Thứ Năm, 5 tháng 6, 2025

 

Âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch phủ nhận đường lối quốc phòng toàn dân

Đường lối quốc phòng toàn dân (QPTD) là sự nhận thức nhất quán của Đảng ta nhằm xây dựng nền QPTD vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, thời gian gần đây các phần tử cơ hội chính trị và các thế lực thù địch tung ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD một cách lạc lõng. Vì vậy, nhận diện, đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD là nhiệm vụ cấp bách trong tình hình hiện nay.

Mục đích xuyên suốt của các thế lực thù địch là xuyên tạc, phủ nhận bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc; phủ nhận tính chất “tự vệ chân chính” trong đường lối QPTD của Đảng ta; hướng lái Việt Nam theo quỹ đạo của chính sách quốc phòng tư sản. 

Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD trước hết xuất phát từ các thế lực thù địch, phản động nước ngoài. Chúng vừa trực tiếp tấn công, xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD bằng các cơ quan, tổ chức của mình, vừa gián tiếp nuôi dưỡng, ủng hộ, bảo kê các tổ chức, cá nhân phản động ở trong và ngoài nước.

Thứ hai là các tổ chức, cá nhân phản động người Việt Nam ở nước ngoài, chủ yếu là số ngụy quân, ngụy quyền. Chúng vừa tập hợp lực lượng, sử dụng chiêu bài tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD; vừa móc nối, kích động các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị trong nước cản trở, phá hoại các dự án kinh tế kết hợp quốc phòng. Thứ ba là đối tượng cơ hội, bất mãn chính trị ở trong nước với bản chất “gió chiều nào xoay chiều ấy”, khi cách mạng gặp khó khăn, thử thách, họ quay sang chống Đảng và xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD.

Nội dung các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD thể hiện ở nhiều khía cạnh, màu sắc, tính chất, mức độ khác nhau. Chúng cho rằng, Đảng ta tuyệt đối hóa vị trí, vai trò nền QPTD và mâu thuẫn trong chính nhận thức của mình. Chúng đã viện dẫn Văn kiện Đại hội VIII trước đây: “Trong khi đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta không một chút lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, luôn luôn coi trọng quốc phòng, an ninh, coi đó là nhiệm vụ chiến lược gắn bó chặt chẽ”. Bên cạnh đó, chúng cắt cúp nhận định về xu thế trong quan hệ quốc tế theo Văn kiện Đại hội XIII: “Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn” là không phù hợp, cho nên không cần khẳng định vị trí của QPTD nữa (!)

Chúng xuyên tạc, phủ nhận các đặc trưng cơ bản nền QPTD, coi chủ trương xây dựng nền QPTD của Việt Nam là “đe dọa hòa bình các nước trong khu vực”. Ở thái cực khác, chúng “khuyên” Việt Nam từ bỏ “4 không” trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam. Chúng phủ nhận nền QPTD ở nước ta “không phải vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành”, “không đếm xỉa đến lợi ích chung của dân tộc”, mà “vì lợi ích của Đảng Cộng sản Việt Nam”(!). Nguy hiểm hơn, chúng phủ nhận sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng nền QPTD, tức là phủ nhận tính chính danh, chính pháp của hoạt động trọng yếu này.

TỪ LỊCH SỬ NGÀN NĂM DỰNG NƯỚC ĐẾN TRIẾT LÝ “NGOẠI GIAO CÂY TRE”

 

Từ bao đời nay, cây tre luôn gắn bó với cộng đồng dân tộc Việt Nam, mang trong mình cốt cách riêng của nền văn hóa, con người Việt Nam: kiên cường mà mềm dẻo, bản lĩnh mà linh hoạt, dung dị mà sáng tạo... Từ hình tượng và sự gần gũi của cây tre đã hình thành triết lý “Ngoại giao cây tre Việt Nam”. Đó là nền ngoại giao độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế, kiên trì về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, thủy chung, chính nghĩa, vì hòa bình, hợp tác và tiến bộ của nhân loại.

Từ đời sống bình dị đến triết lý ngoại giao

Trong lịch sử và văn hóa Việt Nam, cây tre là biểu trưng của bản lĩnh quật cường, ý chí bất khuất của con người Việt Nam. Từ thuở hồng hoang, những ý niệm về quốc gia - dân tộc của Việt Nam được hình thành từ sự cố kết cộng đồng trải qua hàng nghìn năm trường kỳ phòng, chống thiên tai và địch họa. Cây tre tạo nên những lũy, thành, giúp cha ông ta bảo vệ làng quê trước thử thách của thiên nhiên và bảo vệ đất nước khỏi giặc ngoại xâm. Thấm đượm bản sắc và văn hóa Việt Nam, hình tượng cây tre và ngoại giao Việt Nam rất gần gũi nhau. Ngoại giao là sự giao thoa của chính trị - an ninh, kinh tế - xã hội và văn hóa, là sợi dây kết nối quá khứ với hiện tại, lịch sử và tương lai, đất nước với thế giới. Ngoại giao lấy cái gốc là văn hóa dân tộc và mang trong mình nội hàm văn hóa dân tộc. Điều đó đã được minh chứng trong lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc đã minh chứng ngoại giao là một trong số những thế mạnh vượt trội của Việt Nam, góp phần quan trọng giúp chúng ta giữ vững độc lập, chủ quyền, khẳng định vị thế trên trường quốc tế.

Kế thừa truyền thống văn hóa của dân tộc, thực hiện phương châm sẵn sàng “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra ngay từ những ngày đầu giành độc lập, Việt Nam đã và đang thực sự “là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Đó là khởi điểm của quá trình hình thành, phát triển của nền ngoại giao Việt Nam từ khi Đảng lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, lập nước, hình thành nên trường phái ngoại giao của Việt Nam. Tới nay, “gốc tre” của ngoại giao Việt Nam nói riêng và đất nước nói chung đã bén rễ, vươn cành vững chắc hơn với những thành quả thật đáng tự hào, bất chấp giông tố của thời cuộc. Luôn luôn đề cao mục tiêu độc lập dân tộc, tinh thần hòa hiếu, hữu nghị, dùng ngoại giao để đẩy lùi xung đột, đưa đất nước tới hòa bình, phát triển. Với sự đóng góp của ngành Ngoại giao, chúng ta đã cho nhân dân thế giới thấy một Việt Nam với khát vọng hòa bình, kiên cường, bất khuất đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, phá thế bao vây cấm vận, đưa đất nước phát triển.

Trước năm 1986, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều nước ngoài hệ thống XHCN; gia nhập Liên hợp quốc và một số tổ chức kinh tế, xã hội khác. Tuy nhiên, giai đoạn này an ninh, chính trị thế giới xảy ra nhiều biến động, các nước XHCN rơi vào khủng hoảng chính trị, kinh tế, xã hội. Trong nước, thiên tai liên tục xảy ra, hai đầu biên giới xảy ra chiến tranh, lại bị các nước thù địch bao vây, cấm vận. Trước tình hình này, tại Đại hội VI (tháng 12/1986), Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo nhân dân thực hiện công cuộc đổi mới. Trong đó, Đảng đã đánh giá lại cục diện thế giới để xác định đường lối, chính sách đối ngoại trong hoàn cảnh mới. Từ một nước bị bao vây, cấm vận, đến nay, nước ta đã có quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia, trong đó Việt Nam có quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với 07 quốc gia, đó là: Trung Quốc (2008), Liên bang Nga (năm 2012), Ấn Độ (2016), Hàn Quốc (2022), Mỹ (2023), Nhật Bản (2023) và Australia (2024). 12 nước Đối tác chiến lược và 12 nước Đối tác toàn diện. Việt Nam là tâm điểm của nhiều mạng lưới liên kết kinh tế năng động với hơn 230 đối tác thương mại, 60 hiệp định thương mại tự do sâu rộng với nhiều phương diện hợp tác. Qua đó sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Vậy nên, khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khái quát quyết tâm xây dựng và phát triển một nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại, mang đậm bản sắc dân tộc là trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” đã truyền đi thông điệp mạnh mẽ về một Việt Nam với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Triết lý ngoại giao cây tre nâng tầm vị thế đất nước

Bám sát đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng, các nghị quyết, kết luận, chỉ thị về đối ngoại của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và sự chỉ đạo của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các hoạt động đối ngoại, nhất là đối ngoại cấp cao đã diễn ra sôi động, rộng khắp các châu lục và tại nhiều diễn đàn, cơ chế đa phương quan trọng trong thời gian qua, “ngoại giao cây tre Việt Nam” kiên định về nguyên tắc và mục tiêu song đã uyển chuyển, chủ động và linh hoạt về phương pháp thực hiện. Mục tiêu của chúng ta là bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc, thực hiện đúng như lời dạy của Bác Hồ, đó là “muốn làm gì cũng cần vì lợi ích của dân tộc mà làm”. Nguyên tắc của chúng ta là “hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”, mọi quốc gia, dù lớn hay nhỏ đều bình đẳng, tôn trọng chủ quyền, quyền và lợi ích chính đáng của nhau, giải quyết bất đồng trên tinh thần hữu nghị, tuân thủ triệt để Hiến chương Liên hợp quốc và phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Chúng ta cũng phản đối mọi hình vi bắt nạt, chính trị cường quyền, bao vây, cấm vận đơn phương; phản đối việc sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Vị thế, uy tín và tiếng nói của Việt Nam tiếp tục được khẳng định tại nhiều diễn đàn, cơ chế đa phương quan trọng như ASEAN, Liên hợp quốc, Tiểu vùng Mê Công, Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Hội đồng Liên Nghị viện ASEAN (AIPA), Liên minh Nghị viện thế giới (IPU), Hội nghị của các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) lần thứ 28 (Hội nghị COP-28), Diễn đàn cấp cao Vành đai và Con đường… Bên cạnh đó, Việt Nam đã đảm nhiệm thành công nhiệm kỳ Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc Khóa 77, thực hiện tốt chức trách thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025, Ủy ban Luật pháp quốc tế; đồng thời, được cộng đồng quốc tế tín nhiệm bầu vào nhiều vị trí quan trọng tại các tổ chức quốc tế; tổ chức thành công các hội nghị quốc tế lớn, như Hội nghị Nghị sĩ trẻ toàn cầu lần thứ 9, Hội nghị IPU về an ninh nguồn nước... Chúng ta không chỉ gia nhập WTO mà đã ký hơn 90 hiệp định thương mại song phương, gần 60 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư; đàm phán, ký kết và thực thi 19 FTA song phương và đa phương, với hầu hết các nền kinh tế lớn trên thế giới; trong đó, 16 FTA đã có hiệu lực với hơn 60 đối tác, phủ rộng khắp các châu lục, với tổng GDP chiếm gần 90% GDP toàn cầu; đưa Việt Nam trở thành một trong những nước dẫn đầu khu vực về tham gia các khuôn khổ hợp tác kinh tế song phương và đa phương. Cũng chính nhờ thực thi hiệu quả các FTA thời gian qua đã giúp mở rộng, đa dạng thị trường, chuỗi cung ứng và sản phẩm xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng hóa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất, nhập khẩu tăng trưởng mạnh và cán cân thương mại được cải thiện rõ rệt theo hướng chuyển từ thâm hụt sang thặng dư. Năm 2023 là năm thứ 8 liên tiếp Việt Nam xuất siêu với mức thặng dư cao so với thời trước khi gia nhập WTO.

Trong quá trình thực hiện, “ngoại giao cây tre Việt Nam” linh hoạt, chủ động và uyển chuyển. Chúng ta kiên trì và kiên quyết bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông nhưng chúng ta không cực đoan để xảy ra xung đột. Mục tiêu cao nhất là của chúng ta là bảo vệ và giữ vững chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, nhưng tránh đối đầu và xung đột vũ trang nếu đó không phải là giải pháp cuối cùng buộc phải làm, đảm bảo môi trường hòa bình và ổn định để phát triển. Trong quan hệ quốc tế luôn có sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước, đó là điều không thể tránh khỏi và cũng là quy luật sinh tồn. Có thể nói không quá rằng vị trí địa chiến lược của Việt Nam đã tự nó tạo cho Việt Nam luôn là một phần trong câu chuyện về quan hệ quốc tế, hẹp thì ở phạm vi khu vực Đông Nam Á, rộng hơn thì là châu Á-Thái Bình Dương hay Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Trong bối cảnh sự cạnh tranh và xung đột và lợi ích của các nước lớn trên thế giới sự linh hoạt trong “Ngoại giao cây tre Việt Nam” thời gian qua đã thực hiện diễn biến phức tạp bằng sự uyển chuyển, khéo léo và mềm dẻo trong quan hệ với từng nước, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ và tiếng nói của tập thể để tạo thành sức mạnh chung. Hơn nữa, chúng ta còn tạo ra được mạng lưới lợi ích đan xen, lồng ghép giữa lợi ích quốc gia với lợi ích tổ chức khu vực và quốc tế, nhờ đó giúp chúng ta bảo vệ được lợi ích quốc gia.

Trên tinh thần bình đẳng, hài hòa lợi ích, chia sẻ khó khăn và tương trợ lẫn nhau, Việt Nam đã đề xuất nhiều sáng kiến, giải pháp thúc đẩy hợp tác, đóng góp có trách nhiệm vào các vấn đề chung của thế giới, như phòng, chống dịch bệnh, thiên tai, biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, gìn giữ hòa bình ở châu Phi, cử lực lượng hỗ trợ khắc phục hậu quả động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ... Có thể nói, chưa bao giờ vị thế, uy tín và hình ảnh đất nước Việt Nam độc lập, tự chủ, phát triển năng động, là bạn bè thủy chung, chân thành, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế lại nổi bật trên trường quốc tế như hiện nay. Tựu chung lại, “ngoại giao cây tre Việt Nam đã làm tốt được nhiệm vụ bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc là vì chúng ta đã thực hiện nhất quán “đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” trên tinh thần chủ động và tích cực.

Nhìn vào lịch sử dân tộc, trong suốt thời kỳ chiến tranh giành độc lập dân tộc, cũng như trong thời kỳ hoà bình, hoạt động đối ngoại luôn là một mặt trận có vai trò vô cùng quan trọng, góp phần tạo nên những thắng lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước; tạo lối, mở đường, từng bước phá thế bao vây, cấm vận, khơi thông quan hệ với nhiều đối tác, mở ra cục diện mới cho công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và toàn diện. Để hoàn thành các mục tiêu lớn mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, đòi hỏi chúng ta phải kiên định về nguyên tắc và linh hoạt về sách lược trong thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm chủ quyền quốc gia; làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn, xuyên tạc, chống phá của các thế lực phản động, thù địch đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước; quyết tâm xây dựng và phát triển một nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại, mang đậm bản sắc dân tộc, góp phần xây dựng Việt Nam trở thành một quốc gia hùng cường và thịnh vượng.

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI, TRÁCH NHIỆM CỦA QUÂN ĐỘI TA

 

  

Nền tảng tư tưởng của Đảng là hệ thống lý luận, là cơ sở khoa học và thực tiễn về xây dựng Đảng, về nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, về định hướng phát triển của Đảng, về mục tiêu đấu tranh cách mạng của Đảng. Nền tảng tư tưởng của Đảng là bộ phận quan trọng, là nhân tố căn bản, cốt lõi, tạo cơ sở, tiền đề quyết định mọi hoạt động xây dựng, sinh hoạt và lãnh đạo của một Đảng. Nếu nền tảng tư tưởng thay đổi, tất yếu sẽ dẫn tới sự thay đổi về mục tiêu, lý tưởng, nguyên tắc tổ chức, phương hướng hoạt động chính trị của Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, nền tảng tư tưởng của Đảng ta là Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nội dung nền tảng đó vừa mang tính cách mạng vừa có tính khoa học sâu sắc. Thực tế đã và đang khẳng định bản chất cách mạng và khoa học, giá trị và sức sống bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá một cách khách quan, chính xác, đầy đủ và sâu sắc về vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin trong quá trình cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin không những là “cẩm nang” thần kỳ, là kim chỉ nam mà còn là “mặt trời soi sáng” con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Ngay từ khi ra đời, Đảng ta xác định “lấy chủ nghĩa Mác - Lênin” làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn đất nước để đề ra cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Điều lệ Đảng năm 1935 khẳng định: “Đảng Cộng sản Đông Dương, đội tiền phong duy nhất của vô sản giai cấp, tranh đấu để thu phục đa số quần chúng vô sản, lãnh đạo nông dân lao động và tất thảy quần chúng lao động khác, chỉ huy họ làm cách mạng phản đế và điền địa (mưu cho Đông Dương được hoàn toàn độc lập, dân cày được ruộng đất, các dân tộc thiểu số được giải phóng), lập chính quyền Xô viết công nông binh, đặng dự bị điều kiện tranh đấu thực hiện vô sản chuyên chính, kiến thiết xã hội chủ nghĩa là thời kỳ đầu của cộng sản chủ nghĩa theo chương trình của Quốc tế Cộng sản”. Điều lệ của Đảng năm 1951 chỉ rõ: “Đảng Lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Ănghen - Lênin - Stalin và tư tưởng Mao Trạch Đông kết hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng”. Đại hội Đảng lần thứ III (1960) của Đảng xóa bỏ cụm từ "Ănghen, Stalin và tư tưởng Mao Trạch Đông", Nghị quyết đại hội xác định: “Đảng lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng”. Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Đến Đại hội VII (6/1991), Đảng bổ sung điểm mới: “Nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh”; đồng thời, khẳng định: tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc ta. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, năm 1991, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Đây là bước phát triển lớn trong tư duy, nhận thức và hoạt động thực tiễn về nền tảng tư tưởng của Đảng; thể hiện rõ quan điểm nhất quán về mặt tư tưởng, cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận cơ bản cấu thành hệ tư tưởng, thế giới quan, phương pháp luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự khẳng định nền tảng tư tưởng của Đảng trong Cương lĩnh năm 1991, không chỉ bảo đảm sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng mà còn thể hiện rõ ý chí kiên quyết đấu tranh đối với những những luận điệu sai trái, thù địch đi ngược lại tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, năm 2016, Đảng ta xác định: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam”. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Trong bối cảnh hiện nay, trước những nguy cơ và thách thức lớn đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng đã nhấn mạnh: Đảng ta luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, bản chất cách mạng và khoa học; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn và ngày càng lớn mạnh. Để xây dựng và phát triển đất nước không còn con đường nào khác ngoài con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, trên thực tế con đường này đã khẳng định được sự thành công rõ nét, thể hiện qua các thắng lợi của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và thành tựu của công cuộc đổi mới.

Nền tảng tư tưởng đã được Đảng xác định sẽ tiếp tục soi sáng đường đi tới cho cách mạng Việt Nam. Nhận thức sâu sắc sự nguy hại và hậu quả nghiêm trọng của việc xa rời nền tảng tư tưởng, trong Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đặt lên hàng đầu quan điểm : “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên trì, kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng và kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Cuộc đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng có những thời điểm quyết liệt, có tính chất sống còn, có những lúc êm ả nhưng không kém phần cam go, phức tạp, nhưng Đảng ta vẫn đứng vững.  Trong tình hình hiện nay, Đảng và nhân dân ta đang tiếp tục công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, thế và lực của chúng ta đã lớn mạnh hơn, nhưng cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng vẫn đang diễn ra với những khó khăn và thách thức mới, các thế lực thù địch và phản động đang ra sức đẩy mạnh chống phá Đảng ta, đặc biệt là trên mặt trận tư tưởng, chính trị; một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, nhận thức không đúng về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, càng khiến cho việc đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch gặp nhiều khó khăn, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch là yêu cầu tất yếu để xây dựng và phát triển Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh.

Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới nêu rõ: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhấn mạnh vị trí, vai trò của công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, coi đó là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng nhằm bảo vệ đường lối, Cương lĩnh lãnh đạo của Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Những năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo công tác phòng ngừa, đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã nhấn mạnh: Chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII đã ra Kết luận số 21 về đẩy mạnh xây dựng chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bên cạnh những mặt tốt của Đảng, Kết luận cho rằng “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật... chưa phát huy đầy đủ sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch”.

Vì thế, để bảo vệ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng, việc tăng cường đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng là đòi hỏi khách quan, nhiệm vụ cấp bách trước mắt, đồng thời cũng là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản, lâu dài. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị. Hết sức coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng. Kiên định, vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội…”, “…không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên; thường xuyên đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”. “Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức, tích cực đấu tranh phòng chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phát huy thật tốt trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là sự thống nhất biện chứng của hai quá trình: vừa tiếp tục khẳng định những giá trị phổ quát, đúng đắn của chủ nghĩa Mác, vừa không ngừng bổ sung, phát triển và vận dụng linh hoạt những nguyên lý của chủ nghĩa Mác trong điều kiện thực tiễn Việt Nam. Do đó, trong bất kỳ hoàn cảnh và tình huống nào cũng phải luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng vững chắc của Đảng; đồng thời, căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh ở mỗi giai đoạn lịch sử, Đảng luôn kiên trì nền tảng tư tưởng đã xác định, bản lĩnh vững vàng để lãnh đạo nhân dân đi tiếp con đường đã lựa chọn, đúng định hướng xã hội chủ nghĩa; luôn chủ động phòng ngừa, phê phán nhận thức lệch lạc; kiên quyết đấu tranh với quan điểm sai trái và thù địch. Thực tiễn cho thấy, dù phong trào cách mạng vô sản và công nhân quốc tế luôn có những bước thăng trầm, luôn phải đối mặt với sự chống phá của các thế lực thù địch nhưng Đảng vẫn luôn sáng suốt, kiên trì và kiên quyết đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng. Vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trên mặt trận tư tưởng, lý luận, trong đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái, thù địch có ý nghĩa quyết định. Trung ương, Bộ Chính trị luôn luôn có định hướng đúng đắn về công tác tư tưởng, định hướng cho thời kỳ dài và phương hướng cụ thể của từng giai đoạn. Đó là cơ sở rất quan trọng để các cấp, các ngành, các cơ quan chuyên môn, đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng, lý luận kịp thời đề xuất bước đi, giải pháp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội; xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, nhằm nâng cao tinh thần, trách nhiệm, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Thường xuyên tuyên truyền đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, huy động sức mạnh tổng hợp của cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đảng phát huy vai trò, thế mạnh của các phương tiện truyền thông, các cơ quan thông tấn, báo chí trong việc tuyên truyền những đường lối, chủ trương của Đảng; đồng thời có sự lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết, chặt chẽ của các tổ chức đảng các cấp. Đảng không ngừng phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đây là phương thức hữu hiệu để huy động sức mạnh tổng hợp tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không phải là việc riêng của Đảng mà còn là việc chung, là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân”.

Hai là, tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong tình hình mới. Hệ thống hóa, phổ biến những thành tựu lý luận mà Đảng ta đã đạt được trên cơ sở vận dụng đúng đắn, sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới. Tiếp tục khẳng định bản chất và mô hình của thể chế chính trị và bộ máy nhà nước đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013. Đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo hướng chủ động, có tính thuyết phục cao, hấp dẫn. Khẩn trương thực hiện nghiêm quy hoạch báo chí đã được phê duyệt. Chủ động tăng cường thông tin tích cực đi đôi với ngăn chặn có hiệu quả, xử lý, xóa bỏ thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội.

Ba là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh, Điều lệ Đảng. Siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Đảng. Các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Đảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những đơn thư có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý và sử dụng internet, mạng xã hội. Trong đó, chú trọng xây dựng, hoàn thiện pháp luật và có các giải pháp kỹ thuật phù hợp với sự phát triển nhanh của internet, mạng xã hội. Phát huy trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, trước hết là người đứng đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch,...

Bốn là, tập trung đổi mới nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; hệ thống hoá, phổ biến các thành tựu lý luận; nâng cao chất lượng nghiên cứu, học tập nghị quyết để vận dụng vào thực tiễn; đổi mới nội dung, phương thức nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy vai trò của báo chí trong việc tuyên truyền chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; xử lý nghiêm khắc, đúng pháp luật đối với đảng viên, cán bộ vi phạm các quy định, Điều lệ Đảng... Bên cạnh “chống”, cần tăng cường biện pháp “xây”, thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng ở cơ sở; giải quyết có hiệu quả khiếu nại, tố cáo; tổ chức thực hiện tốt các nghị quyết của Đảng. Các địa phương sớm kiện toàn tổ chức tuyên giáo, xây dựng đội ngũ cán bộ sẵn sàng “phản ứng nhanh” với những thông tin sai trái, thù địch trên không gian mạng. Tích cực, chủ động cung cấp những thông tin chính thống để định hướng dư luận về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước...

Trách nhiệm của Quân đội nhân dân Việt Nam với cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng hiện nay

Quân đội là công cụ bạo lực sắc bén bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, nhà nước và nhân dân, đồng thời là lực lượng nòng cốt cùng với toàn Đảng, toàn dân tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Để quân đội ta tham gia có hiệu quả vào cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đòi hỏi trước hết phải giữ vững định hướng chính trị - tư tưởng, bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ và xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tăng cường sức đề kháng làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, tăng khả năng miễn dịch để ngăn chặn sự xâm nhập, lây lan của những hiện tượng tiêu cực trong đời sống xã hội, tích cực phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ quân đội.

Trong tình hình hiện nay cần tăng cường hiệu lực cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Từ Quân ủy Trung ương đến các chi bộ đều có trọng trách lãnh đạo tiến hành công tác đảng, công tác chính trị nhằm giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, làm cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nhất trí và tin tưởng cao đối với sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm tư tưởng sai trái, cơ hội thực dụng, chủ nghĩa cá nhân; tích cực phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, chiến sĩ.

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay rất khó khăn và phức tạp, nhất là khi các thế lực thù địch ra sức công kích, bài xích những vấn đề cốt lõi làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta và chế độ xã hội chủ nghĩa. Điều này đòi hỏi phải có lực lượng hạt nhân thực sự có bản lĩnh vững vàng, có năng lực tư duy lý luận và trải nghiệm thực tiễn giữ vai trò chỉ đạo, định hướng và làm nòng cốt trong tổ chức đấu tranh. Đó là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp và lực lượng chuyên trách. Ngoài ra phải kể đến đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị; khoa học xã hội và nhân văn quân sự; cán bộ hoạt động trên các lĩnh vực xuất bản, văn hóa, nghệ thuật… Chỉ khi nào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp quan tâm sâu sắc, dành nhiều tâm huyết và trí tuệ đối với công tác tư tưởng, lý luận, vừa tăng cường chỉ đạo, vừa trực tiếp làm công tác tư tưởng, lý luận thì tổ chức đấu tranh của quân đội nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mới thực sự có hiệu quả. Lãnh đạo, chỉ huy phải nắm vững ngọn cờ tư tưởng, lý luận, thường xuyên và trực tiếp làm công tác tư tưởng, lý luận trong đơn vị, nhất là ở những thời điểm có tính chất bước ngoặt của cách mạng, khi xử trí các tình huống chính trị - tư tưởng nhạy cảm và phức tạp trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta để phối hợp chặt chẽ đấu tranh của quân đội với đấu tranh của các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội từ Trung ương đến cơ sở. Trong các chủ trương, giải pháp đấu tranh cần quán triệt sâu sắc, cụ thể hóa phương châm: Chủ động tiến công, đoàn kết hiệp đồng, gắn kết chặt chẽ “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính, dựa vào cơ sở lý luận và thực tiễn với cái tâm trong sáng để thuyết phục là chủ yếu, thể hiện sâu sắc tính nhân văn của “Bộ đội Cụ Hồ” trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay./.

 

QUÂN ĐỘI CỦA DÂN, DO DÂN VÀ VÌ DÂN - BẢN CHẤT, MỤC TIÊU CỦA “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”

 

Có lẽ trong lịch sử thế giới, hiếm có quân đội nào mang đậm bản chất giai cấp công nhân, tính Nhân dân và tính dân tộc sâu sắc như Quân đội nhân dân Việt Nam. Tính nhân dân là nét đẹp truyền thống, cội nguồn sức mạnh vô địch, giúp Quân đội ta trong bất kỳ hoàn cảnh, điều kiện nào cũng luôn “trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, giáo dục và rèn luyện, ngay từ ngày đầu thành lập, Quân đội ta đã được giáo dục, rèn luyện theo bản chất Quân đội của dân và vì dân, từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu. Trong ký ức của Nhân dân ta, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” là biểu trưng cho những gì tốt đẹp nhất của những người con ưu tú luôn tận trung với nước, tận hiếu với dân.

Quân đội ta là quân đội của dân, do dân và vì dân bởi: “Lực lượng tham gia quân đội là những thanh niên yêu nước, con em của các giai cấp, các tầng lớp Nhân dân của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đại bộ phận là con em công nhân, nông dân và Nhân dân lao động. Qua giáo dục, rèn luyện trong quân đội, họ đã trở thành những cán bộ, chiến sĩ “Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân, chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội”. Là con em của Nhân dân, Quân đội ta luôn tận tụy với Nhân dân, sẵn sàng hy sinh quên mình vì hạnh phúc của Nhân dân.

Gắn bó với Nhân dân, từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu còn thể hiện sự tiếp nối giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam - một dân tộc nhỏ bé, thường xuyên phải đối đầu với giặc giã thiên tai. Hoàn cảnh, điều kiện địa lý đã sớm hình thành trong cốt cách con người Việt Nam phẩm chất kết hợp quân - dân chặt chẽ. Đạo lý “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc” không chỉ là bài học của những người “trị nước an dân”, mà còn là kế sách xây dựng sức mạnh quốc phòng toàn dân để khi cần thiết đương đầu với quân xâm lược.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Có dân là có tất cả”, “Quân dân một lòng, thì kháng chiến ắt thắng lợi, kiến quốc ắt thành công”. Nhân dân là nền tảng, là cội nguồn sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta. “Không có dân thì không có bộ đội”, “Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội”, vì thế Người luôn nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội: “Phải nhớ rằng dân là chủ. Dân như nước, mình như cá. Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết”, “Phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì không kẻ địch nào có thể tiêu diệt được”. Xa rời Nhân dân, không gắn bó mật thiết với Nhân dân, không liên hệ chặt chẽ với nhân dân, không dựa vào dân thì Quân đội không thể có sức mạnh chiến đấu cao, không thể hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Từ Nhân dân mà ra, cho nên, vì Nhân dân chiến đấu, vì Nhân dân phục vụ là chức năng cơ bản, mục tiêu xuyên suốt, là nhiệm vụ cao cả của Quân đội nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Quân đội ta là Quân đội nhân dân. Nghĩa là con em ruột thịt của Nhân dân. Đánh giặc để tranh lại độc lập thống nhất cho Tổ quốc, để bảo vệ tự do hạnh phúc của Nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, Quân đội ta không có lợi ích nào khác”.  

Vì Nhân dân mà chiến đấu là một nét đặc trưng nổi bật trong bản chất, truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đặc trưng “vì Nhân dân mà chiến đấu” của Quân đội ta được thể hiện ở mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì ấm no, tự do, hạnh phúc của Nhân dân. “Vì nhân dân mà chiến đấu” trở thành động lực tinh thần to lớn thôi thúc lớp lớp cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, quyết tâm thực hiện bằng được mục tiêu, lý tưởng: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tự do, ấm no, hạnh phúc của Nhân dân.

Mục tiêu “Vì Nhân dân chiến đấu” là cơ sở để Quân đội ta có được sức mạnh đoàn kết, thống nhất, ý chí quyết tâm cao, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, xây dựng nên nghệ thuật quân sự đặc sắc Việt Nam, làm nên tầm vóc anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp chiến đấu giành độc lập dân tộc và bảo vệ Tổ quốc với những chiến công, thắng lợi hiển hách mang tầm thời đại.

Mục tiêu “Vì Nhân dân chiến đấu” còn được thể hiện ở việc Quân đội ta thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ đội quân công tác, tuyên truyền, giáo dục, vận động Nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. “Vì Nhân dân chiến đấu” còn được thể hiện trong việc thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ đội quân lao động sản xuất, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh “Diễn biến hòa bình”, chống phá Đảng, Nhà nước ta, đặc biệt, chúng dùng mọi thủ đoạn hòng thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội, tìm cách vô hiệu hóa sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Chúng đưa ra nhiều luận điểm lập lờ, không cơ sở như: Quân đội trung lập, quân đội đứng ngoài chính trị… nhằm ly gián Quân đội với Đảng, với nhân dân; làm cho cán bộ, chiến sĩ mất mục tiêu chiến đấu, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Để góp phần ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch phản động trong nước câu kết với nước ngoài, giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính Nhân dân và tính dân tộc của Quân đội cách mạng, yêu cầu đặt ra với toàn quân đó là phải quán triệt, thực hiện tốt một số nội dung sau:

Thứ nhất, cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với Quân đội, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo Quân đội không nhằm mục đích nào khác là để Quân đội có bản chất giai cấp công nhân, tính Nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Sự lãnh đạo của Đảng với Quân đội chính là cơ sở để khẳng định, giữ vững mục tiêu chiến đấu của quân đội, là yếu tố hàng đầu quyết định sức mạnh của Quân đội.

Thứ hai, cần tăng cường giáo dục, nâng cao ý thức phục vụ Nhân dân, giữ vững, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong điều kiện mới. Tận trung với Đảng, tận hiếu với dân là bản chất cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, là sự thể hiện sáng rõ nhất tinh thần phục vụ Nhân dân, phục vụ lý tưởng của Quân đội Việt Nam.

Thứ ba, Quân đội cần tích cực tham gia các chương trình phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, giúp đỡ nhân dân khắc phục khó khăn, phát triển sản xuất, ổn định và từng bước nâng cao đời sống, phòng chống thiên tai.

Trải qua 80 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam phát triển từ một đội quân nhỏ bé, trang bị thô sơ trở thành một quân đội hùng mạnh, biểu tượng của tinh thần quyết chiến, quyết thắng của dân tộc Việt Nam, niềm tự hào của nhân dân Việt Nam và bạn bè yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Quân đội ta luôn kiên định, vững vàng, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng vì nhân dân mà chiến đấu, hy sinh. Truyền thống gắn bó máu thịt với nhân dân là một trong những phẩm chất đặc trưng làm nên hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”.

Lý tưởng vì Nhân dân chiến đấu vừa là mục tiêu, vừa là động lực, nguồn cội tạo nên sức mạnh của Quân đội, bảo đảm cho Quân đội thực sự mang bản chất giai cấp công nhân, luôn được nhân dân tin yêu, mến phục. Trước yêu cầu của cách mạng trong giai đoạn mới, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tích cực tham gia tuyên truyền, ổn định và nâng cao đời sống nhân dân chính là biểu hiện sinh động bản chất của Quân đội cách mạng của dân, do dân, vì dân; gắn bó máu thịt với Nhân dân, mang tính Nhân dân, tính dân tộc sâu sắc.

 

 

PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI CỦA THÍCH NHẬT TỪ !

         Thời gian gần đây, các phát ngôn chính trị của Thượng tọa Thích Nhật Từ, đặc biệt là về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và con đường giành độc lập của dân tộc Việt Nam, đã gây ra nhiều tranh luận gay gắt trong dư luận xã hội. Ông từng tuyên bố rằng Việt Nam có thể giành độc lập, thống nhất đất nước mà không cần đổ máu và so sánh cuộc chiến tranh Việt Nam với việc hòa bình thống nhất của Đông Đức và Tây Đức. Những luận điểm này không chỉ phiến diện, thiếu cơ sở mà còn phủ nhận sự hy sinh to lớn của dân tộc ta trong lịch sử đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước.

Mọi công dân, dù là tu sĩ hay không, đều có quyền bày tỏ quan điểm chính trị của mình. Tuy nhiên, quyền tự do ngôn luận không là quyền được nói sai sự thật, xuyên tạc lịch sử hoặc tuyên truyền chống phá chế độ. Khi ông Thích Nhật Từ phát ngôn những quan điểm sai trái, phủ nhận sự cần thiết của cuộc chiến tranh chính nghĩa, ông phải chịu sự phản bác và đấu tranh của cộng đồng và pháp luật.

Việc có người đấu tranh chống lại quan điểm sai trái đó là điều tất yếu và cần thiết để bảo vệ sự thật lịch sử, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Không ai có quyền yêu cầu người khác phải im lặng khi những luận điểm sai trái được phát biểu.

Yêu chế độ không phải thần tượng mù quáng

Một nghịch lý rõ ràng hiện nay là nhiều người tự nhận yêu chế độ nhưng lại bênh vực một cách mù quáng những luận điệu sai trái của ông Thích Nhật Từ. Yêu chế độ là bảo vệ sự thật, bảo vệ sự trong sáng của lịch sử và tư tưởng. Việc bảo vệ những luận điệu xuyên tạc, phá hoại chính là làm suy yếu chế độ đó.

Thần tượng cá nhân một cách tuyệt đối, dù người đó nói sai, chính là biểu hiện của độc tài tư tưởng, cản trở sự phát triển của xã hội dân chủ, đa chiều. Không ai có quyền đứng trên sự thật để ép buộc người khác phải chấp nhận những quan điểm sai lệch.

So sánh giữa cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam với việc hòa bình thống nhất Đông Đức – Tây Đức hay các quốc gia thuộc địa được trả độc lập không đổ máu như Ấn Độ là phiến diện và thiếu trách nhiệm. Mỗi quốc gia có bối cảnh lịch sử, chính trị khác nhau.

Việt Nam đã trải qua chiến tranh quy mô lớn với sự hy sinh hàng triệu người để bảo vệ độc lập, chủ quyền. Mỹ đến Việt Nam là kẻ xâm lược trực tiếp, khác hoàn toàn với các tình huống quốc tế khác. Việc phủ nhận hay so sánh tùy tiện làm mất giá trị lịch sử chân chính, xúc phạm những người đã hy sinh.

Văn hóa tranh luận: Nền tảng để bảo vệ sự thật

Trong các bài viết bảo vệ ông Thích Nhật Từ có không ít biểu hiện thiếu văn hóa tranh luận: mỉa mai, xúc phạm, đánh đồng người đấu tranh với “hồng vệ binh tâm thần chính trị”, “đấu tố”, hay dùng lời lẽ kích động chia rẽ.

Chẳng hạn, việc gọi người phản biện là “tâm thần”, so sánh đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết với “các thánh hồng vệ binh tâm thần” là cách nói thiếu tôn trọng và phản khoa học, làm mất đi không gian đối thoại xây dựng.

Văn hóa tranh luận đòi hỏi sự tôn trọng lẫn nhau, tranh luận trên cơ sở lý luận, chứng cứ, và không xúc phạm cá nhân. Đó là cách duy nhất giúp xã hội tiến bộ, giúp sự thật được tôn vinh, bảo vệ nền tảng tư tưởng bền vững.

Đấu tranh với những quan điểm sai trái, xuyên tạc lịch sử của ông Thích Nhật Từ không phải là chống phá tôn giáo, mà là bảo vệ sự thật, bảo vệ nền tảng tư tưởng của đất nước. Bảo vệ ông một cách mù quáng và cấm người khác phản biện là biểu hiện của độc tài tư tưởng, làm suy yếu xã hội.

Mỗi công dân yêu nước phải tỉnh táo, phân biệt rõ giữa yêu nước chân chính và thần tượng mù quáng. Phải đấu tranh trên tinh thần văn minh, có trách nhiệm để giữ gìn sự thật lịch sử, bảo vệ công lý và góp phần xây dựng đất nước phát triển vững mạnh./.

ĐỪNG HỎI TỔ QUỐC ĐÃ LÀM GÌ CHO TA

 

“Thế hệ trẻ hôm nay được sinh ra và lớn lên khi đất nước đã hòa bình và luôn tự hào nối tiếp tinh thần yêu nước được trao truyền từ thế hệ cha ông đi trước. Tình yêu quê hương đất nước, niềm tự hào dân tộc luôn là một mạch nguồn đã thấm sâu, chảy mãi, ngày càng được hun đúc, tỏa sáng trong tâm hồn mỗi người trẻ”...

Khi chúng ta biết ơn từ những điều bé nhỏ.

Lòng biết ơn theo quan niệm của người Việt Nam “là sự bày tỏ thái độ trân trọng, tình cảm và những việc làm đền ơn, đáp nghĩa đối với những người đã giúp đỡ mình, với những người có công với dân tộc, đất nước” (Giáo dục công dân - Bộ GD&ĐT). Theo đó, lòng biết ơn được hiểu là một tình cảm, thái độ và hành động tốt đẹp thể hiện phẩm chất đạo đức, đức tính tốt đẹp của con người đối với cộng đồng đặt trong tổng thể các mối quan hệ xã hội diễn ra hàng ngày, hàng giờ. Đồng nghĩa với lòng biết ơn thể hiện bản ngã con người, quyết định sự sinh tồn của con người đối với cuộc sống hiện tại. Bởi thế, từ xưa đến nay, việc giáo dục lòng biết ơn luôn được chú trọng từ gia đình đến nhà trường và xã hội, bởi “Uống nước nhớ nguồn” luôn là truyền thống quý báu và tốt đẹp của dân tộc ta./.

BẢO VỆ CÔNG LÝ, CỦNG CỐ NIỀM TIN

     Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta đang được tiến hành trên tinh thần không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm và không có ngoại lệ.

Một trong những nhiệm vụ trọng yếu và thường xuyên là yêu cầu cấp thiết để bảo vệ công lý và củng cố niềm tin của nhân dân vào hệ thống pháp luật là thu hồi tài sản tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

1. Thực tế thời gian qua cho thấy, các đại án về kinh tế và tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được cơ quan có thẩm quyền phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử luôn có tính chất phức tạp và tác động sâu rộng đến đời sống xã hội. Vấn đề đáng quan tâm là ngoài việc xử lý nghiêm minh các đối tượng phạm tội theo quy định, công tác thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ việc, vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế đối mặt không ít khó khăn, thách thức.

Dù là việc khó, phức tạp và nhạy cảm, nhưng Đảng, Nhà nước ta xác định nhất quán quan điểm phải làm triệt để việc thu hồi tài sản tham nhũng, từ đó mới đủ sức phòng ngừa, răn đe trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Trong quá trình này, các cơ quan chức năng đã chủ động phối hợp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác giám định, định giá tài sản và thu hồi tài sản tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Đáng chú ý, từ ngày 1-1-2025, thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm cơ chế xử lý vật chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan có thẩm quyền đã đề xuất được giải pháp xử lý tài sản, vật chứng của nhiều vụ án ngay trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Việc này đã giúp cơ quan chức năng sớm giải tỏa tài sản, đưa vào lưu thông, tránh thất thoát, lãng phí, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân liên quan, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Những biện pháp quyết liệt, triệt để đã giúp việc thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng vào kết quả chung của công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Theo Ban Chỉ đạo trung ương về Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đối với các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, từ sau phiên họp 27 (ngày 31-12-2024) đến ngày 25-3-2025, các cơ quan chức năng đã hoàn thành 12 kết luận về giám định, định giá tài sản tham nhũng. Các cơ quan thi hành án dân sự đã thu hồi được hơn 6.000 tỷ đồng tài sản tham nhũng, nâng tổng số tiền thu hồi được từ khi thành lập Ban Chỉ đạo đến ngày 25-3-2025 là 102.040 tỷ đồng.

Rõ ràng, việc thu hồi tài sản tham nhũng có vai trò quan trọng, ngoài thu hồi lại tài sản của Nhà nước, cá nhân, doanh nghiệp..., còn có tác dụng răn đe, phòng ngừa. Đây cũng là giải pháp góp phần khắc phục triệt để thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền.

2. Hiện nay, cơ quan chức năng đang tập trung xử lý nhiều đại án tham nhũng và kinh tế. Một trong những vấn đề liên quan được dư luận đặc biệt quan tâm là việc thu hồi một lượng lớn tài sản tham nhũng cho Nhà nước và nhân dân tại các vụ án, như: Công ty cổ phần Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, Cục Đăng kiểm Việt Nam và các đơn vị liên quan, Tập đoàn Phúc Sơn, Tập đoàn Thuận An, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Dự án Sài Gòn - Đại Ninh (tỉnh Lâm Đồng), Công ty Xuyên Việt Oil, Công ty AIC...

Thu hồi triệt để tài sản tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là một trong những công việc quan trọng trong quá trình xử lý các vụ án tham nhũng, kinh tế. Tuy nhiên, trong cuộc chiến với “giặc nội xâm” này, có một vấn đề cần quan tâm là các đối tượng khi phạm tội thường chuẩn bị kỹ lưỡng, kể cả trước, trong và sau giai đoạn phạm tội nhằm che giấu, chuyển đổi, tẩu tán tài sản một cách tinh vi và có hệ thống. Do đó, trong mọi trường hợp, dù có khó khăn đến mấy, việc thu hồi tài sản của Nhà nước bị chiếm đoạt, thất thoát luôn là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách của các cơ quan chức năng và toàn xã hội.

Cũng bởi những khó khăn và phức tạp đang đặt ra nên nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực ngày càng nặng nề hơn, nhất là công tác thu hồi tài sản tham nhũng. Kiên định tinh thần không ngừng, không nghỉ và ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu trong tình hình mới, cùng với các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đang thực hiện đồng bộ và hiệu quả, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 287-QĐ/TƯ (ngày 30-4-2025) về thu hồi tài sản do tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được phát hiện qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.

Quy định nêu rõ nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất, chặt chẽ, toàn diện của Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát, xác minh và thu hồi tài sản do tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Để bảo đảm tính nghiêm minh, quy định cũng nêu rõ, việc thu hồi tài sản phải đúng trình tự, thủ tục, cùng với quá trình xử lý kỷ luật đối với tổ chức Đảng, đảng viên vi phạm. Tài sản sau khi thu hồi phải được quản lý, bảo quản, sử dụng đúng quy định.

Đặc biệt, để ngăn chặn hành vi phạm pháp, ủy ban kiểm tra các cấp có thể yêu cầu cơ quan chức năng có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ, kê biên, phong tỏa tiền, tài khoản, tài sản nếu có căn cứ xác định đối tượng kiểm tra, giám sát có dấu hiệu hủy hoại, tẩu tán tài sản...

Một điểm đáng chú ý là quy định khuyến khích phát huy tinh thần gương mẫu, tự giác, trung thực của cán bộ, đảng viên. Vì vậy, quy định nêu rõ một trong những căn cứ để thu hồi là tổ chức Đảng, đảng viên và các tổ chức, cá nhân có liên quan chủ động báo cáo và tự giác nộp lại tài sản đã nhận do tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trước khi bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện, kết luận; chủ động nộp tài sản khắc phục hậu quả do vi phạm dẫn đến thiệt hại tài sản của Nhà nước...

Như vậy, người cán bộ, đảng viên, nhất là người có chức, có quyền trong mọi trường hợp, kể cả khi tay đã “nhúng chàm”, vẫn phải thể hiện phẩm chất tiên phong, gương mẫu. Ở đây có thể hiểu, tinh thần gương mẫu, tự giác, trung thực trong giao nộp tài sản phi pháp họ sẽ được cơ quan bảo vệ pháp luật xem xét khoan hồng, đồng thời góp phần bảo đảm uy tín, giữ vững thanh danh và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng.

Tinh thần nhất quán và kiên định trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta là tiến hành trên cơ sở bám sát và phục vụ có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của đất nước. Đặc biệt, các giải pháp triển khai đều hướng đến mục tiêu phòng ngừa là chính; đồng thời phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí, tiêu cực không có vùng cấm, không có ngoại lệ và gắn với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc.

Vấn đề được ưu tiên là thu hồi tài sản tối đa cho Nhà nước và nhân dân, trên cơ sở xem xét xử lý bằng kinh tế, dân sự, hành chính, cuối cùng mới là xử lý hình sự. Nhưng trên hết đó là thượng tôn pháp luật để góp phần xây dựng văn hóa liêm chính, chí công vô tư và không tham nhũng, không lãng phí, không tiêu cực trở thành việc làm tự giác, tự nguyện, “như cơm ăn, nước uống hằng ngày” trong mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân.