật hiện đại. Thực hiện chuyển đổi số giúp người chỉ huy và cơ quan kỹ thuật tối ưu hóa quá trình điều hành hoạt động của ngành trong toàn quân và ở mỗi cấp, mỗi đơn vị; qua đó quản lý chặt chẽ, từ xa, theo thời gian thực mọi quy trình hoạt động hằng ngày của VKTBKT, các hoạt động CTKT, hoạt động của hệ thống cơ sở kỹ thuật và đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật; kịp thời chỉ đạo và hướng dẫn xử lý khi có sự cố, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu, thực hiện quản lý theo vòng đời đối với VKTBKT. PV: Hiện công tác chuyển đổi số của ngành kỹ thuật đã đạt được kết quả nổi bật gì, thưa đồng chí? Trung tướng Trần Minh Đức: Thời gian qua, ngành kỹ thuật Quân đội, trực tiếp là TCKT đã chủ động tham mưu, đề xuất với cấp trên và phát huy vai trò nòng cốt trong chỉ đạo, tổ chức triển khai toàn diện các nhiệm vụ CTKT phù hợp với từng giai đoạn. Trong đó, công tác chuyển đổi số cũng là một nội dung trọng tâm, được ngành kỹ thuật quan tâm thực hiện trên cơ sở chỉ đạo của cấp trên và đạt được những kết quả bước đầu quan trọng. Tổng cục đã quán triệt, tích cực triển khai cụ thể hóa các văn bản của trên về phát triển Chính phủ điện tử, chuyển đổi số; chủ động lập kế hoạch, hướng dẫn toàn quân ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong công tác quản lý và thực hiện CTKT, từng bước số hóa tài liệu, quy trình nghiệp vụ; bước đầu tạo lập các hệ thống dữ liệu số của ngành kỹ thuật... Đến nay, hầu hết chuyên ngành kỹ thuật đều có dữ liệu số và phần mềm quản lý. Các cơ quan, đơn vị chủ động, tích cực đầu tư xây dựng, hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin và mạng máy tính quân sự; từng bước kết nối an toàn và thông suốt giữa các cơ quan, đơn vị trong toàn quân và các cơ quan, cơ sở kỹ thuật. Năm 2023, TCKT thí điểm hệ thống chỉ đạo điều hành và giám sát an toàn tập trung của Tổng cục, truyền dữ liệu giữa Sở chỉ huy TCKT với các đơn vị, cơ sở kỹ thuật thuộc Tổng cục; triển khai hệ thống quản lý báo cáo tổng hợp, phân tích số liệu ngành kỹ thuật, thí điểm đến một số cơ quan, đơn vị và chuyên ngành kỹ thuật; hình thành hệ thống nền tảng thống nhất kết nối, xử lý số liệu CTKT trong toàn ngành; triển khai công cụ số hóa tài liệu kỹ thuật và kho tài liệu số ngành kỹ thuật; ban hành quy định khung mã định danh điện tử và hướng dẫn xây dựng danh mục mã định danh điện tử trang bị kỹ thuật, vật tư kỹ thuật do ngành kỹ thuật quản lý. PV: Vậy những khó khăn đặt ra hiện nay là gì, thưa đồng chí? Trung tướng Trần Minh Đức: Ngành kỹ thuật Quân đội đang quản lý số lượng lớn các loại VKTBKT với nhiều chủng loại, xuất xứ từ nhiều nước và được quản lý, bảo quản, cất giữ ở nhiều vùng miền. Nhiều trang bị kỹ thuật, vật tư kỹ thuật không có đủ tài liệu kỹ thuật từ nhà sản xuất; chưa có sự thống nhất, chuẩn hóa về quy trình quản lý các cấp, các chuyên ngành kỹ thuật. Trong khi đó, CTKT đòi hỏi phải tỉ mỉ, chính xác tuyệt đối, không được phép sai sót. Do vậy, việc xây dựng định danh điện tử VKTBKT trong toàn quân, cũng như việc thống nhất quy trình, hồ sơ điện tử trong thực hiện CTKT rất phức tạp, khó khăn. Hơn nữa, các cơ sở kỹ thuật đóng quân khắp mọi miền Tổ quốc, nhiều đơn vị ở vùng sâu, vùng xa rất khó kết nối vào mạng truyền số liệu quân sự. Chuyển đổi số cũng là nội dung mới, đòi hỏi cán bộ, nhân viên phải có trình độ khoa học-công nghệ hiện đại. Bên cạnh đó, hành lang pháp lý trong chuyển đổi số chưa hoàn thiện cũng là rào cản... Chuyển đổi số ngành kỹ thuật phải tiến hành đồng bộ, liên tục rung tướng Trần Minh Đức: Chuyển đổi số được thực hiện nhiều bước, cả đan xen và tuần tự trong thời gian dài, có nhiều yếu tố phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều lực lượng, liên quan cả thể chế, quy trình, nền nếp hoạt động, các mặt bảo đảm... Hiểu rõ điều này, TCKT đã nghiên cứu và ban hành gần 50 văn bản các loại để xác định mục tiêu, kế hoạch thực hiện và chỉ đạo tập trung, thống nhất, liên tục các nhiệm vụ liên quan; từng bước chuẩn hóa để phù hợp mục tiêu nội dung, tiến độ thực hiện chuyển đổi số ngành kỹ thuật. Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, TCKT và chỉ huy các cấp đã chủ động tham mưu, đề xuất với cấp trên tổ chức các buổi hội thảo chuyên đề, xây dựng nội dung mục tiêu, lộ trình thống nhất, tập trung trong thực hiện chuyển đổi số ngành kỹ thuật Quân đội, như: Hội thảo “Chuyển đổi số ngành kỹ thuật”; “Phát triển dữ liệu số ngành kỹ thuật”; “Khung mã định danh điện tử trang bị kỹ thuật, vật tư kỹ thuật”; “Quản lý VKTBKT theo vòng đời”... Xây dựng và báo cáo lãnh đạo Bộ Quốc phòng ban hành các văn bản, quy định: Điều lệ CTKT QĐND Việt Nam; quy định khung mã định danh điện tử, danh mục mã định danh điện tử trang bị kỹ thuật, vật tư kỹ thuật... Bên cạnh đó, TCKT đã bố trí nguồn lực, đẩy mạnh chuyển đổi số trong Tổng cục và xây dựng các công cụ, phần mềm nền tảng cho thực hiện chuyển đổi số. Bằng nhiều biện pháp, ứng dụng nhiều công cụ số để hình thành môi trường và thói quen thực hiện nhiệm vụ trên môi trường số, bước đầu đã có những chuyển biến quan trọng, phù hợp với các mục tiêu chuyển đổi số đã được xác định. PV: Huy động các nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực phục vụ chuyển đổi số được ngành kỹ thuật tiến hành ra sao, thưa đồng chí? Trung tướng Trần Minh Đức: Xây dựng hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực là nội dung trọng tâm cơ bản của nhiệm vụ chuyển đổi số. Ngành kỹ thuật Quân đội nói chung và TCKT nói riêng đã chủ động phối hợp với các cơ quan đẩy mạnh xây dựng hạ tầng mạng máy tính quân sự, đáp ứng nhu cầu khai thác, phát triển các ứng dụng công nghệ thông tin, quản lý chỉ đạo, trao đổi dữ liệu. Đến thời điểm này, công tác phát triển hạ tầng trong TCKT đạt 80% so với kế hoạch đặt ra, dự kiến đến tháng 10 sẽ hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch năm 2023, khi đó, 100% đơn vị cấp 3 của Tổng cục sẽ được kết nối vào mạng truyền số liệu quân sự. TCKT phối hợp với Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội và Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự khảo sát thực trạng, báo cáo đề xuất, triển khai các nhiệm vụ xây dựng TCKT là đơn vị điểm về chuyển đổi số trong Bộ Quốc phòng. Xây dựng trung tâm giám sát, chỉ đạo, điều hành ngành kỹ thuật tại Sở chỉ huy Tổng cục; triển khai thử nghiệm quản lý từ chỉ huy TCKT đến các đơn vị cấp 4 trong Tổng cục. Việc phát triển nguồn nhân lực phục vụ chuyển đổi số trong ngành kỹ thuật liên quan đến nhiều cơ quan, đơn vị. TCKT đã tham mưu với cấp trên xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhân viên kỹ thuật có đủ năng lực, trình độ, nhất là đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng số để chỉ đạo, điều hành, sử dụng thành thạo công cụ số trong triển khai, xử lý công việc; phối hợp với các cơ sở đào tạo chuyên ngành tăng cường đào tạo, xây dựng, thu hút nguồn nhân lực. Tổ chức tập huấn, huấn luyện, bồi dưỡng tại chỗ về kỹ năng số; chia sẻ tài nguyên số; ứng dụng công nghệ số, từng bước hình thành đội ngũ cán bộ có chuyên môn sâu, nắm vững những công nghệ mới như: Điện toán đám mây, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo... tạo nền tảng vững chắc cho công tác chuyển đổi số trong ngành kỹ thuật. PV: Thưa đồng chí, TCKT có yêu cầu gì về công tác chuyển đổi số trong ngành? Trung tướng Trần Minh Đức: Để thực hiện có hiệu quả công tác chuyển đổi số trong ngành kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, TCKT đề nghị ngành kỹ thuật các đơn vị tiếp tục quán triệt và tích cực triển khai thực hiện đầy đủ các nội dung, kế hoạch chuyển đổi số của Bộ Quốc phòng, ngành kỹ thuật và của đơn vị; trong đó ưu tiên hạ tầng kết nối mạng máy tính quân sự; chuẩn hóa hồ sơ, quy trình quản lý; xây dựng danh mục mã định danh điện tử trang bị kỹ thuật, vật tư trang bị do ngành quản lý làm cơ sở thống nhất trong thực hiện chuyển đổi số của đơn vị và toàn ngành. Đặc biệt, cán bộ ngành kỹ thuật phải chủ động tham mưu với lãnh đạo, chỉ huy đơn vị những nội dung thúc đẩy chuyển đổi số tại đơn vị bảo đảm khoa học, phù hợp thực tiễn; sẵn sàng triển khai, kết nối và ứng dụng hiệu quả những công cụ nền tảng số của ngành kỹ thuật và Bộ Quốc phòng. nguồn: Báo QĐND

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: NƯỚC NGA- NGƯỜI YÊU NƯỚC VĨ ĐẠI!

     ‘’Có hai điều mà chỉ có thể người Nga mới làm được, lần thứ nhất họ đem xe tăng bắn tan nhà Quốc hội Đức, lần thứ hai họ cũng đem xe tăng đi bắn nhà Quốc hội của chính họ’’.

Tháng 8 năm 1991, sau một loạt các cải cách tệ hại và tự hủy của Gorbachev thì những người đã quá ngán ngẩm với ông ta như Chủ tịch Quốc hội Lukyanov, Chủ tịch KGB Kryuchkov, Phó Tổng bí thư Yanaev, Thủ tướng Pavlov,… Đã huy động quân đội đến bao vây Moscow nhằm lật đổ chính quyền của ‘’Chốp’’, đồng thời định bắt sống cả Yeltsin nhưng cuối cùng thì phe quân đội đã thất bại vì họ không có được sự ủng hộ của nhân dân. Hàng vạn tốp người xây công sự như đám dân quân Đức trong trận Berlin trước toà Quốc hội Liên Xô để bảo vệ ‘’Chốp’’ và ‘’Lin’’, thậm chí người dân Leningrad còn tổ chức biểu tình hay là một cuộc ‘’dạo chơi’’ để phản đối quân đội. Một đơn vị thiếp giáp của quân đội cũng rời hàng ngũ tiến đến bảo vệ tòa Quốc hội. Sau 3 ngày từ khi đảo chính diễn ra, cũng là khi Yeltsin phát động chiến dịch chống đảo chính thì đại đa số đơn vị quân đội đều ngả sang phía chính phủ, sau đó thì đảo chính tan rã, các đơn vị thiết giáp và không quân ở Moscow tan rã hoàn toàn. Các nhân vật phát động đảo chính bị bắt giữ.

Sau đảo chính thì Gorbachev tuyên bố giải tán Ban Chấp hành Trung ương Đảng và từ chức và tự phong mình là "Tổng thống Liên Xô". Sau đó 5 ngày là 29/8/1991, Gorbachev ra lệnh giải thể các cơ quan chính trị, chấm dứt các hoạt động Đảng trong quân đội. Hồng quân Liên Xô nắm vai trò bảo vệ nhà nước XHCN cũng bị vô hiệu hóa bởi Gorbachev.

Đây có thể là một dãy domino tệ hại thứ nhì chỉ sau học thuyết domino của Mỹ, kéo sau cuộc đảo chính này là sự tan rã và tách rời của hàng loạt các quốc gia trực thuộc Liên bang Xô Viết. 

Và sau đó xuất hiện... Tổng thống Putin làm cho nước Nga vĩ đại trở lại./.


Yêu nước ST.

Không mơ hồ, lẫn lộn giữa tự do ngôn luận, tự do báo chí với ngôn luận tự do, báo chí tự do

 Một trong những luận điệu thiếu thiện chí của một số tổ chức, cá nhân đối với Việt Nam là xuyên tạc ở đất nước Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí. Tuy nhiên, lập luận của họ đa phần có sự đánh tráo khái niệm giữa tự do ngôn luận, tự do báo chí với ngôn luận tự do, báo chí tự do.

Ý nghĩa chân chính của tự do ngôn luận, tự do báo chí

Vốn dĩ tự do là quyền cơ bản của con người, nhưng cùng với đó là nhận thức và hành xử phù hợp với cộng đồng, quốc gia, dân tộc, để tôn trọng quyền tự do của người khác và tuân thủ pháp luật. Điều 29 trong “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền” năm 1948 của Liên hợp quốc nêu rõ: “Mỗi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.

Tự do ngôn luận  tự do báo chí là hai khái niệm trong cùng lĩnh vực, chỉ khác nhau về cấp độ. Báo chí là diễn đàn trong một xã hội phát triển, để mọi công dân, mọi tầng lớp, mọi độ tuổi, giới tính, ngành nghề khác nhau được quyền phát ngôn, bày tỏ tư tưởng, ý kiến, thể hiện hành động và báo chí trở thành nơi mà tự do ngôn luận thể hiện tập trung, mạnh mẽ và được lan tỏa nhiều nhất.

Cũng chính vì thế, tự do báo chí trở thành mối quan tâm đặc biệt ở mọi nơi, mọi quốc gia, mọi thể chế chính trị-xã hội. Dù ở nền báo chí tư bản hay báo chí xã hội chủ nghĩa, thì báo chí đều có những chức năng chung như: Thông tin, phản ánh, hình thành và định hướng dư luận xã hội, giáo dục, giải trí...

Báo chí được tạo điều kiện tác nghiệp tại Việt Nam. Ảnh minh họa: cand.com.vn

Báo chí được tạo điều kiện tác nghiệp tại Việt Nam

Những chức năng cơ bản này tạo ra cho báo chí một trách nhiệm xã hội, vì sự tiến bộ và phát triển chung của xã hội, hướng tới những giá trị hạnh phúc phổ quát của con người. Vì vậy, khi thực hiện quyền tự do báo chí cũng phải gắn với các chức năng đó, không đi ngược lại các giá trị chân lý, đạo đức, văn hóa, không chống lại an ninh chung của cộng đồng, không trái với xu thế tiến bộ của nhân loại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có lời giải thích rất rành mạch về tự do ngôn luận, tự do báo chí như sau: “Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý... Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý”. Như vậy, có thể thấy, tự do báo chí chân chính phải đặt trên nền tảng một xã hội dân chủ, tốt đẹp, nhân văn, mọi hoạt động báo chí đều phục vụ lợi ích của đông đảo nhân dân.

Không có tự do báo chí thuần túy, tuyệt đối, đứng bên ngoài xã hội, cộng đồng, thể chế chính trị và bị bóp nghẹt trong chế độ độc tài, khi nhà cầm quyền đã trở thành vật cản bước tiến xã hội. Không có quyền nào vượt lên ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển xã hội do chế độ kinh tế đó quy định. Chỉ có tự do báo chí trong xã hội dân chủ, khi giai cấp cầm quyền có vai trò tiến bộ dẫn dắt xã hội.

Trong thực tiễn, hầu hết mọi thể chế chính trị khác nhau đều coi việc chống lại nhà cầm quyền là vi phạm pháp luật và không có nơi nào có văn bản coi tự do ngôn luận, tự do báo chí là quyền tuyệt đối. Khi là Tổng thư ký Liên hợp quốc, ông Ban Ki-moon từng nói: “Tự do ngôn luận được bảo vệ khi nó được sử dụng vào mục đích công lý và cộng đồng... Khi một số người sử dụng quyền tự do này để khiêu khích hoặc sỉ nhục các giá trị niềm tin của người khác thì hành động đó sẽ không được bảo vệ”.

Cảnh giác mưu đồ cổ xúy “ngôn luận tự do, báo chí tự do”

Trong các luận điệu chỉ trích Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí, có thể thấy các lập luận đã cố tình tập trung vào vế đầu của “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền” năm 1948, khẳng định tự do tư tưởng, tự do xuất bản là quyền cơ bản của con người, mà bỏ đi vế sau là quyền tự do đó nằm trong khuôn khổ pháp luật và thể chế mỗi quốc gia.

Thay vì xem xét các mối quan hệ giữa Hiến pháp, pháp luật và hoạt động báo chí thực tiễn, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí chỉ tập trung vào các vụ việc và cá nhân cụ thể để xuyên tạc về tự do ngôn luận, tự do báo chí của Việt Nam. Khái niệm mà họ sử dụng chính là "ngôn luận tự do", "báo chí tự do", gần với khái niệm tự do tuyệt đối, không có giới hạn.

Tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) nhiều năm gần đây xếp Việt Nam ở vị trí gần cuối bảng xếp hạng về tự do báo chí của 180 quốc gia, với những lý do chủ yếu là “đàn áp các blogger”, “bắt giam các nhà báo”, nhưng trong những vụ việc này, các đối tượng bị bắt giữ đều có hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ để đưa tin sai sự thật, tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước, xuyên tạc tình hình kinh tế-xã hội ở Việt Nam.

Trên một kênh truyền thông ở hải ngoại thiếu thiện chí, khi bình luận về Việt Nam gần đây, có một bài viết về bảng xếp hạng của RSF. Nhưng tổ chức RSF lại không đưa ra được khái niệm hay cách hiểu nào về tự do báo chí. Nếu họ cho rằng không thể bắt giữ các nhà báo và cho rằng không ai đáng bị bắt vì lý do tham gia ngôn luận, thì có lẽ họ đã bỏ qua hoàn toàn việc hoạt động báo chí phải nằm trong khuôn khổ pháp luật. Với cách lập luận như vậy, họ đang cổ xúy cho ngôn luận tự do, báo chí tự do mà không chịu bất cứ trách nhiệm xã hội nào.

Trong vụ việc bắt giữ một nữ nhà báo gần đây, có thể thấy rõ trong thời gian dài, nhà báo này đã công khai chỉ trích nhiều cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức trên trang cá nhân của mình, như Công ty Cổ phần Đại Nam, Quỹ Sống Foundation, Mạng lưới Tự kỷ Việt Nam... với lời lẽ nặng nề nhưng không có căn cứ xác đáng. Núp dưới chiêu bài “nêu nghi vấn”, “đặt dấu hỏi”, “phân tích giả định”, “đấu tranh chống tiêu cực”, nhà báo này đã tùy tiện đưa ra những thông tin có nhiều dấu hiệu quy chụp, phán xét không khách quan, sai sự thật, bất chấp luật pháp và đạo lý.

Ngôn luận tự do dựa theo những phán đoán, suy diễn chủ quan, ác ý đã dẫn một người từng là nhà báo kiêm luật sư phải chịu trách nhiệm trước pháp luật vì lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức khác. Một số nhà báo, luật sư, người dùng mạng xã hội khác bị bắt cũng có chung vi phạm pháp luật như vậy.

Khi phê phán, chỉ trích Việt Nam không có tự do ngôn luận và tự do báo chí, các thế lực thù địch cũng không chỉ ra được điều luật nào, quy định nào ngăn cản tự do của nhà báo, mà có xu hướng áp đặt hình mẫu phương Tây cho Việt Nam. Đó là một cách tiếp cận không có cơ sở khoa học. Nội hàm của tự do ở mỗi quốc gia, mỗi thời điểm có thể giống nhau về phổ quát, còn lại sẽ mang đặc điểm của mỗi thể chế chính trị-xã hội. Thực chất, không có nơi nào có tự do tuyệt đối, đây chỉ là một khái niệm mang tính tương đối và có sự phát triển trong các nền tảng xã hội khác nhau.

Như vậy, ngôn luận tự do, báo chí tự do theo cách mà các thế lực thù địch tuyên truyền là đề cao tư tưởng của các cá nhân, không đi kèm trách nhiệm và các khuôn khổ luật pháp, đạo đức xã hội, không quan tâm hoặc xem nhẹ những hệ quả gây ra cho xã hội, cộng đồng. Điều đó khác rất xa với tự do ngôn luận, tự do báo chí chân chính có trách nhiệm với sự phát triển tiến bộ của xã hội và nhân loại.  

Việt Nam luôn bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận

Ở Việt Nam, ngay từ trong cuộc đấu tranh giành độc lập, Mặt trận Việt Minh do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đứng đầu đã giương cao ngọn cờ đòi quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức, tín ngưỡng, đi lại, bác bỏ áp bức bất công của chính quyền thực dân.

Khi giành được chính quyền, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 đã hiến định quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản và các quyền tự do khác của công dân. Trải qua các lần sửa đổi, bổ sung, Hiến pháp các năm 1959, 1980, 1992 và gần đây là Hiến pháp năm 2013 luôn nhất quán khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân.

Cùng với Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác, Luật Báo chí cũng đặt ra các nền móng cơ bản và thống nhất cho tự do ngôn luận, tự do báo chí. Điều 10 Luật Báo chí năm 2016 quy định: “Công dân có quyền: 1. Sáng tạo tác phẩm báo chí; 2. Cung cấp thông tin cho báo chí; 3. Phản hồi thông tin trên báo chí; 4. Tiếp cận thông tin báo chí; 5. Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí; 6. In, phát hành báo in”. Như vậy, dù Việt Nam không có báo chí tư nhân nhưng luật pháp quy định mọi công dân đều có quyền tham gia vào hoạt động báo chí.

Các thế lực chống phá thường vin vào việc Việt Nam không có mô hình báo chí tư nhân mà cố tình lờ đi rằng, mọi công dân đều được quyền tham gia sáng tạo và xuất bản báo chí, mọi tầng lớp, tổ chức trong xã hội đều có cơ quan báo chí đại diện của mình.

Điều 11 Luật Báo chí năm 2016 nêu rõ: Công dân có quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác. Điều 13 ghi rõ: “Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”.

Không chỉ về phương diện pháp lý mà trong thực tiễn, tự do báo chí ở Việt Nam cũng được biểu hiện sinh động. Nền báo chí Việt Nam phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, loại hình, quy mô, công nghệ làm báo. Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến tháng 5/2023, cả nước có 808 cơ quan báo chí (trong đó: 138 báo, 670 tạp chí) và 42.400 người hoạt động trong lĩnh vực báo chí, gấp khoảng 6 lần so với thập niên 2000.

Ngoài ra, không thể không kể đến mạng xã hội đã tham gia mạnh mẽ vào môi trường truyền thông trong khoảng 10 năm trở lại đây. Ở Việt Nam, công dân không bị ngăn cấm tham gia mạng xã hội. Quyền phát ngôn, tham gia ý kiến, thảo luận về mọi vấn đề xã hội đã được mở rộng rất nhiều trên các phương tiện truyền thông mới này. Báo chí cùng với mạng xã hội đã trở thành một diễn đàn lớn, nơi mà mọi người dân đều có tiếng nói, mọi vấn đề quốc kế dân sinh được trao đổi, thảo luận, đó là những biểu hiện rất rõ ràng của tự do báo chí, tự do ngôn luận.

Báo chí hiện đại trong những năm gần đây, cùng sự hỗ trợ của công nghệ truyền thông số, đã tăng cường tính tương tác với công chúng. Trên các báo điện tử đều mở phần bình luận cho người đọc. Các kênh phát thanh, truyền hình đều có những chương trình phát sóng trực tiếp, có số điện thoại đường dây nóng để người nghe, người xem gọi điện tương tác ngay khi chương trình đang diễn ra.

Với những thiết bị hiện đại, nhà đài có thể di chuyển đến phỏng vấn và phát sóng trực tiếp ngay tại nhà của các công dân. Mặt khác, các cơ quan báo chí đều thiết lập những chương trình thu thập chất liệu phản ánh từ các “nhà báo công dân”. Đó là minh chứng rất rõ ràng về việc báo chí có thể xuất bản ngay mà không qua kiểm duyệt.

Như vậy, cả trên phương diện pháp lý và hoạt động thực tiễn, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam đều được thể hiện rõ ràng, luôn gắn với quy định pháp luật, luôn hướng tới mục đích phụng sự nhân dân, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội. Tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam không phải là ngôn luận tự do, báo chí tự do theo ý chí cá nhân, mà là tự do xây dựng vì những mục tiêu tốt đẹp, vì trách nhiệm chân chính với cộng đồng, vì một thể chế chính trị-xã hội của dân, do dân, vì dân.

Các thế lực thù địch dù có tấn công, chỉ trích, chống phá như thế nào cũng không thể thay đổi bản chất tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Thực ra đó chỉ là những tiếng nói tiêu cực, lạc lõng của những người cố tình đi ngược chiều với sự phát triển bền vững của đất nước ta, nhân dân ta và của nền báo chí cách mạng đáng tự hào của chúng ta./.

St

Nhận diện và phê phán các quan điểm sai trái về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

 Nhằm phủ nhận đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc đường lối đó với nhiều quan điểm sai trái. Vì vậy, nhận diện đúng và tích cực đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái về vấn đề này là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Ở Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, tổng kết quá trình thực hiện những đổi mới cục bộ, từng phần theo hướng xóa bỏ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, tạo môi trường và điều kiện mở rộng các quan hệ thị trường1, Đảng ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mà Đại hội IX của Đảng xác định: “đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”2.

Chủ trương đó đánh dấu bước ngoặt cơ bản trong tư duy và quan niệm của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Từ đó đến nay, nhận thức của Đảng ta về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng được bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Đến Đại hội XIII, Đảng ta xác định: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”3. Đây là kết quả được rút ra từ quá trình tổng kết thực tiễn 35 năm đổi mới; đồng thời, là sự kế thừa và phát triển những thành quả lý luận của 07 kỳ đại hội đã qua; phản ánh tư duy nhất quán và sự phát triển nhận thức của Đảng ta về vấn đề này ngày càng rõ hơn, đầy đủ hơn. Những thành tựu của hơn 35 năm đổi mới đất nước đã chứng minh sự đúng đắn của đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị ở trong và ngoài nước vẫn ra sức xuyên tạc đường lối này với nhiều quan điểm sai trái. Có thể nhận diện những quan điểm sai trái đó dưới hai nhóm vấn đề sau đây:

Một là, họ cho rằng không có kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; rằng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là “sự gán ghép chủ quan, duy ý chí”, là “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, là “đầu Ngô, mình Sở”(!), v.v. Theo họ, kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập, loại trừ nhau, như “nước với lửa”(!).

Hai là, họ cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam chấp nhận phát triển kinh tế thị trường là “xoay trục sang con đường phát triển tư bản chủ nghĩa”, “gác lại mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ bỏ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội”(!), không khác gì “vỏ đỏ, ruột xanh”(!).

Những quan điểm sai trái nói trên đều xuất phát từ sự đồng nhất sai lầm giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa tư bản, khi quan niệm rằng: “kinh tế thị trường là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản; kinh tế thị trường vận động theo các quy luật của chủ nghĩa tư bản, không thể dung hòa với định hướng xã hội chủ nghĩa”(!). Từ đây, họ đòi Đảng ta phải công khai tuyên bố lựa chọn mô hình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, mà thực chất là đòi Đảng từ bỏ con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội để đưa đất nước theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa.

Cần khẳng định ngay rằng, việc các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản, coi đây là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản là hoàn toàn sai cả về lý luận và thực tiễn. Trên phương diện lý luận, kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa, khi mà đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất đều được thực hiện thông qua thị trường. Kinh tế thị trường chỉ là một kiểu tổ chức kinh tế mà xã hội loài người sáng tạo ra, tồn tại ở nhiều chế độ xã hội khác nhau và được chủ nghĩa tư bản sử dụng làm cơ sở cho sự tồn tại, vận động, phát triển của mình. Chính sự phát triển của sức sản xuất đạt đến một trình độ nhất định sẽ làm xuất hiện những điều kiện khách quan cho kinh tế hàng hóa - điểm khởi đầu của kinh tế thị trường tồn tại. Đó là phân công lao động xã hội và những hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất. Những điều kiện ấy đã xuất hiện trước chủ nghĩa tư bản và vẫn tiếp tục tồn tại trong chủ nghĩa xã hội, nên việc duy trì và phát triển kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta là đúng với quy luật đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, chứ không phải là sự “xoay trục sang con đường phát triển tư bản chủ nghĩa”. Bởi, kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển tất yếu của quá trình phát triển từ nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn. Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là “bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư, tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản”4, trong đó có thành tựu về phát triển kinh tế thị trường.

Trên phương diện thực tiễn, trong những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Xô - viết, V.I. Lênin đã sớm nhận thấy sai lầm khi đồng nhất kinh tế hàng hóa với chủ nghĩa tư bản, không sử dụng các quan hệ thị trường để thúc đẩy sản xuất và cải thiện đời sống nhân dân. Người đã đề ra và tổ chức thực hiện “Chính sách kinh tế mới” (NEP), mà nội dung cơ bản là duy trì và phát triển các quan hệ thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước vô sản. Việc thực hiện chính sách đó đã nhanh chóng đưa nước Nga thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội trong những năm 20 của thế kỷ XX; đồng thời, khẳng định tính hiện thực của mô hình kinh tế chứa đựng sự dung hợp giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội. Lý luận về phát triển kinh tế hàng hóa thời kỳ thực hiện NEP là một cống hiến xuất sắc của V.I. Lênin trong phát triển chủ nghĩa Mác về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước có nền kinh tế còn kém phát triển. Khai thác những di sản đó, từ những năm cuối thập niên 70 và 80 của thế kỷ XX, Trung Quốc và Việt Nam đã căn cứ vào thực tiễn của nước mình, tiến hành “cải cách”, “đổi mới” theo hướng duy trì và phát triển kinh tế thị trường, đem lại những kết quả tích cực, cho phép hiện thực hóa từng bước các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước.

Đối với nước ta, việc tổ chức thực hiện đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hơn 35 năm qua đã đem lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Việt Nam đã ra khỏi tình trạng kinh tế kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình. Quy mô và tiềm lực kinh tế của đất nước không ngừng tăng lên, từ chỗ chỉ đạt 6,3 tỉ USD vào năm 1989, thì đến năm 2022 đã đạt 409 tỉ USD, đứng thứ 37 nền kinh tế lớn nhất thế giới, đứng thứ năm trong ASEAN và trong nhóm 14 nước hàng đầu châu Á. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình quân đầu người trong những năm đầu đổi mới chỉ khoảng 250 USD/năm, thì đến năm 2022 đã đạt 4.110 USD, đứng thứ năm trong ASEAN. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống dưới 03% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều, được Liên hợp quốc xếp là một trong những nước đứng đầu trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ. Văn hóa - xã hội có bước phát triển tích cực; dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng mở rộng. Các vấn đề an sinh xã hội luôn được chăm lo, ngay cả lúc nền kinh tế gặp khó khăn do tác động của suy thoái kinh tế thế giới, hay của đại dịch Covid-19, trở thành một trong những điểm sáng của Việt Nam được quốc tế ghi nhận. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu. Nền kinh tế quốc gia hội nhập ngày càng sâu rộng vào thị trường quốc tế với nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, từng bước thích ứng với nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường thế giới. Việc trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), thành viên của hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực, trong đó có 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới với những cam kết rất cao về tự do hóa thương mại và phát triển bền vững (liên quan đến lao động và bảo vệ môi trường), đã chứng tỏ nền kinh tế Việt Nam ngày càng thích ứng với các điều kiện của nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế; đồng thời, đưa nước ta trở thành nền kinh tế có độ mở cao - tới 200% GDP. Điều đó được thể hiện bằng các con số ấn tượng, nếu tổng kim ngạch xuất nhập khẩu bình quân giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2005 mới đạt 20,7 tỉ USD/năm, thì riêng năm 2022 đã đạt 732,5 tỉ USD; cán cân thương mại hàng hóa đã chuyển từ nhập siêu sang xuất siêu 07 năm liên tục kể từ năm 2016, riêng năm 2022 xuất siêu đạt 11,2 tỉ USD. Giá trị thương hiệu quốc gia Việt Nam (do Công ty tư vấn định giá thương hiệu hàng đầu thế giới - Brand Finance công bố) liên tục tăng trưởng với tốc độ nhanh. Nếu năm 2019, giá trị đó là 274 tỉ USD, thì năm 2022 đã đạt 431 tỉ USD, được xem là quốc gia có tốc độ tăng trưởng giá trị nhanh nhất thế giới (tăng 74%) trong giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2022.

Thực tiễn đó đã chứng minh rõ những lợi ích mà sự phát triển kinh tế thị trường đem lại phù hợp với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta. Nó không đối lập với các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mà ngược lại, còn thúc đẩy việc thực hiện những nhiệm vụ đó hiệu quả hơn. Tuy nhiên, chúng ta không chọn phát triển kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, mà chọn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. “Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Đây không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đầy đủ”5. Nói cách khác, đó là nền kinh tế thị trường của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nền kinh tế đó có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; nhưng kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là công cụ, lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết, dẫn dắt, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là “nền kinh tế thị trường hiện đại”, được điều tiết, vận hành bằng “bàn tay” của cơ chế thị trường kết hợp với “bàn tay” của nhà nước, nhưng đây là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Chế độ phân phối được thực hiện chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế; đồng thời, theo mức góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Vấn đề tiến bộ và công bằng xã hội được quan tâm giải quyết ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển; chính sách kinh tế luôn thống nhất và gắn chặt với chính sách xã hội. Theo đó, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, người có hoàn cảnh khó khăn. Đó là những điểm khác biệt rất căn bản của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa so với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.

Qua 37 năm đổi mới, bằng nỗ lực của toàn Đảng và toàn dân ta, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với những đặc trưng nói trên đã từng bước hình thành và phát triển. “Thể chế kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại và hội nhập, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước được xác lập”6; “Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách tiếp tục được hoàn thiện phù hợp với yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế. Các yếu tố thị trường và các loại thị trường từng bước phát triển, gắn với thị trường khu vực và thế giới”7. Hầu hết các loại giá cả hàng hóa được xác lập theo nguyên tắc thị trường. Vai trò của nhà nước được điều chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường, ngày càng phát huy dân chủ trong đời sống kinh tế - xã hội. Việc huy động và phân bổ các nguồn lực gắn với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội từng bước phù hợp hơn với cơ chế thị trường. Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện rõ rệt. Những tiến bộ nói trên là cơ sở để đến nay đã có 90 quốc gia công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường đầy đủ8.

Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta. Việc thực hiện thành công đường lối đó sẽ góp phần bổ sung, phát triển lý luận Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở những nước có nền kinh tế còn kém phát triển; đồng thời, là minh chứng sinh động bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch./.

St

Bác bỏ sự xuyên tạc, phủ nhận nguyên tắc tự phê bình và phê bình của Đảng

 Tự phê bình và phê bình là một nguyên tắc cơ bản trong sinh hoạt, hoạt động và là quy luật tồn tại, phát triển của Đảng Cộng sản. Chính vì vậy, các thế lực thù địch luôn tìm cách xuyên tạc, hạ thấp vị trí, vai trò và phủ nhận nhằm làm cho cán bộ, đảng viên, các cấp ủy, tổ chức đảng xem nhẹ, từng bước xa rời và từ bỏ nguyên tắc này. Do đó, nhận thức rõ bản chất và kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, phủ nhận nguyên tắc tự phê bình và phê bình là nhiệm vụ quan trọng hiện nay.

Hòng phủ nhận giá trị thực chất, cốt lõi của nguyên tắc tự phê bình và phê bình, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị cho rằng: tự phê bình và phê bình chỉ là “cái quy định ngớ ngẩn” trong nội bộ Đảng Cộng sản, “một chiêu trò bịt mắt dân” nhằm “thổi phồng ưu điểm”, “xu nịnh, tâng bốc thành tích” vì làm gì có ai tự “vạch áo cho người xem lưng”; hoặc trái lại, chỉ để “bới lông, tìm vết”, “đấu đá”, “thanh trừng” lẫn nhau, v.v. Cần khẳng định rõ, đây là những luận điệu sai trái, không đúng với bản chất, mục đích, cũng như thực tiễn tự phê bình và phê bình trong Đảng.

Ngay từ khi thành lập tổ chức cộng sản quốc tế đầu tiên, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra rằng: tự phê bình và phê bình là rất cần thiết cho hoạt động và sự phát triển của đảng, là thuộc tính bản chất của một đảng cách mạng. Vì trong quá trình vận động, phát triển, những nhược điểm, khiếm khuyết nảy sinh trong nội bộ đảng là khó tránh khỏi, việc đấu tranh giải quyết những vấn đề đó, tạo sự thống nhất cao là rất cần thiết nhưng tuyệt đối không được dùng biện pháp bạo lực, thanh trừng lẫn nhau, loại bỏ lẫn nhau mà phải thực hiện bằng tự phê bình và phê bình. V.I. Lênin coi tự phê bình và phê bình là quy luật bất di bất dịch về sự phát triển của một đảng cách mạng, chân chính: “Tất cả những đảng cách mạng đã bị tiêu vong cho tới nay, đều bị tiêu vong vì tự cao, tự đại, vì không biết nhìn rõ cái gì tạo nên sức mạnh của mình và vì sợ sệt không dám nói lên những nhược điểm của mình. Còn chúng ta, chúng ta sẽ không bị tiêu vong, vì chúng ta không sợ nói lên những nhược điểm của chúng ta và những nhược điểm đó, chúng ta sẽ học được cách khắc phục”1. Và, cán bộ, đảng viên của đảng cũng là con người, không phải là “thiên thần, không phải là thánh, không phải là anh hùng mà cũng là người như tất cả mọi người khác. Họ cũng có khuyết điểm. Đảng sửa cho họ”2.

Để thực hiện tự phê bình và phê bình, V.I. Lênin còn chỉ ra yêu cầu, cách thức tiến hành. Theo Người, tự phê bình và phê bình không được theo khuynh hướng của chủ nghĩa cơ hội “tả khuynh”; “phê phán”, “luận chiến” là cần thiết, nhưng chỉ được phê phán công khai, trực diện rõ ràng, minh bạch chứ không phải “bới lông, tìm vết”, không phải “châm chọc, soi mói” lẫn nhau; phải kiên quyết đấu tranh chống quan điểm sai trái, lợi dụng cái gọi là “tự do phê bình” để gây mất đoàn kết, chia rẽ nội bộ, phá hoại tổ chức đảng. Nó phải là nguyên tắc chỉ đạo nhận thức và mọi hoạt động của Đảng, là biện pháp để tránh mọi sai lầm.

Trung thành, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng tự phê bình và phê bình trong Đảng. Theo Hồ Chí Minh “Người đời không phải thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm”3, trong quá trình hoạt động, vì một lý do nào đó, cán bộ, đảng viên mắc khuyết điểm là điều không tránh khỏi, song vấn đề cơ bản là phải biết nhận ra và sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm đó. Đối với Đảng ta, Người chỉ rõ: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sữa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”4. Để thực hiện được điều đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phương thuốc tốt nhất là tự phê bình và phê bình.

Hồ Chí Minh đã nêu một cách mẫu mực về phương pháp, cách thức giáo dục, rèn luyện và sửa chữa thiếu sót, khuyết điểm cho cán bộ, đảng viên thấm đượm tinh thần nhân văn, nhân đạo, trên cơ sở nguyên tắc cộng sản, thể hiện sâu sắc tình nhân ái, đó là tự phê bình và phê bình. Người chỉ rõ: cần xuất phát từ lợi ích của Đảng, từ tình thương yêu đồng chí mà tiến hành đấu tranh phê bình với tinh thần chữa bệnh cứu người. Phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, giúp nhau tiến bộ, cốt để sửa cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn; đoàn kết thống nhất nội bộ vững chắc hơn. Khi tiến hành đấu tranh phê bình phải ráo riết, triệt để thật thà, không nể nang, không thêm bớt; phải vạch rõ cả ưu điểm, khuyết điểm và cần phân biệt đúng mức độ của thiếu sót, khuyết điểm, sai lầm. Trong lúc phê bình “chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc”, cần biết cách đấu tranh thích hợp để giúp đỡ đồng chí sửa chữa được thiếu sót, sai lầm, tăng cường đoàn kết, thống nhất trong chi bộ. Nếu đấu tranh phê bình vì lợi ích cá nhân, phê bình người để đề cao mình, để dìm đồng chí, đấu tranh phê bình ngoài phạm vi tổ chức, kỷ luật của Đảng, hoặc không dám đấu tranh phê bình vì sợ bị trù dập, sợ bị thành kiến đều là trái với phẩm chất đạo đức của người đảng viên cộng sản, đều là vô nguyên tắc, ảnh hưởng xấu đến đoàn kết nội bộ, làm thiệt hại đến lợi ích của Đảng, hủy hoại thanh danh người đảng viên cộng sản.

Người luôn yêu cầu các cơ quan và cán bộ, đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình, phải luôn “tự soi, tự sửa”. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phê bình phải trên cơ sở tình đồng chí và thương yêu lẫn nhau. Phải ngăn ngừa và kiên quyết chống lại cách để khuyết điểm chồng lên khuyết điểm, hay kiểu “tích tụ” để đưa ra phê bình, lợi dụng phê bình để “thanh toán” nhau, đánh bật “ghế” của nhau. Đó là thủ đoạn của bọn cơ hội, bè phái vẫn xuất hiện đây đó ở một số cơ quan, đơn vị; “phê bình” kiểu đó làm cho công việc trì trệ, đơn vị rối loạn, cán bộ, nhân dân chán nản, thực chất là sự phá hoại, làm suy yếu Đảng, mất cán bộ. Tự phê bình và phê bình thật thà, thành khẩn, chân thành luôn là tiêu chuẩn đánh giá thái độ, động cơ, tư cách và đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên. Muốn thực hiện có kết quả phải phát huy dân chủ, động viên nhân dân góp ý, phê bình cán bộ, cấp dưới góp ý, phê bình cấp trên, không chỉ có cấp trên phê bình, “uốn nắn” cấp dưới. Chỉ có làm như vậy, mới phát huy được dân chủ, mới bảo đảm cho việc phê bình được thực hiện đầy đủ và có kết quả, mới ngăn chặn được kẻ địch lợi dụng để phá hoại và bọn cơ hội “mượn gió bẻ măng”. Phương pháp khéo dùng tự phê bình và phê bình của Hồ Chí Minh là cách tốt nhất để “được người, được việc, được quan hệ”. Nó giúp cho mỗi người chủ động, tự tin và tin tưởng vào đồng chí và tổ chức của mình, tăng thêm ý chí, nghị lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Thực tiễn hơn 90 năm qua cho thấy, từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn coi trọng thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, tình hình cách mạng. Nhờ đó mà Đảng ta ngày càng phát triển, lớn mạnh không ngừng, đủ sức lãnh đạo cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong thời gian qua, trước yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là kiên quyết đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, các Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII, XIII) tiếp tục xác định: tự phê bình và phê bình là nhóm giải pháp quan trọng, được triển khai nghiêm túc, chặt chẽ từ Trung ương đến cơ sở, từ cấp ủy đến cán bộ, đảng viên. Với tinh thần tự phê bình và phê bình thẳng thắn, nói rõ sự thật, những ưu điểm, thành tích được phân tích, làm rõ; những hạn chế, khuyết điểm, sai phạm của tổ chức, cá nhân được chỉ ra cụ thể; các trường hợp sai phạm bị kiểm điểm, kết luận rõ ràng; không bao che, dung túng, “không có vùng cấm”, xét xử nghiêm minh5, đã góp phần cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, được nhân dân đồng tình, ủng hộ, bạn bè quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên, Đảng ta cũng nghiêm túc nhìn nhận: “Tự phê bình và phê bình ở không ít nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi; một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ được giao”6.

Như vậy, cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, nguyên tắc tự phê bình và phê bình của Đảng Cộng sản là cách mạng và khoa học; là một trong những nhân tố quan trọng, quyết định sự trường tồn và phát triển của Đảng. Thông qua tự phê bình và phê bình mà cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng luôn nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, yếu kém trong sinh hoạt, công tác để có giải pháp khắc phục kịp thời, hiệu quả, vì sự tiến bộ của cá nhân, tổ chức, vì sự trong sạch, vững mạnh của Đảng, hoàn toàn không phải như luận điệu mà các thế lực thù địch, phản động thường rêu rao, chống phá.

Hiện nay, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đặt ra cấp bách, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên phải luôn kiên định lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng; xa rời, từ bỏ nguyên tắc này là xa rời, từ bỏ Đảng từ bản chất. Đồng thời, đề cao cảnh giác, nhận diện rõ bản chất, âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và chủ động đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc nguyên tắc tự phê bình và phê bình của Đảng. Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên nêu cao trách nhiệm tự phê bình và phê bình như soi gương, rửa mặt hằng ngày; thấy vết nhọ là phải lau ngay; thật thà tự xét và góp ý cho đồng chí mình, ai có khuyết điểm nào thì phải thật thà, cố gắng tự sửa chữa và giúp sửa chữa lẫn nhau để xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, vững mạnh, vì nước, vì dân, góp phần làm cho Đảng ta luôn xứng đáng “là đạo đức, là văn minh”./.

St

TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG ĐẤU TRANH BẢO VỆ NHỮNG GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

 Gần 8 thập kỷ xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và chiến thắng, Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam thực sự là một quân đội anh hùng, “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”; được Đảng và nhân dân ta hết mực tin yêu, bạn bè ngưỡng mộ và ngay cả kẻ thù cũng phải nể phục.

Tuy nhiên, thời gian qua vẫn có những luận điệu xuyên tạc nhằm hạ thấp, bôi nhọ truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta.
Nhiều luận điệu xuyên tạc cần phê phán, bác bỏ
Trong quá trình thực hiện âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch luôn tập trung xuyên tạc những giá trị truyền thống tốt đẹp của QĐND Việt Nam, nhất là xuyên tạc về lòng trung thành của quân đội với Đảng, với Nhà nước và nhân dân; xuyên tạc mối quan hệ đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế của quân đội với những lời lẽ hết sức phản động, phản khoa học nhằm thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, hòng làm suy giảm sức mạnh chiến đấu của quân đội, làm phai mờ hình ảnh tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế.
Sự xuyên tạc đó được thể hiện ở một số luận điệu như: “Lực lượng vũ trang (LLVT) chỉ trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức, lực lượng nào”; “xóa bỏ quy định LLVT phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam”; “quân đội là chỉ của quốc gia dân tộc” và có nhiệm vụ “bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và phục vụ nhân dân chứ không phải bảo vệ chế độ nào”. Khi Quân đội ta thực hiện chức năng, nhiệm vụ đội quân công tác, tiến hành công tác dân vận, giúp đỡ nhân dân giải quyết các “điểm nóng” về xã hội, đấu tranh chống việc lợi dụng những vấn đề dân tộc, tôn giáo thì các thế lực lại xuyên tạc, vu cáo “quân đội cứu Đảng, đàn áp nhân dân”... Lợi dụng những thiếu sót, khuyết điểm của một số cán bộ, chiến sĩ trong quan hệ với nhân dân, các thế lực thù địch ra sức kích động nhằm chia rẽ mối quan hệ giữa quân đội với nhân dân: “Tuy gọi là QĐND song thực chất chỉ là công cụ bạo lực của một tập đoàn cầm quyền, không phải là quân đội mang lại lợi ích cho dân”... Chưa dừng lại ở đó, các thế lực thù địch còn xuyên tạc nghĩa vụ quốc tế vô sản cao cả của QĐND Việt Nam đối với cách mạng Lào và Campuchia trong thời kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trước đây. Chúng xuyên tạc việc QĐND Việt Nam cử lực lượng tình nguyện làm nhiệm vụ quốc tế cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng lại là “hành động xâm lược”.
Những luận điệu trên được các thế lực thù địch “nhai đi nhai lại” nhiều lần, do vậy, nếu không tỉnh táo, sáng suốt, một bộ phận người dân, nhất là giới trẻ, có thể bị tiêm nhiễm những luận điệu phản động đó. Vì vậy, chúng ta phải kiên quyết phê phán, đấu tranh.
Bảo vệ và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của quân đội
Trong điều kiện mới, trước sự tác động của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, trước yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần chú trọng nâng cao hiệu quả phòng, chống sự xuyên tạc của các thế lực thù địch về những giá trị truyền thống tốt đẹp của QĐND Việt Nam nhằm giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta và Bộ đội Cụ Hồ. Trong đó cần quan tâm một số vấn đề sau.
Một là, tăng cường sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng trong giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”. Vì vậy, sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng là nhân tố quyết định sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta, bảo đảm giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Để bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam tiếp tục được giữ vững và phát huy trong thời kỳ mới, phải chăm lo xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong quân đội trong sạch, vững mạnh; tăng cường rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội thực sự là hạt nhân, nòng cốt trong việc giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ.
Hai là, tăng cường sự quản lý của Nhà nước trong việc giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ. Để phát huy vai trò của Nhà nước trong giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ, Nhà nước cần ban hành và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách trong xây dựng quân đội, thực hiện tốt vai trò, chức năng quản lý của Nhà nước đối với quân đội. Trong đó, Nhà nước cần có chính sách bảo đảm tốt hơn về vật chất, tinh thần; về trang bị, phương tiện kỹ thuật cho quân đội đáp ứng yêu cầu xây dựng QĐND Việt Nam trong tình hình mới. Thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội; chính sách đối với những người có công với cách mạng, thương binh và gia đình liệt sĩ; chính sách tạo điều kiện việc làm cho quân nhân xuất ngũ...
Ba là, phát huy tốt vai trò của đồng bào các dân tộc trong giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ. “Quân với dân như cá với nước” là một cách thể hiện rất độc đáo trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về mối quan hệ mật thiết giữa quân đội và nhân dân Việt Nam, bắt nguồn từ trong bản chất, truyền thống của quân đội cách mạng do Đảng ta giáo dục và rèn luyện. Trong tình hình hiện nay, trước những tác động của điều kiện kinh tế-xã hội, nhất là trước những tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường cũng như sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chia rẽ quân đội với nhân dân, thì sự thương yêu, giúp đỡ của nhân dân đối với quân đội càng có ý nghĩa quan trọng đối với việc giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ.
Bốn là, phát huy vai trò của quân đội trong giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ. Vấn đề cơ bản có tính quyết định trực tiếp là sự nỗ lực phấn đấu rèn luyện của toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong thực tiễn xây dựng, chiến đấu, công tác và lao động sản xuất của quân đội trong mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh, mọi nhiệm vụ. Việc giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ là công việc của chính mỗi cán bộ, chiến sĩ; thể hiện cụ thể trong thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu, công tác và lao động sản xuất, cũng như trong sinh hoạt đời thường của mỗi quân nhân. Để giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ phải nỗ lực rèn luyện, phấn đấu thực hiện tốt Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.
Năm là, tích cực triển khai đấu tranh phòng, chống sự xuyên tạc của các thế lực thù địch về những giá trị truyền thống tốt đẹp của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của các cấp ủy đảng trong đấu tranh phòng, chống các quan điểm thù địch, sai trái, xuyên tạc, phủ nhận bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ. Bảo đảm các hoạt động đấu tranh theo đúng định hướng của Đảng, chặt chẽ về nguyên tắc, vững vàng về quan điểm chính trị, sâu sắc về lý luận khoa học, sắc bén trong phương pháp và đạt hiệu quả cao. Huy động lực lượng rộng rãi trong các cơ quan nghiên cứu lý luận, các cơ quan nghiên cứu khoa học, các cơ quan báo chí, truyền thông... tiến công chống các quan điểm thù địch, sai trái xuyên tạc, phủ nhận bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ. Bên cạnh đó, cần chủ động cung cấp đầy đủ những thông tin liên quan đến vấn đề đấu tranh dưới nhiều hình thức để kịp thời định hướng đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ./.
St