Thứ Hai, 8 tháng 7, 2024

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với giai cấp công nhân Việt Nam

 


Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với giai cấp công nhân Việt Nam là vấn đề có tính nguyên tắc, là nhân tố quyết định đến sự phát triển toàn diện giai cấp công nhân, bảo đảm cho họ hoàn thành nội dung sứ mệnh lịch sử của mình. Không thể có một đảng cầm quyền vững mạnh, giữ vị trí lãnh đạo mà giai cấp công nhân yếu kém và ngược lại. Mặt khác, sự phát triển và hoạt động của giai cấp công nhân không phải là biệt lập, đứng ngoài hệ thống chính trị, mà nó hoạt động trong sự vận hành thống nhất theo cơ chế đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ thông qua các tổ chức chính trị - xã hội và các đoàn thể nhân dân.

 Trong lịch sử xã hội có giai cấp, giai cấp nào khi giữ vai trò lãnh đạo xã hội đều thông qua chính đảng của mình. Đảng chính trị đó là tổ chức cao nhất, đại biểu trung thành cho trí tuệ và lợi ích của toàn thể giai cấp. Đối với giai cấp công nhân, chính đảng của mình là Đảng cộng sản, không chỉ đại biểu cho trí tuệ và lợi ích của giai cấp công nhân mà còn đại biểu cho toàn thể nhân dân lao động và của cả dân tộc. Giai cấp công nhân phải có một đảng chính trị thật sự vững vàng, kiên định và sáng suốt, có đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn thể hiện lợi ích của giai cấp và toàn thể dân tộc mới có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.

Đảng Cộng sản Việt Nam là lãnh tụ chính trị, đội tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam. Vị thế, vai trò này của Đảng được quy định từ mối quan hệ khách quan vốn có giữa Đảng với giai cấp công nhân, trong đó giai cấp công nhân chính là cơ sở chính trị - xã hội trung tâm, tiêu biểu nhất của Đảng, nơi xuất phát hình thành ra các tổ chức cộng sản tiền thân cho sự ra đời của Đảng; đồng thời họ là nguồn bổ sung lực lượng bảo đảm cho Đảng tồn tại và phát triển về mọi mặt. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp công nhân mới thể hiện được vai trò to lớn ấy. Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra: Mục đích và lợi ích của đảng cộng sản và giai cấp vô sản là thống nhất, “Tuyệt nhiên không có một lợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản”[1]. “Về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”[2]. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh quan hệ không thể tách rời giữa Đảng và giai cấp: “Giai cấp mà không có Đảng lãnh đạo thì không làm cách mạng được. Đảng mà không có giai cấp công nhân cũng không làm được gì”[3].

Đối với giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp trung tâm của xã hội, là cơ sở chính trị - xã hội quan trọng nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, thì lợi ích của giai cấp công nhân được thể hiện tập trung ở mục tiêu lý tưởng của Đảng. Bởi vì, “Đảng ta đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động, chứ không phải mưu cầu lợi ích riêng của một nhóm người nào, của cá nhân nào”[4] và “Ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác”[5]. Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo vì mục tiêu của xã hội xã hội chủ nghĩa đáp ứng được những lợi ích cơ bản giai cấp, tầng lớp trong xã hội, trong đó có giai cấp công nhân. Văn kiện Đại hội IX, Đảng ta nhấn mạnh, xã hội Việt Nam tuy có sự biến đổi về cơ cấu xã hội - giai cấp, song được thống nhất bởi tính lợi ích, do Đảng lãnh đạo: “Lợi ích giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích toàn dân tộc trong mục tiêu chung: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”[6]. Mục tiêu phấn đấu của giai cấp công nhân là mục tiêu lý tưởng của Đảng, là ý nguyện của nhân dân lao động và toàn thể dân tộc. Quá trình thực hiện mục tiêu lý tưởng đó, giai cấp công nhân Việt Nam không hề có lợi ích riêng với nghĩa là tư hữu, nó chỉ có thể tìm thấy lợi ích chân chính của mình khi phấn đấu cho lợi ích của toàn xã hội. Như các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học đã chỉ ra, khi mục tiêu của chủ nghĩa cộng sản hoàn thành, giai cấp công nhân sẽ xóa bỏ chính bản thân nó với tư cách là một giai cấp. Khi đó, giai cấp công nhân trong đó có giai cấp công nhân Việt Nam mới hoàn thành trọn vẹn mục tiêu sứ mệnh lịch sử của mình, mà Đảng của nó là đại biểu trung thành, là người đi đầu trong việc thực hiện mục tiêu, lý tưởng ấy.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.614.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.615.

[3] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.477.

[4] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.88.

[5] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.4.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2001, tr.85-86.

Giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay đang có sự biến đổi nhanh về số lượng, chất lượng, cơ cấu và lợi ích.

 

 Nếu như trước thời kỳ đổi mới, đa số công nhân lao động trong thành phần kinh tế nhà nước với hai loại hình là sở hữu toàn dân (các nhà máy nông trường quốc doanh) và sở hữu tập thể (các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp); thì hiện nay họ có mặt trong mọi thành phần kinh tế, cùng với đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thì số lượng giai cấp công nhân ngày càng tăng nhanh. Giai cấp công nhân Việt Nam đang trong quá trình vận động, phát triển với những biến đổi sâu sắc về cơ cấu nội tại trên tất cả các mặt: lứa tuổi, thế hệ, giới tính, thành phần xuất thân đến trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề, bậc thợ, việc làm và những lợi ích được hưởng… Đồng thời, giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay có sự biến đổi sâu sắc về tâm lý, ý thức tư tưởng, thái độ chính trị và sự tham gia của công nhân vào đời sống chính trị - xã hội đất nước. Những biến đổi khác biệt này khiến cho cơ cấu giai cấp công nhân khá đa dạng và cần những chính sách ngày càng cụ thể, phù hợp hơn với từng đối tượng.

Giai cấp công nhân Việt Nam lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế.

 


Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế trong đó các thiết chế, công cụ và nguyên tắc vận hành nền kinh tế được tự giác tạo lập và sử dụng để giải phóng triệt để sức sản xuất, từng bước cải thiện đời sống nhân dân. Đây là nền kinh tế vừa tuân theo quy luật của thị trường, vừa chịu sự chi phối bởi các quy luật kinh tế của chủ nghĩa xã hội và các yếu tố bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam gắn với phát triển nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và kinh tế tri thức. Trong điều kiện như vậy, giai cấp công nhân chịu sự quy định, tác động bởi các quy luật, cơ chế thị trường, yêu cầu của kinh tế tri thức và các sân chơi quốc tế cả những mặt tích cực, tiêu cực. Trong khi đó, bảo đảm các nhân tố xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường và phát triển giai cấp công nhân Việt Nam trở thành giai cấp công nhân hiện đại - cơ sở chính trị trung tâm, tiêu biểu nhất trong cơ sở xã hội của Đảng và chế độ là yêu cầu và chiến lược quốc gia.

Giai cấp công nhân Việt Nam vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

 


Đảng ta xác định, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chú trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gia tăng lực lượng lao động công nghiệp; theo đó, giai cấp công nhân ngày càng gia tăng về số lượng và nâng cao về chất lượng, nhất là trình độ học vấn, chuyên môn, tay nghề, tác phong, kỷ luật lao động…, thể hiện như một lực lượng lao động tiên tiến nhất và phát triển khá nhanh. Đó là tính tất yếu biến đổi cơ cấu kinh tế, đến tất yếu biến đổi cơ cấu giai cấp - xã hội. Mặt khác, giai cấp công nhân Việt Nam là chủ thể chính, lực lượng đi đầu trong thực hiện nội dung, mục tiêu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đảng ta đã khẳng định: “sự lớn mạnh của giai cấp công nhân là một điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”[1].

 



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị trung ương 6 khóa X, (NQ20/NQTW), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008.

Giai cấp công nhân Việt Nam sớm trở thành lực lượng chính trị độc lập, thống nhất lợi ích giai cấp, dân tộc và nhân dân lao động

 


Giai cấp công nhân sớm được trang bị chủ nghĩa Mác - Lênin - một vũ khí tinh thần mác xít, cùng với truyền thống đấu tranh bất khuất, kiên cường của dân tộc, trở thành nền tảng tinh thần cho toàn giai cấp.

Ngay từ khi mới ra đời và phát triển, họ được soi sáng bởi Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 - một cuộc cách mạng điển hình, triệt để, do giai cấp vô sản lãnh đạo, thông qua đội tiền phong là Đảng Bônsêvích Nga, mở ra một thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Cách mạng Tháng Mười đã giác ngộ, cổ vũ giai cấp công nhân Việt Nam hình thành ý thức giai cấp, tính tổ chức, tính kỷ luật và tinh thần cách mạng triệt để.

Giai cấp công nhân Việt Nam đã sớm tổ chức ra chính đảng tiền phong của mình là Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930), đánh dấu bước ngoặt của cách mạng Việt Nam. Từ đây, họ đã đứng lên vũ đài chính trị, lãnh đạo dân tộc đánh tan hai đế quốc to là Pháp và Mỹ giành lại độc lập dân tộc, từng bước xây dựng Việt Nam trở thành một quốc gia ngày càng giàu mạnh. Do ra đời trong hoàn cảnh đầu thế kỷ XX khi Quốc tế II bị phá sản nên giai cấp công nhân Việt Nam không chịu ảnh hưởng chủ nghĩa cơ hội trong Đảng và trong phong trào công nhân. Sự trưởng thành của giai cấp công nhân gắn liền với công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trên hành trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và truyền bá vào Việt Nam, trong đó có giai cấp công nhân Việt Nam làm cho họ chuyển biến về ý thức, tư tưởng, từ đấu tranh một cách tự phát thành đấu tranh tự giác; từ giai cấp “tự mình”, phát triển thành giai cấp “cho mình”. C.Mác đã viết: “Trong cuộc đấu tranh... quần chúng ấy tập hợp nhau lại, tự hợp thành “giai cấp vì nó”. Những lợi ích mà nó bảo vệ, trở thành những lợi ích giai cấp. Mà cuộc đấu tranh giữa giai cấp với giai cấp là cuộc đấu tranh chính trị”[1]. Tức là, chỉ khi nào công nhân nhận thức được yêu cầu phải đấu tranh để bảo vệ lợi ích giai cấp, giai cấp công nhân mới trở thành “giai cấp cho mình”. Đặc biệt, Nguyễn Ái Quốc đã trực tiếp chỉ đạo hợp nhất ba tổ chức cộng sản đảng, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiền phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.256.

Giai cấp công nhân Việt Nam luôn kế thừa truyền thống yêu nước, cần cù, chịu khó, kiên cường bất khuất của dân tộc

 


 Giai cấp công nhân Việt Nam sinh ra trong bối cảnh phải chịu đựng 3 tầng áp bức bóc lột (đế quốc thực dân, phong kiến, tay sai); song được hun đúc bởi truyền thống yêu nước, kiên cường, bất khuất; truyền thống lao động cần cù, vượt khó trong dựng nước và giữ nước qua mấy ngàn năm lịch sử của dân tộc.

Trong các cuộc đấu tranh giữ nước, dân tộc ta phải chiến đấu với kẻ thù mạnh hơn ta nhiều lần về kinh tế, trang bị vũ khí, quân số; song họ biết đoàn kết, chọn cách đánh phù hợp, phát huy sức mạnh tổng hợp nên đã chiến thắng oanh liệt mọi kẻ thù. Truyền thống ấy trở thành tài sản vô giá của dân tộc ta. Dân tộc ta còn biết đến như là một dân tộc anh hùng trong xây dựng và phát triển đất nước, trải qua các thời kỳ đã khai sông, lấn biển mở mang bờ cõi, xây dựng đất nước ngày càng lớn mạnh phồn vinh. Những truyền thống vẻ vang đó đã được giai cấp công nhân Việt Nam tiếp thu và phát huy cao độ.

Thế giới đang đứng trước những vấn đề toàn cầu, an ninh phi truyền thống, đòi hỏi cộng đồng quốc tế cùng nhau khắc phục và giải quyết.

 


Ngày nay tất cả các quốc gia trên thế giới đều chịu tác động của vấn đề toàn cầu như khủng bố quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia, phổ biến vũ khí hủy diệt, thảm họa thiên tai, thảm họa môi trường sinh thái, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, an ninh mạng, nghèo đói và dịch bệnh. Cả thế giới giới đã chứng kiến đại dịch COVID-19, trở thành thảm họa toàn cầu khiến kinh tế toàn cầu khủng hoảng, hoạt động xã hội ngưng trệ, đảo lộn, tâm lý của người dân bất an. Những vấn đề trên đã và đang tác động tới an ninh và phát triển của nhiều nước, nhiều khu vực. Nhu cầu về tài nguyên của các nền kinh tế, đặc biệt là các nền kinh tế mới nổi và các nền kinh tế của các nước đang phát triển sẽ tăng vọt dẫn tới việc cạnh tranh các nguồn tài nguyên vốn đã gay gắt sẽ trở nên nghiêm trọng hơn.

Hiện nay, an ninh biển cũng đang nổi lên và đe dọa đến an ninh toàn cầu. An ninh biển không chỉ liên quan đến an toàn các tuyến đường hàng hải mà ngày càng mở rộng ra các khía cạnh khác như an ninh môi trường biển, các nguồn lợi hải sản. Do tác động của việc gia tăng các tranh chấp biển, đảo và các chuyển biến của an ninh phi truyền thống khác, an ninh biển sẽ trở thành một trong những vấn đề chi phối quan hệ giữa nhiều nước. Chủ nghĩa khủng bổ, điển hình là IS vẫn đang duy trì hoạt động tại Irắc, Xyri và ở một số nước khác, đã không chỉ gây ra những bất ổn và biến động chính trị, quốc phòng, an ninh tại nhiều nước mà còn lôi cuốn nhiều quốc gia trong và ngoài khu vực vào “chảo lửa” này. Nguy hiểm hơn, các tổ chức khủng bố đang mở rộng địa bàn hoạt động sang châu Âu, châu Á gây mất an ninh, an toàn xã hội. Những vụ tấn công nhằm vào Pháp, Bỉ, Anh, Nga, lan sang một số nước Đông Nam Á như Philippin, Indonesia cho thấy tất cả những điều đó không thể giải quyết trong một sớm, một chiều, mà sẽ kéo dài, vô cùng phức tạp.

Chưa bao giờ nhân loại phải đứng trước những vấn đề toàn cầu như an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh có nhiều diễn biến phức tạp. Đó là sự nóng lên của trái đất và hiệu ứng nhà kính. Đó là các vấn đề môi trường sinh thái, rác thải, đói nghèo, các bệnh xã hội, các bệnh dịch... Không có quốc gia nào có thể một mình giải quyết được mà đòi hỏi phải có một sự hợp tác toàn nhân loại để giải quyết. Đây là nhu cầu đặt ra như là một tất yếu khách quan trong giai đoạn hiện nay của thời đại.

Tính chất của thời đại hiện nay

 


Tính chất của thời đại hiện nay là: quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Đây là cuộc đấu tranh giữa hai kiểu chế độ xã hội hoàn toàn đối lập nhau về chất, trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội thông qua cách mạng xã hội chủ nghĩa bằng đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc và cách mạng xã hội, chứ không thể bằng cải lương, hòa bình chủ nghĩa.

“Xét về tính chất, thời đại ngày nay là thời đại quá độ, vì nội dung cơ bản của nó là sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác”[1]. Sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội phải trải qua nhiều giai đoạn trung gian chuyển tiếp lâu dài, thậm chí có lúc quanh co thất bại. Chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội mới, khác về chất so với chế độ xã hội trước đó, nên cũng không thể tránh khỏi những sai lầm khiếm khuyết, cũng như sự chống phá quyết liệt của kẻ thù và những phần tử cơ hội, thóai hóa, biến chất.

Đảng ta khẳng định: Thời đại chúng ta mà nội dung căn bản là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại, là thời đại đấu tranh giữa hai hệ thống xã hội đối lập, là thời đại cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng giải phóng dân tộc, là thời đại chủ nghĩa đế quốc sụp đổ và hệ thống thuộc địa bị thủ tiêu, là thời đại ngày càng có nhiều dân tộc tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa, là thời đại thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới[2].

Quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình lịch sử lâu dài, đan xen giữa cái cũ và cái mới, cái lạc hậu và cái tiến bộ, cái đang định hình và cái đã định hình đấu tranh quyết liệt phủ định lẫn nhau. Do đó, không thể chủ quan nóng vội, đốt cháy giai đoạn, mơ hồ thủ tiêu đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội để chung sống hòa bình vô nguyên tắc hoặc tuyệt đối hóa mâu thuẫn, mặt đối lập dẫn đến tư tưởng cực đoan, khép kín, bất hợp tác đều là những sai lầm và phải trả giá.



[1] A.M. Ru-mi-an-xtép (Chủ biên), Chủ nghĩa cộng sản khoa học - Từ điển, Nxb Tiến Bộ, Mátxcơva, 1986, tr.332.

[2] Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 22, Tăng cường đoàn kết nhất trí, tiến tới những thắng lợi mới!” (1966), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.57.

Nội dung của thời đại hiện nay

 


Cách mạng Tháng Mười năm 1917 nổ ra và thắng lợi, mở ra thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Nội dung của thời đại hiện nay là thực hiện sự quá độ từ chế độ tư bản chủ nghĩa, từng bước thiết lập những cơ sở của xã hội mới - xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. V.I.Lênin viết: “Việc xóa bỏ chủ nghĩa tư bản và các tàn tích của nó, việc thiết lập các cơ sở của chủ nghĩa cộng sản là nội dung của thời đại mới vừa mới bắt đầu của lịch sử toàn thế giới”[1].

Hội nghị đại biểu các đảng cộng sản và công nhân quốc tế tại Mátxcơva năm 1960 xác định: “Thời đại chúng ta mà nội dung chủ yếu là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng cuộc Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, là thời đại đấu tranh giữa hai hệ thống xã hội đối lập, là thời đại cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng giải phóng dân tộc, là thời đại sụp đổ của chủ nghĩa đế quốc, tan rã của chủ nghĩa thực dân, là thời đại có nhiều nước đi lên chủ nghĩa xã hội, là thời đại thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới”[2].

Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, phức tạp; song, “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định tiến tới chủ nghĩa xã hội”[3].

Nội dung cơ bản của thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, được mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, là thời đại đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội gắn liền với cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại.

Thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên các lĩnh vực đời sống xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Tuy nhiên, thời đại quá độ được mở ra không có nghĩa là thời đại tư bản đã chấm dứt, từ đó chủ nghĩa tư bản chỉ còn lại với tính cách là tàn dư, nên đã hết tiềm năng phát triển. Theo đó, giai đoạn đầu của thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội chưa hoàn thành, có nghĩa là thời đại tư bản chưa chấm dứt, thậm chí còn nhiều tiềm năng phát triển. Chỉ đến giai đoạn cuối của “thời đại quá độ”, chủ nghĩa xã hội mới là nhân tố quyết định sự phát triển xã hội loài người, còn chủ nghĩa tư bản tồn tại với tính cách là tàn dư - nhân loại đã đi vào thời đại mới - xã hội chủ nghĩa. Giai đoạn cuối của thời đại quá độ cũng là giai đoạn đầu của thời đại xã hội chủ nghĩa.

Thực chất nội dung của thời đại hiện nay là một quá trình lịch sử lâu dài quanh co, phức tạp, thông qua đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội để giải quyết vấn đề “ai thắng ai” giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản. Là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh cùng tồn tại hòa bình giữa các nước có chế độ chính trị khác nhau. Là quá trình đồng thời diễn ra hai cuộc cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa và cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại. Hai cuộc cách mạng này không thể thay thế và là tiền đề, điều kiện cho nhau. Là quá trình tan rã của chủ nghĩa thực dân, sự sụp đổ của chủ nghĩa đế quốc và thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới.



[1] V.I.Lênin toàn tập, Tập 41, “Bàn về cuộc đấu tranh trong Đảng xã hội chủ nghĩa Ý tiếng” (1915), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.504.

[2] Tuyên bố của Hội nghị Đại biểu các Đảng cộng sản và công nhân tại Matxcơva tháng 11-1960, Nxb Sự thật, 1961, tr.17-18.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.70.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: DANH HIỆU QUAN BỘ ĐỘI CỤ HỒ - BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA QUÂN SỰ THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH!

BÀI 1: BỘ ĐỘI CỤ HỒ - MỘT BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA CƠ BẢN CỦA VĂN HÓA VIỆT NAM SAU 1945!
     Đất nước ta nửa cuối thế kỷ 20 trải qua hai cuộc kháng chiến cực kỳ ác liệt chống kẻ thù xâm lược. Lịch sử trao cho bộ đội sứ mệnh đứng ở vị trí tuyến đầu đuổi giặc để giành lại hòa bình, độc lập, tự do. Từ góc nhìn lý thuyết nào thì Bộ đội Cụ Hồ cũng là một biểu tượng văn hóa trung tâm của thời đại. Là nhân tố góp phần cơ bản, chủ yếu kiến tạo nên thời đại anh hùng, Bộ đội Cụ Hồ là biểu tượng văn hóa đích đáng cho thời đại anh hùng!

Biểu tượng văn hóa là thành tố cơ bản, là gương mặt văn hóa
Để thuận lợi cho giao tiếp trong cuộc sống luôn vô cùng đa dạng, phong phú, phức tạp, con người mượn sự vật, hiện tượng làm ký hiệu, gửi vào đó những quy ước chung. Theo thời gian, nhờ được bồi đắp nhiều lớp phù sa văn hóa, ký hiệu lắng đọng, kết thành biểu tượng. Bước vào thời toàn cầu hóa, nhu cầu giao lưu, trao đổi ngày càng trở nên cấp thiết, biểu tượng văn hóa trở thành cầu nối giữa các quốc gia.

Hiểu theo nghĩa Hán Việt, “biểu” là dấu hiệu, ký hiệu; “tượng” là hình tượng. “Biểu tượng” là ký hiệu chứa đựng một hoặc nhiều ý nghĩa. Tiếng Anh gọi là “symbol”, có gốc từ tiếng La Mã (symbolus) và tiếng Hy Lạp (symbolon), có nghĩa nguyên thủy là “một nhóm người đồng ý sự vật, hình ảnh ấy có nhiều hơn một ý nghĩa của chính nó”. Tức nội dung ý nghĩa luôn lớn hơn cái vỏ hình thức biểu tượng.

Mỗi dân tộc đều có một hệ biểu tượng tiêu biểu, như là “cửa ngõ” mời gọi thế giới bước vào một không gian văn hóa khác lạ để thưởng thức, chiêm ngưỡng. Vì thế, giải mã văn hóa là giải mã biểu tượng, phải hiểu biểu tượng theo hướng triết học, đi tìm cội nguồn phát sinh, bản chất, ảnh hưởng trong đời sống hôm qua và hôm nay.

Có những biểu tượng riêng của từng nơi nhưng cũng có biểu tượng mang tính phổ quát chung, như hoa hồng là biểu tượng của tình yêu, chim bồ câu biểu tượng cho hòa bình... Biểu tượng luôn mang màu sắc biểu cảm sâu đậm. Nghe một điệu hát ru, ta nôn nao nhớ về quá khứ truyền thống ngàn năm ân tình, ân nghĩa. Nhìn màu cờ đỏ, nghe âm thanh của bài Quốc ca trước một trận đấu thể thao, trong ta dâng lên niềm tự hào dân tộc khó tả... Là sự kết tinh các giá trị mang bản sắc văn hóa nên biểu tượng mang tính thông điệp rất rõ.

Luôn bao chứa lượng tri thức văn hóa sâu rộng, có tính cộng đồng cao nên biểu tượng là “căn cước văn hóa” của mỗi dân tộc, tồn tại ở hai dạng: Những cái nhìn thấy hoặc có thể cầm nắm được, thuộc văn hóa vật thể và những biểu tượng trừu tượng (lòng yêu nước, yêu thiên nhiên...), thuộc văn hóa phi vật thể. Là thành tố cơ bản, là hạt nhân của văn hóa nên tìm hiểu, nghiên cứu biểu tượng sẽ thấy được một cách toàn vẹn, trung thực, rõ ràng hơn bản sắc văn hóa. Thế giới biết và hiểu Việt Nam hơn qua biểu tượng nón lá, áo dài, qua mái đình làng, qua cây đa cổ thụ... Vì thế, nghiên cứu văn hóa không thể không nghiên cứu biểu tượng.

Bộ đội Cụ Hồ - một biểu tượng văn hóa trung tâm của thời đại
Biểu tượng luôn đa nghĩa nhưng có hai loại nghĩa cơ bản, nhiều trường phái gọi là biểu hình (visible sign) và biểu ý (idea). Ký hiệu học gọi là cái biểu đạt, tức hình thức tồn tại dưới dạng các sự vật, hiện tượng và cái được biểu đạt là các nội dung mang tính giá trị, chuẩn mực văn hóa. Đất nước ta nửa cuối thế kỷ 20 trải qua hai cuộc kháng chiến cực kỳ ác liệt chống kẻ thù xâm lược. Lịch sử trao cho bộ đội sứ mệnh đứng ở vị trí tuyến đầu đuổi giặc để giành lại hòa bình, độc lập, tự do. Từ góc nhìn lý thuyết nào thì Bộ đội Cụ Hồ cũng là một biểu tượng văn hóa trung tâm của thời đại. Điều đó được thể hiện ở những nội dung sau:
Một là: Bộ đội Cụ Hồ - sự kế thừa xứng đáng truyền thống lịch sử anh hùng.
Tự thân biểu tượng luôn mang một chiều sâu văn hóa, theo thời gian được bồi đắp, tích lũy thêm các lớp mã ý nghĩa mới. Là hạt giống của cây văn hóa cổ xưa gieo vào mảnh đất đương đại, nảy mầm, lớn lên cho hoa quả ý nghĩa mới, do vậy biểu tượng luôn mang tính truyền thống. Giải mã biểu tượng cũng là một cách tìm về truyền thống. Không am hiểu sâu sắc “mẫu gốc” và hoàn cảnh lịch sử văn hóa, không tri giác tường tận mảnh đất đương đại, khó có thể kiến tạo ra biểu tượng mới.

Dễ chứng minh trong hình tượng Bộ đội Cụ Hồ là sự kế thừa hình tượng Thánh Gióng, Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền cho đến người lính trong “Sông núi nước Nam...” (tương truyền của Lý Thường Kiệt), “Hịch tướng sĩ” (Hưng Đạo Vương), “Cáo bình Ngô” (Nguyễn Trãi), đến hình tượng người nghĩa sĩ của Nguyễn Đình Chiểu... Mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì thế hệ những người lính lại lên đường đuổi giặc bằng mọi thứ vũ khí và luôn chiến thắng kẻ thù một cách vẻ vang nhất.

Theo hướng nghiên cứu liên văn hóa (intercultural), nhiều nghiên cứu lịch sử quân sự thế giới lý giải sức mạnh của Quân đội Việt Nam trước nay được thể hiện trong mã văn hóa “ngụ binh ư nông” rất riêng. Khi hòa bình thì binh lính về làm ruộng, khi có chiến tranh thì toàn dân làm lính nên đặc trưng của Quân đội là rất linh hoạt, nhanh gọn, cơ động, có thể tác chiến trên mọi địa hình, thời tiết, hoàn cảnh, lại có thể tự nuôi mình... Sống trong dân, từ dân mà ra nên khi cầm vũ khí giữ nước, người lính được tiếp sức mạnh từ dân, từ bầu khí quyển, từ mảnh đất văn hóa họ sống.

Đặc trưng ấy được kết tinh và phát huy cao độ ở thời hiện đại nên Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội của dân, vì dân, được Đảng lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện nên đã vượt qua những chướng ngại tưởng chừng không thể. Trên thế giới hiếm có đội quân nào đạt được những chiến công như thế!

Học tập, kế thừa, kết tinh, phát triển và nâng cao tinh hoa văn hóa quân sự cha ông, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với tinh thần Thánh Gióng, 80 năm qua, Bộ đội Cụ Hồ đã viết tiếp những trang sử mới mang tầm thời đại, xứng đáng với truyền thống anh hùng.

Hai là: Bộ đội Cụ Hồ - hiện thân của bản sắc văn hóa Việt Nam yêu nước, hòa bình, hữu nghị.
Vượt qua mọi vất vả, hy sinh “mưa dầm cơm vắt”, “máu trộn bùn non”, Bộ đội Cụ Hồ đã làm nên một Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”, đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ. Tiếp đó, Bộ đội Cụ Hồ đã trở thành “Thạch Sanh của thế kỷ 20” chiến đấu và chiến thắng quân xâm lược Mỹ hung bạo, thiện chiến.

Không những vậy, Bộ đội Cụ Hồ đã tình nguyện làm nghĩa vụ quốc tế giúp nhân dân Campuchia hồi sinh, thoát khỏi nạn diệt chủng man rợ, được nhân dân xứ sở chùa tháp gọi là “đội quân nhà Phật”. Trong lịch sử quân sự thế giới, hiếm thấy một đội quân nào anh dũng, yêu nước, nhân văn cao cả, được nhân dân tin tưởng tuyệt đối như vậy!

Ba là: Bộ đội Cụ Hồ - biểu tượng cho chân lý, sức mạnh, bản lĩnh thời đại.
Nhà thơ Tố Hữu diễn đạt tinh tế bằng thơ về sứ mệnh vinh quang, thiêng liêng cao cả của Bộ đội Cụ Hồ: “Nếu được làm hạt giống để mùa sau/ Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa/ Vui gì hơn làm người lính đi đầu/ Trong đêm tối, tim ta làm ngọn lửa!” (Chào xuân 67).

Thế giới có câu chuyện nổi tiếng về chàng Đan-kô móc trái tim mình làm ngọn đuốc soi đường cho đoàn người đi về phía tự do, hạnh phúc. Bộ đội Cụ Hồ cũng vậy, họ đã mang tuổi xuân đẹp nhất của mình cống hiến cho Tổ quốc. Thế nên Bộ đội Cụ Hồ mang tầm vóc vũ trụ: “Anh đi, xuôi ngược tung hoành/ Bước dài như gió, lay thành chuyển non/ Mái chèo một chiếc xuồng con/ Mà sông nước dậy sóng cồn đại dương!” (Tố Hữu - "Tiếng hát sang xuân").

Kẻ thù phi nghĩa muốn đốt cả dân tộc ta thành tro bụi, nhờ có Bộ đội Cụ Hồ mà “ta hóa vàng nhân phẩm, lương tâm”. Bọn cướp nước muốn ta “bán mình ô nhục”. Nhờ có Bộ đội Cụ Hồ, đất nước mình “làm sen thơm ngát” (ý thơ Tố Hữu trong “Việt Nam, máu và hoa”). Một hình tượng đẹp, lớn lao, kỳ vĩ như thế xứng đáng là một biểu tượng trung tâm của thời đại!

Là nhân tố góp phần cơ bản, chủ yếu kiến tạo nên thời đại anh hùng, Bộ đội Cụ Hồ là biểu tượng văn hóa đích đáng cho thời đại anh hùng. Đó là chân lý và cũng là đạo lý!
Ảnh: Tái hiện hình ảnh chiến sĩ Điện Biên anh hùng tại Lễ diễu binh kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954/ 7-5-2024). 
(còn nữa).
Yêu nước ST.

Mục tiêu của thời đại hiện nay

 


          Mục tiêu của thời đại hiện nay : Hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Bản Tuyên bố và bản Tuyên ngôn Hòa bình tại Hội nghị 81 đảng cộng sản và công nhân ở Mátxcơva năm 1960 đã xác định mục tiêu của thời đại hiện nay là: “Vấn đề cơ bản của cuộc đấu tranh giữa hai hệ thống trên thế giới là vấn đề ai thắng ai, giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội; vấn đề nóng hổi nhất của thời đại hiện nay là vấn đề bảo vệ và củng cố hòa bình. Vì vậy, mục tiêu đấu tranh hiện nay của nhân dân thế giới là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Các mục tiêu ấy liên hệ chặt chẽ với nhau. Cuộc đấu tranh nhằm đạt các mục tiêu ấy là một cuộc đấu tranh kiên quyết chống chủ nghĩa đế quốc”[1].

Hòa bình, là mục tiêu chung của nhân loại, là mơ ước, lý tưởng của con người, là điều kiện hàng đầu để xây dựng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Chủ nghĩa tư bản hiện đại vẫn là “bạn đường chiến tranh, là kẻ thù của hòa bình, vì vậy đấu tranh để bảo vệ hòa bình là một mục tiêu quan trọng của mọi lực lượng cách mạng và tiến bộ trên toàn thế giới.

Hòa bình là khát vọng, là mục tiêu đấu tranh của nhân loại tiến bộ, do đó luôn có sự thống nhất, đồng thuận cao trong nhận thức và hành động của các dân tộc. Thế giới hiện nay xét về tổng thể là hòa hoãn, cùng tồn tại hòa bình, nguy cơ nổ ra chiến tranh lớn, chiến tranh thế giới khó có thể xảy ra, nhưng nguy cơ chiến tranh khu vực, xung đột dân tộc, sắc tộc vẫn tiềm ẩn và bùng phát bất cứ lúc nào, nơi nào. Khủng bố và chống khủng bố tuy có phần lắng dịu so với những năm trước, nhưng những nguồn gốc, đặc điểm vẫn chưa giải quyết dứt điểm và xu hướng vận động trong bối cảnh những tác động tiêu cực của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm phức tạp đời sống chính trị, kinh tế, an ninh toàn cầu, có nguy cơ làm mất đi cơ hội hòa bình và phát triển của tất cả các quốc gia dân tộc trên thế giới.

Hòa bình và phát triển là nguyện vọng, là mối quan tâm của toàn thế giới, là sự thống nhất và đồng thuận trong nhận thức lẫn hành động của tất cả các dân tộc. Thế giới cần hòa bình, nhân dân cần hợp tác, quốc gia cần phát triển, xã hội cần tiến bộ, tất cả đã trở thành trào lưu, xu thế tất yếu của thế giới ngày nay. Việc đảm bảo hòa bình không hề dễ dàng trong một thế giới chứa chất nhiều điều bất ổn, nhiều biến động khó lường và thách thức gay gắt. Đấu tranh cho hòa bình và an ninh chung ngày càng trở nên bức xúc, có tính thời sự và là chủ đề lớn của thời đại.

Độc lập dân tộc, là mục tiêu trực tiếp của các quốc gia trong bối cảnh mới, các nước đang phát triển, chậm phát triển đang chịu ảnh hưởng rất lớn của xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nguy cơ lệ thuộc vào các nước phát triển, nhất là các nước lớn cao; do vậy, độc lập dân tộc gắn liền với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân mới” dưới mọi hình thức. Độc lập dân tộc được thể hiện: Độc lập về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Độc lập dân tộc không đối lập với hội nhập, hợp tác, liên minh để cùng nhau tồn tại và phát triển. Độc lập dân tộc được thể hiện: độc lập về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại. Độc lập dân tộc không đối lập với hội nhập, hợp tác, liên minh để cùng nhau tồn tại và phát triển.

Dân chủ, là mục tiêu cơ bản, lâu dài của con người, giai cấp, dân tộc và mỗi quốc gia. Dân chủ là một giá trị xã hội, là quyền làm chủ của con người, là thước đo đánh giá sự tiến bộ xã hội. Tuy nhiên, dân chủ phụ thuộc vào chế độ chính trị và trình độ phát triển của mỗi quốc gia dân tộc. Dân chủ gắn với kỷ luật, kỷ cương, không có dân chủ phi giai cấp như các học giả tư sản tuyên truyền để làm rối loạn chính trị xã hội. Đây là mục tiêu cơ bản, lâu dài của con người, giai cấp, dân tộc và mỗi quốc gia.

Chủ nghĩa xã hội, là mục tiêu lớn của thời đại hiện nay, khát vọng, lý tưởng của giai cấp công nhân và nhân dân tiến bộ, phấn đấu vì một thế giới cường thịnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đảng ta khẳng định: “Mục tiêu cuối cùng của tất cả các đảng cộng sản và đảng công nhân là xây dựng trên thế giới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”[2].

Thực hiện mục tiêu này là một quá trình lâu dài thông qua đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc gay go, quyết liệt. Lực lượng đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản là giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của các đảng cộng sản và đảng công nhân, mà nòng cốt liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.



[1] Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 22, “Tăng cường đoàn kết nhất trí, tiến tới những thắng lợi mới!” (1961), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.64.

[2] Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 22, “Tăng cường đoàn kết nhất trí, tiến tới những thắng lợi mới!” (1961), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.56.