Thứ Năm, 21 tháng 12, 2023

Quan hệ giữa cá nhân người đứng đầu cấp ủy và cá nhân người đứng đầu chính quyền.

“Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị” là một trong ba vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng cần làm ngay theo yêu cầu của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI. Để thực hiện hiệu quả giải pháp quan trọng này, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền nhất thiết phải thực hiện đúng những nội dung Trung ương đã nêu trong Nghị quyết, Chỉ thị và Kế hoạch của Bộ Chính trị, để củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân với Đảng.


Việc đề cao trách nhiệm người đứng đầu là một nội dung quan trọng, cấp bách, bởi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của chính quyền, vai trò của các đoàn thể đều thông qua những cán bộ, đảng viên cụ thể do Đảng và nhân dân cử ra. Họ đại diện cho Đảng trực tiếp đảm đương công việc lãnh đạo, quản lý, điều hành ở đơn vị, tổ chức, địa phương trong phạm vi nhất định. Chất lượng công tác của người đứng đầu thể hiện chất lượng lãnh đạo cụ thể của Đảng, chính quyền, đoàn thể ở đơn vị mà người đứng đầu đại diện. Nó bộc lộ toàn bộ khả năng, phẩm chất của người cán bộ; đồng thời, cũng thể hiện chất lượng lãnh đạo cụ thể của Đảng ở lĩnh vực mà cá nhân người đứng đầu được Đảng trao quyền đại diện. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Cán bộ là gốc của mọi công việc. Do đó, người đứng đầu lại càng là “gốc” quyết định sự thành, bại của đơn vị, địa phương, đoàn thể cụ thể.
Người đứng đầu cấp ủy có vai trò rất quan trọng trong lãnh đạo, chỉ đạo mọi hoạt động của cơ quan, đơn vị. Tinh thần trách nhiệm, ý thức trước nhiệm vụ được giao của người đứng đầu cấp ủy có tác dụng thúc đẩy và tạo lực cho những bước phát triển mạnh mẽ, hoặc ngược lại. Là nhân vật chủ chốt nhất, người đứng đầu cấp ủy không chỉ giữ vai trò quan trọng về đối nội mà cả về đối ngoại, nhằm mở rộng mối quan hệ giao lưu, giao tiếp với các đối tác, các mối liên hệ trong cộng đồng và xã hội, tạo điều kiện cho cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ; là đầu mối tổ chức triển khai mọi hoạt động của cơ quan, đơn vị theo nghị quyết của các cấp ủy. Khi có hiện tượng tiêu cực, hoặc xảy ra các vụ việc liên quan đến quản lý tài sản, tài chính, chính sách đối với cán bộ, nhân viên, người lao động,... người đứng đầu cấp ủy luôn luôn phải “đứng mũi, chịu sào”, chịu trách nhiệm chính. Phát hiện, xử lý nhanh hay chậm, bỏ qua hay kịp thời khắc phục những mặt yếu kém, những vấn đề nảy sinh, đều do người đứng đầu cấp ủy. Cho nên, trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu cấp ủy rất lớn, có ý nghĩa quyết định mọi thành, bại trong quá trình hoạt động, phát triển của cơ quan, đơn vị; giữ vai trò tạo đà, thế, cơ hội cho sự phát huy những thế mạnh; khắc phục những mặt yếu kém của cơ quan, đơn vị.

Người đứng đầu chính quyền là thủ trưởng giữ vai trò quyết định liên quan đến hoạt động và phát triển của cơ quan, địa phương, đơn vị. Điều 7 Nghị định số 157/2007/NĐ-CP, ngày 27-10-2007, của Chính phủ quy định chế độ trách nhiệm đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà nước trong thi hành công vụ, nhiệm vụ và ghi rõ 10 nội dung trách nhiệm đối với người đứng đầu, trong đó nội dung đầu tiên là: “Chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý”. Trong mọi trường hợp, người đứng đầu phải chịu trách nhiệm toàn bộ, trực tiếp trước cấp trên và trước cán bộ, nhân viên thuộc quyền, không những chỉ là liên đới trách nhiệm, mà còn là trách nhiệm trong chỉ đạo, quản lý, điều hành, kiểm tra, đôn đốc. Do đó, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có trọng trách lớn trước mọi thành công hay thất bại trong mọi hoạt động lãnh đạo tổ chức, điều hành cơ quan, đơn vị thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, có chất lượng và đúng thời hạn; phải chịu trách nhiệm chính trong việc ra các quyết định, chủ trương, giải pháp cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ và chịu trách nhiệm về quyết định đó. Việc tự mình biết tạo ra khả năng quán xuyến, khả năng tổng hợp, khái quát, đòi hỏi người đứng đầu có năng lực nghe, nhìn, phân tích mọi hiện tượng, sự việc trong cơ quan, đơn vị. Nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan và chính xác những cán bộ, nhân viên thuộc quyền có ý nghĩa rất quan trọng đối với người đứng đầu trong sử dụng, bố trí, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ, nhân viên. Và, nếu xảy ra các sai phạm, thì người đứng đầu trước hết phải chịu kỷ luật của Đảng, sau đó là trách nhiệm trước pháp luật, chính quyền và nhân dân.

Tóm lại, trách nhiệm của người đứng đầu (kể cả đứng đầu cấp ủy và đứng đầu chính quyền) thể hiện ở những điểm chính sau đây: Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; tính tiền phong gương mẫu, liêm chính, nói đi đôi với làm; tính dân chủ, tinh thần tập thể trong công tác và văn hóa ứng xử các mối quan hệ của người lãnh đạo; trình độ, năng lực, phẩm chất, phong cách của người lãnh đạo, có quan điểm, phương pháp làm việc khách quan, toàn diện và cụ thể. 

Do vậy, người đứng đầu có vị trí, vai trò hết sức quan trọng và chính họ góp phần trực tiếp vào những thành quả cách mạng. Trong đó, người đứng đầu cấp ủy có trách nhiệm cá nhân và vai trò như “đầu tàu”, quyết định tốc lực, chất lượng và hiệu quả vận hành của toàn cơ quan, đơn vị; đầu tàu có khỏe, đoàn tàu chạy mới nhanh và an toàn.

Thực trạng vai trò, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy và người đứng đầu chính quyền hiện nay

Trong Điều lệ Đảng hiện hành không có điểm nào thừa nhận hoặc hàm ý thừa nhận vai trò người đứng đầu cấp ủy (bí thư - thậm chí hầu như không có ý nào đề cập đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của chức danh này). Nhưng trong thực tế, không ít bí thư cấp ủy địa phương được coi như người đứng đầu cao nhất, không chỉ trong quan hệ với cấp ủy và tổ chức đảng, mà cả đối với cơ quan chính quyền, tư pháp, các tổ chức chính trị - xã hội... và toàn thể địa phương nói chung, không ít bí thư hành xử với tư cách đó trong hoạt động của mình. Các tổ chức, cơ quan, đơn vị trong địa phương dường như cũng mặc nhiên thừa nhận điều này.

Như vậy, trên thực tế, bí thư đã trở thành một “dạng người đứng đầu đặc biệt”. Đó là tư cách đứng đầu không được xác lập cả trong luật pháp và Điều lệ Đảng, nhưng lại có thể làm “người đứng đầu của những người đứng đầu”; có quyền hạn rộng, vượt ra ngoài phạm vi tổ chức đảng, có quyền nhưng lại không chịu trách nhiệm về pháp lý. Điều này không phù hợp với luật pháp, Điều lệ, Cương lĩnh của Đảng, nhưng vẫn tồn tại trong thực tế. Thậm chí có người còn cho rằng, đó chính là thể hiện vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng! Như vậy, bí thư không phải là người đứng đầu đảng bộ. Đảng bộ chỉ có một tập thể đứng đầu là đại hội đảng và ban chấp hành đảng bộ (giữa hai kỳ đại hội). Vì vậy, bí thư không có thẩm quyền ra “chỉ thị”, “quyết định” cho đảng bộ cấp dưới, cho cán bộ, đảng viên nói chung, lại càng không được vi phạm quyền của tổ chức đảng cấp dưới quyết định các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của nó, trái với nguyên tắc, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền là vấn đề mấu chốt để phát hiện và xử lý kịp thời những sai phạm trong lãnh đạo, quản lý. Khi công tác lãnh đạo, quản lý lỏng lẻo, không kiểm tra chặt chẽ, giám sát thường xuyên, thực hiện không đúng chế độ, chính sách và các quy định của pháp luật, để xảy ra tham nhũng, lãng phí, thất thoát, sử dụng tài sản công kém hiệu quả, sử dụng sai các nguồn tài chính, thì người đứng đầu phải chịu trách nhiệm cao nhất, không thể được “bình thân” ngoài vòng pháp luật, tránh các hình thức kỷ luật đảng, chính quyền.

Một thực trạng tồn tại từ nhiều năm qua là có những người đứng đầu không đề cao và phát huy trách nhiệm cá nhân trước tập thể, chưa thực sự là “đầu tàu”, gương mẫu về phẩm chất, lối sống, tác phong công tác và tác phong sinh hoạt, không thể hiện rõ năng lực trong lãnh đạo, chỉ huy, điều hành. Thậm chí có những người đứng đầu khi đã yên vị thì xao nhãng nhiệm vụ, buông lỏng vai trò, không làm tròn chức trách, “khoán trắng” mọi việc cho cấp phó hoặc cấp dưới thuộc quyền; “khoán trắng” cho bộ máy chuyên môn, cán bộ chuyên trách, từ đó sinh ra quan liêu, không hiểu rõ tình hình, thực tế của cơ quan, đơn vị. Tình trạng đó thường dẫn tới hiện tượng nắm công việc chung chung, không cụ thể, bị cấp dưới “điều khiển ngược” và khi có vụ việc tiêu cực phải chịu trách nhiệm chính, lúc đó mới hiểu ra thì việc đã muộn. Nhiều trường hợp, người đứng đầu xem nhẹ việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, duy trì không nghiêm việc thực hiện Điều lệ Đảng, chế độ sinh hoạt đảng, xem nhẹ đấu tranh tự phê bình và phê bình. Thậm chí né tránh, vì hầu như những vấn đề cần đưa ra phê bình đều có liên quan đến bản thân. Do nhiều lần bỏ qua, né tránh như vậy, chính người đứng đầu đã tự làm mất vũ khí đấu tranh tự phê bình, phê bình trong sinh hoạt đảng, mất niềm tin với quần chúng trong cơ quan, đơn vị. Chính vì thế, việc thực hiện đầy đủ nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách đã bao hàm giá trị và giải quyết mối quan hệ giữa người đứng đầu cấp ủy và tập thể cấp ủy, giữa người đứng đầu cấp ủy và thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức. Tuy nhiên, điểm đáng nói là thời gian qua, việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách ở một số nơi đã không được thực hiện nghiêm. Vai trò cá nhân của người đứng đầu bị hiểu một cách sai lệch và có nơi tuyệt đối hóa vai trò của người đứng đầu, trái với nguyên tắc tập trung dân chủ. 

Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém nói trên có nhiều, nhưng nguyên nhân trước hết và trực tiếp nhất vẫn là do người đứng đầu ở không ít cơ quan, đơn vị chưa phát huy hết vai trò, trách nhiệm và tinh thần gương mẫu của mình trong công tác. 

Quan hệ giữa người đứng đầu cấp ủy và người đứng đầu chính quyền

1 - Đối với một tổ chức mà người đứng đầu cấp ủy đồng thời cũng là người đứng đầu chính quyền

Trong một tổ chức, nếu người đứng đầu cấp ủy đồng thời là người đứng đầu chính quyền thì người đứng đầu “kép” này nắm trong tay một quyền hạn rất lớn. Nếu là người có đức độ, đầy đủ ý thức trách nhiệm trước nhân dân trước Đảng, tự giác tôn trọng nguyên tắc tổ chức, có văn hóa lãnh đạo thì ít phát sinh tiêu cực, mọi việc được giải quyết rất nhanh chóng, cơ quan, đơn vị phát triển mạnh. Ngược lại, nếu người đứng đầu thiếu ý thức trách nhiệm, không tôn trọng nguyên tắc tổ chức, chuyên quyền, độc đoán thì sẽ dẫn đến tình trạng lạm dụng quyền lực, thao túng tổ chức vì lợi ích và địa vị cá nhân. Quyền lực không bị kiểm soát chặt chẽ thì sớm muộn cũng sẽ bị tha hóa, nảy sinh tiêu cực. 

Điều đáng bàn nhất ở đây là sự tha hóa về quyền lực chứ không phải là sai lầm của cá nhân phụ trách. Quyền lực càng tuyệt đối thì sự tha hóa càng tuyệt đối! Từ đó, người ta sử dụng, biến quyền lực của tổ chức thành quyền lực của cá nhân và tự cho mình quyền ban phát quyền lực đó cho người khác, nhất là trong công tác tổ chức cán bộ. Và, có thể khẳng định rằng, tình trạng quyền lực tập trung quá mức vào một cá nhân, dù mang danh nghĩa nào cũng không có gì chung với việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng. Do đó, dễ làm biến dạng và suy yếu vai trò lãnh đạo, đặt toàn bộ thể chế và xã hội vào tình thế không an toàn. 

Có ý kiến đề nghị bí thư cấp ủy đồng thời là người đứng đầu chính quyền địa phương cùng cấp. Nhưng nếu chỉ “kết nối” các chức danh lãnh đạo Đảng và Nhà nước một cách hành chính như cách làm trong các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, thì không thể mong chờ kết quả tốt hơn cái họ đã có. Vấn đề chủ yếu là ở chỗ xây dựng và thực hiện được một cơ chế dân chủ có thể huy động sức mạnh của các chủ thể trong bộ máy đảng, chính quyền, trong xã hội và trong nhân dân, để định ra con người đảm nhận chức danh đó.

2 - Đối với tổ chức mà người đứng đầu cấp ủy không phải là người đứng đầu chính quyền

Trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay, phổ biến là, người đứng đầu cấp ủy không đồng thời là người đứng đầu chính quyền, do vậy mối quan hệ giữa người đứng đầu cấp ủy và người đứng đầu chính quyền là mối quan hệ biện chứng giữa Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản lý, điều hành. Mối quan hệ này được thể hiện ở các phương diện sau:

Một là, quan hệ trên cơ sở cùng chung mục tiêu lý tưởng. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, người đứng đầu (Đảng, chính quyền) cũng phải gương mẫu, nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và sự chỉ đạo của cấp trên; nên việc tổ chức, điều hành cơ quan, đơn vị thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, có chất lượng và đúng thời hạn. Thẩm quyền của người đứng đầu cấp ủy là lãnh đạo, là cùng với tập thể cấp ủy thực hiện sự lãnh đạo chính trị của Đảng theo đường lối, chủ trương, nghị quyết, quyết sách của Đảng. Sự lãnh đạo chính trị là toàn diện trên các lĩnh vực, bảo đảm đúng quan điểm, nguyên tắc, phương hướng chính trị, tăng cường lãnh đạo tổ chức thực hiện đường lối, nghị quyết, gắn với kiểm tra, giám sát, với giáo dục, tuyên truyền vận động. Trong khi đó, thẩm quyền của người đứng đầu chính quyền là thể chế hóa để đường lối, nghị quyết của Đảng được thực hiện trong cuộc sống, là quản lý bằng pháp luật, cơ chế, chính sách để thực hiện các mục tiêu phát triển mà nghị quyết của Đảng đã đề ra. 

Hai là, quan hệ trên cơ sở phục tùng nguyên tắc Đảng. Nếu nguyên tắc tập trung dân chủ được thực hiện đúng thì bảo đảm sự lãnh đạo rất chặt chẽ, nhưng nếu không đúng thì xảy ra hai hiện tượng: hoặc tập trung vô giới hạn, dẫn đến mất dân chủ, việc gì cũng để người đứng đầu quyết định, xảy ra tình trạng độc đoán, chuyên quyền, trái với nguyên tắc tập trung dân chủ hoặc dân chủ nhưng phân tán, nhiều ý kiến, nhưng cuối cùng tập thể quyết định; đến khi xảy ra sai phạm thì không ai chịu trách nhiệm, kể cả người đứng đầu; bởi, ai cũng nói, làm theo quyết định của tập thể. Thông thường, người đứng đầu cơ quan chính quyền cũng là người ở trong tập thể cấp ủy. Do vậy, người đứng đầu chính quyền cũng phải chịu trách nhiệm chung, không được đùn đẩy trách nhiệm cho nhau.

Quy chế làm việc của mỗi cấp ủy là sự cụ thể hóa các nguyên tắc, quy định của Điều lệ Đảng, các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư thành các nguyên tắc, chế độ quy định hoạt động của tổ chức cơ sở đảng. Trong đó, quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của tập thể cấp ủy và từng cấp ủy viên, cũng như quy định các mối quan hệ giữa cấp ủy với các tổ chức chính quyền và các đoàn thể chính trị - xã hội. Những điều khoản quy định trong quy chế buộc tất cả mọi thành viên trong cấp ủy phải chấp hành và thực hiện một cách nghiêm túc, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Đảng trong mọi lĩnh vực công tác. Xây dựng và thực hiện tốt quy chế làm việc của cấp ủy là việc làm quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức đảng, nhằm thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm vai trò lãnh đạo tập thể của cấp ủy, phát huy tốt trách nhiệm cá nhân cấp ủy viên, nhất là người đứng đầu và giải quyết tốt các mối quan hệ công tác. 

Ba là, quan hệ trên cơ sở phân công rõ trách nhiệm được giao. Cần nhận thức rõ mối quan hệ giữa thẩm quyền và trách nhiệm trong mỗi cương vị, ở mỗi người, với nhiệm vụ được giao phó, đảm trách cũng như phân biệt thẩm quyền, trách nhiệm giữa người đứng đầu cấp ủy và người đứng đầu chính quyền trong quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị. Điều này là mấu chốt của sự phân định đặc trưng lãnh đạo của Đảng và tổ chức đảng với đặc trưng quản lý của Nhà nước và cơ quan nhà nước. 

Thẩm quyền gắn liền với trách nhiệm (nghĩa vụ, bổn phận), nếu tách rời giữa thẩm quyền với trách nhiệm cũng như lẫn lộn, chồng chéo giữa thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy và người đứng đầu chính quyền, giữa cá nhân và tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị thì sẽ tự tạo ra cản trở việc thực hiện đúng thẩm quyền, sẽ dẫn tới làm sai, làm trái thẩm quyền và tình trạng thoái thác trách nhiệm, không xử lý khuyết điểm, thiếu sót, sai lầm theo đúng chế độ trách nhiệm. Hậu quả là làm suy yếu tổ chức và làm hỏng cán bộ. Bởi, quyền nào thì trách nhiệm ấy và phải tương thích với nhau; thẩm quyền càng cao, trách nhiệm phải càng lớn. Do đó, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền phải là người thực sự “đứng mũi chịu sào”, phải có và nhận trách nhiệm cao nhất về việc thực hiện thẩm quyền, phải chịu trách nhiệm cao nhất về những gì xảy ra trong tổ chức, ở cơ quan, đơn vị, địa phương do mình phụ trách. 

Bốn là, quan hệ trên cơ sở phối hợp chặt chẽ, đoàn kết “hiệp đồng tác chiến” trong việc lãnh đạo, chỉ đạo mọi hoạt động của cơ quan, đơn vị. Giữa người đứng đầu cấp ủy và người đứng đầu chính quyền phải thường xuyên có sự trao đổi, bàn bạc thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị cũng như mọi hoạt động của cơ quan, đơn vị, đặc biệt là trong công tác cán bộ.

Năm là, quan hệ trên cơ sở trung thực, chân tình, thẳng thắn. Mối quan hệ giữa người đứng đầu cấp ủy và người đứng đầu chính quyền là tấm gương để toàn thể cán bộ, đảng viên và quần chúng trong tổ chức noi theo; là động lực để mọi người hoàn toàn tự nguyện, tự giác, nỗ lực cố gắng trong thực hiện nhiệm vụ được giao. Mối quan hệ này liên quan không chỉ tới nhận thức về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức, quan hệ giữa cá nhân với cá nhân có tính lý luận và lý trí, mà còn liên quan tới đạo đức, phẩm giá trong động cơ, trong hành động, trong cách ứng xử của mỗi người. Mối quan hệ này phải dựa trên cơ sở tự phê bình và phê bình, bởi đây là một nguyên tắc của Đảng, cùng với các nguyên tắc khác được ghi rõ trong Điều lệ Đảng với vai trò và ý nghĩa của một đạo luật của Đảng, do vậy mọi tổ chức đảng, mọi đảng viên đều phải thực hiện, phải chấp hành, không có bất cứ ngoại lệ nào. Nguyên tắc này không chỉ có ý nghĩa về mặt pháp lý chính trị đối với Đảng, đối với người đứng đầu và cán bộ đảng viên mà còn thể hiện tính tự giác, văn hóa, đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên. Tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, bảo đảm cho Đảng có sức sống, có sức chiến đấu, phải vận dụng thực hành thường xuyên trong sự tu dưỡng của mỗi người, trong xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh của từng tổ chức đảng./.
ST.

Thật thà tự phê bình, phê bình trong tư tưởng Hồ Chí Minh

 Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 4 (khóa XI) xác định tự phê bình, phê bình là nhóm giải pháp quan trọng hàng đầu. “Kiểm điểm, tự phê bình và phê bình là khâu mở đầu, mấu chốt, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng”[1]Để nâng cao chất lượng tự phê bình, phê bình, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết, từng cán bộ, đảng viên cần tiếp tục nghiên cứu học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, đặc biệt phải thực sự thật thà tự phê bình và phê bình.

1. Vì sao phải thật thà tự phê bình, phê bình

Thật thà là một đức tính thể hiện phẩm chất, nhân cách của mỗi con người, là bộc lộ mình một cách tự nhiên, không giả dối, không giả tạo, không giấu giếm, không tham lam, nói đúng suy nghĩ, không nghĩ một đường, nói một nẻo. Tự phê bình, phê bình là tự mình nêu ra, phân tích, đánh giá ưu khuyết điểm của mình hoặc của người khác. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Người ta ai cũng có tính tốt và tính xấu”. Cần biết tính tốt, tính xấu của mình là nhu cầu thường xuyên của mỗi người. Mục đích của tự phê bình, phê bình là chỉ ra đúng “bệnh” để sửa chữa, để tiến bộ cốt để đoàn kết và thống nhất nội bộ, cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn, cho nên tự phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, phải triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt mới có kết quả. “Nếu chỉ làm cho qua chuyện, chỉ có hình thức thì vô ích”[2]. “Tự phê bình phải thật thà. Tự phê bình cũng ví như người ốm yếu nói rõ chứng bệnh của mình với thầy thuốc. Nếu giấu bệnh thì thầy thuốc không biết bệnh mà cho thuốc. Cho nên có gì phải nói cho hết, giấu giếm là khuyết điểm”[3].

Thật thà với chính mình, thật thà với người khác phải trở thành nét văn hóa chủ đạo trong nhận thức và hành vi tự phê bình, phê bình của mỗi cán bộ, đảng viên. Nếu không thật thà tự phê bình, mỗi người sẽ không bao giờ thấy hết những khuyết điểm, hạn chế của mình, kể cả khi được người khác phê bình mình hoặc phê bình người khác. Nếu phê bình người khác mà không dựa trên động cơ thật thà, trong sáng, không dựa trên cơ sở đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ thì sẽ dẫn đến “đâm thọc, mỉa mai, bé xé ra to”. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Mỗi đảng viên, mỗi cán bộ, cần phải thật thà tự xét và xét đồng chí mình, ai có khuyết điểm nào, thì phải thật thà cố gắng sửa chữa và giúp sửa chữa lẫn nhau. Thang thuốc hay nhất là thiết thực phê bình và tự phê bình[4]. Bởi vậy, muốn tự phê bình, phê bình thực sự đem lại tác dụng, mỗi người phải thực sự thật thà cả trong suy nghĩ và hành động.  

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Thật thà tự phê bình chẳng những giúp cho mình tiến bộ mà còn giúp cho người khác biết để mà tránh. Một thí dụ: Đảng ta có mấy chục vạn đảng viên. Nếu đồng chí A phạm một điều sai lầm, liền thật thà tự phê bình thì các đảng viên khác đều biết mà tránh, không phạm sai lầm ấy nữa. Trái lại, nếu đồng chí A không thật thà tự phê bình, để cho đảng viên khác cũng phạm khuyết điểm ấy, thì cả Đảng cộng lại thành mấy chục vạn khuyết điểm! Như vậy, đồng chí A chẳng những dối mình, mà lại dối Đảng, là có tội với cách mạng, có tội với Đảng, có tội với Tổ quốc với nhân dân”[5].

2. Thật thà tự phê bình, phê bình phải như thế nào?

Trước hết, mỗi người phải thật thà tự kiểm điểm, tự chỉ trích bản thân mình, không tự cao, tự đại, không bao giờ được tự cho mình cái gì cũng hoàn thiện, từ đó không chịu học tập tu dưỡng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Người có bệnh nói thật thà, người nghe không giúp đỡ người ta sửa chữa, lại có thành kiến cũng là sai. Thấy mình có nhiều bệnh, sợ không sửa chữa được, sinh ra bi quan tiêu cực cũng không đúng. Mình không biết cách sửa chữa thì còn có đồng chí, có bộ đội, có nhân dân bày cách cho mà sửa chữa. Chỉ cần mình quyết tâm sửa chữa là được”[6].

Khi phê bình người khác, mỗi người phải có quan điểm rõ ràng, thẳng thắn, chỉ rõ khuyết điểm của đồng chí mình, nhưng phải có động cơ trong sáng, trên tình nhân ái, thấu tình đạt lý, đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Không vì “yêu ai nên tốt, ghét ai nên xấu”, tuyệt đối không phê bình theo kiểu “bới lông, tìm vết” với thái độ “đằng đằng sát khí”, thực hiện ý đồ cá nhân, hạ bệ người khác.

Khi được người khác phê bình mình, phải chân thành, dũng cảm, thật thà nhận rõ khuyết điểm của bản thân theo phương châm “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, kiên quyết tìm ra cách thức để sửa chữa nhanh nhất, hữu hiệu nhất. Đây là việc làm không dễ đối với mỗi người, bởi vì trong tâm lý con người, ai nấy đều thích “khen”, mấy ai thích người khác “chê” mình. Người ta hay có lòng tự ái, thừa nhận cái sai, cái dốt, cái kém của mình thì sợ mất thể diện, mất uy tín, mất địa vị nhất là những người đang giữ những cương vị lãnh đạo.

Theo Bác: “Đó là lòng tự ái dại dột, khác nào có bệnh mà giấu bệnh. Giấu bệnh thì càng ngày bệnh càng nặng, đến khi quá nặng không chữa được nữa, thì chết. Giấu khuyết điểm thì khuyết điểm càng ngày càng to, đến khi to quá, không sửa chữa được nữa thì mọi việc đều hỏng.

Ai cũng cần tắm rửa cho mình mẩy sạch sẽ. Thì ai cũng cần tự phê bình cho tư tưởng và hành động được đúng đắn”[7].

Thật thà tự phê bình, phê bình cũng là phải nêu cả ưu điểm, vạch ra khuyết điểm của mình, của đồng chí mình, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Phê bình việc chứ không phải phê bình người. Người có ưu điểm thì phải cố gắng thêm. Người khác phải cố gắng bắt chước. Người được phê bình phải vui lòng tiếp thu để sửa đổi, không nên vì bị phê bình mà nản chí, hoặc oán ghét người phê bình mình. Mọi người phải tích cực sửa chữa khuyết điểm của mình và giúp anh em sửa chữa khuyết điểm của họ. Mỗi người cần nhớ rằng cộng nhiều ưu điểm nhỏ thành một ưu điểm lớn, rất có lợi cho mỗi người, mỗi tổ chức. Ngược lại, cộng nhiều khuyết điểm nhỏ thành một khuyết điểm lớn, rất có hại.

Thật thà tự phê bình, phê bình cần phải chống thói nể nang và che giấu khuyết điểm, chống biểu hiện trước mặt thì nể, kể lể sau lưng8. Trên thực tế, không ít cán bộ, đảng viên rất sợ phải tự phê bình và bị phê bình.

Chủ tịch  Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, đảng viên khi phê bình không nên định kiến: “không nên nhận rằng họ muốn như thế, mà công kích họ. Trái lại, ta phải dùng thái độ thân thiết, giúp họ tìm ra cái cớ vì sao mà sai lầm? Sai lầm như thế, sẽ có hại cho công việc thế nào? Làm thế nào mà sửa chữa? Tóm lại, phải phê bình cho đúng”[9] và “Phê bình cho đúng, chẳng những không làm giảm thể diện và uy tín của cán bộ, của Đảng. Trái lại, còn làm cho sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn, thiết thực hơn, do đó mà uy tín và thể diện càng tăng thêm”[10].

Tự phê bình và phê bình phải đi đôi với nhau. “Tự phê bình rồi lại phải phê bình người khác nữa”. Mục đích là cho mọi người học lẫn ưu điểm của nhau và giúp nhau chữa những khuyết điểm, “Là cốt sửa chữa, chứ không phải để công kích, cốt giúp nhau tiến bộ chứ không phải làm cho đồng chí khó chịu, nản lòng”. Trước hết mỗi người phải thật thà tự phê bình, tự đánh giá những ưu, khuyết điểm của mình trước. Trên cơ sở đó, sẵn sàng tiếp thu người khác phê bình mình với tinh thần cầu thị, mong tiến bộ. Đồng thời tích cực tham gia phê bình người khác với tinh thần cởi mở, chân thành.

3. Làm thế nào để cán bộ, đảng viên thật thà tự phê bình, phê bình

Muốn mọi người thật thà tự phê bình, phê bình, phải có cách thức, phương pháp tổ chức chặt chẽ. “Mỗi người phải đọc kỹ càng các tài liệu, rồi tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình, có khuyết điểm gì và ưu điểm gì… Trong lúc thảo luận, mọi người được hoàn toàn tự do phát biểu ý kiến, dù đúng hoặc không đúng cũng vậy. Song không được nói gàn, nói vòng quanh. Những kết luận trong cuộc thảo luận phải có cấp trên duyệt y mới là chính thức”[11]. Bác khuyên tự phê bình và phê bình phải biết cách, khôn khéo để đạt hiệu quả cao là cho người có khuyết điểm tự giác nhận và sửa chữa khuyết điểm của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán những người hay dùng mệnh lệnh hành chính trong công tác, Bác đưa ra một hình ảnh: “bánh ngọt là một thứ ngon lành, nhưng đem bánh ngọt bắt người ta ăn, nhét vào miệng người ta, thì ai cũng chán”[12]. Như vậy, để mọi người thật thà tự phê bình, phê bình, người tổ chức, người thực hiện phải khéo, đây thực sự là một nghệ thuật tổ chức ứng xử và giao tiếp.

“Nhân vô thập toàn”, khó tránh khỏi sai lầm và khuyết điểm, ai không làm việc, mới không có sai lầm, khuyết điểm. Như vậy, chúng ta không sợ khuyết điểm, chỉ sợ không biết, không nhận và không quyết tâm sửa chữa khuyết điểm. “Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình. Không chịu nghe phê bình và không tự phê bình thì nhất định lạc hậu, thoái bộ. Lạc hậu và thoái bộ thì sẽ bị quần chúng bỏ rơi. Đó là tất yếu của chủ nghĩa cá nhân”.

Để mọi người tích cực, hăng hái, “Phải mở rộng phong trào phê bình và tự phê bình ở trong Đảng, ở các cơ quan, các đoàn thể, trên các báo chí cho đến nhân dân…”[13]. Tự phê bình và phê bình phải thể hiện được tính Đảng, tính giáo dục, tính khách quan, trung thực, thẳng thắn, dân chủ, cụ thể và thiết thực, mặt khác phải thực hiện đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở, ở tất cả các cấp, các ngành, cấp trên phải nêu gương cho cấp dưới, cán bộ lãnh đạo quản lý phải gương mẫu và triệt để thực hành. “Cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cao cấp phải làm gương trước”. Cần khắc phục tư tưởng và cách làm “nhẹ trên”, “nặng dưới” trong tổ chức tự phê bình, phê bình. Cần “…chú trọng phê bình mình trước, phê bình người sau, phê bình mình là chính, phê bình người là phụ…”[14]

Vận dụng tư tưởng của Bác về thật thà tự phê bình, phê bình trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), mỗi cán bộ đảng viên cần nêu cao tinh thần “Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”. Đặc biệt, những Đảng viên càng giữ trọng trách cao càng phải nêu cao tinh thần gương mẫu và triệt để thực hành./.

ST.


Nhận diện sự suy thoái về tư tưởng chính trị

Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ đảng viên đang làm suy giảm năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và uy tín của Đảng. Trong đó, suy thoái về tư tưởng chính trị là cực kỳ nguy hiểm trong mối quan hệ với suy thoái đạo đức, lối sống bởi nó liên quan đến trái tim, khối óc của mỗi cán bộ đảng viên.

Nghị quyết số 12-NQ/TW Hội nghị Trung ương 4, khóa XI: “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” khẳng định: “kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng” là một trong ba nhiệm vụ cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Bài viết này xin tập trung bàn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, nhận diện những biểu hiện, xem xét những nguyên nhân của nó.

Biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị   

Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, đồng thuận cùng toàn dân ta xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH), với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Đó là mục tiêu nhân văn cao cả của Đảng. Mỗi người, khi tự nguyện đứng trong hàng ngũ của Đảng đều xác định đó là lý tưởng chính trị của mình, nguyện suốt đời hy sinh, phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng đó, “đảng viên cần phải hy sinh lợi ích của mình cho lợi ích chung của Đảng”(1). Tư tưởng chính trị của mỗi cán bộ đảng viên là niềm tin, là nhận thức khoa học về mục tiêu và con đường thực hiện mục tiêu mà Đảng đề ra. Nó là ánh sáng, định hướng, dẫn dắt mỗi cán bộ, đảng viên trong quá trình phấn đấu, cống hiến của mình.

Thế nào là suy thoái về tư tưởng chính trị? Đó là sự phai nhạt lý tưởng, niềm tin vào mục tiêu, con đường mà Đảng ta đã lựa chọn; nghi ngờ vai trò cũng như năng lực lãnh đạo của Đảng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Suy thoái về tư tưởng chính trị còn là việc không chịu rèn luyện, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận, không sát thực tiễn nên giáo điều, rập khuôn, máy móc. Là người lãnh đạo như thế sẽ có nguy cơ đề ra những chủ trương, chính sách không sát với thực tế hoặc có những “lỗ hổng”, dễ bị lợi dụng, làm biến dạng bản chất tốt đẹp trong các chủ trương, chính sách mà Đảng, Nhà nước đề ra. Thuật ngữ “suy thoái” thể hiện tình trạng sa sút một cách từ từ, theo một xu thế hướng đến tiêu cực.

Trong thực tiễn, suy thoái về tư tưởng chính trị biểu hiện ra ở nhiều cấp độ:

- Sự dao động về lập trường quan điểm, nhất là trước những vấn đề mang tính nguyên tắc, dẫn đến suy giảm tinh thần đấu tranh, né tránh, cơ hội; thấy biểu hiện công kích Đảng và Nhà nước không dám đấu tranh, thậm chí đây đó còn a dua phụ họa.

- Sự hoài nghi về lý tưởng cộng sản, về con đường đi lên CNXH, hoài nghi về các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Nhìn nhận mọi nỗ lực cải cách của Đảng, của Nhà nước với góc nhìn bi quan, không tin tưởng.

- Nhận thức lại, một số còn có biểu hiện của sự “sám hối” về lý tưởng, về con đường đã lựa chọn. Một số cán bộ từng giữ những trọng trách nhất định trong bộ máy của Đảng và Nhà nước khi nghỉ chế độ, thôi giữ các chức vụ lãnh đạo, quản lý thì bắt đầu phát biểu, viết bài, hồi ký,... thể hiện quan điểm nhận thức lại, xa, gần phê phán, công kích chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước trong quá khứ cũng như hiện tại. Ở đây, suy thoái về tư tưởng chính trị đã đi tới mức biến những đảng viên, đồng chí năm xưa của chúng ta trở thành lực lượng đối lập với Đảng trên lĩnh vực tư tưởng (Tất nhiên, dư luận xã hội cũng khá rõ ràng khi đặt câu hỏi, sao khi còn giữ chức nọ, quyền kia trong bộ máy của Đảng và Nhà nước không thấy ông, bà ý kiến gì?!).

Suy thoái về tư tưởng chính trị không kém phần nguy hiểm trong mối quan hệ với sự suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên. Nó tấn công vào con tim, khối óc và định hướng cho hành động của mỗi người. Nếu mỗi đảng viên thờ ơ với sự nghiệp, vai trò và uy tín của Đảng thì năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bị suy giảm và hậu quả sẽ cực kỳ nguy hiểm. Đảng Cộng sản Liên Xô với hàng chục triệu đảng viên tan rã trong một ngày mà không có sự kháng cự đáng kể nào có nguyên nhân cơ bản và chủ yếu từ sự thờ ơ của mỗi đảng viên đối với số phận và sự nghiệp của Đảng. Bài học đó hẳn còn nguyên giá trị đối với chúng ta ngày nay.

Nguyên nhân

Sự suy thoái về tư tưởng chính trị là một quá trình, có nguyên nhân chủ quan từ phía mỗi cán bộ, đảng viên. Dưới tác động của cơ chế thị trường, tâm lý chạy theo lợi ích, vinh hoa, phú quý, đặc quyền, đặc lợi đã làm mờ lý tưởng của một bộ phận cán bộ đảng viên; lơ là việc trau dồi lý luận, rèn giũa bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng,... Nguyên nhân quan trọng là sự duy trì nghiêm minh nguyên tắc xây dựng Đảng, công tác tổ chức của bản thân các cấp ủy đảng và công tác lý luận của Đảng.

Trong những năm qua, công tác nghiên cứu lý luận của Đảng chưa đáp ứng được yêu cầu. Rõ ràng, tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường là một quyết sách chiến lược của Đảng. Chúng ta xây dựng mô hình CNXH chưa hề có tiền lệ trong lịch sử. Trong hoàn cảnh đó, đáng lẽ các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu lý luận phải nhanh chóng có câu trả lời về những nét đặc trưng, cơ sở lý luận, cơ sở khoa học và thực tiễn phương thức vận hành của thời kỳ quá độ mà đất nước đang trải qua. Tuy nhiên, giới lý luận tỏ ra lúng túng, đúng như nhận định trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa X): “Công tác lý luận còn lạc hậu trên một số mặt, chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn đang vận động nhanh chóng, phong phú, phức tạp; chưa giải đáp được nhiều vấn đề do thực tiễn đất nước đặt ra; chất lượng các sản phẩm nghiên cứu khoa học lý luận chưa cao; lý luận chưa làm tốt chức năng định hướng cho hoạt động thực tiễn, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước”(2). Đến nay, qua hơn hai mươi lăm năm đổi mới, nhiều vấn đề lý luận cơ bản vẫn chưa được làm sáng tỏ để xác lập cơ chế một cách khoa học, thích hợp như vấn đề phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sở hữu đất đai, doanh nghiệp và tập đoàn kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác,...

Hệ quả của sự lúng túng về lý luận thể hiện trong thực tiễn công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng. Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình chưa có tiền lệ trong lịch sử. Một số chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội chúng ta chưa có điều kiện nghiên cứu một cách thật sự thấu đáo, làm theo cách “vừa làm vừa rút kinh nghiệm”, sai lầm, vấp váp là không tránh khỏi. Sự lúng túng, hạn chế, khuyết điểm trong việc tổ chức xây dựng cơ chế, phương thức hoạt động của tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường dẫn tới tâm lý hoang mang, dao động là nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự suy thoái về tư tưởng chính trị của cán bộ đảng viên. 

Công tác giáo dục lý luận cho cán bộ đảng viên vốn có tầm quan trọng đặc biệt đối với tư tưởng chính trị của mỗi đảng viên nhưng cũng chưa được quan tâm đúng mức. Nếu giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ đảng viên có hiệu quả sẽ góp phần vào việc trực tiếp nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Học tập lý luận có hiệu quả mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao sự hiểu biết và trình độ chính trị, thực hiện tốt công việc Đảng giao. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt đề cao vai trò giáo dục lý luận cho cán bộ đảng viên. Người viết: “Cán bộ của Đảng phải hiểu biết lý luận cách mạng, và lý luận cùng thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau”(3) và “... mỗi cán bộ, đảng viên phải học lý luận, phải đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế”(4). Trong thực tế, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ còn tình trạng nhiều bài giảng, công trình nghiên cứu mang nặng tính lý luận suông, giáo điều, sách vở, thiếu tính khả thi trước yêu cầu thực tiễn. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa X) đánh giá: “Chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục lý luận chính trị trong các nhà trường chậm đổi mới, chưa theo kịp trình độ phát triển và yêu cầu của xã hội”(5). Trong khi công tác giảng dạy lý luận chính trị còn chưa đáp ứng được yêu cầu thì thời lượng dành cho các môn lý luận trong các chương trình bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và các chương trình đào tạo đại học lại bị cắt giảm. Chương trình bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức các ngạch đang có xu hướng cắt giảm dung lượng bài giảng lý luận, nhường chỗ cho các phần học kỹ năng với quan điểm rằng lý luận cán bộ được học ở lớp này, khóa kia trong cuộc đời cán bộ nhiều rồi, nên tập trung cho việc bồi dưỡng kỹ năng thiết thực cho công việc hơn(?).

Trong chương trình đào tạo đại học, ngay cả đối với các chuyên ngành khoa học xã hội, các môn lý luận như triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa cộng sản khoa học cũng bị cắt giảm về thời lượng, gộp các môn lại thành một môn chung là môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Việc bổ sung giảng viên các môn lý luận chính trị cho đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng ngày càng gặp khó khăn. Vì vậy, chất lượng giảng dạy và học tập các môn lý luận chính trị rất hạn chế. Sinh viên nắm được những kiến thức cơ bản trong giáo trình đã được xem như đạt yêu cầu, chẳng mấy ai quan tâm tìm đọc các tác phẩm kinh điển.

Công tác đấu tranh trên mặt trận chính trị tư tưởng còn nhiều bất cập, nhất là trong điều kiện hội nhập quốc tế, với sự phát triển mạnh mẽ, mang tính phổ cập của các phương tiện thông tin và truyền thông. Các thế lực thù địch luôn biết cách vận dụng, sử dụng các phương tiện thông tin và truyền thông (cả về phương diện lý luận và phương diện kỹ thuật) vào mục đích bôi nhọ, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, gây chia rẽ Đảng với nhân dân, hạ thấp uy tín của Đảng. Trong khi đó, với bộ máy phát thanh, truyền hình phủ sóng toàn quốc, với hàng trăm tờ báo, tạp chí và hàng nghìn phóng viên, biên tập viên nhưng chúng ta vẫn thụ động trong công tác đấu tranh phản tuyên truyền, cách thức và biện pháp ít đổi mới, hiệu quả và sức thuyết phục hạn chế. Vì vậy, các thế lực thù địch tăng cường sử dụng các phương tiện truyền thông, nhất là các trang mạng điện tử “chiếm lĩnh” diễn đàn, tấn công vào con tim, khối óc cán bộ và nhân dân bằng các thông tin vu khống, bịa đặt, xuyên tạc, không đúng sự thật, bôi đen bộ máy lãnh đạo của đất nước, kích động chống Đảng và Nhà nước, gây hoài nghi và tạo nên những dư luận xấu trong xã hội. Vấn đề nghiêm trọng đến mức ngày 12-9-2012, Văn phòng Chính phủ đã phát công văn số 7169/VPCP-NC yêu cầu các cơ quan chức năng tăng cường quản lý việc cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng; yêu cầu cán bộ, công chức, viên chức không xem, không sử dụng, loan truyền và phổ biến các thông tin đăng tải trên các mạng phản động.

Sự suy thoái về tư tưởng chính trị còn có nguyên nhân từ việc chấp hành Điều lệ Đảng không nghiêm, nhất là trong sinh hoạt đảng. Trên thực tế, có những chi bộ không chấp hành nghiêm chỉnh chế độ sinh hoạt đảng, vài tháng mới họp chi bộ, đổ lỗi cho các lý do bận rộn công việc chuyên môn. Nội dung sinh hoạt lúng túng, không phân biệt họp chuyên môn với sinh hoạt đảng, để công việc chuyên môn lấn át công tác đảng. Trong sinh hoạt đảng, nội dung chính trị tư tưởng bị xem nhẹ.

Công tác xây dựng Đảng, nhất là công tác phát triển đảng cũng còn nhiều vấn đề cần xem xét, rút kinh nghiệm. Phát triển đảng là nhiệm vụ quan trọng nhưng không nhất thiết vì mục tiêu số lượng mà xem nhẹ vấn đề chất lượng. Theo quy định, quần chúng ưu tú được tổ chức giới thiệu tham gia khóa học lý luận nhận thức về Đảng, đảng viên mới kết nạp tham gia khóa bồi dưỡng lý luận cho đảng viên mới. Tuy nhiên, không ít lớp tổ chức một cách hình thức, kiểm tra, sát hạch không nghiêm nên có những đảng viên mới mặc dù đã có chứng chỉ công nhận đã qua lớp này, lớp kia nhưng không trả lời mạch lạc được câu hỏi về động cơ vào Đảng. Với những đảng viên như vậy thì sự dao động về lập trường tư tưởng có lẽ chỉ là vấn đề sớm hay muộn mà thôi.

Nhận diện những biểu hiện của suy thoái tư tưởng chính trị trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, phân tích các nguyên nhân gây nên tình trạng đó nhằm tìm ra giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi là cần thiết, góp phần cùng toàn Đảng thiết thực thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI )- một nghị quyết được toàn dân mong đợi như khâu đột phá trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Mỗi đảng viên, mỗi tổ chức đảng trên tinh thần phê bình và tự phê bình xem xét, đánh giá lại mình một cách thẳng thắn, nghiêm túc để có kế hoạch khắc phục, vượt qua, rèn dũa bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng của mình./.

ST.

Góp phần nhận diện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta thường xuyên quan tâm đến công tác bồi dưỡng, nâng cao tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Những thành tựu của đất nước đạt được trong sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã khẳng định đội ngũ cán bộ, đảng viên phần lớn luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, không ngừng rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng và lối sống xã hội chủ nghĩa, được nhân dân tin cậy, yêu mến.

Tuy vậy, nhìn thẳng vào thực tế công tác xây dựng Đảng những năm qua vẫn nổi lên nhiều vấn đề bức xúc, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã chỉ ra: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp,...”; “Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” chưa thực sự đi vào chiều sâu, ở một số nơi còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao, làm theo chưa đạt yêu cầu”; “Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, huân chương chưa được khắc phục”; “Tình trạng thiếu trách nhiệm, cơ hội, suy thoái đạo đức, lối sống vẫn diễn ra khá phổ biến trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Kỷ luật, kỷ cương ở nhiều tổ chức đảng không nghiêm. Sự đoàn kết, nhất trí ở không ít cấp ủy chưa tốt”(1). Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) chỉ rõ thêm: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…”(2). Những hiện tượng đó nếu không được ngăn chặn, đẩy lùi sẽ dẫn đến nguy cơ làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, gây tổn hại nghiêm trọng đến công tác xây dựng Đảng, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước.

Trước thực tế đó, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) xác định rõ 3 vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng ta hiện nay, đó là: “Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là ở cấp Trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị”(3). Đây là ba nội dung có ý nghĩa rất quan trọng và cấp bách đối với công tác xây dựng Đảng hiện nay; trong đó nội dung thứ nhất là ngăn chặn đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, được xác định là vấn đề trọng tâm, xuyên suốt và cũng là vấn đề cấp bách nhất. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng coi đây là nhiệm vụ cấp bách nhất, liên quan đến sự sống còn của Đảng ta, của chế độ ta.

Như vậy, so với các văn kiện của Đảng trước đó, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) không những chỉ ra tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên mà còn nhấn mạnh sự suy thoái đó diễn ra ở “những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp”. Vì thế, phạm vi ảnh hưởng và tác hại của sự suy thoái càng sâu rộng, nghiêm trọng, là mầm mống gây ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, bên trên nội bộ ta.

Lúc sinh thời, V.I.Lê-nin đã cảnh báo: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta… Nếu chúng ta do sai lầm mà gây ra sự chia rẽ thì tất cả sẽ sụp đổ”(4). Vì vậy, quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), trọng tâm là 3 vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay, đòi hỏi mỗi cấp ủy, tổ chức đảng cần phải thực hiện tốt phương châm: Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật; nói đi đôi với làm. Đồng thời, nghiêm túc thực hiện những biện pháp xây dựng và chỉnh đốn Đảng; phát huy tính chiến đấu, tự giác, gương mẫu trong tự phê bình và phê bình không chừa một ai và được duy trì thường xuyên “như rửa mặt hằng ngày”.

Thực tiễn cho thấy, những năm qua việc ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên chưa đạt được mục đích, yêu cầu đề ra, mà một trong những nguyên nhân chủ yếu là không ít cấp ủy, tổ chức đảng còn “dĩ hòa vi quí”, chưa thực sự chú trọng vấn đề nhận diện sự suy thoái đó; việc đánh giá, nhận định rất chung chung, thiếu cụ thể, chưa chỉ rõ từng đối tượng trong cơ quan, đơn vị mình xem ai có biểu hiện suy thoái, bộ phận nào suy thoái và suy thoái về mặt nào, ở mức độ nào? Có những cấp ủy, tổ chức đảng cho rằng, tổ chức của mình hằng năm luôn đạt danh hiệu “trong sạch, vững mạnh” thì không thể có suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống được, nên chỉ cần sinh hoạt nhắc nhở đề phòng chung là đủ. Chính thực tế đó đã làm giảm động lực cũng như tính hiệu quả của đấu tranh tự phê bình và phê bình trong mỗi tổ chức; là nguyên nhân làm mất dần đi cái tốt, cái tiến bộ, làm tăng dần cái xấu, cái lạc hậu, dẫn đến sự thoái hóa, biến chất về tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Do đó, việc nhận diện chính xác, kịp thời các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) có ý nghĩa rất quan trọng và cấp thiết. Việc nhận diện đó có thể trên hai phương diện: Nhận diện các mặt suy thoái và nhận diện các đối tượng suy thoái.

Nhận diện các mặt suy thoái: bao gồm mặt suy thoái về tư tưởng chính trị và mặt suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống.

Suy thoái về tư tưởng chính trị: biểu hiện rõ nhất đó là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, dao động về lập trường, quan điểm chính trị, sa sút ý chí chiến đấu, mơ hồ, hoài nghi về con đường xã hội chủ nghĩa; phủ nhận các giá trị truyền thống cách mạng, đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; không thực hiện đúng nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng, nói và làm trái với đường lối, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao; vi phạm những điều quy định đảng viên không được làm; thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh, ngăn chặn; thậm chí có người ý thức chính trị kém, bị các thế lực thù địch lợi dụng lôi kéo, phụ họa, cổ súy cho những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc, chống phá sự nghiệp cách mạng, gây tổn hại đến uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước ta…

Suy thoái về đạo đức, lối sốngbiểu hiện rõ nhất ở chỗ là sa vào chủ nghĩa cá nhân, lạm dụng chức quyền, vụ lợi, sống xa hoa, hưởng lạc, tham nhũng, lãng phí tài sản công, cơ hội, thực dụng, hám danh, hối lộ, quan liêu cửa quyền, bè phái, xa dân, gây mất đoàn kết nội bộ; nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, thiếu trách nhiệm trong công việc; ngại học tập, phấn đấu, rèn luyện, sống buông thả, sa vào các tệ nạn xã hội như ma túy, cờ bạc, buôn lậu...; tha hóa trong các quan hệ gia đình, vợ chồng, quan hệ xã hội; không muốn người khác phê bình khuyết điểm, sai lầm; luôn tìm mọi cách để “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy bằng cấp”, “chạy tuổi”,“chạy chỗ”, “chạy lợi”, “chạy tội”,...

Những biểu hiện sự suy thoái ở trên không những xảy ra trong các cơ quan, các lĩnh vực, ngành nghề nhạy cảm như tài chính, ngân hàng, giáo dục, y tế, điều tra, xét xử… mà thực tế phát sinh cả trong nhiều cơ quan, đơn vị tưởng như tình hình yên ổn bình thường, thậm chí hằng năm được xếp loại trong sạch, vững mạnh. Có thể khẳng định, hầu như ngành nào, lĩnh vực nào, chỗ nào cũng có cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống ở mức độ này hay mức độ khác, nhưng tập trung nhiều nhất vẫn là ở những nơi có nhiều quyền, nhiều tiền và ở những cán bộ làm công tác lãnh đạo, quản lý các cấp.

Nhận diện các đối tượng suy thoái: bao gồm một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên không giữ vị trí lãnh đạo, quản lý và một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý (kể cả một số cán bộ cao cấp).

Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cả hai đối tượng đều có một trong những biểu hiện như đã khái quát ở phần nhận diện mặt suy thoái ở trên, song có điểm chung mà mọi người trong cơ quan, đơn vị và từ dư luận xã hội có thể đánh giá được là, họ không làm tròn bổn phận, chức trách của người đảng viên cộng sản, nhiều người không còn giữ được vai trò tiền phong gương mẫu “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”.

Đối với nhóm đối tượng cán bộ, đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý là những người có chức, có quyền, có người giữ cương vị lãnh đạo, quản lý cao cấp trong hệ thống chính trị. Nhận diện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ trong đối tượng này nổi lên một số điểm là: khi đã có quyền lực chính trị (hoặc quyền lực kinh tế), họ tự cho mình quyền đứng ngoài sự quản lý, giám sát của tổ chức, coi thường pháp luật Nhà nước cũng như các quy định của cơ quan, đơn vị, buông lỏng thực hiện nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”; mắc bệnh quan liêu, xa dân, rất ít bám, nắm cơ sở, có lắng nghe ý kiến cấp dưới chỉ là hình thức. Trong nội bộ thì mắc bệnh bè phái, cục bộ, độc đoán, chuyên quyền, đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng… Đáng chú ý, sự suy thoái còn thể hiện ở việc hình thành “cơ chế ngầm”, bảo vệ, bao che, dung túng cho nhau; luôn tìm cách triệt hạ những người trung thực, thẳng thắn trong đấu tranh phê bình, bảo vệ lẽ phải. Với đối tượng này, những tri thức, kinh nghiệm thực tiễn mà họ tích lũy được chỉ nhằm phục vụ cho mục đích cá nhân, “lợi ích nhóm” và họ lại tìm mọi cách để chui sâu, leo cao hơn. Điều đó nếu không phát hiện được và vạch rõ chân tướng sẽ gây nguy hại khôn lường cho Đảng, cho sự nghiệp cách mạng. Trong thực thi chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch đặc biệt tìm cách mua chuộc, lôi kéo đối tượng cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, nhất là những cán bộ cao cấp có biểu hiện thoái hóa, biến chất nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, bên trên nội bộ ta hòng làm tan rã Đảng ta.

Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống bao giờ cũng mang tính hệ thống, tính tổng thể, từ suy thoái về mặt này dẫn đến suy thoái về mặt khác, làm biến chất cán bộ, đảng viên. Suy thoái về đạo đức, lối sống thường xuất hiện trước, dễ nhận thấy hơn và nếu chậm ngăn chặn, đẩy lùi sẽ dẫn đến hệ lụy suy thoái về tư tưởng chính trị; ngược lại, có khi suy thoái về tư tưởng chính trị trở thành căn nguyên của suy thoái về đạo đức, lối sống. Trong các loại đối tượng suy thoái, nếu cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, đặc biệt là người giữ vị trí cao cấp, người đứng đầu, bị suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống sẽ có ảnh hưởng, tác động không tốt đến tổ chức, đến đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng, làm cho các chủ trương, chính sách đề ra không đưa được vào cuộc sống.

Như vậy, việc nhận dạng cụ thể, chính xác các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên nhằm giúp các cấp ủy ở mỗi cấp trong hệ thống chính trị có định hướng lãnh đạo phù hợp và có chủ trương nhất quán trong công tác cán bộ phù hợp với tình hình mới của cách mạng, góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo, sức sống và sức chiến đấu của từng tổ chức Đảng. Điều cốt yếu và quyết định đến thành công trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình theo yêu cầu, mục đích của Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) đề ra là, mỗi cấp ủy, chi bộ, đảng bộ cần có sự phân tích thấu đáo, nhận diện đúng, kịp thời từng đối tượng trong tổ chức của mình xem ai có biểu hiện suy thoái, suy thoái về mặt nào, ở mức độ nào và suy thoái như thế nào. Đồng thời, từng cán bộ, đảng viên phải dũng cảm tự nhận diện chính mình có biểu hiện suy thoái không? Người có chức vụ lãnh đạo, quản lý càng cao càng phải gương mẫu tự nhận diện trước và không nên cho rằng suy thoái chỉ có ở cán bộ, đảng viên khác, ở cấp dưới trực thuộc của mình.

Trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống hiện nay cần phải phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể và quần chúng nhân dân, của dư luận, các cơ quan báo chí để tạo nên một sức mạnh tổng hợp, phát hiện kịp thời những cán bộ, đảng viên suy thoái để có biện pháp khắc phục và giải quyết triệt để. Mỗi cán bộ, đảng viên phải chiến thắng được chính mình trong cuộc đấu tranh đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ cao cấp, qua đó mới tạo được sự đồng thuận trong toàn Đảng, toàn dân, quyết tâm xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay./.

ST.

Công tác quy hoạch, luân chuyển cán bộ ngày càng đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ chính trị trước mắt và lâu dài

Nhận thức sâu sắc ý nghĩa và tầm quan trọng Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30-11-2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý, những năm qua, các tỉnh, thành trong cả nước đã nghiêm túc triển khai thực hiện, kết quả mang lại không chỉ tạo được sự chủ động trong công tác bồi dưỡng, quy hoạch, bố trí, sử dụng cán bộ mà còn trực tiếp góp phần vào việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp trong cả nước, đáp ứng được nhiệm vụ trước mắt và lâu dài.

Từ việc chú trọng nâng cao nhận thức…

Dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương, thường xuyên và trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các tỉnh, thành trong cả nước đã nhận thức: công tác cán bộ là nhân tố quyết định, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng, chính quyền. Đẩy mạnh công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý và luân chuyển cán bộ sẽ tạo sự chủ động, khắc phục được tình trạng hẫng hụt khi bố trí, sử dụng cán bộ lãnh đạo, quản lý, từng bước bảo đảm tính kế thừa, phát triển và sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ; giữ vững đoàn kết nội bộ và sự ổn định chính trị. Vì vậy, các tỉnh, thành đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện chặt chẽ việc quán triệt, nghiên cứu, triển khai Nghị quyết số 42 và Nghị quyết số 11 của Bộ Chính trị (khóa IX) về công tác quy hoạch, luân chuyển cán bộ ở địa phương mình.

Nhiều năm qua, các tỉnh, thành làm tốt công tác quán triệt tinh thần của các nghị quyết, nên đã tạo ra sự chuyển biến, tiến bộ về nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ chủ chốt và cơ quan tham mưu rất rõ nét. Bởi vậy, trong quá trình triển khai đã đề ra nhiều chủ trương, giải pháp sát đúng, đổi mới cách làm, mở rộng dân chủ, thực hiện đúng quy trình, các khâu theo quy định. Công tác xây dựng kế hoạch, điều hành quy hoạch, luân chuyển cán bộ đi vào nền nếp, chất lượng được nâng lên.

Trong công tác quy hoạch, nhìn chung các tỉnh, thành đã phát huy tốt tinh thần dân chủ đối với việc phát hiện những người có phẩm chất và năng lực, nhất là năng lực chỉ đạo thực tiễn tốt, làm việc năng động, sáng tạo, có hiệu quả, cũng như các nhân tố mới có nhiều triển vọng phát triển để đưa vào quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý. Chú trọng nhất là những cán bộ có triển vọng, tài năng trẻ xuất thân từ công nhân, nông dân, con em các gia đình có công với cách mạng, cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ nữ, không phân biệt đảng viên hay quần chúng ngoài Đảng… để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Cơ bản làm tốt việc chuẩn bị từ xa về công tác tạo nguồn cán bộ để đào tạo, bồi dưỡng nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ đảm nhận các chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị vững vàng về chính trị, trong sáng về đạo đức, thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ, có trình độ và năng lực, nhất là năng lực trí tuệ và thực tiễn tốt, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu.

Các tỉnh, thành đã chỉ đạo các cấp, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch luân chuyển cụ thể, đáp ứng yêu cầu đề ra; phương pháp tiến hành thận trọng, dân chủ, công khai, bước đầu chống được tư tưởng cục bộ, khép kín trong bố trí, sử dụng cán bộ ở một số địa phương, đơn vị, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình ủng hộ.

… đến một số kết quả đạt được quan trọng từ giá trị thực tiễn

Theo báo cáo của Văn phòng Trung ương Đảng, từ việc thực hiện nghiêm túc tinh thần của các nghị quyết và sự chỉ đạo của cấp trên, các tỉnh, thành đã tiến hành công tác quy hoạch cán bộ bảo đảm sự đồng bộ từ dưới lên, mỗi chức danh được quy hoạch từ 2 - 3 người; số lượng cán bộ trong quy hoạch tương đối dồi dào. Trong khâu đánh giá cán bộ đã có những đổi mới rất tích cực, cụ thể hóa tiêu chí lựa chọn, giới thiệu cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số vào quy hoạch.

Đến nay, cả nước có trên 1.100 cán bộ trong quy hoạch các chức danh do Trung ương quản lý, trên 6.800 lượt cán bộ quy hoạch các chức danh do ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy quản lý và trên 16.500 lượt cán bộ quy hoạch các chức danh lãnh đạo, quản lý ở các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương. Trình độ cán bộ trong quy hoạch được nâng lên rõ rệt, số cán bộ có trình độ từ đại học trở lên ở các ban, bộ, ngành Trung ương đạt 99%, trong đó sau đại học là 48%; cán bộ quy hoạch cấp tỉnh, thành phố gần 98% có trình độ đại học, tăng 2,8% so với nhiệm kỳ trước và 21,4% sau đại học. Độ tuổi bình quân của cán bộ trong quy hoạch từng bước được trẻ hóa, tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số trong quy hoạch được nâng cao hơn so với nhiệm kỳ trước. Tại các tỉnh, thành phố tỷ lệ cán bộ trẻ dưới 40 tuổi đạt 13,2%, tăng 3,1%; tỷ lệ cán bộ nữ đạt 15,3%, tăng 0,9%; tỷ lệ cán bộ dân tộc thiểu số đạt 11,3%; ở các bộ, ngành, tỷ lệ cán bộ quy hoạch cấp vụ và tương đương trở lên dưới 40 tuổi là 11,1%, tỷ lệ cán bộ nữ là 25,3%.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở các tỉnh, thành trong cả nước từng bước được chú trọng, với hàng trăm ngàn lượt người được đào tạo lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ ở trong và ngoài nước, trong đó trên 1/3 là cán bộ quy hoạch các chức danh lãnh đạo, quản lý. Nhiều địa phương đã quan tâm việc tạo nguồn cán bộ từ xa, tiếp nhận sinh viên mới tốt nghiệp bổ sung nguồn cán bộ cho cơ sở; ban hành chính sách ưu đãi, tuyển dụng sinh viên xuất sắc. Công tác quy hoạch cán bộ được thực hiện khá hiệu quả, góp phần từng bước khắc phục tình trạng bị động, lúng túng thường gặp lâu nay trong công tác cán bộ mỗi khi đến kỳ đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp.

Đáng chú ý, các tỉnh, thành đã tích cực thực hiện công tác luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý và đạt được một số kết quả bước đầu. Thực tế cho thấy công tác luân chuyển cán bộ trở thành sự đòi hỏi khách quan đối với việc đào tạo, thử thách cán bộ qua thực tiễn, giảm thiểu tính cục bộ, khép kín, trì trệ của đội ngũ cán bộ. Kết quả luân chuyển cán bộ từ Trung ương về địa phương trong hai nhiệm kỳ Đại hội IX và X đã góp phần đào tạo được một đội ngũ cán bộ có năng lực thực tiễn rất rõ nét, nhiều đồng chí đã được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương khóa X và XI, được bầu làm bí thư tỉnh ủy hoặc giữ chức vụ chủ chốt ở một số bộ, ngành, ủy ban của Quốc hội khóa XII, XIII. Tại các tỉnh, thành phố hiện nay, trên 95% cán bộ lãnh đạo chủ chốt của hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố; trên 98% ủy viên ban thường vụ các tỉnh, thành ủy đã qua luân chuyển làm cán bộ chủ chốt quận, huyện, sở, ngành; trên 95% cấp ủy viên, gần 100% ủy viên ban thường vụ cấp ủy nhiệm kỳ 2010 - 2015 và cán bộ chủ chốt hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện nhiệm kỳ 2010 - 2016 và gần 100% cán bộ được bổ nhiệm các chức danh do Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý đều nằm trong quy hoạch. Trong quá trình thực hiện, vấn đề nổi bật được ghi nhận và có thể nhân ra diện rộng là kết quả thí điểm luân chuyển các chức danh cán bộ ở tỉnh Hà Tây (cũ), chứng minh chủ trương bố trí một số chức danh lãnh đạo chủ chốt không phải người địa phương là đúng đắn, bởi qua đó đã góp phần khắc phục tình trạng cục bộ, nội bộ mất đoàn kết, trì trệ. Đồng thời, chủ trương tăng thêm chức danh lãnh đạo cấp ủy, chính quyền ở một số tỉnh, thành phố và quận, huyện để luân chuyển, đào tạo cán bộ được đánh giá là đúng đắn, có hiệu quả.

Trong số cán bộ được Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định luân chuyển nhiệm kỳ Đại hội IX và X, có 24 đồng chí được tín nhiệm bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, 15 đồng chí được bầu, bổ nhiệm làm lãnh đạo chủ chốt các bộ, ngành, ủy ban của Quốc hội; gần 60% cán bộ sau khi luân chuyển được bổ nhiệm chức vụ cao hơn. Hầu hết cán bộ qua luân chuyển đều có bước trưởng thành, tích lũy được nhiều kinh nghiệm thực tiễn, có phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, sát thực tế hơn. Đây là bước chuẩn bị quan trọng cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ chính trị cả trước mắt và lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Những hạn chế cần sớm khắc phục

1. Một số đề án quy hoạch còn thiếu tầm nhìn xa và sự bảo đảm cơ cấu ba độ tuổi; quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch chưa căn cứ chủ yếu vào kết quả đánh giá cán bộ, chưa xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ và năng lực thực tiễn của cán bộ, chưa gắn quy hoạch với đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ, dẫn đến nhiều đề án quy hoạch còn hình thức, thiếu khả thi.

2. Chất lượng quy hoạch cán bộ ở nhiều địa phương không đồng đều, một số nơi trình độ đào tạo và cơ cấu ngành nghề của cán bộ trong quy hoạch chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Đáng chú ý, có thành phố không có cán bộ chuyên ngành về quản lý đô thị; có tỉnh định hướng đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ nhưng ít có cán bộ chuyên ngành về kinh tế, kỹ thuật. Tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số và trình độ đào tạo của cán bộ nhìn chung còn thấp so với yêu cầu.

3. Khi tiến hành công tác quy hoạch còn thiếu đồng bộ, chưa bảo đảm được sự liên thông giữa quy hoạch cấp trên với cấp dưới, giữa Trung ương với địa phương, thiếu quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước… Ở một số địa phương vẫn còn xẩy ra sự hẫng hụt cán bộ, bị động, lúng túng khi bầu cử hoặc thay thế cán bộ nếu cần thiết; một số địa phương tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ trong quy hoạch cao nhưng trong cấp ủy lại thấp; có nơi vừa đại hội xong đã đề nghị tăng số lượng cấp ủy để bổ sung cán bộ trẻ, cán bộ nữ; có nơi làm quy hoạch khá tốt nhưng một năm sau đại hội vẫn chưa phân công xong cấp ủy, chưa kiện toàn xong cán bộ lãnh đạo sở, ngành, địa phương, trong khi chủ trương luân chuyển, bố trí một số chức danh lãnh đạo không là người địa phương ít được thực hiện, do chưa có quy định cụ thể.

4. Việc luân chuyển, đào tạo cán bộ ở một số địa phương chưa căn cứ trên cơ sở kết quả đánh giá và quy hoạch; việc lựa chọn địa bàn, chức danh cho cán bộ luân chuyển còn thiếu hợp lý, có trường hợp còn vừa trái ngành, trái nghề, vừa không đáp ứng yêu cầu đào tạo, nên hạn chế sự đóng góp của cán bộ đối với địa phương. Bên cạnh đó, một số địa phương, cơ quan, đơn vị chưa phân định rõ công tác luân chuyển, đào tạo cán bộ theo quy hoạch với điều động, bố trí cán bộ theo yêu cầu nhiệm vụ, dẫn đến việc đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ sau khi hoàn thành nhiệm vụ luân chuyển chưa đúng người, đúng việc, gây tâm tư, thắc mắc.

5. Việc luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý giữa các đơn vị trong một ngành, giữa các ngành với nhau, giữa cán bộ làm công tác Đảng, đoàn thể với quản lý nhà nước nhìn chung còn ít, còn khép kín, cắt khúc, chưa tạo được sự liên thông, chưa phát huy được sức mạnh của cả đội ngũ cán bộ.

6. Chế độ nhà công vụ và chính sách đối với cán bộ được luân chuyển còn nhiều bất cập, gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc triển khai thực hiện công tác luân chuyển cán bộ theo đúng mục đích, yêu cầu của Nghị quyết đề ra.

Để làm tốt hơn nữa công tác cán bộ trong thời kỳ mới

Cán bộ là người lãnh đạo, tổ chức điều hành công việc, là hạt nhân của một tổ chức, là nòng cốt của các phong trào. Trong mọi thời kỳ cách mạng, từng lĩnh vực và ở bất cứ địa phương nào, người cán bộ cũng đóng vai trò quyết định.

Bởi vậy, phát biểu tại Hội nghị quán triệt, triển khai Kết luận của Bộ Chính trị về đổi mới công tác cán bộ được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh vào cuối tháng 8-2012, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh và khẳng định quan điểm dứt khoát phải làm quy hoạch cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý. Quy hoạch cán bộ là thể hiện vai trò, chức năng lãnh đạo, chủ động của Đảng, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, phục vụ cho việc thực hiện đường lối chính trị của Đảng. Vì thế, cần đổi mới công tác đánh giá cán bộ để khắc phục những hạn chế, yếu kém trong công tác quy hoạch, nhất là yếu kém trong việc tạo nguồn cán bộ từ xa; đẩy mạnh công tác luân chuyển cán bộ; đổi mới công tác quy hoạch, luân chuyển cán bộ đồng bộ với các khâu khác trong công tác cán bộ; thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong quá trình nghiên cứu, đổi mới công tác cán bộ.

Để thực hiện có hiệu quả những vấn đề mà Tổng Bí thư đã nêu ra. Trước hết, cần đặc biệt quan tâm trong việc nâng cao nhận thức, quan điểm, làm tốt công tác tư tưởng, những vấn đề có tính nguyên tắc về cán bộ và công tác quy hoạch cán bộ.

Hai là, sớm xây dựng và ban hành quy chế phối hợp giữa thủ trưởng chính quyền với cấp ủy. Trong quy chế cần quy định vấn đề nào người đứng đầu có quyền quyết định, việc gì người đứng đầu có quyền đề xuất để áp dụng tại cơ sở và phải gắn trách nhiệm khi có sự việc xảy ra. Nếu có quy chế phối hợp công tác giữa người đứng đầu và cấp ủy cùng cấp, căn cứ vào quy chế đó thì sự phối hợp công tác giữa người đứng đầu với cấp ủy sẽ thuận lợi hơn.

Ba là, trong vấn đề đánh giá cán bộ và quy hoạch tuổi để bổ nhiệm cần dựa trên tiêu chuẩn, tiêu chí phù hợp với tình hình thực tế. Đánh giá cán bộ phải dựa trên phẩm chất đạo đức và hiệu quả trong công tác. Cấp nào quy hoạch thì cấp đó bổ nhiệm. Phải mở rộng dân chủ hóa, trẻ hóa cán bộ, nhưng tránh tình trạng quy hoạch, đào tạo nhưng lại không bổ nhiệm, trọng dụng đúng vị trí và năng lực của cán bộ.

Bốn là, tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc luân chuyển, phân công cán bộ từ Trung ương về địa phương; luân chuyển, bố trí cán bộ ở một số chức danh không phải là người địa phương sẽ giúp cho việc đánh giá cán bộ chính xác hơn vì dựa trên thực tế và hiệu quả công tác mới đánh giá đúng năng lực của cán bộ.

Năm là, thực hiện tốt cơ chế giám sát, tránh lạm dụng quyền lực cá nhân làm suy giảm vai trò của tập thể. Phát huy vai trò kiểm tra, giám sát của cán bộ đảng viên và nhân dân, thông qua lấy ý kiến góp ý, lấy phiếu tín nhiệm hằng năm đối với cán bộ lãnh đạo quản lý, trong đó có người đứng đầu các cấp./.

ST.

Phòng, chống tham nhũng cần gắn liền với công tác xây dựng Đảng

 Một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý mà Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) chỉ rõ là tham nhũng. Phòng, chống tham nhũng là một vấn đề được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, tệ tham nhũng vẫn đang là nỗi bức xúc của xã hội và là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ ta.

Tham nhũng không phải là hiện tượng mới xuất hiện. Nó ra đời và gắn liền với sự tồn tại, phát triển của nhà nước. Tham nhũng thực ra là một căn bệnh cố hữu của nhà nước. Mỗi khi đội ngũ cán bộ, công chức thoái hóa, biến chất, quyền lực nhà nước bị tha hóa thì những  kẻ tham nhũng trở thành thế lực thao túng đời sống xã hội. Cho đến nay, trên toàn thế giới, chưa phát hiện được quốc gia nào không có tham nhũng. Nghĩa là, nó đang hiện diện ở mọi quốc gia không phân biệt sắc tộc, văn hóa và chế độ xã hội. Tuy nhiên, tính chất, mức độ, loại hình tham nhũng ở mỗi quốc gia, mỗi khu vực là rất khác nhau và phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và chế độ chính trị.

Tham nhũng dù tiếp cận dưới góc độ nào thì vẫn là hành vi bất hợp pháp của người có trọng trách trong bộ máy công quyền nhằm trục lợi cá nhân. Rõ ràng, chủ thể tham nhũng phải là người có chức, có quyền, có vị thế trong hệ thống quyền lực công; mục đích tham nhũng là nhằm mang lại lợi ích cho bản thân; hành vi tham nhũng là lợi dụng vị thế, quyền lực của mình để nhận hối lộ, đưa hối lộ, tham ô, chiếm đoạt hay sử dụng trái phép tài sản chung, gây ảnh hưởng, tạo áp lực, nhũng nhiễu, cửa quyền, bao che, cản trở, can thiệp...

Với mục đích và hành vi như thế, tham nhũng gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng cho mọi quốc gia không chỉ về kinh tế, đạo đức mà còn cả về chính trị, xã hội, an ninh; nhất là những nước nghèo. Vì vậy, nhiều quốc gia coi tham nhũng là một loại tội phạm nguy hiểm, một quốc nạn trực tiếp tàn phá sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, gây mất ổn định xã hội, đe dọa sự tồn vong của chế độ.

Ở Việt Nam, ngay từ những ngày đầu xây dựng chế độ mới, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm nhiều tới công tác phòng, chống tham nhũng và lãng phí. Vì vậy, trong nhiều thập niên, tệ tham nhũng chưa trở thành mối lo của xã hội ta. Tuy nhiên, thời gian gần đây, tham nhũng đang trở thành nỗi bức xúc của toàn xã hội. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, các diễn đàn của Quốc hội, tại các kỳ đại hội Đảng các cấp, nhiều người đã chỉ rõ sự phổ biến của tệ tham nhũng và phê phán gay gắt tệ tham nhũng, gọi tham nhũng là quốc nạn.

Nhận thức đúng những nguy cơ dẫn đến làm mất niềm tin của nhân dân, bất ổn định xã hội và đe dọa sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa, kịp thời phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân, Đại hội IX (tháng 4-2001) của Đảng vạch rõ: “Hiện nay, cán bộ, đảng viên và nhân dân ta hết sức quan tâm đến cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Nạn tham nhũng diễn ra nghiêm trọng, kéo dài gây bất bình trong nhân dân và là một nguy cơ đe dọa sự sống còn của chế độ ta. Phải tăng cường về tổ chức và cơ chế, tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị, ở các cấp, các ngành, từ trung ương đến cơ sở... Xử lý nghiêm minh theo pháp luật và Điều lệ Đảng những cán bộ, đảng viên, công chức ở bất cứ cấp nào, lĩnh vực nào lợi dụng chức quyền để tham nhũng”, và “Nghiêm trị những kẻ tham nhũng, vô trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng; người lãnh đạo cơ quan để xảy ra tham nhũng cũng phải bị xử lý về trách nhiệm. Bảo vệ những người kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng; khen thưởng người phát hiện đúng những vụ tham nhũng”(1).

Triển khai những tư tưởng quan trọng của Đại hội IX của Đảng về chống tham nhũng, kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Phòng, chống tham nhũng vào ngày 29-11-2005, được Chủ tịch nước ký Lệnh và có hiệu lực từ ngày 1-6-2006. Luật Phòng, chống tham nhũng gồm 8 chương với 92 điều(2). Đây là bộ luật khá toàn diện, đầy đủ các khía cạnh pháp luật xung quanh vấn đề phòng, chống tham nhũng ở nước ta; đồng thời, đã thể hiện được những tư tưởng cơ bản và quyết tâm phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta.

Mặc dù, công tác phòng, chống tham nhũng đã có sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và sự quan tâm của toàn xã hội nhưng tình trạng tham nhũng vẫn chưa được ngăn chặn, không giảm mà có xu hướng tăng. Đặc biệt, một loạt vụ án tham nhũng lớn được công luận phát hiện chưa được điều tra và xét xử kịp thời... Trước thực trạng đó, dư luận trở nên hết sức bức xúc và hoài nghi. Nhiều ý kiến cho rằng, chống tham nhũng chủ yếu mang tính hình thức, trên giấy tờ, trong các cuộc họp, hô hào khẩu hiệu; xử lý tham nhũng thiếu nghiêm minh, bao che, chạy tội, nể nang, mang tính nội bộ, không công khai, không minh bạch, không bình đẳng; thậm chí, còn có “vùng cấm”, “vùng an toàn” cho “quan tham”...

Trước thực trạng cấp bách đó, Đại hội X (tháng 4-2006) của Đảng chỉ rõ: “Tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí là đòi hỏi bức xúc của xã hội, là quyết tâm chính trị của Đảng ta, nhằm xây dựng một bộ máy lãnh đạo và quản lý trong sạch, vững mạnh, khắc phục một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta...

Sắp tới, phải thi hành một cách kiên quyết và đồng bộ hệ thống các biện pháp phòng, chống tham nhũng, lãng phí,... Khẩn trương và nghiêm chỉnh thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng...; bổ sung, sửa đổi Luật Khiếu nại và tố cáo. Xử lý kiên quyết, kịp thời, công khai những người tham nhũng bất kể ở chức vụ nào, đương chức hay đã nghỉ hưu, tịch thu, sung công tài sản có nguồn gốc từ tham nhũng; những người bao che cho tham nhũng, hoặc lợi dụng việc tố cáo tham nhũng để vu khống, làm hại người khác, gây mất đoàn kết nội bộ; có cơ chế khuyến khích và bảo vệ những người tích cực đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực”(3). Đại hội X khẳng định: “Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng, nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Các cấp ủy và tổ chức đảng phải nhận thức sâu sắc tính cấp thiết, lâu dài, phức tạp và khó khăn của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; có quyết tâm chính trị cao, đấu tranh kiên quyết, kiên trì, liên tục, có hiệu quả từ Trung ương đến cơ sở, trong Đảng, Nhà nước và toàn xã hội”(4).

Cụ thể hóa những tư tưởng quan trọng của Đại hội X về phòng, chống tham nhũng, Hội nghị Trung ương 3 (khóa X) đã tập trung thảo luận và ra Nghị quyết Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Hội nghị nhận định: “... cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí còn nhiều hạn chế, khuyết điểm, hiệu quả thấp. Tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta”. Hội nghị chỉ rõ 4 nguyên nhân dẫn đến những yếu kém này; nêu rõ mục tiêu của phòng, chống tham nhũng là: “Ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí; tạo bước chuyển biến rõ rệt để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội; củng cố lòng tin của nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính”(5). Đồng thời, Hội nghị cũng nêu rõ 5 quan điểm chỉ đạo và 10 chủ trương, giải pháp lớn nhằm thúc đẩy cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí bước vào giai đoạn mới quyết liệt và triệt để hơn.

Hiện thực hóa những tư tưởng cơ bản của Đại hội X và triển khai Nghị quyết Trung ương 3 về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, ngày 28-8-2006, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 1039/2006/NQ-UBTVQHXI về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1009/2006 về nhân sự Ban Chỉ đạo. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ trực tiếp làm Trưởng ban, Phó Thủ tướng là Phó trưởng ban và các ủy viên gồm: Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo (thường trực), Tổng Thanh tra Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Phó Ban Nội chính Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Tiếp đó, ngày 22-9-2006, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Nghị định số 107/2006, quy định xử lý trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong đơn vị do mình quản lý, phụ trách; ngày 5-10-2006, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 1046/2006/NQ-UBTVQH XI phê chuẩn Quyết định số 121/QĐ-VKSNDTC/V9 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về việc thành lập các đơn vị mới của Viện, trong đó có Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án tham nhũng; ngày 31-10-2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1424/QĐ-TTg thành lập Cục Chống tham nhũng thuộc Thanh tra Chính phủ; ngày 13-11-2006, Bộ trưởng Bộ Công an đã ký Quyết định số 1816 thành lập Cục Cảnh sát điều tra tội phạm tham nhũng; ngày 1-2-2007, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã công bố Quyết định số 13/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thành lập Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng...   

Các tư tưởng chỉ đạo và sự triển khai công tác phòng, chống tham nhũng như nêu trên đã thể hiện quyết tâm cao của Đảng và Nhà nước ta trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng thời gian qua. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, mặc dù công tác phòng, chống tham nhũng đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng tình trạng tham nhũng vẫn mang tính phổ biến trong đời sống xã hội với rất nhiều biểu hiện khác nhau. Nhiều vụ án lớn gây chấn động xã hội không được xử lý nghiêm minh, dứt điểm đã gây nghi ngờ, mất lòng tin của nhân dân. Những vụ khiếu kiện đông người, kéo dài chủ yếu là do người dân bức xúc bởi sự không công khai, minh bạch và có dấu hiệu tham nhũng liên quan đến đất đai của một bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở địa phương mà chỉ có rất ít người bị xử lý kỷ luật; thậm chí, có người còn được thuyên chuyển công tác với chức vụ và quyền lực cao hơn. Tệ tham nhũng đã có nhiều biến thái tinh vi khác thường, nó không chỉ dừng lại ở biến tài sản công thành tài sản tư, không chỉ đơn thuần ở nhận và đưa hối lộ mà còn ở sự tham nhũng cả địa vị, chức vụ, quyền lực, vị thế, cơ hội và liên kết tạo lập, bảo vệ lợi ích nhóm. Sự biến hóa và phổ biến của tham nhũng trong xã hội ta thời gian qua đã không chỉ thực sự gây bức xúc trong xã hội mà còn tạo ra nỗi bất bình và thất vọng của không ít người.   

Nhận thức đúng tình trạng tham nhũng và thẳng thắn chỉ rõ thực trạng công tác phòng, chống tham nhũng thời gian qua, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (tháng 1-2011), Đảng ta  chỉ rõ: “Công tác phòng, chống tham nhũng chưa đạt được yêu cầu đề ra. Quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, gây bức xúc xã hội”. Đại hội xác nhận tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí là nghiêm trọng; đồng thời cảnh báo “Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những
tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng” (6).

Nhận rõ những hạn chế yếu kém trong công tác phòng, chống tham nhũng thời gian qua, nhận diện thực trạng tham nhũng là nghiêm trọng và thấy rõ những hậu quả khôn lường mà tham nhũng gây ra đối với đời sống xã hội và sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta hiện nay, Đảng ta nêu rõ: “Phòng và chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài. Mọi cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân từ trung ương đến cơ sở và từng đảng viên, trước hết là người đứng đầu phải gương mẫu thực hiện và trực tiếp tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Tiếp tục hoàn thiện thể chế và đẩy mạnh cải cách hành chính phục vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tập trung vào các lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng, lãng phí. Nghiên cứu phân cấp, quy định rõ chức năng cho các ngành, các cấp trong phòng, chống tham nhũng... Thực hiện chế độ công khai, minh bạch về kinh tế, tài chính trong các cơ quan hành chính, đơn vị cung ứng dịch vụ công, doanh nghiệp nhà nước. Công khai, minh bạch về cơ chế, chính sách, các dự án đầu tư, xây dựng cơ bản, mua sắm từ ngân sách nhà nước, huy động đóng góp của nhân dân, quản lý và sử dụng đất đai, tài sản công, công tác tiếp nhận, bổ nhiệm cán bộ. Thực hiện có hiệu quả việc kê khai và công khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức theo quy định. Cải cách chính sách tiền lương, thu nhập, chính sách nhà ở bảo đảm cuộc sống cho cán bộ, công chức để góp phần phòng, chống tham nhũng. Hoàn thiện các quy định trách nhiệm của người đứng đầu khi để cơ quan, tổ chức, đơn vị xảy ra tham nhũng, lãng phí. Xử lý đúng pháp luật, kịp thời, công khai cán bộ tham nhũng; tịch thu, sung công tài sản tham nhũng, tài sản có nguồn gốc từ tham nhũng... Có cơ chế khuyến khích và bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đồng thời kỷ luật nghiêm những người bao che, cố tình ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí hoặc lợi dụng việc tố cáo tham nhũng để vu khống, làm hại người khác, gây mất đoàn kết nội bộ. Tôn vinh những cá nhân liêm chính. Tổng kết, đánh giá cơ chế và mô hình tổ chức cơ quan phòng, chống tham nhũng để có chủ trương, giải pháp phù hợp”(7).

Những tư tưởng cơ bản của Đại hội XI nêu trên cho thấy, sự nhất quán và quyết tâm chính trị cao độ của Đảng ta về phòng, chống tham nhũng trong giai đoạn hiện nay. Đặc biệt, Đảng ta đã chỉ rõ, do tính chất phức tạp và tinh vi của hành vi tham nhũng nên phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài; mọi cán bộ lãnh đạo của cả hệ thống chính trị và từng đảng viên đều phải tích cực tham gia; người đứng đầu phải gương mẫu thực hiện và trực tiếp tham gia cuộc đấu tranh này.

Để cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng đạt hiệu quả phải hoàn thiện thể chế và cải cách hành chính theo hướng phục vụ công tác phòng, chống tham nhũng. Quy định rõ chức năng cho các ngành, các cấp trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Cải cách chế độ tiền lương, thu nhập, chính sách nhà ở phù hợp để góp phần phòng, chống tham nhũng. Hoàn thiện các quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị xảy ra tham nhũng. Xây dựng các chế tài xử lý những tổ chức, cá nhân gây thất thoát, lãng phí lớn tài sản của Nhà nước, của nhân dân;...

Để kịp thời phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng cần: Chú trọng các biện pháp phòng ngừa tham nhũng; thực hiện chế độ công khai, minh bạch về kinh tế, tài chính trong các cơ quan hành chính, đơn vị cung ứng dịch vụ công, doanh nghiệp nhà nước; công khai, minh bạch về cơ chế, chính sách, các dự án đầu tư, xây dựng cơ bản, mua sắm từ ngân sách nhà nước…; công khai, minh bạch trong công tác cán bộ, tiếp nhận và bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo; thực hiện có hiệu quả việc kê khai và công khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức…

Cùng với các giải pháp nêu trên, cần thực hiện những biện pháp quyết liệt trong quá trình đấu tranh phòng, chống tham nhũng: Truy xét trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị xảy ra tham nhũng; xử lý đúng pháp luật, kịp thời, công khai cán bộ tham nhũng; tịch thu, sung công tài sản tham nhũng và có nguồn gốc từ tham nhũng; kỷ luật nghiêm những người bao che, cố tình ngăn cản việc chống tham nhũng; kỷ luật nghiêm những người lợi dụng việc tố cáo tham nhũng để vu khống, làm hại người khác, gây mất đoàn kết nội bộ...

Đồng thời, với những quan điểm, giải pháp và biện pháp nêu trên để cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong điều kiện hiện nay ngày càng đi vào chiều sâu và đạt hiệu quả xã hội, cần: Có cơ chế khuyến khích và bảo vệ những người đấu tranh chống tham nhũng; tôn vinh những tấm gương liêm chính; tiến hành tổng kết, đánh giá cơ chế và mô hình tổ chức cơ quan phòng, chống tham nhũng để có chủ trương, giải pháp phù hợp...

Có thể khẳng định, với những nội dung nêu trên, Đại hội XI của Đảng đã cho thấy sự nhất quán trong kế thừa, sự sáng tạo trong đề xuất những giải pháp và biện pháp mới, phù hợp, và sự đúc kết một cách sâu sắc các quan điểm, tư tưởng về công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng thời gian qua. Điều này không chỉ thể hiện quyết tâm chính trị sắt đá của Đảng, mà còn cho thấy những phương hướng, giải pháp và biện pháp được nêu ra là hết sức cụ thể, quyết liệt nhằm vừa phòng ngừa, ngăn chặn, vừa đấu tranh, xử lý kiên quyết và nghiêm khắc đối với mọi hành vi, mọi biểu hiện tham nhũng. Sự biện chứng của các giải pháp và biện pháp vừa phòng, vừa chống tham nhũng là vì phòng là để chống và chống là để phòng. Thực tế là, trong xã hội ta hiện nay tham nhũng đã trở nên phổ biến và đang đe dọa sự tồn vong của chế độ, là nỗi bức xúc của cả xã hội, vì vậy, hơn lúc nào hết, vấn đề chống tham nhũng phải được đặt lên hàng đầu. Do đó, những giải pháp, biệp pháp quyết liệt, những chỉ dẫn cụ thể trong xử lý nghiêm khắc các đối tượng tham nhũng, bao che tham nhũng là phù hợp, kịp thời và hết sức cần thiết.

Thực hiện nghiêm túc, đạt hiệu quả cao những quan điểm, biện pháp phòng, chống tham nhũng được Đại hội XI của Đảng nêu ra chắc chắn sẽ tạo ra một bước ngoặt trong công tác phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, tìm hiểu quan điểm của Đảng về phòng, chống tham nhũng thời gian qua, cũng cho thấy, mặc dù Đảng đã nhận diện đúng hiện tượng tham nhũng, đã chỉ ra đúng thực trạng, nguyên nhân và những nguy hại mà nó gây ra cho xã hội và chế độ; đã đề ra và thực hiện nhiều chương trình, kế hoạch, nhiều biện pháp phù hợp và kiên quyết để kịp thời ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tham nhũng; quyết tâm chính trị của Đảng là rất cao, chỉ đạo của Đảng là quyết liệt và hành động của Đảng là kiên quyết, không khoan nhượng, thế nhưng, như Đảng ta khẳng định, công tác phòng, chống tham nhũng cho đến nay vẫn chưa đạt yêu cầu đề ra. Quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng...

Thực tế là, hiện tượng tham nhũng gắn liền với những con người cụ thể, mà chỉ những người có chức, có quyền, có vị thế trong bộ máy công quyền mới có điều kiện thực hiện hành vi tham nhũng. Trong xã hội ta hiện nay, những người có chức, có quyền đa số là cán bộ, đảng viên, vì vậy, để phòng, chống tham nhũng có hiệu quả phải bắt đầu từ công tác cán bộ, từ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Vấn đề tham nhũng không nên chỉ khu biệt ở hành vi của cá nhân mà nó gắn chặt với đội ngũ cán bộ, công chức (nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý), gắn với các tổ chức, đơn vị công quyền cụ thể. Vì lẽ đó, tệ tham nhũng sẽ không được giải quyết một cách hiệu quả và triệt để nếu chúng ta chỉ dừng lại ở việc xử lý các cá nhân có hành vi tham nhũng riêng lẻ mà phải xem xét, xử lý cá nhân đó, hành vi đó từ chính tổ chức, đơn vị nơi cá nhân đó là một thành viên, một đại diện, thậm chí là người lãnh đạo. Vấn đề tham nhũng không phải là vấn đề chỉ của cá nhân người có hành vi tham nhũng mà nó liên quan đến tài sản công và quyền lực công, vì vậy nó cần được tiếp cận và xử lý dưới góc độ các quan hệ công quyền, dưới góc độ tổ chức, tập thể.  

Triển khai và phát triển những tư tưởng cơ bản của Đại hội XI về công tác cán bộ, công tác xây dựng Đảng và phòng, chống tham nhũng, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã ra Nghị quyết: Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay. Nghị quyết chỉ rõ thực trạng và nguyên nhân của những vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Nghị quyết khẳng định: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…”(8). Cùng với mục tiêu, phương châm, Nghị quyết cũng đề ra 4 nhóm giải pháp cơ bản.

Các nhóm giải pháp đó là: Nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tinh thần tiên phong, gương mẫu của cấp trên; nhóm giải pháp về tổ chức, cán bộ, sinh hoạt đảng; nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách; nhóm giải pháp về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Các nhóm giải pháp này gắn bó chặt chẽ với nhau và tạo thành một hệ thống đồng bộ nhằm trực tiếp hướng tới giải quyết những vấn đề cấp bách đang đặt ra đối với công tác xây dựng Đảng hiện nay. Các giải pháp này đều rất quan trọng nhưng trong đó đáng lưu ý nhất là nhóm giải pháp về tổ chức cán bộ, sinh hoạt đảng. Bởi vì trong đó bao hàm nhiều nội dung rất thiết thực gắn liền với công tác phòng, chống tham nhũng. Đó là vấn đề phát huy dân chủ trong sinh hoạt đảng, trong đấu tranh tự phê bình và phê bình; đó là vấn đề công tác cán bộ, như quy hoạch cán bộ, đánh giá, xử lý cán bộ yếu kém, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ; đó là vấn đề kiểm tra, giám sát cán bộ; đó là vấn đề phòng, chống quan liêu, mệnh lệnh, tham nhũng, lãng phí, đặc quyền, đặc lợi...

Với những nội dung nêu trên, rõ ràng, triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI), sẽ chẳng những “... tạo được sự chuyển biến rõ rệt, khắc phục được những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, nhằm xây dựng Đảng ta thật sự là đảng cách mạng chân chính, ngày càng trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin trong Đảng và nhân dân, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi chủ trương, nghị quyết của Đảng”(9) mà còn thực sự tạo ra một sự đột phá mạnh mẽ, một bước ngoặt mang ý nghĩa quyết định trong công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay./.

ST.