Thứ Năm, 21 tháng 12, 2023

Đảng Cộng sản Việt Nam - thành viên có trách nhiệm của phong trào cộng sản quốc tế

Trong sự nghiệp cách mạng của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn thể hiện tinh thần chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, đồng thời, xác định mình là một thành viên có trách nhiệm với phong trào cộng sản quốc tế, luôn sẵn sàng hợp tác, phối hợp với tất cả các đảng cộng sản, các phong trào tiến bộ xã hội trên thế giới, cùng đấu tranh vì mục tiêu chung của thời đại.

Tuy ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn, hình thức và đặc điểm của trách nhiệm đó thể hiện ở những mức độ khác nhau, song, sự đoàn kết, hợp tác trên tinh thần đồng chí anh em, thủy chung trước sau như một với các đảng cộng sản và công nhân, các đảng cánh tả, các phong trào độc lập dân tộc, phong trào tiến bộ xã hội luôn nhất quán xuyên suốt trong quá trình cách mạng Việt Nam từ trước đến nay, và được xác định như một nguyên tắc cốt yếu trên mặt trận đối ngoại của Đảng.

1. Quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với phong trào cộng sản quốc tế

Là một thành viên của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Đảng ta luôn nhất quán trong quan điểm, đường lối và có những hành động tích cực, cụ thể, góp phần hiệu quả vào việc tăng cường đoàn kết của phong trào trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lê-nin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, không ngừng tăng cường sự hợp tác giữa các đảng anh em trong cuộc đấu tranh vì những mục tiêu chung là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Trước đây, khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô chưa tan rã, Đảng ta quan hệ chủ yếu với các đảng cộng sản và công nhân, các đảng cánh tả theo khuynh hướng giải phóng dân tộc; ưu tiên cao nhất là quan hệ với Đảng Cộng sản ở các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa như: Đảng Cộng sản Liên Xô, Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Đảng Nhân dân Cam-pu-chia và các đảng cộng sản, công nhân cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa là thành viên Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV).

Sau Chiến tranh lạnh, sớm nhận thức được tính tất yếu của xu thế toàn cầu hóa, ngay từ Đại hội VII (năm 1991), bên cạnh việc tiếp tục ủng hộ và tăng cường đoàn kết, hợp tác với các đảng cộng sản và công nhân ở các nước bạn bè truyền thống, các lực lượng đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, Đảng ta đã chủ động, tích cực mở rộng hoạt động đối ngoại, "sẵn sàng thiết lập và mở rộng quan hệ với các đảng xã hội - dân chủ, các phong trào dân chủ và tiến bộ trên thế giới" (1). Cùng với việc không ngừng mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta luôn nêu cao ý thức trách nhiệm phải thường xuyên đóng góp tích cực vào công cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong khi mở rộng hoạt động đối ngoại, tranh thủ mọi điều kiện quốc tế thuận lợi để tiến hành công cuộc đổi mới và đã đạt được những thành tựu to lớn, "chúng ta vẫn thực hiện nhất quán chủ trương đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào độc lập dân tộc, phong trào không liên kết, với các lực lượng hòa bình tiến bộ khác trên thế giới" (2).

Nghị quyết Đại hội VII của Đảng nhấn mạnh: "Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển" (3), đến Hội nghị Trung ương 3 khóa VII, Đảng ta đã cụ thể hơn trong công tác đối ngoại bằng việc sẵn sàng "mở rộng quan hệ với các nước tư bản phát triển, với các nước khác và các tổ chức quốc tế" (4). Đồng thời Đảng cũng xác định: "Phát triển kinh tế thị trường, mở rộng quan hệ quốc tế là tất yếu cần thiết" (5). Lúc này, mục tiêu "hoà bình và phát triển" trở thành "chuẩn mực trong hoạt động quốc tế" của Việt Nam, và, những chuẩn mực này phục vụ lợi ích cao nhất của dân tộc ta hiện nay là "nhanh chóng ra khỏi khủng hoảng, giữ vững và tăng cường ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, làm cho dân giàu, nước mạnh, bảo vệ vững chắc độc lập và tự do của Tổ quốc. Lợi ích đó phù hợp với lợi ích độc lập dân tộc và tiến bộ của nhân dân các nước trên thế giới" (6). Theo đó, công tác đối ngoại phải phục vụ lợi ích đó của dân tộc; đấy cũng là cách tốt nhất để Việt Nam thực hiện chủ nghĩa quốc tế theo khả năng thực tế của mình và phù hợp với sự chuyển biến của tình hình thế giới. Nghị quyết của Hội nghị này còn xác định: "tư tưởng chỉ đạo chính sách đối ngoại là giữ vững nguyên tắc vì độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội; đồng thời phải rất sáng tạo, năng động, linh hoạt, phù hợp với vị trí, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của nước ta cũng như diễn biến của tình hình thế giới và khu vực, phù hợp với đặc điểm từng đối tượng ta có quan hệ". Một trong bốn phương châm xử lý các mối quan hệ đối ngoại là "Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, kết hợp với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng". Như vậy, cho dù hoàn cảnh thay đổi, đòi hỏi phải có phương thức, đối sách phù hợp, song Đảng ta lúc nào cũng thể hiện tinh thần quốc tế vô sản cao cả, trước sau như một, đều xác định lợi ích dân tộc bao giờ cũng phải hài hòa với lợi ích của nhân loại yêu chuộng hòa bình thế giới; luôn luôn vì lợi ích chung của phong trào cộng sản quốc tế.

Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển từ Đại hội VII, bên cạnh việc tăng cường hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực, sợi chỉ đỏ xuyên suốt các kỳ Đại hội VIII (năm 1996), Đại hội IX (năm 2001) và Đại hội X (năm 2006) là: củng cố, phát triển quan hệ với các đảng cộng sản và công nhân, với các đảng cánh tả, các lực lượng cách mạng, độc lập dân tộc và tiến bộ; mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền và các đảng khác (7). Đến Đại hội XI (năm 2011), quan điểm trên của Đảng có sự điều chỉnh, bổ sung là “trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hợp tác và phát triển” (8).

Có thể thấy, từ chỗ chủ yếu chỉ có quan hệ với các đảng cộng sản và công nhân, các đảng cánh tả theo khuynh hướng cách mạng, giải phóng dân tộc, để phát huy hiệu quả hoạt động và phù hợp với điều kiện hoàn cảnh quốc tế mới, Đảng ta đã mở rộng và phát triển quan hệ với phong trào cộng sản quốc tế ở các mức độ khác nhau, với các đảng cánh tả, đảng cầm quyền và những chính đảng khác trên thế giới, không phân biệt quốc gia, châu lục, trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển với tinh thần, ý thức, trách nhiệm cao nhất.

2. Một số đóng góp của Đảng Cộng sản Việt Nam với phong trào cộng sản quốc tế

Sau Chiến tranh lạnh, chủ nghĩa xã hội hiện thực tạm thời lâm vào thoái trào, phong trào cộng sản quốc tế mất đi chỗ dựa quan trọng trong việc phối hợp hoạt động chung và tập hợp lực lượng giữa các đảng cộng sản. Trật tự thế giới thay đổi theo hướng bất lợi cho phong trào cộng sản thế giới nói chung và cách mạng Việt Nam nói riêng. Nhiều đảng cộng sản rơi vào tình trạng bế tắc trước việc xác định đường lối chiến lược, sách lược; có những đảng bị phân hóa hoặc tê liệt về tổ chức; một số đảng đã để mất chính quyền; có những đảng tự giải thể hoặc đứng trước nguy cơ tan rã, thậm chí trở thành đảng đối lập,... Lúc này, phong trào cộng sản quốc tế hoạt động trong những điều kiện hết sức khó khăn và đứng trước nhiều vấn đề nan giải cả về lý luận và thực tiễn.

Trong bối cảnh đó, mặc dù cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng, sự nghiệp cách mạng ở nhiều thời điểm gặp muôn vàn gập ghềnh, gian nan, song Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và mục tiêu chủ nghĩa xã hội, vượt lên trên những thử thách của thời cuộc, tiếp tục trụ vững và lãnh đạo nhân dân, đưa cách mạng Việt Nam từng bước vượt qua sóng gió, vững bước trên con đường đổi mới và đạt được những thành tựu to lớn. Điều này đã khẳng định được xu thế phát triển hợp quy luật của Việt Nam trong thời đại ngày nay, đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thu hút được sự quan tâm sâu sắc của các đảng cộng sản trên thế giới. Đây là một thành công nổi bật của Đảng ta, được các đảng cộng sản trên thế giới thừa nhận và coi đó là một đóng góp không nhỏ đối với phong trào cộng sản quốc tế trong nỗ lực vượt qua cuộc khủng hoảng sau Chiến tranh lạnh.

Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển theo phương châm "Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, kết hợp với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng" từ Đại hội VII, hơn hai thập niên qua, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng mở rộng các mối quan hệ quốc tế với các chính đảng ở các nước, tích cực tham gia nhiều diễn đàn đa phương chính đảng và có những đóng góp ý kiến tại các cuộc gặp gỡ quốc tế thường niên giữa các đảng cộng sản quốc tế, các diễn đàn, hoặc các cuộc hội thảo khoa học quốc tế,... của các lực lượng cánh tả Mỹ - La-tinh và thế giới. Quá trình mở rộng quan hệ quốc tế của Đảng ta thể hiện đậm nét qua việc triển khai thực hiện các chủ trương lớn của Nghị quyết các Đại hội Đảng. Đặc biệt, trước những âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch, với tinh thần trách nhiệm rất cao, Đảng ta đã giao nhiệm vụ cho Ban Đối ngoại Trung ương thường xuyên "nghiên cứu đề xuất hình thức trao đổi với các Đảng Cộng sản, các nước xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực đấu tranh chống âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội" (9),... Thông qua các hình thức này, Đảng ta tỏ rõ quan điểm, lập trường đối với nhiều vấn đề cấp bách đang đặt ra trước phong trào cộng sản quốc tế và lực lượng cánh tả thế giới thời kỳ sau Chiến tranh lạnh.

Cùng với những vấn đề lý luận mang tính phổ biến, việc Đảng ta triển khai nghiên cứu và làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận mang tính đặc thù đặt ra đối với cách mạng Việt Nam như: về thời kỳ quá độ và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước có xuất phát điểm thấp như Việt Nam; về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; về kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng ta đối với công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, trao đổi kinh nghiệm về mở rộng quan hệ đối ngoại theo phương châm hữu nghị và hợp tác,... là những đóng góp rất đáng ghi nhận, được phong trào cộng sản quốc tế đánh giá là một trong những kinh nghiệm quý báu mà các đảng cộng sản và công nhân trên thế giới có thể tham khảo, vận dụng vào điều kiện cụ thể của nước mình. Điều này còn được minh chứng bằng việc số lượng đại biểu của các đảng cộng sản tham dự ngày càng tăng ở các kỳ Đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ Đại hội VII (năm 1991) đến Đại hội XI (năm 2011).

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nêu cao tinh thần đoàn kết anh em với các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi, Mỹ La-tinh; với Phong trào không liên kết; với các lực lượng cách mạng, độc lập dân tộc và tiến bộ; mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền và các đảng khác. Việc tham dự và đóng góp ý kiến của đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam tại các đại hội của đảng cộng sản và công nhân ở nhiều nước khác, cũng là một biểu hiện cụ thể tinh thần chủ nghĩa quốc tế và trách nhiệm của Đảng ta - với tư cách là một thành viên của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, trong giai đoạn hiện nay.

Trong quá trình đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng tổng kết thực tiễn, đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển lý luận, trước hết là lý luận Mác - Lê-nin. Bên cạnh đó, Đảng ta còn tập trung làm rõ nhiều vấn đề lý luận mà thực tiễn cuộc sống đang đặt ra như: phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xác định đúng vai trò của nhà nước trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và hội nhập kinh tế quốc tế; mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, dân tộc và quốc tế; sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong thời đại kinh tế tri thức và trong xu thế toàn cầu hoá,... Từ đó, xây dựng đường lối chiến lược, sách lược cho thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thích ứng với sự biến đổi của tình hình thế giới và phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Trong đổi mới tư duy lý luận, Đảng ta vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đề ra cương lĩnh, đường lối, chủ trương đúng đắn phù hợp với điều kiện cách mạng Việt Nam, trong đó, đáng chú ý là quan niệm về 6 đặc trưng của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có ý nghĩa quan trọng, mang tính đột phá. Mặt khác, Đảng ta xác định rõ, trong điều kiện còn những hạn chế về tiền đề kinh tế, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta tất yếu "phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ" (10). Mục tiêu phấn đấu của nhân dân ta trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, được Đảng ta diễn đạt trong giai đoạn hiện nay là xây dựng một nước Việt Nam "dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh". Đây cũng là sự bổ sung, không ngừng làm phong phú thêm kho tàng lý luận Mác - Lê-nin.

Có thể thấy, quá trình mở rộng các mối quan hệ quốc tế của Đảng ta trong những năm đổi mới thể hiện rõ vị thế của Đảng ta là một đảng cộng sản cầm quyền, luôn vì lợi ích của đất nước. Với vị thế đó, một mặt, Đảng ta tăng cường quan hệ truyền thống với các đảng cộng sản và công nhân là các đảng cùng chung ý thức hệ; mặt khác, Đảng ta cũng mở rộng quan hệ với các chính đảng khác trên thế giới, không để ý thức hệ trở thành rào cản trong quan hệ với các đảng theo các khuynh hướng chính trị khác nhau, nhất là với các đảng cầm quyền, các đảng có ghế trong Quốc hội/Nghị viện các nước là các đảng có nhiều ảnh hưởng chính trị đến quan hệ của các nước với Việt Nam. Đến nay, Đảng ta có quan hệ ở các mức độ khác nhau với 206 đảng, ở 114 nước. Trong đó có 94 đảng cộng sản, công nhân, 46 đảng cầm quyền.

Bên cạnh việc mở rộng quan hệ song phương với các chính đảng, Đảng ta đã tích cực tham gia các diễn đàn đa phương chính đảng, cử đoàn tham dự các cuộc gặp thường niên như: Cuộc gặp quốc tế các đảng cộng sản và công nhân (IMCWP), Hội thảo quốc tế các đảng cộng sản (ICS), Diễn đàn Xao Pao-lô (SPF), Hội thảo quốc tế “Các đảng chính trị và một xã hội mới”, và nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế khác. Đặc biệt, Đảng ta đã chủ động tham gia Hội nghị quốc tế các chính đảng châu Á (ICAPP) ngay từ khi Hội nghị mới được thành lập và trở thành thành viên của Ủy ban Thường trực tại Hội nghị toàn thể ICAPP-3 (tháng 9-2004), sau đó tiếp tục được bầu lại tại các kỳ hội nghị tiếp theo với những đóng góp thiết thực đối với các hoạt động của ICAPP. Điều đó cho thấy sự tín nhiệm và đánh giá cao của các đảng chính trị đối với vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam tại diễn đàn này.

Những thông tin do đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam giới thiệu, chia sẻ tại các diễn đàn nói trên đã giúp các đảng bạn hiểu đúng và rõ hơn về đường lối đổi mới và phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Nhiều đảng đánh giá cao sự phát triển ổn định của Việt Nam trong bối cảnh quốc tế hiện nay cũng như thừa nhận và ủng hộ đường lối phát triển kinh tế thị trường định trường xã hội chủ nghĩa của Việt Nam; coi đó là một đóng góp quý báu cả về lý luận và thực tiễn cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, góp phần khẳng định và tiếp tục phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong bối cảnh của thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, nhiều đảng cộng sản, đảng cánh tả mong muốn và đề nghị Đảng ta tăng cường các cuộc trao đổi song phương, cung cấp thông tin, tài liệu về thành tựu của công cuộc đổi mới ở Việt Nam; tìm hiểu kinh nghiệm đối ngoại của Việt Nam trong các vấn đề lớn của đất nước; đề nghị Việt Nam sớm đăng cai tổ chức cuộc gặp các đảng; mong muốn được trao đổi lý luận và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn giữa hai đảng; vận động Việt Nam ủng hộ mình trên các diễn đàn khu vực và quốc tế khác,...

Tuy điều kiện của mỗi nước, mỗi đảng cộng sản là không giống nhau, song những kết quả của sự tìm tòi, nghiên cứu lý luận và bài học rút ra từ thực tiễn của Đảng Cộng sản Việt Nam là những kinh nghiệm quý mà các đảng cộng sản có thể tham khảo hữu ích trong quá trình xây dựng đường lối chiến lược, sách lược cách mạng của mình. Đây được xem là một đóng góp đáng trân trọng vào kho tàng lý luận và tăng cường sức sống của chủ nghĩa xã hội, đồng thời, điều này còn có tác động không nhỏ đối với phong trào cộng sản quốc tế trong khúc quanh đầy biến cố phức tạp của phong trào thời kỳ sau Chiến tranh lạnh và trong bối cảnh trật tự thế giới đa cực hiện nay./.

ST.

Xây dựng đảng và nhà nước trong sạch gắn với đấu tranh chống tiêu cực - những chỉ dẫn của V. I. Lê-nin và giá trị thực tiễn hiện nay

Kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăng-ghen trong điều kiện lịch sử mới, V. I. Lê-nin đã có những đóng góp to lớn khi biến lý luận Chủ nghĩa Mác trở thành hiện thực sinh động bằng việc tổ chức xây dựng Đảng Bôn-sê-vich Nga và Nhà nước Xô-viết công - nông. Đó cũng là quá trình V. I. Lê-nin có những chỉ dẫn đặc biệt quan trọng đối với nhiệm vụ xây dựng đảng và nhà nước trong sạch gắn với đấu tranh chống tiêu cực.

Đây là điểm đặc sắc trong tư tưởng V. I. Lê-nin về xây dựng đảng và nhà nước kiểu mới của giai cấp vô sản - tư tưởng có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của chúng ta hiện nay.

Nhìn lại lịch sử có thể thấy, xây dựng đảng và nhà nước trong sạch gắn với đấu tranh chống tiêu cực là “sợi chỉ đỏ xuyên suốt”, là tư tưởng nhất quán của V. I. Lê-nin trong thực tiễn chỉ đạo, tổ chức xây dựng Đảng, Nhà nước Xô-viết ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng. Thực tế thì các hiện tượng tiêu cực luôn là một “nguy cơ tiềm ẩn”, một “ẩn họa” thường xuyên đe dọa các nhà nước cầm quyền, các chính đảng lãnh đạo, là yếu tố nội tại bên trong trực tiếp ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ. Với vai trò “tổng công trình sư” của Nhà nước Xô-viết, hơn ai hết V. I. Lê-nin nhận rõ điều đó. Vì vậy, Người luôn cảnh báo và thể hiện thái độ kiên quyết đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực để làm trong sạch nội bộ Đảng và bộ máy chính quyền. Điều này thể hiện khá rõ thông qua những bài nói, bài viết của V. I. Lê-nin. Trước hết, V. I. Lê-nin nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của việc đấu tranh chống tiêu cực, đó là cơ sở quan trọng đầu tiên để Đảng và Nhà nước giữ vững được vai trò lãnh đạo, tổ chức, quản lý xã hội trong điều kiện bước đầu xây dựng Nhà nước Xô-viết non trẻ.

Để đấu tranh chống tiêu cực có hiệu quả, việc đầu tiên đặt ra với mọi người đó là phải nhận biết được các hiện tượng tiêu cực. Bằng thực tiễn trải nghiệm qua phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, cùng với nhãn quan chính trị thiên tài của mình, V. I. Lê-nin đã chỉ dẫn những cơ sở để giúp chúng ta phân định chính xác giữa khuyết điểm với tiêu cực.

Theo V. I. Lê-nin, trong quá trình hoạt động thực tiễn, đặc biệt là trong xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước Xô-viết - nhà nước cách mạng kiểu mới chưa từng có tiền lệ trong lịch sử, mọi người đều có thể có khuyết điểm, hạn chế bởi đó là một quá trình khó khăn, phức tạp, vừa tiến hành xây dựng vừa rút kinh nghiệm từng bước. Song về bản chất, đó là những khuyết điểm, hạn chế có nguyên nhân từ nhận thức. Chỉ có những người thoái hóa, biến chất, những cá nhân suy thoái về phẩm chất đạo đức mới gây nên những tệ nạn tiêu cực trong Đảng và Nhà nước. Những khuyết điểm do nhận thức có thể khắc phục, sửa chữa dần dần cùng với công tác giáo dục, còn những hiện tượng tiêu cực thì cần phải đấu tranh lên án, phê phán và loại bỏ với thái độ kiên quyết, quyết liệt bởi chính những tệ nạn tiêu cực đó sẽ như một thứ “vi rút” nguy hiểm, sẽ nhanh chóng lây lan từ một người sang nhiều người, từ một cơ quan, tổ chức sang nhiều cơ quan, tổ chức,... Hệ quả tất yếu là làm suy thoái đội ngũ cán bộ, đảng viên, gây mất lòng tin của quần chúng nhân dân; làm suy giảm vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước.

Ngay từ năm 1918, V. I. Lê-nin đã chỉ rõ hàng loạt những hiện tượng tiêu cực đe dọa sự trong sạch của Đảng và Nhà nước Xô-viết. Đó là tệ nạn tham ô, tham nhũng, lãng phí (lãng phí thời gian, lãng phí tiền của), hối lộ, đút lót,... gắn với “những kẻ bất tài hoặc vô lương tâm trong số các thủ trưởng, chúng không phải không mong muốn trở thành những "ngôi sao" trong nghề ăn cắp của công” (1), trong đó nguy hiểm nhất là tình trạng quan liêu, cửa quyền cùng những biểu hiện phức tạp của nó,... Bên cạnh những biện pháp tuyên truyền, giáo dục, phòng ngừa tiêu cực thì cũng cần kiên quyết đấu tranh loại bỏ những hiện tượng tiêu cực bằng chính tinh thần tiền phong của người đảng viên và trách nhiệm của người cán bộ.

Đối với nhiệm vụ xây dựng Đảng, V. I. Lê-nin yêu cầu thường xuyên nêu cao trách nhiệm của mọi đảng viên, kiên quyết đấu tranh chống lại và khắc phục những hiện tượng tiêu cực; kiên quyết đuổi ra khỏi Đảng không chỉ những kẻ gian sảo, thoái hóa biến chất mà cả những kẻ thiếu năng lực không làm được việc. Phải thực hiện triệt để điều này mới có thể nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Trong xây dựng Nhà nước, Người cũng nhấn mạnh, kiên quyết đấu tranh chống mọi hiện tượng tiêu cực trong bộ máy chính quyền là tiền đề để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ sức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng, luôn luôn được quần chúng nhân dân tín nhiệm, ủng hộ.

Không dừng lại ở những bài nói, bài viết, V. I. Lê-nin còn thường xuyên có những chỉ dẫn kiên quyết đối với cuộc đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực trong đảng và nhà nước. Tháng 5-1918, trước việc tòa án nhân dân Mát-xcơ-va xử nhẹ một vụ án đút lót, hối lộ, V. I. Lê-nin đã chỉ đạo xử lý kiên quyết, dứt điểm theo tinh thần “đúng người, đúng tội”. V. I. Lê-nin không nhất trí với cách xử lý mà Người gọi là “pha trò, mềm mỏng” của cơ quan này. Người khẳng định: “Không xử bắn lũ ăn của đút lót, mà xử một cách pha trò, mềm mỏng nhẹ nhàng như vậy - đó là một điều xấu hổ cho những đảng viên cộng sản, cho những người cách mạng” (2). Tiếp đó, trong khi rút kinh nghiệm vụ án, V. I. Lê-nin đã trực tiếp yêu cầu các cán bộ tư pháp “Phải lập tức đề nghị một đạo luật để trừng trị những vụ hối lộ (ăn hối lộ, tặng hối lộ và những cách hối lộ khác), ít nhất cũng phải phạt 10 năm giam cầm và 10 năm khổ sai” (3).

Nghiên cứu những chỉ dẫn của V. I. Lê-nin, để chống lại và khắc phục các tệ nạn tiêu cực trong đảng và nhà nước, vấn đề quan trọng là cần tìm hiểu, phân tích, xác định đúng nguyên nhân của những tệ nạn tiêu cực đó. Thực tế cho thấy, những hiện tượng tiêu cực có thể là hệ quả của rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Có thể do nguyên nhân khách quan hoặc nguyên nhân chủ quan, có thể do nguyên nhân tư tưởng ý thức, do nguyên nhân tổ chức hoặc do những tác động của các yếu tố kinh tế, vật chất,... Vì vậy, muốn giải quyết dứt điểm tệ nạn tiêu cực, đòi hỏi chúng ta phải chủ động thực hiện đồng thời, tổng hợp nhiều biện pháp đồng bộ với tinh thần đấu tranh kiên quyết. V. I. Lê-nin yêu cầu, “tính toán tiền nong cho cẩn thận và thành thực, hãy chi tiêu tiết kiệm, đừng lười biếng, đừng tham ô, hãy triệt để tuân theo kỷ luật lao động” (4); đảng viên, công chức không được lười biếng, không ăn cắp của chung làm của riêng... Đó là “khẩu hiệu chủ yếu trước mắt” của mọi cán bộ, đảng viên. Người chỉ rõ, để đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực trong đảng và nhà nước “chỉ có cách là tổ chức nhau lại, tăng cường kỷ luật trong bản thân chúng ta, quét sạch ra khỏi hàng ngũ chúng ta tất cả những kẻ lười biếng, ăn bám, ăn cắp của công” (5).

Trong đấu tranh chống hiện tượng tiêu cực, theo chỉ dẫn của V. I. Lê-nin, cần nhấn mạnh và đề cao yếu tố nêu gương: Cấp trên làm gương cho cấp dưới, cơ quan trung ương làm gương cho cơ quan địa phương,... Từ đó, tạo sức mạnh thống nhất, đồng thuận để có thể đấu tranh có hiệu quả, loại bỏ những hiện tượng tiêu cực trong nội bộ đảng và nhà nước.

Xây dựng đảng và nhà nước trong sạch gắn với đấu tranh chống tiêu cực là nội dung quan trọng trong kho tàng tư tưởng lý luận vô giá mà V. I. Lê-nin đã để lại cho phong trào vô sản quốc tế. Đặt trong bối cảnh lịch sử cụ thể, đây là “hạt nhân cốt lõi” góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp giúp Nhà nước Xô-viết non trẻ đập tan âm mưu phản loạn của các thế lực cơ hội, phản động bên trong, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của 14 nước đế quốc Âu - Mỹ, bảo vệ những thành quả của Cách mạng Tháng Mười lịch sử.

Những nội dung chỉ dẫn của V. I. Lê-nin về xây dựng đảng và nhà nước trong sạch gắn với đấu tranh chống tiêu cực vẫn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa thời sự đối với sự nghiệp cách mạng của nước ta hiện nay. Nhìn lại quá trình đổi mới gần 30 năm qua, những thành tựu to lớn của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đạt được đã tạo cho đất nước thế và lực mới, kinh tế - xã hội đất nước có những thay đổi đáng kể, đời sống của nhân dân đã được cải thiện. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, thời cơ, vận hội mới thì nước ta vẫn đang đối diện với không ít nguy cơ, thách thức lớn đan xen nhau.

Như Đại hội XI của Đảng đã khẳng định, “tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng” (5). Hội nghị Trung ương 4 khóa XI cũng nhấn mạnh “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng” (6). Những hiện tượng tiêu cực trên đã và đang ảnh hưởng trực tiếp tới lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, là những mầm mống đe dọa sự đồng thuận xã hội, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước.

Quán triệt và vận dụng những chỉ dẫn của V. I. Lê-nin về xây dựng đảng và nhà nước trong sạch gắn với đấu tranh chống tiêu cực ở nước ta hiện nay là một trong những đòi hỏi mang tính cấp bách để củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với đội ngũ cán bộ, đảng viên. Từng cán bộ, đảng viên cần nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình, đấu tranh kiên quyết và có hiệu quả với các hiện tượng tiêu cực trong Đảng và Nhà nước. Phải xác định đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực trong Đảng và Nhà nước là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; trách nhiệm của các ngành, các tổ chức chính trị xã hội. Muốn thực hiện có chất lượng và hiệu quả cần tập trung triển khai một cách nghiêm túc từ Trung ương đến cơ sở. Những chỉ dẫn của V. I. Lê-nin, nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng và Nhà nước trong sạch gắn với đấu tranh chống tiêu cực là nhân tố quan trọng để chúng ta củng cố lòng tin của nhân dân, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong tình hình mới./.

ST.

Từ “Sửa đổi lối làm việc” đến “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”

Những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh dự liệu, tâm huyết, kiên quyết chỉ ra và nhấn mạnh phải “sửa đổi” trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” vẫn vẹn nguyên giá trị thời sự. Đặc biệt, những vấn đề lớn của công tác xây dựng Đảng mà Người nêu ra trong tác phẩm đã được Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI của Đảng kế thừa, bổ sung và phát triển phù hợp với điều kiện thực tế, đồng thời được cụ thể hóa trong 4 nhóm giải pháp nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.“Sửa đổi lối làm việc” để xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong thời kỳ kháng chiến

Tháng 10-1947, giữa những ngày Việt Bắc đang cùng đồng bào và chiến sĩ cả nước tập trung đánh bại cuộc hành quân chiến lược của thực dân Pháp hòng tiêu diệt “cơ quan đầu não” của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa; khi vận mệnh dân tộc ở vào thời khắc cam go nhất, đòi hỏi phải có sự đoàn kết, thống nhất của một đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh, với một đội ngũ cán bộ, đảng viên gương mẫu về đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, thì những trăn trở, những cảnh báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tổ chức, lề lối làm việc và những khuyết điểm, sai lầm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tổ chức bộ máy của Đảng và Chính phủ từng được chỉ rõ trong Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng (tháng 10-1945), Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ (tháng 3-1947), Thư gửi các đồng chí Trung Bộ (năm 1947),...  vẫn chưa được thực hiện triệt để. Dù bộn bề công việc, song trong tư tưởng của Người, xây dựng và chỉnh đốn Đảng luôn là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn, quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”. Khi ấy, Người đang ở làng Vang, xã Liên Minh, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

“Sửa đổi lối làm việc” là một tác phẩm quan trọng, ra đời trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thể hiện tư tưởng và lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đảng cầm quyền trong điều kiện vừa kháng chiến, vừa kiến quốc. Theo đó, phải sửa đổi để đổi mới trong tư tưởng, trong tổ chức bộ máy và trong cách làm việc của Đảng, của cán bộ, đảng viên trước tình hình mới. Trên tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, tìm ra nguyên nhân, biện pháp và cách thức tiến hành để cán bộ, đảng viên có tư tưởng, đạo đức và cách làm việc đúng hơn, khéo hơn, hiệu quả hơn; và nội dung cần phải sửa đổi là toàn bộ hoạt động của Đảng, của mỗi cán bộ, đảng viên từ nhận thức, tư tưởng đến chỉ đạo tổ chức thực hiện.

Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” đề cập đến 6 vấn đề lớn, vừa có tính lý luận, vừa có tính chỉ đạo thực tiễn sâu sắc về công tác xây dựng Đảng: 1- Phê bình và sửa chữa; 2- Mấy điều kinh nghiệm; 3- Tư cách và đạo đức cách mạng; 4- Vấn đề cán bộ; 5- Cách lãnh đạo; 6- Chống thói ba hoa. Đưa ra 6 vấn đề lớn về công tác xây dựng Đảng, trong điều kiện toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang tập trung tất cả nguồn sức mạnh vật chất và nội lực tinh thần để đánh bại cuộc tấn công của thực dân Pháp lên Việt Bắc; trong điều kiện Đảng phải khắc phục những nhược điểm, những chứng bệnh mới xuất hiện mà trước đó chưa xuất hiện hoặc chưa có điều kiện bộc lộ rõ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã, một mặt, khẳng định những nguy cơ thoái hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên và tác hại của nó đối với đảng cầm quyền; mặt khác, chỉ rõ nhiệm vụ vừa có tính cấp bách, vừa có tính thường xuyên, lâu dài là phải sửa đổi lối làm việc để chỉnh đốn lại Đảng, làm cho Đảng “mạnh khỏe, chắc chắn”, làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên xứng đáng với vai trò tiền phong và gắn bó mật thiết với nhân dân.

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ vạch ra những sai lầm, khuyết điểm, lệch lạc trong nhận thức, tư tưởng, trong phẩm chất đạo đức, lối sống và năng lực công tác của cán bộ, đảng viên, mà còn tập trung nêu rõ những biện pháp cần thiết để chữa trị những căn bệnh “nan y” này. Do đó, xuyên suốt và cốt lõi trong tác phẩm này đều là những vấn đề xoay quanh việc phải giáo dục, rèn luyện và xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có năng lực làm việc và tư cách đạo đức, thực sự là “công bộc” của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Đảng cũng là một thực thể xã hội, cán bộ, đảng viên của Đảng có nhiều ưu điểm và đạt nhiều thành tích, nhưng cũng có những khuyết điểm là: không giữ vững được tính cách mạng trong mỗi công việc của Đảng; thiếu chí công vô tư; không giữ được kỷ luật nghiêm từ cấp trên xuống cấp dưới; không gần dân, lắng nghe và gắn bó mật thiết với nhân dân, và nhất là không làm việc đến nơi đến chốn. Nguyên nhân của những khuyết điểm đó là do nhận thức, tư tưởng chưa đúng, mắc bệnh chủ quan, hẹp hòi, ưa dùng cánh hẩu, kéo bè kéo cánh, phá vỡ khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng, giữa Đảng và nhân dân; ưa ba hoa, nói dông dài, cẩu thả,...

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, những khuyết điểm đó sẽ được khắc phục bằng “phê bình và sửa chữa”. Nhưng vì “phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”(1), cho nên khi tiến hành tự phê bình và phê bình phải theo nguyên tắc “phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người”, để người bị phê bình “vui lòng nhận xét để sửa đổi, không nên vì bị phê bình mà nản chí, hoặc oán ghét”(2). Nhấn mạnh tầm quan trọng và tính tất yếu của việc phải luôn tự phê bình và phê bình, coi đó là một nội dung quan trọng của quy luật phát triển Đảng, Người viết: “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó... rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(3). Và chính Người là một mẫu mực của tinh thần tự phê bình và phê bình trong mọi thời điểm cách mạng.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, sửa đổi lối làm việc sẽ giúp giải quyết những tồn tại trong lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn của một đảng cầm quyền, được chỉ rõ trong “Mấy điều kinh nghiệm”, “Vấn đề cán bộ”, “Cách lãnh đạo” và “Chống thói ba hoa”, để đội ngũ cán bộ, đảng viên làm việc đúng hơn, khéo hơn, đạt hiệu quả hơn. Muốn vậy, cán bộ, đảng viên khi tự phê bình và phê bình phải “biết cách phê bình sáng suốt, khôn khéo”; khi chỉ đạo thực tiễn, một mặt, “phải biết khéo lợi dụng kinh nghiệm”; mặt khác, “phải khéo dùng những cách thức thi hành cho hoạt bát”; khi làm công tác cán bộ, không chỉ coi “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”, mà còn phải biết “khéo dùng cán bộ”, “đối với cán bộ khéo”, để trong mọi hoàn cảnh, biết “lãnh đạo khéo, tài nhỏ hóa ra tài to”, các công việc sẽ thuận lợi và có kết quả tốt. Không chỉ nhạy bén trước tình hình, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn trăn trở với cách làm việc xa dân, coi thường dân chúng, quen “trông từ trên xuống”, không bao giờ chịu “thấy từ dưới lên” của một bộ phận cán bộ lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Cách làm việc đó rất nguy hại và ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, vì thế,  Người yêu cầu: “Những người mắc bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, không làm được việc, phải thải đi”(4) và những người cậy mình là “công thần cách mạng”, “hạng người nói suông” thì mời “các ông đó xuống công tác hạ tầng, khép họ vào kỷ luật...”(5).

Cách đây 65 năm, những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Sửa đổi lối làm việc” có ý nghĩa quan trọng, rất đúng và rất trúng để thực hiện nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Thực hiện nghiêm túc 6 vấn đề lớn đã nêu trong tác phẩm và quán triệt nguyên tắc “Sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”(6) sẽ góp phần tăng cường bản chất cách mạng, nâng cao năng lực lãnh đạo và phẩm chất đạo đức của cán bộ, đảng viên; củng cố được lực lượng, siết chặt được khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng, để Đảng hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc và
nhân dân.

“Sửa đổi lối làm việc” để thực hiện Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”

Không chỉ được thực hiện nghiêm túc, kịp thời trong toàn Đảng vào thời điểm đó, cùng với thời gian, “Sửa đổi lối làm việc” đã tiếp tục được thực hiện, để xây dựng Đảng ta luôn trong sạch, vững mạnh, thông qua Chuyên mục “Sửa đổi lối làm việc” trên Báo Sự Thật. Tuy nhiên, cùng với thời gian cũng như những thay đổi của tình hình thực tiễn, những biểu hiện thoái hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên dường như không giảm, trái lại, ngày càng gia tăng và trở thành nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ.

Để đáp ứng kịp thời và phù hợp với tâm nguyện của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta; tiếp tục thực hiện những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc tất yếu phải sửa đổi lối làm việc để xây dựng và chỉnh đốn Đảng, tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, Đảng ta đã thông qua Nghị quyết số 12-NQ/TW “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật về nguy cơ, thực trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên, Nghị quyết số 12-NQ/TW nêu rõ: “Bên cạnh kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Nổi lên một số vấn đề cấp bách sau đây:

Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc,...

Đội ngũ cán bộ cấp trung ương, cấp chiến lược rất quan trọng nhưng chưa được xây dựng một cách cơ bản. Công tác quy hoạch cán bộ mới tập trung thực hiện ở địa phương, chưa thực hiện được ở cấp trung ương, dẫn đến sự hẫng hụt, chắp vá, không đồng bộ và thiếu chủ động trong công tác bố trí, phân công cán bộ. Một số trường hợp đánh giá, bố trí cán bộ chưa thật công tâm, khách quan, không vì yêu cầu công việc, bố trí không đúng sở trường, năng lực, ảnh hưởng đến uy tín cơ quan lãnh đạo, sự phát triển của ngành, địa phương và cả nước.

Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trên thực tế ở nhiều nơi rơi vào hình thức do không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân; khi sai sót, khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm...”(7).

Từ thực tế, có thể khẳng định, nếu không có những giải pháp thích hợp để nghiêm túc thực hiện, nhằm tạo sự chuyển biến thật sự; nếu tình trạng đó cứ kéo dài, trở thành căn bệnh “trầm kha” thì lòng tin của nhân dân đối với Đảng sẽ không còn và khi đó, nguồn sức mạnh nội lực của Đảng cũng vì thế mà giảm sút. Vì vậy, để “lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt ba vấn đề cấp bách”(8) mà Nghị quyết số 12-NQ/TW đã đề ra, làm cho Đảng mạnh, vững, trong sạch, xứng đáng với vai trò tiền phong như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng mong muốn, căn dặn, thì tất yếu phải sửa đổi lối làm việc.

Có thể nói, không chỉ đưa ra Nghị quyết số 12-NQ/TW đúng và trúng, kịp thời và hoàn chỉnh, việc Đảng tổ chức một hội nghị toàn quốc nhằm quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết đó cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ Trung ương đến địa phương còn là một sửa đổi có tính đột phá. Nghị quyết đã nhận được sự đồng thuận, sự ủng hộ của toàn Đảng, toàn dân. Việc triển khai thực hiện Nghị quyết, nhất là triển khai thực hiện các nhóm giải pháp của Nghị quyết, được quán triệt sâu rộng, cẩn trọng, nghiêm túc, có trọng điểm từ Trung ương đến chi bộ, từ Bộ Chính trị, Ban Bí thư đến các cấp ủy cơ sở và đến từng cán bộ, đảng viên. Qua đó, nhất định sẽ góp phần tạo được sự chuyển biến sâu sắc từ nhận thức đến hành động trong toàn Đảng và xã hội. Đặc biệt, những giải pháp nêu trong Nghị quyết đều sát với những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Sửa đổi lối làm việc”, đó là:

Thứ nhất, một trong những việc cần phải làm ngay - nhóm giải pháp đầu tiên, là tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cấp trên, điều đã từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh nói cách đây 65 năm, đến nay vẫn mang tính thời sự, bởi vì, muốn “Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ mạnh khỏe vô cùng”, thì tất yếu “mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt”. Đồng thời, việc tiến hành tự phê bình và phê bình phải được thực hiện nghiêm túc, triệt để, theo đó, “Một là, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương tập trung kiểm điểm, đánh giá làm rõ tại sao những hạn chế, khuyết điểm đã chỉ ra nhiều năm nhưng chậm được khắc phục,... Hai là, các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương tiến hành kiểm điểm, đánh giá liên hệ bản thân về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao liên quan đến một số vấn đề cấp bách nêu trong Nghị quyết này, đề ra biện pháp khắc phục. Tập trung làm rõ trách nhiệm cá nhân, gương mẫu thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình, nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức, lối sống.
Ba là, các đồng chí ủy viên ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương, lãnh đạo các ban của Trung ương Đảng, ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy và cấp ủy các cấp nghiêm túc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, nêu gương bằng hành động thực tế. Trong quá trình kiểm điểm cần liên hệ, gắn với xem xét việc thực hiện các quy chế, quy định; việc giải quyết những vấn đề về tổ chức, cán bộ; về giải quyết những vấn đề bức xúc của ngành, cơ quan hoặc địa phương”(9).

Thứ hai, quán triệt lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cán bộ là gốc của mọi công việc” và “không phải vài ba tháng, hoặc vài ba năm, mà đào tạo được một người cán bộ tốt. Nhưng cần phải công tác, tranh đấu, huấn luyện lâu năm mới được. Trái lại, trong lúc tranh đấu, rất dễ mất một người cán bộ”, việc đưa ra và thực hiện nghiêm nhóm giải pháp về tổ chức, cán bộ và sinh hoạt đảng và nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách chính là nhằm “biết rõ ràng cán bộ, mới có thể cất nhắc cán bộ một cách đúng mực”, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn. Trên tinh thần đó, cần kiên quyết khắc phục tình trạng chạy chức, chạy quyền trong công tác tổ chức, cán bộ; không để các “nhóm lợi ích” chi phối công tác đề bạt, sử dụng cán bộ; chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, đề bạt, sử dụng người có năng lực, có đạo đức cách mạng, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đưa vào giữ các trọng trách ở các cơ quan trung ương, các tập đoàn kinh tế nhà nước; thực hiện dân chủ hơn nữa trong việc bầu cử các cấp ủy từ Trung ương đến cơ sở. Cần quy định rõ hơn việc bầu cử các chức danh chủ chốt, kể cả cấp trung ương, trong đó quy định có số dư; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để việc theo dõi, phát hiện, bồi dưỡng, đề bạt cán bộ được chặt chẽ; tiến hành việc xử lý kỷ luật những cán bộ thoái hóa, biến chất một cách nghiêm minh. Đối với cán bộ cấp cao do Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, càng phải được giúp đỡ, rèn luyện, đồng thời phải xử lý kỷ luật nghiêm minh, thích đáng nếu có sai phạm để nêu gương cho cấp dưới.

Thứ ba, tuân thủ lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc thực hiện nhóm giải pháp về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, trong đó có vấn đề đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; “đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên gắn với việc kiểm điểm, đánh giá và biện pháp giải quyết vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng của các cấp”; “đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Đưa vào nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp trung ương”; và “chấn chỉnh hoạt động thông tin, tuyên truyền; quản lý có hiệu quả hoạt động báo chí theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước. Chú trọng làm tốt hơn việc nêu gương những người tốt, việc tốt; lấy nhân tố tích cực để đẩy lùi tiêu cực; đồng thời phê phán, đấu tranh với những biểu hiện sa sút về tư tưởng chính trị, vô trách nhiệm, vụ lợi cá nhân, vi phạm những chuẩn mực đạo đức, lối sống...”, như Nghị quyết đã nêu, sẽ có tác dụng giáo dục cho cán bộ, đảng viên và toàn thể xã hội nhận thức đúng về cơ sở lý luận và nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo sự thống nhất về hành động cách mạng trong Đảng và toàn xã hội. Công việc quan trọng này phải được xem là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa thường xuyên để cán bộ, đảng viên luôn giữ được vai trò tiền phong, gương mẫu của mình.

Theo dòng thời gian, những yêu cầu phải sửa đổi trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên từ những năm vừa kháng chiến, vừa kiến quốc vẫn rất cần được tiếp tục thực hiện trong tương lai. Đó là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa thường xuyên, góp phần xây dựng và chỉnh đốn Đảng ta, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngang tầm với yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng; mẫu mực về phẩm chất đạo đức và lối sống; luôn đoàn kết, thống nhất và gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tin yêu và kính trọng. Điều đó càng cho thấy, giữa khó khăn và ác liệt của cuộc kháng chiến, những trăn trở và chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở ATK Thái Nguyên về xây dựng đảng cầm quyền có ý nghĩa lớn lao biết nhường nào./.
ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CÓ MỘT THẾ HỆ NHƯ THẾ, XIN ĐỪNG PHẢN BỘI!

         Trong khói lửa chiến tranh, dưới làn đạn của giặc Mỹ xâm lược, Liệt sỹ, anh hùng LLVTND Vũ Xuân (quê Thái Bình) đã viết trong nhật ký của mình: "Bàn giao nguyên vẹn giang sơn Việt Nam cho thế hệ tương lai là trách nhiệm của chúng mình, của thế hệ thanh niên đang sống và chiến đấu chống Mỹ này...”!

Ôi Tổ quốc ơi, Tổ quốc đã có một thế hệ như thế! Đất nước có được hòa bình, độc lập, tự do như hôm nay là nhờ có một thế hệ như thế. Mỗi chúng ta đang có được cuộc sống bình yên, mỗi sớm mai thức dậy vươn vai hít thở bầu không khí trong lành của trời đất, tự tại sống, tự do nghĩ, an nhiên vui vẻ... là nhờ hồng phúc của chúng ta là con cháu của một thế hệ như thế!

Một thế hệ đã ra đi đầu không ngoảnh lại dẫu biết phía sau là sống, phía trước có thể là cái chết, là địa ngục, nhưng họ vẫn bước đi. Một thế hệ đã hòa mình vào Tổ quốc, quyết tử cho Tổ quốc được sống, nếu được sống cũng chỉ sống khi Tổ quốc được vẹn nguyên! Một thế hệ dám dấn thân, dám hy sinh, dám bước qua cửa tử để mở ra cánh cổng hồi sinh cho Tổ quốc, lấy tính mạng của mình để gieo nên mầm sống cho thế hệ mai sau! Một thế đã chiến đấu, hy sinh không chỉ vì cứu lấy giang sơn, Tổ quốc đang bị xâm lăng, mà còn trách nhiệm trọn vẹn: "Bàn giao nguyên vẹn giang sơn Việt Nam cho thế hệ tương lai". Vâng, là "bàn giao nguyên vẹn giang sơn" đấy! Giang sơn mà họ cứu lấy và bàn giao cho tương lai phải là không được sứt mẻ, không được nham nhở, không được chia cắt. 

Vì cái trách nhiệm trọn vẹn đó mà thế hệ cha anh đã đi trọn vẹn con đường chông gai đầy máu và nước mắt. Họ đã lấy máu của mình để vẽ nên màu xanh của núi non, lấy thịt của mình để lấp đầy vết nứt của đất, san lấp những hố sâu trong cơ thể Tổ quốc do đạn bom của giặc cày xới. Lấy xương cốt của mình để nối liền hai miền Bắc - Nam của Tổ quốc. Lấy tinh thần, lý tưởng cao đẹp của mình để xua đuổi bóng ma tội ác, vẽ nên vẻ đẹp, sức sống cho Tổ quốc. Họ đã hiến dâng tất cả sức lực, trí lực, tinh lực, cơ thể mình cho Tổ quốc được nguyên vẹn để bàn giao cho thế hệ chúng ta. Khi trách nhiệm ấy được thực hiện, Tổ quốc, giang sơn thống nhất, độc lập, tự chủ, tự do được bàn giao, thì cha anh chúng ta nhiều người không trở về, họ nằm lại chiến trường, nằm lại trong rừng sâu cô quạnh, nằm dưới đáy sông lạnh buốt, họ mãi mãi sống trong đất Tổ quốc. Nhiều người may mắn sống sót trở về, bước ra từ cuộc chiến lại thân thể không còn nguyên vẹn hình hài, thay vào đó là nham nhở, cháy sạm, thiếu đi một phần, thậm chí một nửa cơ thể. Có nhiều người còn nguyên cơ thể nhưng tâm lý, ý chí, tinh thần lại để lại nơi chiến trường, bị bom đạn của kẻ thù nhấn chìm vào sâu trong đất, họ trở về như trẻ thơ, như hoang dại, quảng đời còn lại vẫn cầm súng chiến đấu trong các trại tâm thần, bệnh viện... Thế nhưng, những người đã chết vẫn lặng nhìn Tổ quốc, canh giữ giang sơn, soi tỏ, dẫn dắt thế hệ hôm nay xây dựng đất nước. Những người còn sống trở về họ đều vui vẻ sống tiếp, lại hòa vào cùng dân tộc giữ nước, xây dựng Tổ quốc. Tất cả họ, những người đã chết và những người sống sót trở về chỉ mong muốn một điều nhẹ nhàng, đơn giản như Liệt sĩ Vũ Xuân đã viết trong nhật ký khi còn chiến đấu: “Tôi muốn một câu nói được vang lên bên tai thế hệ sau là: Đừng làm hoen ố máu của những người đi trước”.

Một thế hệ như thế đấy. Bàn giao nguyên vẹn giang sơn cho chúng ta, chỉ mong chúng ta đừng làm hoen ố máu của những người đi trước. Còn chúng ta, nhận lấy giang sơn từ họ, chúng ta hân hoan, sung sướng, hạnh phúc. Chúng ta cũng cũng đã cố gắng đem hết sức bình sinh của mình cống hiến cho Tổ quốc, xây dựng đất nước, xây dựng xã hội ngày càng tươi đẹp. Thế nhưng, chính trong thế hệ chúng ta, vẫn còn đó sự vô tâm, có người vô tâm đến tàn nhẫn, bất nghĩa, không chỉ làm hoen ố máu của người đi trước, mà đang tâm dẫm lên máu của anh hùng liệt sỹ để mưu cầu lợi ích riêng. Để thỏa mãn khát vọng và dục vọng cá nhân, không ít kẻ đã bẻ cong lịch sử, bẻ cong nòng súng của thế hệ cha anh, tạo cớ cho kẻ thù hoặc cấu kết với kẻ thù để đổi trắng thay đen lịch sử, hòng đổi màu của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Cũng không ít kẻ bế kẻ thù lên bàn thờ cung phụng thay thế hương hồn của anh hùng liệt sỹ. Lại có người bằng nhiều thủ đoạn đê hèn, việc làm phi nghĩa, tìm đủ mọi cách để đặt tên cho bọn tay sai, bán nước mà chẳng mảy may nghĩ đến rất nhiều ngôi mộ của anh hùng liệt sỹ vẫn đang khuyết danh!

Viết đến đây thì tim như thắt lại. Nhưng nhịp đập của trái tim lại như nhanh hơn, mạnh hơn. Chỉ mong rằng chúng ta sẽ sống xứng đáng với thế hệ cha anh đã ngã xuống, đem hết sức lực, trí tuệ, ý chí, tinh thần chung tay xây xựng đất nước giàu mạnh, cũng sẽ chiến đấu đến cùng để bảo vệ đến cùng màu máu và thanh danh của thế hệ đi trước. Sẽ bàn giao nguyên vẹn giang sơn này cho thế hệ mai sau như cha anh đã bàn giao cho chúng ta. 

Muốn làm được điều đó, xin đừng phải bội quá khứ, đừng phản bội lịch sử. Xin đừng xét lại tiếng súng năm xưa! Và phải có trách nhiệm với tương lai như cha anh đã làm tròn trách nhiệm với chúng ta./.
Yêu nước ST.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng nhằm nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật. Kiểm tra, giám sát là chức năng lãnh đạo của Đảng, là một nội dung của phương thức lãnh đạo, là bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, đạo đức là nền tảng của người cách mạng, của cán bộ, đảng viên. Tư tưởng và đạo đức của Người đã trở thành tấm gương sáng cho việc tự rèn luyện, phấn đấu của bao thế hệ cán bộ, đảng viên, đồng thời cũng là kim chỉ nam cho việc quản lý, giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên của các tổ chức đảng. Tổ chức đảng phải tiến hành công tác kiểm tra, giám sát. Tổ chức đảng và đảng viên chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng; kỷ luật của Đảng là kỷ luật nghiêm minh, kỷ luật sắt. Một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng trong công tác kiểm tra, giám sát và giữ gìn kỷ luật của Đảng là củng cố đoàn kết nội bộ, giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. 

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo không chỉ có nhiều thuận lợi và cơ hội, mà còn phải đương đầu với không ít khó khăn, thách thức và nguy cơ, tác động rất phức tạp đến vai trò lãnh đạo của Đảng, đến đội ngũ cán bộ, đảng viên. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng cũng đứng trước những khó khăn, thách thức không nhỏ trong việc phục vụ yêu cầu thực hiện nhiệm vụ then chốt là xây dựng Đảng và nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Một trong những nhiệm vụ quan trọng mà công tác kiểm tra, giám sát phải thực hiện cho được là: “...khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên...”(1).

Hiện nay, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển, các mối quan hệ đối ngoại chuyển động mạnh mẽ trong tiến trình chủ động hội nhập ngày càng sâu, rộng hơn trên nhiều lĩnh vực; khoa học - kỹ thuật phát triển nhanh, nhất là công nghệ thông tin đã làm xuất hiện các phương thức quản lý mới. Trong khi đó, tình hình quốc tế diễn biến rất phức tạp và tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó lường. Sự tan rã và mất quyền lãnh đạo của một số đảng cộng sản cầm quyền, gắn liền với nó là chủ nghĩa xã hội hiện thực tạm thời lâm vào thoái trào tuy đã diễn ra cách đây hơn 20 năm song vẫn còn tác động lớn đến tư tưởng và lý tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên. 

Trong quá trình thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và đẩy nhanh việc hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, những mặt trái của cơ chế thị trường đang tác động không nhỏ đến tâm tư, tình cảm của cán bộ, đảng viên. Trong khi đời sống còn khó khăn, nếu bản thân cán bộ, đảng viên không có bản lĩnh chính trị vững vàng, không ổn định về tư tưởng, lại không được kiểm tra, giám sát chặt chẽ thì rất dễ vi phạm kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước, dẫn đến quan liêu, độc đoán chuyên quyền, lộng quyền và lạm quyền. Thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật trong Đảng sẽ giúp cho Đảng hạn chế, ngăn ngừa những nguy cơ đó, trước hết và quan trọng nhất là từ trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Qua công tác kiểm tra, giám sát, cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã nghiêm khắc, kiên quyết xử lý các tổ chức đảng và đảng viên, do thiếu rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất, đạo đức, lối sống, có biểu hiện cơ hội, thực dụng, phai nhạt lý tưởng cách mạng, tham nhũng, quan liêu đi đến suy thoái về chính trị, về phẩm chất, đạo đức, lối sống (trong nhiệm kỳ Đại hội X, số đảng viên bị thi hành kỷ luật do mắc những khuyết điểm trên chiếm 14,4% tổng số đảng viên bị thi hành kỷ luật; năm 2011 là 13,8%; sáu tháng đầu năm 2012 là 14%).

Thời gian qua, công tác kiểm tra, giám sát đã có nhiều đóng góp tích cực vào việc lãnh đạo hiệu quả sự nghiệp đổi mới; góp phần quan trọng trong việc bảo vệ đường lối, quan điểm, các nguyên tắc của Đảng, thúc đẩy thực hiện các nhiệm vụ chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, góp phần tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, có tác dụng tích cực trong việc giáo dục, rèn luyện, giữ vững phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; giữ nghiêm kỷ luật đảng, răn đe, ngăn ngừa vi phạm; nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Nhiều cấp ủy đã quan tâm lãnh đạo và thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, xây dựng chương trình kế hoạch, trực tiếp kiểm tra, giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên theo quy định của Điều lệ Đảng, đạt được những kết quả thiết thực. Ủy ban kiểm tra các cấp đã tham mưu có hiệu quả cho cấp ủy về công tác kiểm tra, giám sát và trực tiếp thực hiện toàn diện các nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo quy định.

Trong bối cảnh các tổ chức đảng, nhất là cán bộ, đảng viên của Đảng chịu sự tác động của nhiều nhân tố phức tạp đan xen nhau, vấn đề giữ vững và nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên đang đứng trước những thách thức mới. Đã có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên sa sút về phẩm chất đạo đức, thoái hóa, biến chất, phai nhạt lý tưởng cách mạng. Tổ chức cơ sở đảng ở nhiều nơi yếu kém, không phát huy được vai trò lãnh đạo. Bệnh quan liêu, độc đoán, chủ quan, kèn cựa địa vị, cá nhân chủ nghĩa còn nặng. Những hạn chế, yếu kém đó một phần là do công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng còn nhiều bất cập; nhận thức của một số cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên về vị trí, vai trò công tác kiểm tra, giám sát của Đảng chưa đầy đủ; trình độ, năng lực của một bộ phận cán bộ kiểm tra còn chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; việc xử lý kỷ luật trong Đảng cũng còn có nơi, có lúc chưa nghiêm.

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã ra Nghị quyết số 12-NQ/TW “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Nghị quyết đã khẳng định: công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong những năm qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng không ngừng được nâng cao; phương thức lãnh đạo của Đảng từng bước được đổi mới; vai trò lãnh đạo của Đảng được giữ vững; niềm tin của nhân dân với Đảng được củng cố; đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đã có bước trưởng thành và tiến bộ về nhiều mặt. Đa số cán bộ, đảng viên có ý thức rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, có ý thức phục vụ nhân dân, được nhân dân tin tưởng. 

Bên cạnh đó, công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Một trong những vấn đề cấp bách nổi lên hiện nay là: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...”. Tình hình trên có nhiều nguyên nhân, trong đó có trách nhiệm của “Công tác kiểm tra, giám sát, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi, nhiều cấp chưa thường xuyên, ráo riết; đấu tranh với những vi phạm còn nể nang, không nghiêm túc”(2).

Để khắc phục có hiệu quả những hạn chế, yếu kém, tạo được sự chuyển biến rõ rệt trong công tác xây dựng Đảng, mà trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất là ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhằm xây dựng Đảng ta thật sự là đảng cách mạng chân chính, ngày càng trong sạch, vững mạnh, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI đã đề ra mục tiêu, phương châm và hệ thống các giải pháp cần thực hiện đồng bộ, trong đó xác định rõ: “Phải làm kiên quyết, kiên trì,..., thường xuyên kiểm tra, giám sát chặt chẽ”, phải “tăng cường công tác kiểm tra, giám sát...” và giao cho ủy ban kiểm tra các cấp nhiệm vụ chủ trì xây dựng kế hoạch, kiến nghị với Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp ủy đảng nội dung gợi ý cho các cấp ủy viên trước khi tiến hành tự phê bình và phê bình; đồng thời có trách nhiệm tổ chức kiểm tra, giám sát việc triển khai quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết.

Tinh thần trên cho thấy, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng có vai trò hết sức quan trọng để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI; đây là công cụ đắc lực để khắc phục có hiệu quả những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, nhất là trong việc ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Muốn vậy, phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng nhằm nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

Để thực hiện được nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng đó, cần quan tâm thực hiện tốt một số nội dung sau:

Thứ nhất, tiếp tục nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên, các tổ chức đảng, đặc biệt là cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy các cấp về vị trí, vai trò, ý nghĩa, tác dụng của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, trong công tác xây dựng Đảng nói chung và đấu tranh chống suy thoái, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên nói riêng.

Thứ hai, không ngừng nâng cao tính tự giác, tự phê bình và tự kiểm tra của tổ chức đảng và đảng viên. Tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển và là một trong những nguyên tắc hoạt động của Đảng. Tự phê bình và phê bình tốt thì trong Đảng mới lành mạnh, có kỷ cương, ngoài xã hội mới có sự đồng thuận. Do vậy, việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình trong cấp ủy, trong tổ chức đảng phải làm kỹ, thực sự trung thực, cầu thị; khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, “dễ người, dễ ta”, không có chính kiến đang còn khá phổ biến trong sinh hoạt đảng.

Do đặc thù trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng nên tổ chức đảng là đối tượng kiểm tra, giám sát lúc này, lại là chủ thể kiểm tra, giám sát lúc khác; do đó, để công tác kiểm tra, giám sát của Đảng thực sự có hiệu quả phải phát huy tinh thần tự giác, tự phê bình và phê bình của đảng viên và tổ chức đảng, dựa vào quần chúng nhân dân để giám sát đội ngũ đảng viên và tổ chức đảng. Thực tế hiện nay cho thấy, việc tự phê bình và phê bình của đảng viên và tổ chức đảng ở nhiều nơi còn yếu, có nơi chỉ là hình thức. Tình trạng nể nang, né tránh, không dám đấu tranh, ngại phê bình là khá phổ biến. Thực hiện nghiêm túc, chất lượng, hiệu quả, thiết thực, không làm lướt, không làm chiếu lệ, qua loa, hình thức trong đợt kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI hiện nay sẽ là biện pháp khắc phục tình trạng trên. 

Thứ ba, xây dựng chính sách và chế tài thống nhất về xử lý kỷ luật trong Đảng, nhằm bảo đảm thực hiện nghiêm phương châm “công minh, chính xác, kịp thời”, bảo đảm bình đẳng đối với mọi đảng viên. Có như vậy, mới khắc phục được tình trạng xử lý nặng nhẹ khác nhau trước cùng một lỗi vi phạm, gây ra hiện tượng bất bình đẳng và khiếu nại kéo dài, hoặc xử lý “nhẹ trên, nặng dưới”, gây tâm tư cho nhiều cán bộ, đảng viên, làm giảm niềm tin vào hiệu lực và sự công minh, bình đẳng của kỷ luật đảng.

Thứ tư, nâng cao năng lực và trình độ của ủy ban kiểm tra và đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát ở các cấp. Điều lệ Đảng đã quy định rõ nhiệm vụ của ủy ban kiểm tra các cấp, song, cần quy định nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban kiểm tra rộng hơn và có tính độc lập tương đối. Ủy ban kiểm tra các cấp phải thực hiện tốt tư tưởng chỉ đạo: “chủ động, chiến đấu, giáo dục, hiệu quả”. Kiểm tra, giám sát là một nghề nên người làm công tác kiểm tra, giám sát phải có đủ đức và tài, trong đó đức là “gốc”. 

Người làm công tác kiểm tra, giám sát phải có bản lĩnh và uy tín, khi giải quyết các vụ, việc, phải công tâm, trung thực, khách quan, thận trọng và kiên quyết; phải có kiến thức tương đối toàn diện về các lĩnh vực pháp luật, kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng và công tác đảng; đồng thời, phải là những người kiên định, vững vàng về lập trường chính trị, tư tưởng, không thể suy thoái khi bản thân mình là người đi chống suy thoái. Vì vậy, cùng với quá trình đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm tra, giám sát thì người làm công tác kiểm tra, giám sát phải luôn tự học tập, đúc rút kinh nghiệm để có phẩm chất và trình độ đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt ra. Mặt khác, cần có chính sách thu hút những người có đức và thực tài về làm công tác kiểm tra, giám sát.

Thứ năm, ủy ban kiểm tra các cấp tập trung giải quyết những vấn đề tồn đọng, nổi cộm, bức xúc mà cán bộ, đảng viên và nhân dân quan tâm; giải quyết kịp thời đơn, thư tố cáo tổ chức đảng và đảng viên; kiên quyết xử lý nghiêm những tổ chức đảng và đảng viên có vi phạm; thực hiện nhiệm vụ cấp ủy giao về việc kiểm tra, làm rõ những vấn đề nảy sinh, những vấn đề còn chưa rõ qua đợt kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI hiện nay./.

ST.

V.I. Lê-nin bàn về vấn đề thanh lọc đảng viên và ý nghĩa của nó trong việc xây dựng Đảng ta hiện nay

Quan điểm cũng như sự lãnh đạo, chỉ đạo của V.I. Lê-nin về vấn đề thanh lọc đảng viên có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn trong điều kiện Đảng Cộng sản cầm quyền. Điều đó vẫn giữ nguyên giá trị và là bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu đối với việc xây dựng Đảng ta hiện nay.

Quan điểm của V.I. Lênin về vấn đề thanh lọc đảng viên

Ngay từ những ngày đầu làm cách mạng, V.I. Lê-nin đã sớm nhận thấy sức mạnh của tổ chức đảng đối với cách mạng vô sản khi cho rằng: “Hãy cho chúng tôi một tổ chức những người cách mạng, và chúng tôi sẽ đảo lộn nước Nga lên”(1). Theo đó, không có tổ chức đảng vững mạnh thì cách mạng vô sản không thể thành công. V.I. Lê-nin cho rằng, một trong những nhân tố tạo nên sức mạnh của Đảng Cộng sản chính là ở chất lượng của đội ngũ đảng viên. Mọi biểu hiện coi nhẹ, thái độ không nghiêm túc, không khoa học trong công tác xây dựng đội ngũ đảng viên là nguyên nhân làm cho Đảng lỏng lẻo về mặt tổ chức, giảm sút khả năng lãnh đạo, sức chiến đấu và làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng. Không có sự đoàn kết cao độ trong hàng ngũ của Đảng, không có kỷ luật sắt của Đảng, không có sự thống nhất về mục tiêu, lý tưởng và tổ chức của Đảng thì không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Nếu Đảng mắc sai lầm nghiêm trọng kéo dài, có thể làm biến chất hoặc tan rã Đảng. Do đó, V.I. Lê-nin khẳng định: Sức mạnh của Đảng không phải ở số lượng đảng viên ít hay nhiều mà ở chất lượng đảng viên. “Những đảng viên hữu danh vô thực thì cho không chúng ta cũng không cần. Đảng độc nhất nắm chính quyền trên thế giới quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đảng viên, đến việc thanh trừ “bọn luồn lọt vào Đảng” ra khỏi hàng ngũ của mình, chứ không phải làm tăng thêm số lượng đảng viên, đó chính là đảng chúng ta, đảng của giai cấp công nhân cách mạng”(2). 

Thực tiễn tan rã của Đảng Cộng sản ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu vào đầu thập niên 90 của thế kỷ trước đã chứng minh nhận định trên của V.I. Lê-nin và cũng chỉ ra cho chúng ta thấy rằng, khi đội ngũ của Đảng có nhiều đảng viên không còn giữ được vai trò tiên phong và có nhiều phần tử cơ hội thì khi gặp những biến cố của lịch sử, đảng đó khó có thể giữ được vai trò lãnh đạo của mình. Vì vậy, trước khi qua đời, V.I. Lê-nin còn nhấn mạnh: “Trong cuộc đấu tranh chống bè phái, mỗi tổ chức của đảng phải hết sức kiên quyết, không dung thứ bất cứ hoạt động bè phái nào”, và nếu “ai không thi hành quyết định ấy của đại hội thì nhất định sẽ bị khai trừ lập tức ra khỏi đảng”(3). 

Như vậy, theo V.I. Lê-nin, để đội ngũ của Đảng luôn luôn trong sạch, chỉ bao gồm những chiến sĩ tiên phong trong phong trào cách mạng cũng như trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, được quần chúng tin tưởng, Đảng phải thường xuyên đưa những người không đủ tiêu chuẩn và những phần tử cơ hội ra khỏi hàng ngũ của mình. Đó là một biện pháp đặc biệt quan trọng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Mục đích của việc thanh lọc những phần tử cơ hội, thoái hóa, biến chất ra khỏi Đảng là nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, giúp cho “đảng trở thành một đội tiền phong của giai cấp vô sản vững mạnh hơn trước nhiều; nó sẽ làm cho đảng trở thành một đội ngũ tiền phong có liên hệ vững chắc hơn với giai cấp ấy, có khả năng hơn để đưa giai cấp ấy đi đến thắng lợi, giữa vô vàn khó khăn và nguy hiểm”(4).

Nguyên nhân dẫn đến việc phải thanh lọc đảng viên 

Một là, do thực tiễn lịch sử của nước Nga: Tại Đại hội II của Đảng Công nhân dân chủ - xã hội Nga (tháng 7-1903), Đảng đã chia thành hai phái là Bôn-sê-vích và Men-sê-vích. Những người Men-sê-vích cấu kết với phái “kinh tế” trong Đảng, trở thành một lực lượng có đường lối riêng, chống lại phái Bôn-sê-vích, đứng đầu là V.I. Lê-nin. Biểu hiện cụ thể là họ chống lại những nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng. Sau Cách mạng Tháng Mười Nga (năm 1917), trong Đảng lại nổ ra nhiều cuộc đấu tranh mới gay gắt hơn, giữa những người Bôn-sê-vích và Men-sê-vích về những vấn đề như: Hòa ước Brét-li-tốt, Chính sách cộng sản thời chiến, quan niệm về công đoàn, nhà nước, chuyên chính vô sản,… Trong khi đó, giai cấp công nhân Nga vừa phải trải qua cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất và nội chiến nên có nhiều biến động. Nhiều công nhân ưu tú phải ra mặt trận hoặc kiếm sống tự do. Thêm vào đó, trong các nhà máy, hầm mỏ, xí nghiệp,… có nhiều phần tử xuất thân từ mọi tầng lớp dân cư, kể cả những kẻ chạy trốn nghĩa vụ quân sự và vô sản lưu manh, côn đồ, có lập trường giai cấp không vững vàng, xin vào Đảng với nhiều mục đích khác nhau.

Hai là, do địa vị của Đảng Cộng sản Nga: Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Đảng Công nhân dân chủ - xã hội Nga trở thành đảng cầm quyền. Trong điều kiện mới, Đảng mất đi sự sàng lọc tự nhiên. Mặt khác, do sức hấp dẫn của đảng cầm quyền, những phần tử lưu manh, cơ hội nghĩ rằng, đảng cầm quyền đồng nghĩa với việc có nhiều lợi lộc nên đã tìm mọi cách để gia nhập Đảng. Chúng câu kết với những phần tử cơ hội có sẵn trong Đảng, hoặc mua chuộc những đảng viên cũ, hình thành nên một lực lượng chuyên chống phá khá lớn trong Đảng. Ngoài ra, do Đảng Công nhân dân chủ - xã hội Nga lên nắm quyền trong tình hình có rất nhiều thế lực thù địch đang tìm mọi cách phủ định thành quả của cách mạng Nga, nên chúng cũng luôn tìm mọi cách chui vào Đảng để chống phá thành quả của cách mạng. Kinh nghiệm lãnh đạo đất nước của Đảng Công nhân dân chủ - xã hội Nga chưa có nhiều nên việc kết nạp đảng viên mới có những sai sót về tiêu chuẩn, khiến số lượng đảng viên tăng nhanh, ảnh hưởng đến chất lượng của Đảng. Đây chính là nguồn gốc của những bè cánh, phe nhóm trong Đảng, dẫn đến việc phải thanh lọc đảng viên.

Đối tượng đảng viên cần phải thanh lọc

Theo V.I. Lê-nin, có nhiều đối tượng đảng viên cần phải xem xét, điều tra, thử thách trong các đợt thanh lọc, nhằm làm trong sạch đội ngũ đảng viên đứng trong hàng ngũ của Đảng. Trước hết, cần thanh trừ những kẻ bè phái chống Đảng như bọn Men-sê-vích. Trong bài “Vấn đề thanh đảng”, Người chỉ rõ: “Tôi muốn nêu ra một nhiệm vụ đặc biệt, tức là nhiệm vụ thanh trừ những phần tử Men-sê-vích cũ ra khỏi đảng. Theo tôi, trong tất cả những người Men-sê-vích tham gia đảng từ sau thời gian đầu năm 1918, ta có thể lưu lại trong đảng, chẳng hạn, nhiều lắm là một phần trăm; và cũng còn sẽ phải thẩm tra từng người một trong số những người được lưu lại đó, ba hay bốn lần”(5). Phải thanh lọc những phần tử này trong Đảng, vì “trong thời kỳ từ 1918 đến 1921, những người Men-sê-vích đứng về mặt trào lưu chính trị mà nói, thì họ đã biểu lộ rõ hai đặc tính của họ: một là, khôn khéo thích ứng, “chui” vào trào lưu đang thịnh hành trong công nhân; hai là, hết lòng hết dạ phục vụ bọn bạch quân một cách còn khôn khéo hơn nữa, và thực tế phục vụ bọn bạch quân, mà miệng thì cứ tuyên bố là từ bỏ bọn chúng. Hai đặc tính đó đều do từ trong toàn bộ lịch sử của chủ nghĩa Men-sê-vích mà ra”(6). Do đó, “phải thanh trừ ra khỏi đảng độ chừng chín mươi chín phần trăm những người Men-sê-vích đã tham gia Đảng Cộng sản Nga sau năm 1918”(7). 

Những đối tượng tiếp theo cần phải thẩm tra, điều tra, xem xét lại tư cách trước khi thanh lọc ra khỏi Đảng là: “(1) những người thuộc các đảng khác gia nhập đảng sau tháng Mười năm 1917; (2) những người gia nhập đảng xuất thân từ tầng lớp quan lại và viên chức đã làm việc cho các chính phủ cũ; 3, những người đã giữ những chức vụ gắn liền với những đặc quyền đặc lợi nào đó; 4, những người thuộc viên chức Xô-viết - những hạng người trên phải được thẩm tra đặc biệt từng người, nhất thiết có tham khảo ý kiến của quần chúng lao động trong đảng cũng như ngoài đảng đã từng tiếp xúc với đảng viên đó của Đảng Cộng sản Nga trong công tác của anh ta”(8).

Theo V.I. Lê-nin, trong một đảng đang phát triển bao giờ cũng có những phần tử không kiên định, bấp bênh, dao động, nhất là đối với một đảng đang chấp chính, có nhiều đảng viên xuất thân từ nông dân và các tầng lớp khác. Hơn nữa, bản thân giai cấp công nhân cũng không phải là một giai cấp đóng kín mà luôn có những phần tử lưu manh, phi vô sản nhập vào giai cấp đó. Do vậy, “phải khai trừ ra khỏi đảng tất cả những đảng viên Đảng Cộng sản Nga ít nhiều đáng nghi ngờ, không vững vàng, đã không chứng minh được sự kiên định của mình; những người này có quyền được kết nạp lại sau khi thẩm tra và thử thách thêm”(9). 

Để công tác thanh lọc đảng viên được tiến hành tốt, V.I. Lê-nin đã chỉ ra thế nào là những người thoái hóa, biến chất, là bọn cơ hội, phản động để có thái độ xử lý thích hợp. Theo Người, những người thoái hóa, biến chất là những người không chịu phấn đấu vươn lên, lười học tập, nâng cao trình độ học vấn của mình; những người vi phạm các điều khoản trong Điều lệ Đảng, vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước, lạm dụng chức vụ bôi nhọ danh hiệu đảng viên; những người cố tình không chịu thi hành quyết định của Đảng, hách dịch, cửa quyền với quần chúng,…

Hình thức và biện pháp thanh lọc đảng viên

Để nhiệm vụ thanh lọc đảng viên thực sự mang lại hiệu quả, V.I. Lê-nin cho rằng, Đảng phải biết sử dụng nhiều hình thức và biện pháp khác nhau, như:

- Xuất phát từ nhiệm vụ chính trị và thông qua nhiệm vụ chính trị để đánh giá, thanh lọc đảng viên, hay nói cách khác, phải căn cứ vào việc làm chứ không phải chỉ vào lời nói của đảng viên để đánh giá, thanh lọc họ. 

- Dựa vào những kinh nghiệm và ý kiến của quần chúng ngoài Đảng để thanh lọc đảng viên. Đảng là người lãnh đạo quần chúng, quyết định mọi mặt của đời sống quần chúng nên họ có nguyện vọng và có quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của Đảng. Vì vậy, Đảng cần phải thường xuyên tổ chức cho quần chúng đóng góp ý kiến xây dựng Đảng, nhận xét, đánh giá đảng viên. V.I. Lê-nin nêu rõ: “Thanh đảng bằng cách chú trọng đến những lời chỉ dẫn của người lao động ngoài đảng là một việc lớn. Công việc đó sẽ mang lại cho chúng ta những kết quả đáng kể. Nó sẽ làm cho đảng trở thành một đội tiên phong cả giai cấp vô sản”(10). 

Dựa vào quần chúng, lấy ý kiến của quần chúng để xem xét, đánh giá đảng viên là rất cần thiết, nhưng V.I. Lê-nin cũng nhắc nhở, không nên theo đuôi quần chúng mà phải tiếp thu ý kiến của họ một cách có phê phán, sáng suốt, phân biệt rõ đúng, sai. Người viết: “chúng ta sẽ không nghe theo tất cả những ý kiến của quần chúng, vì quần chúng đôi khi… bị lôi kéo bởi những tư tưởng không có chút gì là tiên tiến cả”(11).

- Việc thanh lọc đảng viên cần được thực hiện dưới nhiều hình thức, như: đăng ký lại, động viên ra mặt trận, tham gia lao động cộng sản chủ nghĩa. Ở những nơi mà “bọn đê tiện lẩn lút vào trong Đảng” thì cần có những biện pháp quyết liệt hơn.

- Việc thanh lọc đảng viên cần được tiến hành toàn diện, từ cấp lãnh đạo tối cao đến tận cơ sở. V.I. Lê-nin khẳng định: “Nếu chúng ta có thể thực sự tiến hành thanh đảng như thế, từ cấp lãnh đạo tối cao đến tận cơ sở, mà “không vị nể cá nhân”, thì đó sẽ là một thành quả thật sự to lớn của cách mạng”(12).

V.I. Lê-nin đã lãnh đạo, chỉ đạo Đảng tiến hành nhiều đợt thanh lọc đảng viên. Tiêu biểu là từ tháng 5 đến tháng 9-1919, Đảng đã tiến hành đăng ký, sàng lọc lại đảng viên, đưa những phần tử cơ hội, trục lợi ra khỏi Đảng. Năm 1921, Đảng Công nhân dân chủ - xã hội Nga tổ chức Đại hội lần thứ X, quyết định thực hiện Chính sách kinh tế mới (NEP). Nhận thấy sự tồn tại của nhiều phe phái trong Đảng, có nguy cơ cản trở quá trình thực hiện đường lối kinh tế mới, V.I. Lê-nin chỉ thị cho toàn Đảng tiến hành một cuộc thanh lọc đảng viên triệt để. Trong đợt thanh lọc này, có 170.000 người (chiếm 25%) bị đưa ra khỏi Đảng. Nhờ đó, Đảng mạnh lên rất nhiều, thành phần xã hội của Đảng được cải thiện, quần chúng thêm tín nhiệm Đảng, tình đoàn kết và tinh thần kỷ luật của Đảng được tăng lên. 
Vận dụng quan niệm của V.I. Lê-nin về thanh lọc đảng viên vào xây dựng Đảng ta hiện nay

Đảng ta là đảng cầm quyền. Trước bối cảnh phức tạp của tình hình quốc tế hiện nay, không ít phần tử thù địch, cơ hội chính trị đã, đang và sẽ tìm mọi cách chống phá Đảng từ nhiều phía. Do vậy, Đảng cần phải thường xuyên tự đổi mới, tự thanh lọc, chỉnh đốn đội ngũ đảng viên. Đồng thời, thường xuyên chăm lo công tác chính trị - tư tưởng, bảo đảm sự thống nhất trong Đảng về nhận thức và hành động, tạo sự đồng thuận trong xã hội về đường lối, chủ trương đổi mới và vai trò lãnh đạo của Đảng. 

Công tác xây dựng Đảng hiện nay đang gặp nhiều khó khăn và thách thức, như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI đã khẳng định. Để giữ vững vai trò lãnh đạo của mình, một trong những việc cấp bách cần làm ngay hiện nay là, Đảng phải thanh lọc đội ngũ đảng viên, đưa ra khỏi hàng ngũ của Đảng những người đã thoái hóa, biến chất, phai nhạt lý tưởng, cơ hội, thực dụng, tham nhũng, bè phái, gây mất đoàn kết trong nội bộ Đảng. 

Ở mỗi thời kỳ cách mạng, do nhiều nguyên nhân khác nhau, đều không tránh khỏi có một số đảng viên không còn giữ được vai trò tiên phong. Có người do trình độ nhận thức, năng lực hoạt động thực tiễn; có người do không kiên định về chính trị, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, thoái hóa, biến chất, trở thành những kẻ quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu, ức hiếp quần chúng, kiêu ngạo cộng sản,... Đặc biệt, trong điều kiện Đảng cầm quyền, có không ít kẻ lưu manh, cơ hội với mưu đồ đặc quyền, đặc lợi chui vào Đảng, gây mất đoàn kết, phá hoại sự thống nhất trong Đảng, làm mất lòng tin của quần chúng đối với Đảng, đặt Đảng ta trước nguy cơ tồn vong. Do đó, một trong những nhiệm vụ cấp thiết, quan trọng hàng đầu của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay là, phải “Kịp thời đưa ra khỏi Đảng những người không đủ tư cách”, như Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã khẳng định, hay như quan điểm nói trên của V.I. Lê-nin, phải kiên quyết thanh lọc đảng viên. Trong hình hình hiện nay, việc thanh lọc đảng viên cần thực hiện một số giải pháp có tính nguyên tắc như sau:

Một là, cương quyết đưa ra khỏi Đảng những đảng viên không đủ tư cách, vi phạm những điều cấm đảng viên không được làm; những đảng viên quan liêu, tham nhũng, thoái hóa, biến chất, cơ hội, bè phái, cục bộ địa phương, cá nhân chủ nghĩa, coi thường pháp luật, coi khinh nhân dân; những đảng viên “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”,… Đối với những đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng nhưng chưa đến mức phải đưa ra khỏi Đảng thì miễn nhiệm, cách chức, khiển trách, thử thách thông qua nhiệm vụ chính trị. Những đảng viên có hiện tượng tham nhũng, thoái hóa, biến chất, suy giảm lòng tin, ý chí, lý tưởng, vi phạm điều cấm đối với đảng viên, thiếu trung thực,… nhưng chưa đến mức phải đưa ra khỏi Đảng thì kiên quyết không bổ nhiệm, không cất nhắc vào vị trí lãnh đạo. Đối với những đảng viên giàu lên một cách bất chính, có lối sống xa hoa, buông thả, bài bạc,… thì cần xem xét, điều tra kỹ lưỡng và có quy trình thử thách. Cũng cần thanh lọc đối với những đảng viên hạn chế về năng lực nhận thức, không thể tiên phong, gương mẫu hoặc đã mệt mỏi ý chí phấn đấu.

Hai là, lắng nghe ý kiến của quần chúng nhân dân, bởi họ là người trực tiếp được các đảng viên phục vụ nên họ biết được năng lực, phẩm chất, đạo đức của rất nhiều đảng viên. Trong dân vẫn thường “nhỏ to” về cán bộ này tham nhũng, tiêu cực trong giải quyết công việc về thủ tục hành chính, như làm sổ đỏ, tuyển dụng người, cấp giấy phép xây dựng,…; cán bộ kia có nhiều nhà đất, giàu lên một cách bất chính, mua danh hiệu thi đua, bao che cho họ hàng, cấp dưới làm sai,... Tuy nhiên, nhân dân chưa mạnh dạn phản ánh vì nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân do cơ chế bảo vệ họ chưa đủ mạnh. Do vậy, cần phải xây dựng cơ chế để quần chúng đóng góp, giám sát, phê bình các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên. Đối với những ý kiến phê bình đúng của quần chúng, cần phải tiếp thu nghiêm túc và có biện pháp sửa chữa. Còn đối với những ý kiến chưa đúng thì phân tích, giải thích đầy đủ với thái độ thực sự “trọng dân”. Đảng ta là đảng của cả dân tộc, có trách nhiệm phục vụ quần chúng nhân dân; ngược lại, quần chúng nhân dân cũng phải có trách nhiệm bảo vệ Đảng của mình. Thanh lọc đảng viên chính là vì dân, để Đảng phục vụ nhân dân được tốt hơn. Do đó, nhân dân phải có trách nhiệm cùng với Đảng phát hiện chính xác những đảng viên không đủ năng lực, phẩm chất, tư cách đạo đức để đưa họ ra khỏi hàng ngũ của Đảng.

Ba là, trong thời điểm hiện nay, toàn Đảng đang tích cực thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và chuẩn bị quy hoạch nhân sự cho Đại hội XII của Đảng, Đảng cần làm tốt công tác tổ chức, bảo vệ chính trị nội bộ. Gắn liền với nội dung này và vận dụng quan điểm của V.I. Lê-nin về thanh lọc đảng viên, chúng ta cần làm tốt từ khâu lựa chọn, bồi dưỡng, thử thách quần chúng để kết nạp vào Đảng. Sàng lọc thật kỹ lưỡng để sao cho những người không có đủ năng lực, phẩm chất không thể có cơ hội vào Đảng. Bên cạnh đó, Đảng cần nâng cao hiệu quả đánh giá chất lượng đảng viên, làm cơ sở để đưa những người không đủ tiêu chuẩn ra khỏi hàng ngũ của mình./.

ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HOÀN THIỆN THỂ CHẾ, KHÔNG ĐỂ OAN SAI, KHUYẾN KHÍCH CÁN BỘ DÁM NGHĨ, DÁM LÀM!

     Với sự ra đời của Quy định 117-QĐ/TW và Nghị định 73/2023/NĐ-CP, chúng ta có được “bộ công cụ” đủ mạnh để đấu tranh với tham nhũng, tiêu cực; khuyến khích cán bộ dám dấn thân, dám phấn đấu, dám quyết định và giải quyết được những lo lắng khi thực thi công vụ.

Công tác phòng, chống tham nhũng tiêu cực thời gian qua, đặc biệt sau 10 năm Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được thành lập, đã trở thành “phong trào, xu thế không thể đảo ngược".

Bên cạnh đó, như lời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực, nhận thức về công tác này ngày càng sâu hơn, được thực hiện với quyết tâm ngày càng cao hơn, làm rất nhân văn, nhân ái, nhân nghĩa, nhân tình nhưng vẫn đủ răn đe và giáo dục.

Để có được kết quả đó, Đảng, Chính phủ, Quốc hội vẫn không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống tham nhũng: thể chế về quản lý KT-XH, cơ chế chính sách về đội ngũ cán bộ công chức, cơ chế về kiểm soát thu nhập, công khai minh bạch, kiểm tra giám sát kỷ luật, thu hồi tài sản tham nhũng, vai trò giám sát của tổ chức, cá nhân... 

Công tâm trước mọi vấn đề đúng - sai
Một trong những điểm nhấn về công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế để phòng, chống tham nhũng trong năm 2023 đó là sự ra đời của Quy định số 117-QĐ/TW, ngày 18/8/2023 về xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan và Nghị định 73/2023/NĐ-CP về khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Ở Quy định 117, không phải là lần đầu Đảng đặt vấn đề xin lỗi tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan nhưng là lần đầu Đảng có quy định bằng văn bản một cách chặt chẽ, hoàn chỉnh từ đối tượng áp dụng, hình thức tổ chức, thời hạn… để khắc phục oan sai đối với tổ chức đảng, đảng viên khi bị kỷ luật.

Điều này cho thấy Đảng rất công tâm trước mọi vấn đề đúng - sai của một tổ chức đảng hay của một đảng viên. Khi Đảng làm oan sai cho tổ chức hay đảng viên nào đó thì Đảng thành thật sửa chữa, khắc phục, xin lỗi. Việc Đảng nhận lỗi, sửa chữa không những không làm giảm uy tín của Đảng mà ngược lại còn lấy lại lòng tin cho đảng viên, cho quần chúng đối với Đảng.

Qua việc Bộ Chính trị ban hành Quy định 117, Tiến sỹ Chu Đức Tính, nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh cho rằng, khi dũng cảm nhận khuyết điểm và khắc phục khuyết điểm nhằm xây dựng một đảng đạo đức và văn minh. Quy định này sẽ góp phần khuyến khích đảng viên dám dấn thân, dám phấn đấu, dám quyết định và giải quyết được những lo lắng khi thực thi công vụ.

Hoan nghênh tinh thần của Đảng khi ban hành Quy định này, nhiều cán bộ, đảng viên cho rằng, đây là việc làm cần thiết. Nó thể hiện rõ quan điểm, chủ trương của Đảng là đảm bảo tính quy chuẩn, chặt chẽ, phù hợp với việc áp dụng luật pháp ở Việt Nam trong công tác xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng.

“Sự ra đời của Quy định 117 là một tiến bộ rất lớn, cho thấy rất rõ tinh thần công tội rạch ròi, cán bộ làm sai phải bị xử lý, ngược lại cán bộ bị kỷ luật sai phải được xin lỗi, khắc phục”, ông Lê Văn Thái, nguyên Trưởng Ban Tổ chức Đảng ủy Khối cơ quan Trung ương nhìn nhận. Không những thế, ông Lê Văn Thái còn thấy được lời nhắc nhở, cảnh báo của Đảng đối với các tổ chức đảng có thẩm quyền ra quyết định kỷ luật phải thận trọng, cân nhắc để không xảy ra oan sai.

Hơn nữa, với Quy định 117, chúng ta đã có được công cụ để kiểm soát, không cho phép cá nhân, tổ chức vượt quá quyền lực, gây oan sai cho cán bộ. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là vô cùng cần thiết, nhưng không thể khiến cho người ta hoang mang, lo ngại, như thế không thể gây oan sai, mà đã gây oan sai thì phải xử lý.

Giúp cán bộ tự tin trong thực thi công vụ
Nếu Quy định 117 là bước hoàn thiện thể chế về kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng, giúp Đảng thêm vững mạnh thì Nghị định 73/2023/NĐ-CP là bước hoàn thiện cơ chế chính sách về cán bộ.

Việc ban hành Nghị định của Chính phủ về “khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung” có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hiện nay khi nhiều cán bộ “co lại” giữ an toàn, sợ làm sai, sợ trách nhiệm.

Trong điều kiện cơ chế vẫn đang được hoàn thiện, cán bộ dám nghĩ dám làm, nhưng ranh giới giữa sáng tạo và sai sót lại rất mong manh, vì thế công cụ bảo vệ cán bộ dám nghĩ dám làm cho cán bộ yên tâm, mạnh dạn phát huy được sức sáng tạo, đồng thời bảo vệ họ bằng cơ chế trong trường hợp rủi ro khi thực hiện chính sách. Nghị định của Chính phủ là bước cụ thể hóa Kết luận 14 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.

Đồng tình với việc cần có cơ chế bảo vệ cán bộ trước những vấn đề chưa được quy định hoặc đã có quy định nhưng không còn phù hợp với thực tiễn trong quá trình thực thi công vụ, PGS.TS Nguyễn Văn Giang, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương vẫn nhấn mạnh việc phải có quy định rõ ràng, cụ thể ranh giới giữa cái đúng - cái sai, giữa làm vì tập thể, vì cái chung với tính chất cá nhân, lợi ích nhóm; thậm chí là núp bóng, nhân danh dám nghĩ, dám làm để làm liều, thực hiện ý đồ của bản thân. Việc xác định rõ đúng - sai sẽ giúp cán bộ yên tâm làm việc.

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Giang, việc phân loại và quy định cụ thể việc gì không được làm, việc gì được làm và việc gì, lĩnh vực nào cần vận dụng linh hoạt trong thực hiện chức trách nhiệm vụ, sẽ là nền tảng để cán bộ dám nghĩ, dám làm. Khi cán bộ có bản lĩnh, tinh thông nghiệp vụ, làm đúng chức trách nhiệm vụ, cán bộ đó hoàn toàn tự tin trong thực thi công vụ.

Một dấu ấn nữa trong công tác phòng, chống tham nhũng tiêu cực thời gian qua đó là việc đặt ra lộ trình xử lý các vụ việc. Dễ nhận thấy ở nhiều kỳ họp của Ban Chỉ đạo Trung ương phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua, sau khi rà soát lại các vụ việc, Ban Chỉ đạo đều chốt lại, xác định lộ trình để tiếp tục xử lý, xử lý dứt điểm những việc đang dở dang, những khâu còn yếu, những vụ án, vụ việc nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm. Cách làm này theo đúng tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, “đã làm thì phải làm triệt để, làm có hiệu quả, chứ không phải chỉ là làm để làm ví dụ, để tỏ ra ta có làm, cần thiết thì phải gia hạn. Phải làm triệt để đến bao giờ xong thì thôi". Điều đó thể hiện quyết tâm rất lớn của Trưởng Ban Chỉ đạo, của người đứng đầu Đảng ta trong thực tiễn công tác đấu tranh với tham nhũng tiêu cực, đã nói là làm./.
Yêu nước ST.