Thứ Ba, 29 tháng 8, 2023
CÁCH MẠNG - NƠI QUY TỤ SỨC DÂN VÀ TÌNH QUÂN BỀN CHẶT!
LỜI THỪA NHẬN CAY ĐẮNG VÀ BÀI HỌC CHO NHỮNG KẺ ẢO TƯỞNG ẤU TRĨ!
ĐỌC GIÚP BẠN: CẦN TẨY SẠCH BỆNH QUAN LIÊU MỆNH LỆNH!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: GIỮ GÌN SỰ ĐOÀN KẾT NHẤT TRÍ TRONG ĐẢNG!
Những viên gạch mang "hồn đất nước" tại đảo Trần
Giúp dân là tự giúp mình
Phát huy vai trò của trí thức trẻ Khối Các cơ quan Trung ương trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Chuyển đổi số ngành kỹ thuật phải tiến hành đồng bộ, liên tục
CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: NƯỚC NGA- NGƯỜI YÊU NƯỚC VĨ ĐẠI!
Không mơ hồ, lẫn lộn giữa tự do ngôn luận, tự do báo chí với ngôn luận tự do, báo chí tự do
Một trong những luận điệu thiếu thiện chí của một số tổ chức, cá nhân đối với Việt Nam là xuyên tạc ở đất nước Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí. Tuy nhiên, lập luận của họ đa phần có sự đánh tráo khái niệm giữa tự do ngôn luận, tự do báo chí với ngôn luận tự do, báo chí tự do.
Ý nghĩa chân chính của tự do ngôn luận, tự do báo chí
Vốn dĩ tự do là quyền cơ bản của con người, nhưng cùng với đó là nhận thức và hành xử phù hợp với cộng đồng, quốc gia, dân tộc, để tôn trọng quyền tự do của người khác và tuân thủ pháp luật. Điều 29 trong “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền” năm 1948 của Liên hợp quốc nêu rõ: “Mỗi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.
Tự do ngôn luận và tự do báo chí là hai khái niệm trong cùng lĩnh vực, chỉ khác nhau về cấp độ. Báo chí là diễn đàn trong một xã hội phát triển, để mọi công dân, mọi tầng lớp, mọi độ tuổi, giới tính, ngành nghề khác nhau được quyền phát ngôn, bày tỏ tư tưởng, ý kiến, thể hiện hành động và báo chí trở thành nơi mà tự do ngôn luận thể hiện tập trung, mạnh mẽ và được lan tỏa nhiều nhất.
Cũng chính vì thế, tự do báo chí trở thành mối quan tâm đặc biệt ở mọi nơi, mọi quốc gia, mọi thể chế chính trị-xã hội. Dù ở nền báo chí tư bản hay báo chí xã hội chủ nghĩa, thì báo chí đều có những chức năng chung như: Thông tin, phản ánh, hình thành và định hướng dư luận xã hội, giáo dục, giải trí...

Báo chí được tạo điều kiện tác nghiệp tại Việt Nam
Những chức năng cơ bản này tạo ra cho báo chí một trách nhiệm xã hội, vì sự tiến bộ và phát triển chung của xã hội, hướng tới những giá trị hạnh phúc phổ quát của con người. Vì vậy, khi thực hiện quyền tự do báo chí cũng phải gắn với các chức năng đó, không đi ngược lại các giá trị chân lý, đạo đức, văn hóa, không chống lại an ninh chung của cộng đồng, không trái với xu thế tiến bộ của nhân loại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có lời giải thích rất rành mạch về tự do ngôn luận, tự do báo chí như sau: “Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý... Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý”. Như vậy, có thể thấy, tự do báo chí chân chính phải đặt trên nền tảng một xã hội dân chủ, tốt đẹp, nhân văn, mọi hoạt động báo chí đều phục vụ lợi ích của đông đảo nhân dân.
Không có tự do báo chí thuần túy, tuyệt đối, đứng bên ngoài xã hội, cộng đồng, thể chế chính trị và bị bóp nghẹt trong chế độ độc tài, khi nhà cầm quyền đã trở thành vật cản bước tiến xã hội. Không có quyền nào vượt lên ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển xã hội do chế độ kinh tế đó quy định. Chỉ có tự do báo chí trong xã hội dân chủ, khi giai cấp cầm quyền có vai trò tiến bộ dẫn dắt xã hội.
Trong thực tiễn, hầu hết mọi thể chế chính trị khác nhau đều coi việc chống lại nhà cầm quyền là vi phạm pháp luật và không có nơi nào có văn bản coi tự do ngôn luận, tự do báo chí là quyền tuyệt đối. Khi là Tổng thư ký Liên hợp quốc, ông Ban Ki-moon từng nói: “Tự do ngôn luận được bảo vệ khi nó được sử dụng vào mục đích công lý và cộng đồng... Khi một số người sử dụng quyền tự do này để khiêu khích hoặc sỉ nhục các giá trị niềm tin của người khác thì hành động đó sẽ không được bảo vệ”.
Cảnh giác mưu đồ cổ xúy “ngôn luận tự do, báo chí tự do”
Trong các luận điệu chỉ trích Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí, có thể thấy các lập luận đã cố tình tập trung vào vế đầu của “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền” năm 1948, khẳng định tự do tư tưởng, tự do xuất bản là quyền cơ bản của con người, mà bỏ đi vế sau là quyền tự do đó nằm trong khuôn khổ pháp luật và thể chế mỗi quốc gia.
Thay vì xem xét các mối quan hệ giữa Hiến pháp, pháp luật và hoạt động báo chí thực tiễn, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí chỉ tập trung vào các vụ việc và cá nhân cụ thể để xuyên tạc về tự do ngôn luận, tự do báo chí của Việt Nam. Khái niệm mà họ sử dụng chính là "ngôn luận tự do", "báo chí tự do", gần với khái niệm tự do tuyệt đối, không có giới hạn.
Tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) nhiều năm gần đây xếp Việt Nam ở vị trí gần cuối bảng xếp hạng về tự do báo chí của 180 quốc gia, với những lý do chủ yếu là “đàn áp các blogger”, “bắt giam các nhà báo”, nhưng trong những vụ việc này, các đối tượng bị bắt giữ đều có hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ để đưa tin sai sự thật, tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước, xuyên tạc tình hình kinh tế-xã hội ở Việt Nam.
Trên một kênh truyền thông ở hải ngoại thiếu thiện chí, khi bình luận về Việt Nam gần đây, có một bài viết về bảng xếp hạng của RSF. Nhưng tổ chức RSF lại không đưa ra được khái niệm hay cách hiểu nào về tự do báo chí. Nếu họ cho rằng không thể bắt giữ các nhà báo và cho rằng không ai đáng bị bắt vì lý do tham gia ngôn luận, thì có lẽ họ đã bỏ qua hoàn toàn việc hoạt động báo chí phải nằm trong khuôn khổ pháp luật. Với cách lập luận như vậy, họ đang cổ xúy cho ngôn luận tự do, báo chí tự do mà không chịu bất cứ trách nhiệm xã hội nào.
Trong vụ việc bắt giữ một nữ nhà báo gần đây, có thể thấy rõ trong thời gian dài, nhà báo này đã công khai chỉ trích nhiều cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức trên trang cá nhân của mình, như Công ty Cổ phần Đại Nam, Quỹ Sống Foundation, Mạng lưới Tự kỷ Việt Nam... với lời lẽ nặng nề nhưng không có căn cứ xác đáng. Núp dưới chiêu bài “nêu nghi vấn”, “đặt dấu hỏi”, “phân tích giả định”, “đấu tranh chống tiêu cực”, nhà báo này đã tùy tiện đưa ra những thông tin có nhiều dấu hiệu quy chụp, phán xét không khách quan, sai sự thật, bất chấp luật pháp và đạo lý.
Ngôn luận tự do dựa theo những phán đoán, suy diễn chủ quan, ác ý đã dẫn một người từng là nhà báo kiêm luật sư phải chịu trách nhiệm trước pháp luật vì lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức khác. Một số nhà báo, luật sư, người dùng mạng xã hội khác bị bắt cũng có chung vi phạm pháp luật như vậy.
Khi phê phán, chỉ trích Việt Nam không có tự do ngôn luận và tự do báo chí, các thế lực thù địch cũng không chỉ ra được điều luật nào, quy định nào ngăn cản tự do của nhà báo, mà có xu hướng áp đặt hình mẫu phương Tây cho Việt Nam. Đó là một cách tiếp cận không có cơ sở khoa học. Nội hàm của tự do ở mỗi quốc gia, mỗi thời điểm có thể giống nhau về phổ quát, còn lại sẽ mang đặc điểm của mỗi thể chế chính trị-xã hội. Thực chất, không có nơi nào có tự do tuyệt đối, đây chỉ là một khái niệm mang tính tương đối và có sự phát triển trong các nền tảng xã hội khác nhau.
Như vậy, ngôn luận tự do, báo chí tự do theo cách mà các thế lực thù địch tuyên truyền là đề cao tư tưởng của các cá nhân, không đi kèm trách nhiệm và các khuôn khổ luật pháp, đạo đức xã hội, không quan tâm hoặc xem nhẹ những hệ quả gây ra cho xã hội, cộng đồng. Điều đó khác rất xa với tự do ngôn luận, tự do báo chí chân chính có trách nhiệm với sự phát triển tiến bộ của xã hội và nhân loại.
Việt Nam luôn bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận
Ở Việt Nam, ngay từ trong cuộc đấu tranh giành độc lập, Mặt trận Việt Minh do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đứng đầu đã giương cao ngọn cờ đòi quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức, tín ngưỡng, đi lại, bác bỏ áp bức bất công của chính quyền thực dân.
Khi giành được chính quyền, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 đã hiến định quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản và các quyền tự do khác của công dân. Trải qua các lần sửa đổi, bổ sung, Hiến pháp các năm 1959, 1980, 1992 và gần đây là Hiến pháp năm 2013 luôn nhất quán khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân.
Cùng với Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác, Luật Báo chí cũng đặt ra các nền móng cơ bản và thống nhất cho tự do ngôn luận, tự do báo chí. Điều 10 Luật Báo chí năm 2016 quy định: “Công dân có quyền: 1. Sáng tạo tác phẩm báo chí; 2. Cung cấp thông tin cho báo chí; 3. Phản hồi thông tin trên báo chí; 4. Tiếp cận thông tin báo chí; 5. Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí; 6. In, phát hành báo in”. Như vậy, dù Việt Nam không có báo chí tư nhân nhưng luật pháp quy định mọi công dân đều có quyền tham gia vào hoạt động báo chí.
Các thế lực chống phá thường vin vào việc Việt Nam không có mô hình báo chí tư nhân mà cố tình lờ đi rằng, mọi công dân đều được quyền tham gia sáng tạo và xuất bản báo chí, mọi tầng lớp, tổ chức trong xã hội đều có cơ quan báo chí đại diện của mình.
Điều 11 Luật Báo chí năm 2016 nêu rõ: Công dân có quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác. Điều 13 ghi rõ: “Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”.
Không chỉ về phương diện pháp lý mà trong thực tiễn, tự do báo chí ở Việt Nam cũng được biểu hiện sinh động. Nền báo chí Việt Nam phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, loại hình, quy mô, công nghệ làm báo. Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến tháng 5/2023, cả nước có 808 cơ quan báo chí (trong đó: 138 báo, 670 tạp chí) và 42.400 người hoạt động trong lĩnh vực báo chí, gấp khoảng 6 lần so với thập niên 2000.
Ngoài ra, không thể không kể đến mạng xã hội đã tham gia mạnh mẽ vào môi trường truyền thông trong khoảng 10 năm trở lại đây. Ở Việt Nam, công dân không bị ngăn cấm tham gia mạng xã hội. Quyền phát ngôn, tham gia ý kiến, thảo luận về mọi vấn đề xã hội đã được mở rộng rất nhiều trên các phương tiện truyền thông mới này. Báo chí cùng với mạng xã hội đã trở thành một diễn đàn lớn, nơi mà mọi người dân đều có tiếng nói, mọi vấn đề quốc kế dân sinh được trao đổi, thảo luận, đó là những biểu hiện rất rõ ràng của tự do báo chí, tự do ngôn luận.
Báo chí hiện đại trong những năm gần đây, cùng sự hỗ trợ của công nghệ truyền thông số, đã tăng cường tính tương tác với công chúng. Trên các báo điện tử đều mở phần bình luận cho người đọc. Các kênh phát thanh, truyền hình đều có những chương trình phát sóng trực tiếp, có số điện thoại đường dây nóng để người nghe, người xem gọi điện tương tác ngay khi chương trình đang diễn ra.
Với những thiết bị hiện đại, nhà đài có thể di chuyển đến phỏng vấn và phát sóng trực tiếp ngay tại nhà của các công dân. Mặt khác, các cơ quan báo chí đều thiết lập những chương trình thu thập chất liệu phản ánh từ các “nhà báo công dân”. Đó là minh chứng rất rõ ràng về việc báo chí có thể xuất bản ngay mà không qua kiểm duyệt.
Như vậy, cả trên phương diện pháp lý và hoạt động thực tiễn, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam đều được thể hiện rõ ràng, luôn gắn với quy định pháp luật, luôn hướng tới mục đích phụng sự nhân dân, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội. Tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam không phải là ngôn luận tự do, báo chí tự do theo ý chí cá nhân, mà là tự do xây dựng vì những mục tiêu tốt đẹp, vì trách nhiệm chân chính với cộng đồng, vì một thể chế chính trị-xã hội của dân, do dân, vì dân.
Các thế lực thù địch dù có tấn công, chỉ trích, chống phá như thế nào cũng không thể thay đổi bản chất tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Thực ra đó chỉ là những tiếng nói tiêu cực, lạc lõng của những người cố tình đi ngược chiều với sự phát triển bền vững của đất nước ta, nhân dân ta và của nền báo chí cách mạng đáng tự hào của chúng ta./.
St
Nhận diện và phê phán các quan điểm sai trái về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Nhằm phủ nhận đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc đường lối đó với nhiều quan điểm sai trái. Vì vậy, nhận diện đúng và tích cực đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái về vấn đề này là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta.
Ở Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, tổng kết quá trình thực hiện những đổi mới cục bộ, từng phần theo hướng xóa bỏ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, tạo môi trường và điều kiện mở rộng các quan hệ thị trường1, Đảng ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mà Đại hội IX của Đảng xác định: “đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”2.
Chủ trương đó đánh dấu bước ngoặt cơ bản trong tư duy và quan niệm của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Từ đó đến nay, nhận thức của Đảng ta về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng được bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Đến Đại hội XIII, Đảng ta xác định: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”3. Đây là kết quả được rút ra từ quá trình tổng kết thực tiễn 35 năm đổi mới; đồng thời, là sự kế thừa và phát triển những thành quả lý luận của 07 kỳ đại hội đã qua; phản ánh tư duy nhất quán và sự phát triển nhận thức của Đảng ta về vấn đề này ngày càng rõ hơn, đầy đủ hơn. Những thành tựu của hơn 35 năm đổi mới đất nước đã chứng minh sự đúng đắn của đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị ở trong và ngoài nước vẫn ra sức xuyên tạc đường lối này với nhiều quan điểm sai trái. Có thể nhận diện những quan điểm sai trái đó dưới hai nhóm vấn đề sau đây:
Một là, họ cho rằng không có kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; rằng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là “sự gán ghép chủ quan, duy ý chí”, là “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, là “đầu Ngô, mình Sở”(!), v.v. Theo họ, kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập, loại trừ nhau, như “nước với lửa”(!).
Hai là, họ cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam chấp nhận phát triển kinh tế thị trường là “xoay trục sang con đường phát triển tư bản chủ nghĩa”, “gác lại mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ bỏ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội”(!), không khác gì “vỏ đỏ, ruột xanh”(!).
Những quan điểm sai trái nói trên đều xuất phát từ sự đồng nhất sai lầm giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa tư bản, khi quan niệm rằng: “kinh tế thị trường là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản; kinh tế thị trường vận động theo các quy luật của chủ nghĩa tư bản, không thể dung hòa với định hướng xã hội chủ nghĩa”(!). Từ đây, họ đòi Đảng ta phải công khai tuyên bố lựa chọn mô hình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, mà thực chất là đòi Đảng từ bỏ con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội để đưa đất nước theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa.
Cần khẳng định ngay rằng, việc các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản, coi đây là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản là hoàn toàn sai cả về lý luận và thực tiễn. Trên phương diện lý luận, kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa, khi mà đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất đều được thực hiện thông qua thị trường. Kinh tế thị trường chỉ là một kiểu tổ chức kinh tế mà xã hội loài người sáng tạo ra, tồn tại ở nhiều chế độ xã hội khác nhau và được chủ nghĩa tư bản sử dụng làm cơ sở cho sự tồn tại, vận động, phát triển của mình. Chính sự phát triển của sức sản xuất đạt đến một trình độ nhất định sẽ làm xuất hiện những điều kiện khách quan cho kinh tế hàng hóa - điểm khởi đầu của kinh tế thị trường tồn tại. Đó là phân công lao động xã hội và những hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất. Những điều kiện ấy đã xuất hiện trước chủ nghĩa tư bản và vẫn tiếp tục tồn tại trong chủ nghĩa xã hội, nên việc duy trì và phát triển kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta là đúng với quy luật đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, chứ không phải là sự “xoay trục sang con đường phát triển tư bản chủ nghĩa”. Bởi, kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển tất yếu của quá trình phát triển từ nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn. Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là “bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư, tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản”4, trong đó có thành tựu về phát triển kinh tế thị trường.
Trên phương diện thực tiễn, trong những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Xô - viết, V.I. Lênin đã sớm nhận thấy sai lầm khi đồng nhất kinh tế hàng hóa với chủ nghĩa tư bản, không sử dụng các quan hệ thị trường để thúc đẩy sản xuất và cải thiện đời sống nhân dân. Người đã đề ra và tổ chức thực hiện “Chính sách kinh tế mới” (NEP), mà nội dung cơ bản là duy trì và phát triển các quan hệ thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước vô sản. Việc thực hiện chính sách đó đã nhanh chóng đưa nước Nga thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội trong những năm 20 của thế kỷ XX; đồng thời, khẳng định tính hiện thực của mô hình kinh tế chứa đựng sự dung hợp giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội. Lý luận về phát triển kinh tế hàng hóa thời kỳ thực hiện NEP là một cống hiến xuất sắc của V.I. Lênin trong phát triển chủ nghĩa Mác về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước có nền kinh tế còn kém phát triển. Khai thác những di sản đó, từ những năm cuối thập niên 70 và 80 của thế kỷ XX, Trung Quốc và Việt Nam đã căn cứ vào thực tiễn của nước mình, tiến hành “cải cách”, “đổi mới” theo hướng duy trì và phát triển kinh tế thị trường, đem lại những kết quả tích cực, cho phép hiện thực hóa từng bước các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước.
Đối với nước ta, việc tổ chức thực hiện đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hơn 35 năm qua đã đem lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Việt Nam đã ra khỏi tình trạng kinh tế kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình. Quy mô và tiềm lực kinh tế của đất nước không ngừng tăng lên, từ chỗ chỉ đạt 6,3 tỉ USD vào năm 1989, thì đến năm 2022 đã đạt 409 tỉ USD, đứng thứ 37 nền kinh tế lớn nhất thế giới, đứng thứ năm trong ASEAN và trong nhóm 14 nước hàng đầu châu Á. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình quân đầu người trong những năm đầu đổi mới chỉ khoảng 250 USD/năm, thì đến năm 2022 đã đạt 4.110 USD, đứng thứ năm trong ASEAN. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống dưới 03% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều, được Liên hợp quốc xếp là một trong những nước đứng đầu trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ. Văn hóa - xã hội có bước phát triển tích cực; dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng mở rộng. Các vấn đề an sinh xã hội luôn được chăm lo, ngay cả lúc nền kinh tế gặp khó khăn do tác động của suy thoái kinh tế thế giới, hay của đại dịch Covid-19, trở thành một trong những điểm sáng của Việt Nam được quốc tế ghi nhận. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu. Nền kinh tế quốc gia hội nhập ngày càng sâu rộng vào thị trường quốc tế với nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, từng bước thích ứng với nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường thế giới. Việc trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), thành viên của hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực, trong đó có 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới với những cam kết rất cao về tự do hóa thương mại và phát triển bền vững (liên quan đến lao động và bảo vệ môi trường), đã chứng tỏ nền kinh tế Việt Nam ngày càng thích ứng với các điều kiện của nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế; đồng thời, đưa nước ta trở thành nền kinh tế có độ mở cao - tới 200% GDP. Điều đó được thể hiện bằng các con số ấn tượng, nếu tổng kim ngạch xuất nhập khẩu bình quân giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2005 mới đạt 20,7 tỉ USD/năm, thì riêng năm 2022 đã đạt 732,5 tỉ USD; cán cân thương mại hàng hóa đã chuyển từ nhập siêu sang xuất siêu 07 năm liên tục kể từ năm 2016, riêng năm 2022 xuất siêu đạt 11,2 tỉ USD. Giá trị thương hiệu quốc gia Việt Nam (do Công ty tư vấn định giá thương hiệu hàng đầu thế giới - Brand Finance công bố) liên tục tăng trưởng với tốc độ nhanh. Nếu năm 2019, giá trị đó là 274 tỉ USD, thì năm 2022 đã đạt 431 tỉ USD, được xem là quốc gia có tốc độ tăng trưởng giá trị nhanh nhất thế giới (tăng 74%) trong giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2022.
Thực tiễn đó đã chứng minh rõ những lợi ích mà sự phát triển kinh tế thị trường đem lại phù hợp với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta. Nó không đối lập với các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mà ngược lại, còn thúc đẩy việc thực hiện những nhiệm vụ đó hiệu quả hơn. Tuy nhiên, chúng ta không chọn phát triển kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, mà chọn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. “Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Đây không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đầy đủ”5. Nói cách khác, đó là nền kinh tế thị trường của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nền kinh tế đó có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; nhưng kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là công cụ, lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết, dẫn dắt, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là “nền kinh tế thị trường hiện đại”, được điều tiết, vận hành bằng “bàn tay” của cơ chế thị trường kết hợp với “bàn tay” của nhà nước, nhưng đây là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Chế độ phân phối được thực hiện chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế; đồng thời, theo mức góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Vấn đề tiến bộ và công bằng xã hội được quan tâm giải quyết ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển; chính sách kinh tế luôn thống nhất và gắn chặt với chính sách xã hội. Theo đó, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, người có hoàn cảnh khó khăn. Đó là những điểm khác biệt rất căn bản của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa so với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.
Qua 37 năm đổi mới, bằng nỗ lực của toàn Đảng và toàn dân ta, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với những đặc trưng nói trên đã từng bước hình thành và phát triển. “Thể chế kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại và hội nhập, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước được xác lập”6; “Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách tiếp tục được hoàn thiện phù hợp với yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế. Các yếu tố thị trường và các loại thị trường từng bước phát triển, gắn với thị trường khu vực và thế giới”7. Hầu hết các loại giá cả hàng hóa được xác lập theo nguyên tắc thị trường. Vai trò của nhà nước được điều chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường, ngày càng phát huy dân chủ trong đời sống kinh tế - xã hội. Việc huy động và phân bổ các nguồn lực gắn với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội từng bước phù hợp hơn với cơ chế thị trường. Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện rõ rệt. Những tiến bộ nói trên là cơ sở để đến nay đã có 90 quốc gia công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường đầy đủ8.
Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta. Việc thực hiện thành công đường lối đó sẽ góp phần bổ sung, phát triển lý luận Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở những nước có nền kinh tế còn kém phát triển; đồng thời, là minh chứng sinh động bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch./.
St
Bác bỏ sự xuyên tạc, phủ nhận nguyên tắc tự phê bình và phê bình của Đảng
Tự phê bình và phê bình là một nguyên tắc cơ bản trong sinh hoạt, hoạt động và là quy luật tồn tại, phát triển của Đảng Cộng sản. Chính vì vậy, các thế lực thù địch luôn tìm cách xuyên tạc, hạ thấp vị trí, vai trò và phủ nhận nhằm làm cho cán bộ, đảng viên, các cấp ủy, tổ chức đảng xem nhẹ, từng bước xa rời và từ bỏ nguyên tắc này. Do đó, nhận thức rõ bản chất và kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, phủ nhận nguyên tắc tự phê bình và phê bình là nhiệm vụ quan trọng hiện nay.
Hòng phủ nhận giá trị thực chất, cốt lõi của nguyên tắc tự phê bình và phê bình, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị cho rằng: tự phê bình và phê bình chỉ là “cái quy định ngớ ngẩn” trong nội bộ Đảng Cộng sản, “một chiêu trò bịt mắt dân” nhằm “thổi phồng ưu điểm”, “xu nịnh, tâng bốc thành tích” vì làm gì có ai tự “vạch áo cho người xem lưng”; hoặc trái lại, chỉ để “bới lông, tìm vết”, “đấu đá”, “thanh trừng” lẫn nhau, v.v. Cần khẳng định rõ, đây là những luận điệu sai trái, không đúng với bản chất, mục đích, cũng như thực tiễn tự phê bình và phê bình trong Đảng.
Ngay từ khi thành lập tổ chức cộng sản quốc tế đầu tiên, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra rằng: tự phê bình và phê bình là rất cần thiết cho hoạt động và sự phát triển của đảng, là thuộc tính bản chất của một đảng cách mạng. Vì trong quá trình vận động, phát triển, những nhược điểm, khiếm khuyết nảy sinh trong nội bộ đảng là khó tránh khỏi, việc đấu tranh giải quyết những vấn đề đó, tạo sự thống nhất cao là rất cần thiết nhưng tuyệt đối không được dùng biện pháp bạo lực, thanh trừng lẫn nhau, loại bỏ lẫn nhau mà phải thực hiện bằng tự phê bình và phê bình. V.I. Lênin coi tự phê bình và phê bình là quy luật bất di bất dịch về sự phát triển của một đảng cách mạng, chân chính: “Tất cả những đảng cách mạng đã bị tiêu vong cho tới nay, đều bị tiêu vong vì tự cao, tự đại, vì không biết nhìn rõ cái gì tạo nên sức mạnh của mình và vì sợ sệt không dám nói lên những nhược điểm của mình. Còn chúng ta, chúng ta sẽ không bị tiêu vong, vì chúng ta không sợ nói lên những nhược điểm của chúng ta và những nhược điểm đó, chúng ta sẽ học được cách khắc phục”1. Và, cán bộ, đảng viên của đảng cũng là con người, không phải là “thiên thần, không phải là thánh, không phải là anh hùng mà cũng là người như tất cả mọi người khác. Họ cũng có khuyết điểm. Đảng sửa cho họ”2.
Để thực hiện tự phê bình và phê bình, V.I. Lênin còn chỉ ra yêu cầu, cách thức tiến hành. Theo Người, tự phê bình và phê bình không được theo khuynh hướng của chủ nghĩa cơ hội “tả khuynh”; “phê phán”, “luận chiến” là cần thiết, nhưng chỉ được phê phán công khai, trực diện rõ ràng, minh bạch chứ không phải “bới lông, tìm vết”, không phải “châm chọc, soi mói” lẫn nhau; phải kiên quyết đấu tranh chống quan điểm sai trái, lợi dụng cái gọi là “tự do phê bình” để gây mất đoàn kết, chia rẽ nội bộ, phá hoại tổ chức đảng. Nó phải là nguyên tắc chỉ đạo nhận thức và mọi hoạt động của Đảng, là biện pháp để tránh mọi sai lầm.
Trung thành, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng tự phê bình và phê bình trong Đảng. Theo Hồ Chí Minh “Người đời không phải thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm”3, trong quá trình hoạt động, vì một lý do nào đó, cán bộ, đảng viên mắc khuyết điểm là điều không tránh khỏi, song vấn đề cơ bản là phải biết nhận ra và sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm đó. Đối với Đảng ta, Người chỉ rõ: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sữa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”4. Để thực hiện được điều đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phương thuốc tốt nhất là tự phê bình và phê bình.
Hồ Chí Minh đã nêu một cách mẫu mực về phương pháp, cách thức giáo dục, rèn luyện và sửa chữa thiếu sót, khuyết điểm cho cán bộ, đảng viên thấm đượm tinh thần nhân văn, nhân đạo, trên cơ sở nguyên tắc cộng sản, thể hiện sâu sắc tình nhân ái, đó là tự phê bình và phê bình. Người chỉ rõ: cần xuất phát từ lợi ích của Đảng, từ tình thương yêu đồng chí mà tiến hành đấu tranh phê bình với tinh thần chữa bệnh cứu người. Phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, giúp nhau tiến bộ, cốt để sửa cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn; đoàn kết thống nhất nội bộ vững chắc hơn. Khi tiến hành đấu tranh phê bình phải ráo riết, triệt để thật thà, không nể nang, không thêm bớt; phải vạch rõ cả ưu điểm, khuyết điểm và cần phân biệt đúng mức độ của thiếu sót, khuyết điểm, sai lầm. Trong lúc phê bình “chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc”, cần biết cách đấu tranh thích hợp để giúp đỡ đồng chí sửa chữa được thiếu sót, sai lầm, tăng cường đoàn kết, thống nhất trong chi bộ. Nếu đấu tranh phê bình vì lợi ích cá nhân, phê bình người để đề cao mình, để dìm đồng chí, đấu tranh phê bình ngoài phạm vi tổ chức, kỷ luật của Đảng, hoặc không dám đấu tranh phê bình vì sợ bị trù dập, sợ bị thành kiến đều là trái với phẩm chất đạo đức của người đảng viên cộng sản, đều là vô nguyên tắc, ảnh hưởng xấu đến đoàn kết nội bộ, làm thiệt hại đến lợi ích của Đảng, hủy hoại thanh danh người đảng viên cộng sản.
Người luôn yêu cầu các cơ quan và cán bộ, đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình, phải luôn “tự soi, tự sửa”. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phê bình phải trên cơ sở tình đồng chí và thương yêu lẫn nhau. Phải ngăn ngừa và kiên quyết chống lại cách để khuyết điểm chồng lên khuyết điểm, hay kiểu “tích tụ” để đưa ra phê bình, lợi dụng phê bình để “thanh toán” nhau, đánh bật “ghế” của nhau. Đó là thủ đoạn của bọn cơ hội, bè phái vẫn xuất hiện đây đó ở một số cơ quan, đơn vị; “phê bình” kiểu đó làm cho công việc trì trệ, đơn vị rối loạn, cán bộ, nhân dân chán nản, thực chất là sự phá hoại, làm suy yếu Đảng, mất cán bộ. Tự phê bình và phê bình thật thà, thành khẩn, chân thành luôn là tiêu chuẩn đánh giá thái độ, động cơ, tư cách và đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên. Muốn thực hiện có kết quả phải phát huy dân chủ, động viên nhân dân góp ý, phê bình cán bộ, cấp dưới góp ý, phê bình cấp trên, không chỉ có cấp trên phê bình, “uốn nắn” cấp dưới. Chỉ có làm như vậy, mới phát huy được dân chủ, mới bảo đảm cho việc phê bình được thực hiện đầy đủ và có kết quả, mới ngăn chặn được kẻ địch lợi dụng để phá hoại và bọn cơ hội “mượn gió bẻ măng”. Phương pháp khéo dùng tự phê bình và phê bình của Hồ Chí Minh là cách tốt nhất để “được người, được việc, được quan hệ”. Nó giúp cho mỗi người chủ động, tự tin và tin tưởng vào đồng chí và tổ chức của mình, tăng thêm ý chí, nghị lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Thực tiễn hơn 90 năm qua cho thấy, từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn coi trọng thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, tình hình cách mạng. Nhờ đó mà Đảng ta ngày càng phát triển, lớn mạnh không ngừng, đủ sức lãnh đạo cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong thời gian qua, trước yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là kiên quyết đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, các Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII, XIII) tiếp tục xác định: tự phê bình và phê bình là nhóm giải pháp quan trọng, được triển khai nghiêm túc, chặt chẽ từ Trung ương đến cơ sở, từ cấp ủy đến cán bộ, đảng viên. Với tinh thần tự phê bình và phê bình thẳng thắn, nói rõ sự thật, những ưu điểm, thành tích được phân tích, làm rõ; những hạn chế, khuyết điểm, sai phạm của tổ chức, cá nhân được chỉ ra cụ thể; các trường hợp sai phạm bị kiểm điểm, kết luận rõ ràng; không bao che, dung túng, “không có vùng cấm”, xét xử nghiêm minh5, đã góp phần cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, được nhân dân đồng tình, ủng hộ, bạn bè quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên, Đảng ta cũng nghiêm túc nhìn nhận: “Tự phê bình và phê bình ở không ít nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi; một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ được giao”6.
Như vậy, cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, nguyên tắc tự phê bình và phê bình của Đảng Cộng sản là cách mạng và khoa học; là một trong những nhân tố quan trọng, quyết định sự trường tồn và phát triển của Đảng. Thông qua tự phê bình và phê bình mà cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng luôn nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, yếu kém trong sinh hoạt, công tác để có giải pháp khắc phục kịp thời, hiệu quả, vì sự tiến bộ của cá nhân, tổ chức, vì sự trong sạch, vững mạnh của Đảng, hoàn toàn không phải như luận điệu mà các thế lực thù địch, phản động thường rêu rao, chống phá.
Hiện nay, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đặt ra cấp bách, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên phải luôn kiên định lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng; xa rời, từ bỏ nguyên tắc này là xa rời, từ bỏ Đảng từ bản chất. Đồng thời, đề cao cảnh giác, nhận diện rõ bản chất, âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và chủ động đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc nguyên tắc tự phê bình và phê bình của Đảng. Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên nêu cao trách nhiệm tự phê bình và phê bình như soi gương, rửa mặt hằng ngày; thấy vết nhọ là phải lau ngay; thật thà tự xét và góp ý cho đồng chí mình, ai có khuyết điểm nào thì phải thật thà, cố gắng tự sửa chữa và giúp sửa chữa lẫn nhau để xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, vững mạnh, vì nước, vì dân, góp phần làm cho Đảng ta luôn xứng đáng “là đạo đức, là văn minh”./.
St
TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG ĐẤU TRANH BẢO VỆ NHỮNG GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
Gần 8 thập kỷ xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và chiến thắng, Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam thực sự là một quân đội anh hùng, “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”; được Đảng và nhân dân ta hết mực tin yêu, bạn bè ngưỡng mộ và ngay cả kẻ thù cũng phải nể phục.







