Thứ Năm, 11 tháng 9, 2025

Nội dung tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng của Gabrien Bonnô Đờ Mably (1709-1785)

 

 


G.Mably sinh năm 1709 trong một gia đình quí tộc ở Gronôbo. Cha của ông là nghị sĩ. Hồi nhỏ ông được gia đình gửi đến học ở trường dòng thuộc chủng viện Xanh Xuynpitxơ, thủ đô Pari (Pháp). Học xong nhận được chức tu viện trưởng, không lâu sau đó, ông quyết định từ bỏ tôn giáo và đi vào nghiên cứu khoa học. Ông cũng có một thời gian làm việc ở Bộ ngoại giao (1742-1748).

G.Mably viết nhiều sách, nghiên cứu về chính trị, xã hội đương thời. Ông là tác giả của trên 30 đầu sách. Những tác phẩm nổi tiếng của ông bao quát nhiều vấn đề lịch sử, chính trị, pháp luật như: “Nhận xét về người La Mã” (1751); “Nhận xét về người lịch sử nước Pháp- quyền và nghĩa vụ công dân” (1758); “Về việc làm luật và các nguyên tắc của pháp luật” (1776); “Những nghi vấn đặt ra cho các nhà triết học - kinh tế trên vấn đề trật tự tự nhiên và cần thiết của các xã hội chính trị (1786); “Bút ký về sự quản lý và những luật lệ của Mỹ”. Những quan điểm triết học của Lốc cơ (1632-1704, Anh), của Côngđiắc (1715-1780, Pháp) là cơ sở lý luận của các tư tưởng xã hội - chính trị của Mably.

Nội dung tư tưởng xã hội chủ nghĩa của G.Mably

Tư tưởng phê phán chế độ xã hội đương thời

Trước hết đó là tư tưởng phê phán chế độ tư hữu. G.Mably phản đối luận điểm cho rằng chỉ có chế độ tư hữu mới là yếu tố kích thích con người làm việc. Theo ông, chế độ tư hữu đã làm nảy sinh những ham muốn xấu xa, bỉ ổi, từ đó làm cho những kẻ tư hữu có các hành động ti tiện, tàn bạo để thoả mãn những ham muốn đó. Khi chưa có chế độ tư hữu thì con người chỉ toàn có những đam mê lành mạnh, trong sáng, vì vậy, trong xã hội chỉ có các quan hệ gắn bó, hữu ái giữa người với người. Ông khẳng định rằng, chừng nào chế độ tư hữu còn tồn tại thì công bằng, bình đẳng xã hội không bao giờ có được và xã hội không thể có dân chủ thực sự. Bọn quí tộc, tư sản tài chính sẽ thâu tóm quyền lực và đẩy các dân tộc đi đến các cuộc chiến tranh đẫm máu. Trong cuốn sách “Nhận xét về Hoa kỳ”, ông đã kết luận: sự phát triển của một chế độ quí tộc tài chính, sự tăng trưởng của tình trạng bất bình đẳng về của cải, mà Hoa kỳ đang phát triển theo hướng ấy sẽ dẫn Hoa kỳ đến chỗ không tránh khỏi việc thiết lập một chế độ tàn bạo của bọn nhà giàu và đến các cuộc chiến tranh xâm lược các quốc gia khác. Lịch sử 200 năm sau này của Hoa kỳ đã chứng minh tính đúng đắn kết luận đó của G.Mably.

Ông vạch trần sự mục ruỗng và phản động của chế độ chuyên chế. Chế độ chuyên chế làm cho xã hội có nguy cơ bị tiêu vong vì bệnh hoại thư do sự thối nát của nó gây ra. Cho nên, cần phải lật đổ nền chuyên chế này. Ông cổ vũ cho cuộc nội chiến cách mạng để thủ tiêu chế độ chuyên chế. Theo ông, một dân tộc không muốn kháng cự kẻ thù bên trong của mình, thì nhất định phải bị áp bức. Ông khẳng định rằng chế độ chuyên chế và chế độ tư bản không thể tồn tại mãi. Ông dự đoán chẳng bao lâu nữa nền quân chủ ở Pháp sẽ sụp đổ và cả nước Anh rồi cũng sẽ mất hết thuộc địa.

Về xã hội tương lai, trên cơ sở lý thuyết về trạng thái tự nhiên, G.Mably đặt vấn đề: nếu trong lịch sử nhân loại đã từng có cả một thời đại lâu dài và hiện giờ ở một số nơi trên trái đất này vẫn tồn tại một xã hội dựa trên chế độ cộng đồng về ruộng đất, tài sản thì tại sao lại không thể xây dựng một chế độ sở hữu tập thể chí ít là đạt sự công bằng về tài sản trong hiện tại và tương lai. Tiếp đó ông kết luận cần phải xóa bỏ chế độ tư hữu hiện nay, để xác lập chế độ công hữu. Ông khẳng định trong chế độ công hữu có nhiều yếu tố kích thích sự hang say lao động một cách mạnh mẽ hơn. Chế độ đó sẽ thể hiện được đầy đủ tính ưu việt của nó và sẽ đem lại cho con người ấm no, tự do, hạnh phúc và thoả mãn các nhu cầu khác.

Về tổ chức, quản lý sản xuất, xã hội tổ chức lao động hợp lý, thực hiện chế độ lao động bắt buộc với mọi người, mọi người đều phải lao động. Xã hội không cho phép có kẻ ăn không ngồi rồi, ăn bám người khác. Theo G.Mably, trong xã hội mới thì lao động không chỉ là nghĩa vụ mà còn là vinh dự. Ai cũng hang say lao động cho chính mình và cho xã hội trong những tập đoàn sản xuất tùy theo sức khỏe. Luật lệ xã hội làm tăng sự kính trọng đối với lao động. Về phân phối, xã hội thực hiện nguyên tắc phân phối theo nhu cầu.

Về chính trị, G.Mably không tán thành quan điểm phân chi quyền lực của Môngtexkiơ. Ông khẳng định người chủ của nhà nước là nhân dân. Ông chủ trương, trong chế độ xã hội mới, nhà nước được xây dựng trên cơ sở dân chủ, thông qua lựa chọn của các đại biểu nhân dân. Nhà nước có chức năng tổ chức lao động và phân phối sản phẩm cho toàn dân, duy trì trật tự xã hội và bảo vệ phong tục tập quán. Trong xã hội mới, mọi công dân sẽ có ý thức đoàn kết trên cơ sở thống nhất lợi ích chung, sẵn sàng đứng lên chiến đấu bảo vệ cuộc sống tốt đẹp của mình. Khi đất nước có nạn ngoại xâm, tất cả mọi người, nam và nữ, sẽ đứng lên cầm vũ khí chiến đấu. Xã hội không có phân chia đẳng cấp, không có quân đội thường trực.

Về văn hóa- xã hội, G.Mably đề cao công tác giáo dục, mong muốn xã hội thực hiện chế độ giáo dục toàn dân không mất tiền. Đặc biệt, xã hội chăm lo bồi dưỡng thế hệ trẻ về mọi mặt để họ kế tục xứng đáng thế hệ cha anh và đáp ứng được những yêu cầu và lợi ích chung của xã hội trong tương lai, trở thành những công dân toàn diện. Nền tảng của đạo đức xã hội đó là mọi người cần phải thực hiện nguyên tắc luân lý: “Hãy đừng làm cho người khác điều gì mà mình không muốn người khác làm cho mình”.

Nội dung tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng của Phơrăngxoa Morenly

 


Tiểu sử của Ph.Morenly còn chưa rõ ràng, tác phẩm nổi tiếng của Ph.Morenly là “Bộ luật tự nhiên”, xuất bản năm 1755 ở Amxtecđam (Hà Lan) và đến 1841 được tái bản, ghi tên là Ph.Morenly. Có thể cái tên Ph.Morenly là một bút danh của một người nào đó.

Nội dung tư tưởng xã hội chủ nghĩa của Ph.Morenly

Tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng của Ph.Morenly dựa trên lý thuyết về quyền bình đẳng tự nhiên của con người. Theo Ph.Morenly, trong giai đoạn đầu xã hội loài người không có chế độ tư hữu. Trong “Bộ luật tự nhiên”, Ông chứng minh rằng con người vốn sinh ra đã là bình đẳng, đó là lẽ tự nhiên và phù hợp với tự nhiên. Chế độ xã hội của loài người đã từng tồn tại ở trạng thái bình đẳng, đó là chế độ cộng đồng công xã nguyên thuỷ, và hiện nay những dấu hiệu đó vẫn còn tồn tại ở một số nơi trên thế giới.

Một trong những nội dung tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng của Ph.Môrenly thể hiện rõ nét là quan điểm xóa bỏ chế độ tư hữu. Ông cũng nhận thức sâu sắc rằng chế độ tư hữu là nguồn gốc của mọi tệ nạn xã hội. Do đó, muốn xóa bỏ những điều tệ hại, xấu xa cần phải thủ tiêu chế độ tư hữu trong đời sống xã hội. Ông cho rằng, ở nơi nào không có quyền tư hữu thì ở đó không thể có một hậu quả nguy hại nào của nó... Trong bất cứ xã hội nào, mọi quyền tư hữu về những của cải được phân chia đều là nguồn gốc của những tai hại tày trời.

Mô hình xã hội tương lai. Ph.Morenly đã mơ ước về một xã hội tốt đẹp với đặc trưng: chế độ công hữu là nền tảng xã hội. Đây là nét nổi bật trong tác phẩm Bộ luật của tự nhiên. Theo ông, chế độ công hữu phù hợp với đức hạnh tự nhiên của con người; mỗi nơi đều làm việc tùy theo sức lực, khả năng và đều được xã hội chăm sóc; trong xã hội, lao động không chỉ là nghĩa vụ mà chủ yếu là do tự giác, bởi lẽ lao động là nhu cầu của con người.

Về kinh tế, mô hình xã hội tương lai của Ph.Môrenly về kinh tế được phác hoạ trên cơ sở quan niệm về “thời đại hoàng kim” đã từng tồn tại trong lịch sử nhân loại. Đó là chế độ công xã nguyên thuỷ. Do đó, ông chủ trương cần khôi phục lại chế độ công hữu về của cải. Trong xã hội, mỗi người đều phải lao động, được phân công công việc sát hợp với khả năng, sở trường và sức khoẻ của mình. Xã hội có trách nhiệm chăm lo toàn diện đến cuộc sống của mọi thành viên.

Về chính trị, Ph.Morenly chủ trương thành lập chế độ cộng hòa dân chủ. Trong đó, nhà nước phải quản lý, điều tiết mọi hoạt động sản xuất, phân phối của cải và duy trì được các lĩnh vực đời sống xã hội ổn định, hài hòa. Để quản lý tổ chức xã hội, ông đề ra sự cần thiết phải có luật pháp. Muốn vậy, cần thay thế các luật lệ cũ bằng những bộ luật mới, trên cơ sở kế thừa những tập quán cũ, “thời đại hoàng kim” và bổ sung những nội dung mới. Trong “Bộ luật tự nhiên”, ông nêu lên xã hội cần phải có những bộ luật như: luật phân phối, luật ruộng đất, luật qui hoạch đô thị, luật trật tự xã hội, luật cấm xa xỉ, luật cai trị, luật hôn nhân, luật giáo dục, luật hoạt động khoa học.

Con đường biện pháp để thực hiện các dự án xã hội mới của Ph.Morenly không phải là đấu tranh cách mạng lật đổ chế độ xã hội đương thời bằng sức mạnh của quần chúng nhân dân mà bằng các biện pháp có tính chất không tưởng. Đó là sự ảo tưởng có thể xóa bỏ chế độ tư hữu và chế độ xã hội đương thời bằng cách làm cho nhà cầm quyền, những kẻ giàu có biết điều, có đạo đức, lương tâm và mọi người trong xã hội phải có học thức, hoặc bằng cách thay đổi luật lệ. Như vậy, rõ ràng là trên phương diện xã hội, Ph.Môrenly mặc dù có những tư tưởng tiến bộ, có tính xã hội chủ nghĩa trong việc phê phán chế độ tư hữu, để xóa bỏ nó, thiết lập chế độ công hữu, thức tỉnh con người sống hưởng thiện và nhân ái, song về xã hội ông vẫn là một nhà duy tâm chủ quan và cũng hết sức mơ hồ.

Nội dung tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng của các đại biểu tiêu biểu của Giăng Mêliê (1664-1729)

 


Giăng Mêliê sinh năm 1664 tại làng Madécvi miền SămPanhơ (Pháp) trong gia đình thợ dệt. Hồi nhỏ, ông học trong trường dòng. Tại đây ông được nghiên cứu các nhà triết học, thần học và chịu nhiều ảnh hưởng các quan điểm triết học duy vật, vô thần theo nhiều khuynh hướng khác nhau. Năm 23 tuổi, ông được phong làm linh mục và đi hành đạo ở một làng quê có tên là Eitơrơpênhi và ở đó đến tận cuối đời.

Là môn đồ tôn giáo, lại trực tiếp cai quản tín đồ ở một làng quê, nên G.Mêliê rất gần gũi với nông dân. Ông hiểu biết sâu sắc tình hình nông thôn và cuộc sống của nông dân ở đây. Ông cảm thông sâu sắc với những suy tư thầm kín và những khát vọng của nhân dân. Ông thường đứng về phía nông dân chống lại bọn địa chủ bóc lột họ bằng sưu cao, thuế nặng và áp bức, đánh đập họ tàn nhẫn. Ông chống lại sự áp bức của tôn giáo. Trong những năm cuối đời, tại chính làng quê này, ông đã viết cuốn sách nổi tiếng “Di chúc của tôi”, trong đó chứa đựng nhiều tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng”.

Nội dung tư tưởng xã hội chủ nghĩa của G.Mêliê

Phê phán xã hội đương thời, Giăng Mêliê vạch rõ, xã hội đương thời có quá nhiều kẻ ăn bám, những kẻ sống phè phỡn trên lưng người lao động và bằng mồ hôi, nước mắt của họ. Ông lên án bọn vua quan từ nhà vua đến tên nhân viên thu thuế, từ bọn quý tộc đến tên địa chủ ở nông thôn. Ông cho rằng mọi tội ác trên đời, những bất công, những vụ cướp đoạt trên biển, trên đất liền, những cuộc tàn sát dã man đều là do bàn tay vấy máu của bọn vua quan gây ra, xuất phát từ lòng tham, thói ích kỷ và sự độc ác của chúng. Ông nguyền rủa tình trạng bất bình đẳng xã hội, sự phân chia đẳng cấp. Đó là tình trạng tất cả của cải và mọi sự thoả mãn đều là đặc quyền, đặc lợi của bọn vua quan, bọn giàu có, còn quần chúng lao động thì phải làm việc cực nhọc và không được hưởng thụ những thứ do mình làm ra, phải sống nghèo đói.

Giăng Mêliê vạch rõ, nguồn gốc của mọi bất công, tội ác của chiến tranh, bất hạnh... là do chế độ tư hữu gây ra. Vì vậy cần phải xóa bỏ tư hữu cùng với xóa bỏ bọn vua quan, kẻ ăn bám. Nét độc đáo ở Giăng Mêliê ở chỗ ông là một môn đồ của tôn giáo, song lại là người chống lại tôn giáo mạnh mẽ, trên quan điểm duy vật. Hơn thế, ông còn làm tất cả những gì để giáo dục phổ cập tư tưởng chống tôn giáo cho nhân dân.

Giăng Mêliê không dừng lại ở sự chỉ trích, tố cáo, mà ông tiến xa hơn khi ông là người kêu gọi, động viên, phát động nhân dân đứng lên đấu tranh xóa bỏ chế độ bóc lột, áp bức, xã hội bất công đó. Ông có thái độ không thoả hiệp với các giai cấp thống trị. Ông đòi hỏi quần chúng phải lật đổ và thủ tiêu ách thống trị của vua quan và tất cả bọn bóc lột, áp bức. Điều này mấy chục năm sau đã được cuộc cách mạng dân chủ tư sản Pháp 1789 thực hiện.

Dự kiến mô hình xã hội tương lai.

Về kinh tế, Giăng Mêliê từ chỗ phủ nhận chế độ tư hữu, coi chế độ tư hữu là nguồn gốc của mọi bất công, do đó ông chủ trương xã hội mới phải xóa bỏ chế độ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu về ruộng đất và mọi của cải. Xã hội được tổ chức như một gia đình thống nhất. Mọi của cải được quản lý chung, mọi người được cấp lương, được mặc, được nhà ở và tư liệu sinh hoạt khác như nhau. Các thành viên xã hội được những người tài giỏi quản lý, điều hành công việc để phát triển sản xuất và giữ gìn của cải chung.

Về phân phối, Ông chủ trương xã hội thực hiện phân phối theo nhu cầu, bảo đảm cho cuộc sống của mỗi người một cách bình quân, nếu họ làm việc có ích và khéo san sẻ. Ông viết: Nói chung nếu mọi người đều có và đều được hưởng một cách bình đẳng những của cải và những phương tiện sống, nếu họ nhất trí lo toan đến những công việc lương thiện và có ích nào đó... và nếu họ san sẻ khéo cho nhau những của cải trên trái đất và thành quả lao động và kỹ thuật của họ, thì họ sẽ khá dồi dào để sống một cách hài lòng và sung sướng.

Về chính trị, Giăng Mêliê chủ trương xây dựng tình đoàn kết, sự liên minh của các cộng đồng xã hội và dân tộc vì lợi ích chung của các dân tộc. Ông cho rằng các thành thị và các cộng đồng khác nhau sống bên cạnh nhau đều phải chăm lo xây dựng mối liên minh với nhau, không làm gì tổn hại đến cuộc sống hòa bình, hữu nghị; phải biết giúp đỡ nhau khi cần thiết. Nếu không làm được như vậy thì sẽ không thể tồn tại và phát triển và cuối cùng nhân dân sẽ bị đau khổ.

Trong “Di chúc của tôi” cũng như cuộc đời của Giăng Mêliê còn nhiều mâu thuẫn. Do điều kiện lịch sử, những ước mong của G.Mêliê còn mang tính không tưởng vì nó chưa thể thực hiện được. Nhưng “Di chúc của tôi”- với sự lên án sâu sắc xã hội đương thời, với thái độ phủ định nó một cách triệt để, với những lời hiệu triệu quần chúng đứng lên đấu tranh và với tất cả những gì Ông mong ước về một xã hội không có áp bức, bóc lột, không có chế độ tư hữu, xác lập chế độ công hữu về của cải, thực hiện bình đẳng xã hội. G.Mêliê xứng đáng được coi là người dự báo cuộc cách mạng tư sản và là nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng đầu tiên của Pháp thế kỷ XVIII.

HOÀN CẢNH LỊCH SỬ CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHÔNG TƯỞNG THẾ KỶ XVIII

 


Châu Âu nói chung và nước Pháp nói riêng trong thế kỷ XVIII đã khẳng định sự thắng lợi căn bản có tính quyết định của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa so với phương thức sản xuất phong kiến. Giai cấp tư sản cũng đã bắt đầu vươn dài cái vòi bạch tuộc ra thế giới.

Nước Pháp trước cách mạng tư sản là một nước quân chủ chuyên chế. Đến giữa thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến chuyên chế đã báo hiệu cho thấy giờ báo tử của nó sắp điểm. Nền chuyên chính của dòng họ Buốc bông - sản phẩm của sự cố kết giữa tầng lớp quí tộc phong kiến và giáo hội Cơ đốc giáo đã mục ruỗng và đang lung lay. Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và phong kiến đã lên đến cực điểm. Giai cấp tư sản Pháp - đã trở thành lãnh tụ chính trị của đẳng cấp thứ ba bao gồm các giai tầng có nhiều uất hận với phong kiến như nông dân, thợ thủ công, tầng lớp lao động, tiểu tư sản, thị dân.

Thế kỷ XVIII là thế kỷ ghi nhận sự phát triển rực rỡ của văn hóa, nghệ thuật và tư tưởng ở châu Âu, đỉnh cao là Phong trào Khai sáng. Đây là trào lưu chính trị- xã hội- tư tưởng được hình thành và phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ chuẩn bị cho cuộc cách mạng dân chủ tư sản. Họ đề cao, ca ngợi tư tưởng tự do, dân chủ, nhu cầu vật chất của con người; họ đã tuyên chiến với lễ giáo cổ hủ phong kiến, tiến công vào giáo hội, giáo lý tôn giáo cũng như những công cụ nô dịch tư tưởng con người. Hoàn cảnh lịch sử đó đã xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng, nhiều quan niệm mới về xã hội trong đó có những tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng thế kỷ XVIII, với các đại biểu tiêu biểu như Giăng Miliê, Phrăngxoa Morenly, B.ĐờMably, Grắccơ Babơp...

Thứ Tư, 10 tháng 9, 2025

NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945!

     Cách đây tròn 80 năm, cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đã đưa đất nước ta từ thân phận nô lệ trở thành quốc gia độc lập, mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội (CNXH). Trong cuộc hành trình ấy, sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một sự kiện vĩ đại, trang sử chói lọi nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam trong thế kỷ 20. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh, toàn thể dân tộc đã nhất tề đứng lên lật đổ chính quyền thực dân, phong kiến, xóa bỏ ách thống trị hơn 80 năm của thực dân Pháp và chấm dứt ách đô hộ quân phiệt Nhật Bản, giành lại chính quyền về tay nhân dân, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới của đất nước, kỷ nguyên độc lập dân tộc tiến lên xây dựng CNXH. Như Văn kiện Đại hội II của Đảng đã khẳng định: “Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của Chủ nghĩa Mác-Lênin ở một nước thuộc địa, là thắng lợi của đường lối cách mạng đúng đắn, là thắng lợi của sự lãnh đạo sáng suốt và kiên cường của Đảng”(1). Bài viết này tập trung phân tích, làm rõ vai trò lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, nhân tố quyết định của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thể hiện trên 3 yếu tố nổi bật: (1) Hoạch định đường lối cách mạng đúng đắn, sáng suốt; (2) Xây dựng và tổ chức lực lượng rộng khắp; (3) Nghệ thuật sáng tạo trong nắm bắt thời cơ và tổ chức khởi nghĩa thành công.

Vai trò của Đảng trong tầm nhìn và hoạch định đường lối cách mạng đúng đắn, sáng suốt

Ngay từ khi ra đời năm 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương đã thể hiện tư duy và tầm nhìn chiến lược vượt trội so với các phong trào đấu tranh yêu nước trước đó khi khẳng định con đường giải phóng dân tộc không thể tách rời CNXH. Đây không chỉ là lựa chọn lý luận, mà là kết quả rút ra từ thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam và phong trào cộng sản quốc tế. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Đảng thông qua đã xác định: “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản"(2). Như vậy, ngay từ đầu, Đảng ta đã khẳng định đường lối độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Độc lập dân tộc vì lợi ích và hạnh phúc của nhân dân. Cái mới và sáng tạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhận thức về bản chất của CNXH chính là phát hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa từ sự kết tinh tất cả những lý tưởng về giải phóng con người, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội khỏi áp bức, bất công, mang lại tự do, dân chủ, công bằng và cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Nói cách khác, CNXH là ước mơ ngàn đời của mọi người dân lao động, mọi dân tộc cần lao, yêu chuộng hòa bình. Diễn giải một cách giản dị, CNXH nghĩa là nơi “đưa quần chúng đến một cuộc sống xứng đáng, vẻ vang và ngày càng phồn vinh, làm cho mọi người lao động có một Tổ quốc tự do, hạnh phúc và hùng cường, hướng tới những chân trời tươi sáng”(3); và “xây dựng cho nhân dân một đời sống ngày càng sung sướng. Đó là CNXH”(4). Vì thế, CNXH là điều kiện để bảo đảm sự bền vững của độc lập dân tộc và lợi ích, hạnh phúc của nhân dân. Tư tưởng này vừa mang tính cách mạng triệt để, tính nhân văn cao cả, vừa phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa và lịch sử của nước ta, cũng là chưa từng có tiền lệ trong cách mạng Việt Nam; đã trở thành một tư tưởng nền tảng, chỉ đạo, bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử gần 100 năm qua.

Sự sáng tạo trong đường lối cách mạng của Đảng thể hiện rõ trong việc xác định hình thái cách mạng Việt Nam là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, là bước chuyển tiếp tất yếu hướng tới cách mạng xã hội chủ nghĩa. Một nhận thức lý luận nhất quán và xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng là giai cấp luôn gắn liền với dân tộc, là một bộ phận không tách rời của dân tộc, giải phóng dân tộc cũng chính là điều kiện để giải phóng giai cấp. Đảng chủ trương xây dựng khối liên minh công-nông là lực lượng nòng cốt của cách mạng, nhưng đồng thời phải mở rộng đến các tầng lớp yêu nước khác như trí thức, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và một bộ phận địa chủ có tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc. Nói cách khác, đường lối cách mạng của Đảng không tách rời tính chất của dân tộc, đặt dân tộc trong mối quan hệ chặt chẽ với mục tiêu của cách mạng vô sản, của mục tiêu xây dựng CNXH, giải quyết các vấn đề dân tộc hài hòa với các yêu cầu, mục tiêu của giai cấp, hướng tới của CNXH. Đây là nền tảng, cơ sở để hình thành và không ngừng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo thành sức mạnh to lớn, điều kiện không thể thiếu trong những thành công vĩ đại của cách mạng Việt Nam.

Trong các cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939 và nhất là cao trào 1939-1945, Đảng không ngừng tôi luyện bản lĩnh, rút kinh nghiệm từ thất bại, mở rộng lực lượng, phát triển căn cứ địa. Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5-1941), trước tình hình chính trị quốc tế và trong nước thay đổi nhanh chóng, Đảng đã thể hiện sự nhạy bén về tư duy, tầm nhìn xa trông rộng và năng lực đổi mới nhận thức chiến lược, tạo ra một bước ngoặt quan trọng trong đường lối cách mạng. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị Trung ương 8 của Đảng đã quyết định chuyển trọng tâm từ cách mạng ruộng đất sang giải phóng dân tộc, xác định kẻ thù chính là đế quốc, phát xít xâm lược, từ đó đề ra nhiệm vụ tối cao là đánh đuổi phát xít Nhật, giành độc lập dân tộc. Hội nghị xác định: Nhiệm vụ trước hết và bức thiết nhất của cách mạng Việt Nam lúc này là phải giành cho được độc lập cho dân tộc và tự do, hạnh phúc cho nhân dân, do đó, tạm gác khẩu hiệu “Tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân cày”; đề ra chủ trương tịch thu ruộng đất của đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo; giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng công, tiến tới thực hiện người cày có ruộng; chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ mỗi nước ở Đông Dương; tăng cường lãnh đạo việc thành lập và phát triển các tổ chức vũ trang, nửa vũ trang; chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, đi từ khởi nghĩa từng phần đến Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Để tập hợp được mọi người dân Việt Nam yêu nước trong một khối đại đoàn kết thống nhất, tạo thành sức mạnh lật đổ chế độ thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, hội nghị quyết định thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất lấy tên là Việt Nam Độc lập Đồng minh hội (gọi tắt là Việt Minh). Chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh thể hiện sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam, đồng thời mở ra hình thức mặt trận dân tộc thống nhất rộng lớn, linh hoạt, tạo ra sự đồng thuận và ủng hộ rộng rãi trong xã hội.

Từ Cương lĩnh đầu tiên năm 1930 đến Hội nghị Trung ương 8 (năm 1941), tư tưởng “độc lập dân tộc gắn liền với CNXH” đã trở thành định hướng xuyên suốt. Trên cơ sở tư tưởng chỉ đạo đó, Đảng Cộng sản đã nắm bắt kịp thời những diễn biến thời cuộc và biến đổi tình hình trong nước và thế giới, đề ra những chủ trương, định hướng đúng đắn, sáng suốt và kịp thời, dẫn tới thắng lợi của Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước Tháng Tám năm 1945.

Sự tài tình và sáng suốt trong việc xây dựng và tập hợp lực lượng cách mạng

Thành công của Cách mạng Tháng Tám không thể tách rời vai trò, sự tài tình, sáng suốt của Đảng trong huy động và tổ chức lực lượng cách mạng. Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, trong khi khẳng định “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp”, “Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày” để tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của cách mạng, Đảng Cộng sản cũng đồng thời khẳng định yêu cầu phải tập hợp một lực lượng quần chúng rộng rãi ngoài hai giai cấp công nhân và nông dân: “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt v.v.. để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng lập hiến, v.v..) thì phải đánh đổ...”(5).

Đây là một chủ trương vô cùng sáng suốt dựa trên sự nhìn nhận, đánh giá rất đúng đắn bối cảnh, tình hình kinh tế-xã hội và những đặc thù văn hóa của Việt Nam. Vào thời điểm năm 1930, nền kinh tế nước ta chủ yếu là sản xuất nông nghiệp manh mún, kỹ thuật canh tác lạc hậu. Chính sách cai trị, bóc lột khắc nghiệt của thực dân Pháp càng đẩy nền kinh tế của xứ Đông Dương vào lạc hậu, chậm phát triển. Sự ra đời của giai cấp công nhân nước ta gắn liền với quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Một khi nền công nghiệp còn rất nhỏ bé, chủ yếu là khai khoáng và một số cơ sở dệt may, chế biến nông sản, tất yếu kéo theo lực lượng công nhân vừa nhỏ bé lại phân tán. Theo thống kê, đến cuối năm 1929, tổng số công nhân làm việc trong các doanh nghiệp của tư bản Pháp là hơn 22 vạn người, trong đó có 5,3 vạn thợ mỏ, 8,6 vạn công nhân các ngành công thương nghiệp, 8,1 vạn công nhân các đồn điền trồng cây công nghiệp. Đó là chưa kể đến những người làm ở xí nghiệp thủ công lớn, nhỏ, thợ may, thợ cạo, thợ giặt, bồi bếp, khuân vác ở hải cảng.

Mặt khác, dân tộc Việt Nam trải qua lịch sử dựng nước và giữ nước lâu dài, đã hun đúc nên tinh thần đoàn kết, yêu thương, gắn bó cùng nhau với những quan hệ huyết thống cùng tình làng, nghĩa xóm, truyền thống yêu nước, ý chí quật cường đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”(6).

Trong điều kiện ấy, Đảng đã sáng suốt nhận thức rằng, chỉ khi tập hợp được mọi tầng lớp yêu nước, bất kể giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo, dân tộc, xây dựng thành một khối đại đoàn kết toàn dân tộc thì cách mạng mới có thể thắng lợi. Việc mở rộng mặt trận nhân dân, thu hút các tầng lớp quần chúng rộng rãi, tập hợp họ lại dưới ngọn cờ cách mạng của Đảng là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của đất nước và yêu cầu của cách mạng. Đường lối tập hợp quần chúng rộng rãi không chỉ thể hiện chính sách đoàn kết dân tộc sáng suốt, mang lại sức mạnh to lớn của lực lượng cách mạng, hơn thế nữa, còn là điều kiện cho sự phát triển của chính đội ngũ đảng viên của Đảng. Thực tế cho thấy, nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng xuất thân từ những tầng lớp trí thức, trong các gia đình nhân sĩ, tư sản yêu nước, được rèn luyện và trưởng thành trong phong trào cách mạng, đã trở thành những cán bộ cốt cán, trung kiên của Đảng, có đồng chí đã hy sinh, cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng.

Khối đại đoàn kết toàn dân được hình thành và phát huy qua Mặt trận Việt Minh, một sáng kiến chiến lược đúng thời điểm, đúng đối tượng. Thông qua Việt Minh, Đảng mở rộng và phát triển lực lượng chính trị rộng khắp trên toàn quốc. Mạng lưới cán bộ cách mạng được xây dựng khắp các khu vực từ đồng bằng đến miền núi, từ nông thôn đến đô thị. Các tổ chức quần chúng như Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Tự vệ cứu quốc... được thành lập rộng rãi, đóng vai trò quan trọng trong việc lan tỏa tinh thần yêu nước, giác ngộ chính trị và tập hợp lực lượng tham gia và ủng hộ cách mạng.

Cùng với chủ trương huy động rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân trong toàn dân tộc để xây dựng lực lượng cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời quan tâm đến các mối quan hệ quốc tế, nhất là phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân và cộng sản quốc tế, đặc biệt là cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và nhân dân lao động ở nước Pháp. “Trong khi tuyên truyền các khẩu hiệu nước An Nam độc lập, phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp”(7), đó là đường lối được xác định ngay trong sách lược đấu tranh được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng, tháng 2-1930. Đường lối ấy xuất phát từ nhận thức đúng đắn và sáng suốt của Đảng là, cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, cách mạng giải phóng của một thuộc địa như Việt Nam trong quan hệ với cách mạng ở chính quốc như đôi cánh của một con chim. Nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi”(8). Đương nhiên, cách mạng giải phóng dân tộc muốn được biết đến và có được sự ủng hộ của cách mạng chính quốc và phong trào cách mạng thế giới thì phải có thực lực, phải dựa vào sức mạnh của dân tộc là chính, phải “lấy sức ta mà tự giải phóng cho ta” là chủ yếu.

Từ nền tảng nhận thức lý luận ban đầu này, Đảng đã không ngừng tổng kết thực tiễn, hoàn thiện đường lối hợp tác quốc tế để tận dụng và phát huy sức mạnh của sự ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng cách mạng, tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới, tạo thành một mặt trận thứ hai, góp phần vào những thành công của cách mạng Việt Nam. Đường lối ấy không chỉ là một trong những yếu tố quan trọng dẫn tới thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mà còn tiếp tục phát huy trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết: “Dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ tích cực của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và của nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ”.

Sự sáng tạo, tài tình trong việc tận dụng thời cơ và tổ chức Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không thể thành công nếu Đảng Cộng sản Việt Nam không sáng suốt nắm bắt lấy “thời cơ vàng”, lãnh đạo kiên quyết và hành động nhanh chóng, kịp thời việc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Sau khi vào Đông Dương, chính quyền phát xít Nhật đã bắt tay với thực dân Pháp tiến hành đàn áp phong trào cách mạng nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phân tích tình hình, chỉ ra mâu thuẫn không thể tránh khỏi giữa các thế lực đế quốc xâm lược, nhận định không sớm thì muộn phát xít Nhật sẽ đảo chính, hất cẳng thực dân Pháp ở Đông Dương và chủ động chuẩn bị kế hoạch hành động khi có tình hình mới. Vì thế, ngay trong đêm 9-3-1945, khi quân phiệt Nhật Bản đảo chính Pháp, Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị Thường vụ mở rộng do Tổng Bí thư Trường Chinh chủ trì và ra Chỉ thị “Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” vào ngày 12-3-1945. Chỉ thị xác định kẻ thù chính, cụ thể, trước mắt của nhân dân Đông Dương là phát xít Nhật, do đó, phải thay đổi khẩu hiệu “đánh đuổi Nhật, Pháp” bằng khẩu hiệu “đánh đuổi phát xít Nhật” chống lại chính quyền Nhật và chính phủ bù nhìn của bọn Việt gian thân Nhật. Đây là văn kiện rất quan trọng, một thể hiện điển hình cho khả năng đánh giá tình hình chính trị sắc sảo, sự sáng suốt của Đảng trong chủ động đề ra các quyết sách chiến lược lãnh đạo cách mạng.

Sau khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh vào ngày 15-8-1945, tình hình chính trị ở Đông Dương chuyển biến nhanh chóng, chính quyền tay sai của quân phiệt Nhật rệu rã, mất phương hướng, không còn chỗ dựa. Đây chính là “thời cơ ngàn năm có một” mà Đảng ta đã kỳ công chuẩn bị từ lâu và sẵn sàng để tận dụng.

Dưới sự chủ tọa của lãnh tụ Hồ Chí Minh, Hội nghị toàn quốc của Đảng đã được tổ chức tại Tân Trào từ ngày 13 đến 15-8-1945. Hội nghị đưa ra nhận định 7 điểm: 1) Từ ngày 9-3-1945, chính sách tàn ngược, vô nhân đạo của Nhật càng rõ rệt; 2) Nhân dân Đông Dương cực khổ, căm tức, cách mạng hóa; đến cả một phần quan lại cũng ngả về phe cách mạng; 3) Cao trào kháng Nhật, cứu nước do Đảng lãnh đạo ngày một mạnh mẽ, sâu rộng khắp Bắc-Trung-Nam... Khu giải phóng và Quân giải phóng Việt Nam thành lập. Chính quyền địa phương của nhân dân đã lập trên 6 tỉnh thượng du và trung du Bắc Kỳ. Hơn một triệu đồng bào đã được hưởng quyền tự do dân chủ và được miễn trừ sưu thuế; 4) Nhật đổ, hàng ngũ chỉ huy của chúng ở Đông Dương chia rẽ đến cực điểm; quân lính Nhật tan rã, mất tinh thần, bọn Việt gian thân Nhật hoảng sợ; 5) Quân Đồng minh sắp vào nước ta và đế quốc Pháp lăm le khôi phục lại địa vị cũ ở Đông Dương; 6) Toàn dân tộc đang sôi nổi đợi chờ khởi nghĩa giành quyền độc lập; 7) Điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương như đã chín muồi.

Để bảo đảm lãnh đạo khởi nghĩa thắng lợi, hội nghị đề ra 3 nguyên tắc: 1) Tập trung: Tập trung lực lượng vào những việc chính; 2) Thống nhất: Thống nhất mọi phương diện, chính trị, hoạt động chỉ huy; 3) Kịp thời: Kịp thời hành động không bỏ lỡ thời cơ. Đồng thời, hội nghị cũng yêu cầu: “Phải tập trung lực lượng vào những chỗ cần thiết để đánh”; “đánh chiếm ngay những nơi chắc thắng, không kể thành phố hay thôn quê”; phối hợp chặt chẽ quân sự và chính trị trong tác chiến; hết sức bảo toàn lực lượng; tiến hành công tác binh vận, “làm tan rã tinh thần quân địch và dụ chúng hàng trước khi đánh”.

Hội nghị toàn quốc của Đảng tại Tân Trào có ý nghĩa rất quan trọng đối với cách mạng nước ta. Những tư tưởng của hội nghị không chỉ có ý nghĩa chỉ đạo đối với Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 mà còn có ý nghĩa, tác dụng định hướng đối với các công tác của Đảng sau khi giành chính quyền, với việc bảo vệ và phát huy thành quả cách mạng, hơn thế nữa còn là bài học về lâu dài cho cách mạng Việt Nam.

Ngay sau Hội nghị toàn quốc của Đảng, ngày 16 và 17-8-1945, Quốc dân Đại hội được tổ chức tại Tân Trào (Tuyên Quang). Đại hội đã quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trên phạm vi toàn quốc; thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh; quy định về Quốc kỳ, Quốc ca; cử ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Trước khi Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam ra đời, ngày 13-8-1945, Trung ương Đảng đã quyết định thành lập Ủy ban khởi nghĩa do Tổng Bí thư Trường Chinh trực tiếp phụ trách. Ủy ban khởi nghĩa đã ra bản Quân lệnh số 1, phát lệnh Tổng khởi nghĩa: “Giờ Tổng khởi nghĩa đã đánh! Cơ hội có một cho quân, dân Việt Nam vùng dậy giành lấy quyền độc lập của nước nhà!”. Khởi nghĩa giành chính quyền nổ ra thành công ở Hà Nội ngày 19-8, Huế ngày 23-8, Sài Gòn ngày 25-8. Đến cuối tháng 8, tất cả địa phương trong cả nước đã giành chính quyền về tay nhân dân. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử, trịnh trọng tuyên bố: “Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Toàn bộ cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên toàn cõi Việt Nam diễn ra trong vòng nửa tháng, hầu như không đổ máu với tốc độ thần tốc.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một thành quả vĩ đại của lịch sử dân tộc, được hun đúc từ trí tuệ chiến lược, nghệ thuật tổ chức cách mạng của Đảng Cộng sản Đông Dương và đặc biệt là sự đồng lòng, đồng sức của toàn dân tộc. Từ thắng lợi ấy, nhiều bài học lịch sử lớn vẫn còn nguyên giá trị và mang ý nghĩa sâu sắc trong sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước hiện nay./.
---------
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.12, tr.442 (2) Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.3, tr.1 (3) Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.1, tr.XII (4) Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.13, tr.432 (5) Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.3, tr.3 (6) Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.7, tr.38 (7) Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.3, tr.3 (8) Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.1, tr.320.
Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, ngày 2-9-1945.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THỦ TƯỚNG PHẠM MINH CHÍNH “THẦN TỐC, TÁO BẠO HƠN NỮA, ĐẨY MẠNH TRIỂN KHAI CÁC CÔNG TRÌNH, DỰ ÁN HẠ TẦNG GIAO THÔNG”!

     Chiều tối 10-9, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Trưởng ban Chỉ đạo Nhà nước các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành giao thông vận tải chủ trì họp phiên thứ 20 của Ban Chỉ đạo nhằm rà soát, đôn đốc việc thực hiện các nhiệm vụ sau phiên họp lần thứ 19, đồng thời bàn các giải pháp, tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án.

Phiên họp được tổ chức trực tiếp kết hợp trực tuyến giữa đầu cầu trụ sở Chính phủ với 27 tỉnh, thành phố đang có các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành giao thông vận tải trên địa bàn. Dự phiên họp có Phó thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà; các bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố; đại diện các tập đoàn, tổng công ty, các ban quản lý dự án, chủ đầu tư, các nhà thầu…

Đưa vào khai thác thêm 208 km đường bộ cao tốc

Tại phiên họp thứ 19 của Ban Chỉ đạo, Thủ tướng Chính phủ đã giao 33 nhiệm vụ cho các bộ, ngành và địa phương. Đến nay, các đơn vị đã hoàn thành 12 nhiệm vụ đúng thời hạn yêu cầu; đang tích cực triển khai 21 nhiệm vụ là công việc chỉ đạo, điều hành thường xuyên và nhiệm vụ chưa đến thời hạn; có 1 nhiệm vụ liên quan đến công tác giải phóng mặt bằng chưa đáp ứng tiến độ yêu cầu.

Trong đó nhiều nhiệm vụ quan trọng được triển khai tạo dấu ấn như: Tổ chức Lễ khánh thành, khởi công 250 dự án, công trình với tổng mức đầu tư gần 1,3 triệu tỷ đồng; tích cực tiếp thu hoàn thiện để báo cáo về phương án đầu tư mở rộng các đoạn tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông theo phương thức đối tác công tư (PPP); tổ chức các đoàn kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ các khó khăn, đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án thuộc danh mục 3.000km đường bộ cao tốc có kế hoạch hoàn thành năm 2025; xây dựng Nghị quyết về các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn trong triển khai Luật Địa chất và khoáng sản…

Để đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án trọng điểm, Thủ tướng Chính phủ cũng quyết định bổ sung 15 dự án, gồm 13 dự án đường bộ, 1 dự án hàng không và 1 dự án cảng biển vào danh mục dự án thuộc Ban Chỉ đạo, nâng tổng số dự án lên 120 dự án và dự án thành phần, bao gồm các dự án đường bộ cao tốc; các đường vành đai và đường sắt đô thị tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh; các dự án cảng biển; hàng không…

Phiên họp đánh giá, thời gian qua, được sự quan tâm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, các Phó thủ tướng Chính phủ, sự chủ động phối hợp trong giải quyết các thủ tục, triển khai của các bộ, ngành; các địa phương, các chủ đầu tư đã nỗ lực cố gắng, chủ động triển khai, khắc phục các khó khăn để đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án.

Tuy nhiên, vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc tại một số dự án cụ thể cần tiếp tục tập trung tháo gỡ như: Công tác giải phóng mặt bằng, chồng lấn quy hoạch, thiếu vật liệu xây dựng thông thường. Một số dự án tiến độ thi công chậm, có nguy cơ không đảm bảo mục tiêu. Đặc biệt khối lượng thi công còn lại của Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành rất lớn, phải thi công đồng thời trên cùng một mặt bằng, lại bước vào mùa mưa, do đó đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà thầu, sự điều hành linh hoạt, khoa học của chủ đầu tư.

Lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương, chủ đầu tư, các nhà thầu bày tỏ quyết tâm thúc đẩy triển khai các dự án, phấn đấu hoàn thành mục tiêu và theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ giao; kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chấp thuận bổ sung một số dự án trọng điểm như dự án mở rộng Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc, dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình và dự án cầu Cần Thơ 2 vào danh mục dự án thuộc Ban Chỉ đạo; đề nghị Chính phủ sớm ban hành Nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn trong triển khai Luật Địa chất và khoáng sản…

Sau khi rà soát, thảo luận và chỉ đạo thúc đẩy triển khai từng dự án cụ thể; kết luận phiên họp, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo nhấn mạnh, sau phiên họp thứ 19 của Ban Chỉ đạo, các bộ, ngành đã tích cực triển khai và đạt được các kết quả đáng ghi nhận.

Trong đó, hoàn thành thêm 208km đường cao tốc, nâng tổng số đường cao tốc đưa vào vận hành khai thác là 2.476km; khởi công dự án Dầu Giây - Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành, dự án thành phần 3 đường Vành đai 4 Thành phố Hồ Chí Minh; tổ chức thành công Lễ khánh thành, khởi công 250 dự án chào mừng 80 năm Quốc khánh; lên phương án đầu tư mở rộng các đoạn tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông theo phương thức PPP; trình Chính phủ Nghị quyết về các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn trong triển khai Luật Địa chất và khoáng sản…

Thủ tướng Chính phủ đánh giá cao, cảm ơn các bộ, ngành, địa phương, đặc biệt là nhân dân các địa phương đã chung tay, góp sức để đất nước có thêm nhiều công trình, dự án hạ tầng quan trọng, với tinh thần “Đảng đã chỉ đạo, Chính phủ đã thống nhất, Quốc hội đồng tình, nhân dân ủng hộ thì chỉ bàn làm, không bàn lùi”, “Đã nói là làm, đã cam kết phải thực hiện có hiệu quả thiết thực” để từ thắng lợi này, thành quả, kinh nghiệm, sự trưởng thành này tiếp tục triển khai các dự án hạ tầng lớn khác.

Lưu ý còn 2 nhiệm vụ chưa hoàn thành, Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ: các tỉnh Quảng Trị, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Đồng Nai chưa hoàn thành giải phóng mặt bằng các trạm dừng nghỉ; các tỉnh Tuyên Quang, Lạng Sơn và Đồng Nai chưa hoàn thành giải phóng mặt bằng trong tháng 8-2025; tiến độ triển khai các dự án chậm so với chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ là mỗi tháng tăng ít nhất 10% sản lượng; đồng thời tiến độ triển khai xây dựng các trạm dừng nghỉ, hệ thống giao thông thông minh trên tuyến cao tốc Bắc Nam phía Đông chậm, chưa đáp ứng tiến độ yêu cầu.

Hết năm 2025 phải có 3.000 km đường cao tốc, 1.700 km đường ven biển

Yêu cầu các bộ, ngành, cơ quan, địa phương giải quyết dứt điểm những hạn chế kể trên, Thủ tướng Chính phủ cho biết, từ nay đến cuối năm 2025 chỉ còn gần 4 tháng, khối lượng công việc còn rất nhiều đòi hỏi các cơ quan chủ quản phải tiếp tục phát huy các thành quả đã đạt được, nỗ lực triển khai các nhiệm vụ đã đặt ra để hoàn thành đúng tiến độ các dự án.

Các bộ, ngành, địa phương, chủ đầu tư phát huy dám nghĩ, dám làm, tự lực, tự cường; rà soát lại công việc, tổ chức triển khai “thần tốc, thần tốc hơn nữa; tạo bạo, táo bạo hơn nữa; hiệu quả, hiệu quả hơn nữa”; đưa công trình vào khai thác, mang lại hiệu quả kinh tế-xã hội, tất cả vì đất nước, vì nhân dân.

Theo Thủ tướng, bên cạnh đó một loạt các dự án mới khởi công cũng như các dự án đang triển khai công tác chuẩn bị đầu tư cũng cần phải gấp rút triển khai để góp phần vào mục tiêu chung là tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt từ 8,3-8,5% và tạo đà giai đoạn sau đạt tăng trưởng trên 2 con số.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, các địa phương, chủ đầu tư, nhà thầu, cơ quan, đơn vị liên quan tập trung tháo gỡ pháp lý, đầu tư trang thiết bị, nhân lực, nguồn lực tập trung triển khai thi công, phấn đấu hoàn thành vượt tiến độ đã cam kết, sớm đưa các công trình, dự án vào khai thác, sử dụng.

Thực hiện nghiêm chủ trương phân cấp, phân quyền “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”; tập trung tháo gỡ các rào cản về thể chế, cắt giảm thủ tục hành chính rườm rà cho người dân và doanh nghiệp. Bảo đảm phân công “6 rõ”: Rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền, để “3 dễ”: Dễ kiểm tra, dễ đôn đốc, dễ đánh giá.

Chỉ rõ, việc triển khai các dự án trên tinh thần “3 có” và “2 không”, trong đó “3 có” (có lợi ích của Nhà nước, có lợi ích của người dân, có lợi ích của doanh nghiệp; hài hòa lợi ích, rủi ro chia sẻ) và “2 không” (không tham nhũng, tiêu cực, không để thất thoát, lãng phí tài sản, công sức, tiền bạc của nhân dân), Thủ tướng yêu cầu, trong quá trình tổ chức thực hiện, nhất là khi gặp khó khăn, vướng mắc thì cần nêu cao tinh thần “tư tưởng phải thông, quyết tâm phải cao, nỗ lực phải lớn, hành động phải quyết liệt, hiệu quả, làm việc nào dứt việc đó, làm việc nào ra việc đó” và báo cáo ngay cấp có thẩm quyền để xử lý, giải quyết.

Người đứng đầu Chính phủ nhấn mạnh, mỗi cá nhân, chủ thể tham gia dự án phải phát huy tính tự lực, tự cường, dám nghĩ, dám làm, chủ động, kịp thời, không trông chờ, ỷ lại, đổi mới phương pháp, cách nghĩ, cách làm để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Phát huy tinh thần cùng nhau hỗ trợ, các doanh nghiệp lớn hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, khuyến khích doanh nghiệp các địa phương lớn mạnh hơn, vươn lên đảm nhiệm các công trình lớn hơn.

Các chủ thể nêu cao tinh thần đoàn kết, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị; tranh thủ sự ủng hộ, vào cuộc của nhân dân; phát động các phong trào thi đua, tạo không khí hăng say làm việc, khắc họa gương người tốt, việc tốt trên công trường; thực hiện khen thưởng kịp thời nhưng kỷ luật nghiêm minh, bảo đảm đúng tiến độ, chất lượng thi công, an toàn lao động đã đề ra.

Thủ tướng Phạm Minh Chính đặc biệt lưu ý và chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương liên quan thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể hoàn thành bằng được mục tiêu đưa vào khai thác 3.000km đường bộ cao tốc và có khoảng 1.700km đường bộ ven biển vào năm 2025; đồng thời bảo đảm cơ bản hoàn thành dự án Cảng Hàng không quốc tế Long Thành trong năm 2025.

Thủ tướng Chính phủ giao các nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành, địa phương trong việc hoàn thành các thủ tục, chuẩn bị đầu tư và khởi công một số dự án đường bộ như: Cao tốc Vinh - Thanh Thủy, Cam Lộ - Lao Bảo, Quảng Ngãi - Kon Tum, Bắc Kạn - Cao Bằng; dự án đường nối sân bay Gia Bình, dự án Quy Nhơn - Pleiku; dự án mở rộng cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương - Mỹ Thuận; dự án Thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài, Tân Phú - Bảo Lộc.

Cùng với đó, Thủ tướng chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương liên quan khẩn trương bàn giao toàn bộ phần mặt bằng còn lại của các dự án có kế hoạch hoàn thành năm 2025 và các dự án trạm dừng nghỉ trên tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông, hoàn thành chậm nhất trong tháng 9-2025. Các tỉnh, thành phố, nhất là ở phía Nam rà soát nhu cầu vật liệu, điều chuyển linh hoạt đáp ứng tiến độ triển khai các dự án.

Kêu gọi cả hệ thống chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các tầng lớp nhân dân cùng vào cuộc, hỗ trợ các nhà thầu thi công, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu rà soát, cập nhật lại tiến độ triển khai các dự án; bổ sung nhân lực, thiết bị, tăng mũi thi công, tổ chức thi công 3 ca, 4 kíp, làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm ngày nghỉ; đẩy nhanh tiến độ bảo đảm hoàn thành đúng yêu cầu, đặc biệt đối với các dự án có kế hoạch hoàn thành năm 2025.

Lưu ý địa phương phải lo công tác giải phóng mặt bằng, các chủ đầu tư bảo đảm chất lượng, vệ sinh môi trường, an toàn lao động, Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ, từ kinh nghiệm trong triển khai các công trình, dự án thời gian qua như xây dựng cầu Phong Châu (mới), Cảng hàng không quốc tế Long Thành, đường dây tải điện 500 kV mạch 3, cầu Mỹ Thuận 2…, các chủ thể liên quan phấn đấu hoàn thành mục tiêu đề ra, tăng kết nối liên tỉnh, liên vùng, quốc gia, khu vực và thế giới; mở ra không gian phát triển mới; thu hút đầu tư; tạo công ăn, việc làm, sinh kế cho người dân… góp phần cùng cả nước bước vào kỷ nguyên mới./.

Ảnh: Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì và phát biểu tại Phiên họp lần thứ 20 của Ban Chỉ đạo Nhà nước các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành Giao thông vận tải.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHẤT LƯỢNG XÉT XỬ ĐƯỢC NÂNG CAO, BẢO ĐẢM ĐÚNG NGƯỜI ĐÚNG TỘI!

     Ngày 10-9, Tòa án Quân sự Trung ương tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Tòa án quân sự (13-9-1945 / 13-9-2025) và đón nhận Huân chương bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì.

Chủ tịch nước Lương Cường gửi lẵng hoa chúc mừng.

Dự buổi lễ có các đồng chí: Đại tướng Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam; Lê Minh Trí, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Thượng tướng Võ Minh Lương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Nguyễn Hồng Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Nguyễn Quang Ngọc, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Huỳnh Chiến Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam và các đồng chí Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam: Thượng tướng Lê Quang Minh, Thượng tướng Trương Thiên Tô, Trung tướng Đỗ Xuân Tụng. 

Trong 80 năm qua, các tòa án quân sự (TAQS) đã xét xử hàng nghìn vụ án, không để xảy ra oan sai, luôn nhận được sự đồng thuận cao của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân; công lý được tôn trọng, uy tín của TAQS được nâng cao. Nhiều vụ án phức tạp, nhạy cảm được giải quyết dứt điểm, củng cố niềm tin vào kỷ luật Quân đội và nền tư pháp Việt Nam. Các TAQS đã có nhiều biện pháp tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong đổi mới tư duy công tác, nâng cao trách nhiệm cá nhân, thay đổi tác phong và lề lối làm việc theo hướng chuyên nghiệp của đội ngũ thẩm phán, thư ký. Kỹ năng điều hành phiên tòa, tiến hành tố tụng được nâng lên rõ rệt; bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng; nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” trong xét xử được chấp hành nghiêm túc. Do vậy, chất lượng xét xử, giải quyết án ngày càng được nâng lên vững chắc, việc xét xử bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Phát biểu tại buổi lễ, Đại tướng Trịnh Văn Quyết ghi nhận và biểu dương thành tích các TAQS đã đạt được trong thời gian qua. Thời gian tới, đồng chí Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam yêu cầu các TAQS quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong quá trình giải quyết các vụ án. Hội đồng xét xử bảo đảm tính độc lập trong xét xử, nêu cao trách nhiệm công vụ, xét xử đúng trình tự, thủ tục và thời hạn luật định. Đặc biệt, các TAQS cần đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng phiên tòa điện tử, số hóa hồ sơ. Tập trung làm tốt công tác thụ lý, nghiên cứu, giải quyết các vụ án; tổ chức xét xử bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không để xảy ra lọt người phạm tội, lọt tội phạm./.

Ảnh: Thừa ủy quyền của Chủ tịch nước, Đại tướng Trịnh Văn Quyết trao Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì tặng Tòa án Quân sự Trung ương.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUỐC HỘI VIỆT NAM - 80 NĂM PHỤNG SỰ NHÂN DÂN, KIẾN TẠO PHÁT TRIỂN!

     Trải qua 80 năm hình thành và phát triển với 15 nhiệm kỳ, con đường phát triển của Quốc hội Việt Nam là một hành trình kiên định, sáng tạo và không ngừng đổi mới; mỗi nhiệm kỳ đều để lại dấu ấn sâu đậm, góp phần đưa đất nước vững bước đi lên.

Đó là khẳng định của các đại biểu tại Hội thảo khoa học cấp quốc gia “Quốc hội Việt Nam-80 năm hình thành và phát triển” do Đảng ủy Quốc hội phối hợp với Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức chiều 9-9. 

Bí thư Đảng ủy Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn dự và chủ trì hội thảo. Đồng chủ trì hội thảo có các đồng chí: Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư; Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương; Nguyễn Thị Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ tịch Quốc hội; Mai Văn Chính, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Chính phủ.

Không ngừng đổi mới

Tự hào chặng đường 80 năm hình thành và phát triển của Quốc hội Việt Nam, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho biết, từ Quốc dân Đại hội Tân Trào-tiền thân của Quốc hội Việt Nam đến sự ra đời của Quốc hội khóa I và 15 nhiệm kỳ, Quốc hội đã luôn đồng hành với dân tộc, quyết định những vấn đề trọng đại, theo ý chí và nguyện vọng của nhân dân; thực hiện tốt chức năng lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.

Quốc hội đã ban hành 5 bản Hiến pháp; 567 luật, 236 pháp lệnh và hàng nghìn nghị quyết, tạo cơ sở pháp lý quan trọng phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng hệ thống chính trị, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, củng cố quốc phòng, an ninh, đối ngoại; bảo đảm việc thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Cùng với đó, hoạt động giám sát được tăng cường, đổi mới, lần đầu tiên Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức diễn đàn của Quốc hội về hoạt động giám sát, nội dung giám sát tập trung vào những vấn đề thực tiễn cuộc sống, đáp ứng tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, thúc đẩy việc thực hiện Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội. Hoạt động đối ngoại của Quốc hội được đẩy mạnh, mở rộng, đưa ngoại giao nghị viện đi vào chiều sâu, góp phần làm cho nhân dân thế giới và bạn bè quốc tế hiểu rõ hơn về đất nước, con người và nền văn hóa đặc sắc của Việt Nam, nâng cao vai trò, vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước phát biểu tại hội thảo, đồng chí Trần Cẩm Tú nhấn mạnh: Sự ra đời của Quốc hội là kết quả của cuộc đấu tranh kiên cường, không ngừng, không nghỉ của nhân dân ta. Quá trình hình thành, phát triển của Quốc hội là kết tinh của đường lối đúng đắn, sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đáp ứng ý nguyện chung của nhân dân và phù hợp với quy luật phát triển của thời đại.

Cùng với đó, sự phát triển của Quốc hội là quá trình liên tục, có kế thừa và đổi mới: Từ một Quốc hội thời chiến đến thời kỳ thống nhất, xây dựng đất nước, thời kỳ đổi mới và nay là Quốc hội kiến tạo trong kỷ nguyên phát triển mới. Quốc hội không ngừng đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động, kế thừa truyền thống quý báu, đồng thời sáng tạo, thích ứng với yêu cầu hội nhập, đáp ứng đầy đủ và kịp thời các nhiệm vụ chiến lược phát triển đất nước trong từng giai đoạn cách mạng.

Nhấn mạnh qua 15 nhiệm kỳ, Quốc hội Việt Nam luôn thể hiện vai trò trung tâm trong việc hoạch định đường lối phát triển đất nước, xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập sâu rộng, phát biểu đề dẫn tại hội thảo, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng bày tỏ ấn tượng với vị thế của Quốc hội khóa XV. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, Quốc hội khóa XV đã khẳng định vị thế là chủ thể sáng tạo thể chế, kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho những quyết sách chiến lược mang tính đột phá để phát triển nhanh và bền vững đất nước. 

Trong không khí thảo luận sôi nổi, các đại biểu bày tỏ niềm tự hào với 15 nhiệm kỳ, Quốc hội Việt Nam đã và đang không ngừng lớn mạnh, phát huy vị thế là trung tâm của hệ thống chính trị, thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Quốc hội trở thành hiện thân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm tính đại diện rộng rãi cho mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp...

Quốc hội phải đi trước một bước về thể chế

Trong bối cảnh cả dân tộc đang quyết tâm thực hiện thành công mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, trong hành trình này, các đại biểu cho rằng nhân dân đang mong chờ và kỳ vọng vào những quyết sách của Đảng, Nhà nước; đòi hỏi Quốc hội phải tiếp tục đổi mới toàn diện, đổi mới cách nghĩ, cách làm, nâng cao năng lực lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Làm thế nào để “Quốc hội phải đi trước một bước về thể chế; phải dám mở đường, dám sửa đường, dám quyết định những vấn đề khó, những việc mới, những lĩnh vực chưa từng có tiền lệ” như Tổng Bí thư Tô Lâm từng phát biểu tại cuộc gặp mặt các thế hệ đại biểu Quốc hội vừa qua.

Gợi mở một số nội dung đối với hoạt động của Quốc hội, đồng chí Trần Cẩm Tú nhấn mạnh, trước tiên cần bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của Đảng đối với Quốc hội. Đây là yếu tố sống còn, vấn đề then chốt để Quốc hội qua các nhiệm kỳ đều hoàn thành xuất sắc trọng trách mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Cùng với đó là tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo gắn với phát huy dân chủ, pháp quyền; xử lý hài hòa mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ và phát huy vị trí, vai trò của từng nhân tố này trong quá trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam...

Trong khi đó, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về dân chủ và pháp luật, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Trần Ngọc Đường đề xuất: Cần tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp, tăng cường tính phản biện trong các cơ quan của Quốc hội; đồng thời đổi mới tư duy về giám sát trong tình hình mới, nâng cao hơn nữa chất lượng của đại biểu Quốc hội-phải tìm được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, thay mặt nhân dân quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.

Nhấn mạnh vai trò của Quốc hội trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, đồng chí Phan Văn Mãi, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội đề cập tới việc hoàn thiện các chỉ tiêu trong nghị quyết về kinh tế-xã hội. Nghiên cứu, xác định rõ phạm vi quyết định thuộc thẩm quyền Quốc hội và Chính phủ theo hướng giảm bớt những chỉ tiêu có tính chất tuân thủ, mở rộng những chỉ tiêu mang tính định hướng cho công tác điều hành của Chính phủ; nghiên cứu hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu theo hướng thay thế những chỉ tiêu không còn phù hợp nhằm kịp thời đáp ứng với sự thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh tế-xã hội cũng như phù hợp với thông lệ quốc tế.

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm khác của Quốc hội thời kỳ mới được các đại biểu đề cập tới đó là tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hoạt động giám sát, nhất là giám sát tối cao của Quốc hội; đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại của Quốc hội, góp phần khẳng định vai trò, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế; chủ động khai thác, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu khoa học-công nghệ, đặc biệt là công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) để đổi mới phương pháp làm việc, nâng cao tiến độ, chất lượng, hiệu quả; phấn đấu xây dựng thành công Quốc hội số.

Các đại biểu tin tưởng, Quốc hội Việt Nam với bản lĩnh chính trị, tư duy đổi mới và khát vọng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân chắc chắn sẽ tiếp tục vững bước trên hành trình “dám đi trước một bước về thể chế”, góp phần hiện thực hóa khát vọng Việt Nam hùng cường, đồng hành với dân tộc vững bước trong kỷ nguyên mới./.

Ảnh : Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và các đại biểu tham dự hội thảo.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHỦ TỊCH NƯỚC LƯƠNG CƯỜNG CHỦ TRÌ CHIÊU ĐÃI CẤP NHÀ NƯỚC TOÀN QUYỀN AUSTRALIA!

     Tối 10-9, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Lương Cường và phu nhân đã chủ trì chiêu đãi trọng thể Toàn quyền Australia Sam Mostyn và phu quân cùng đoàn cấp cao Australia đang có chuyến thăm cấp nhà nước đến Việt Nam từ ngày 9 đến 12-9.

Nhiệt liệt chào đón Toàn quyền Sam Mostyn và phu quân cùng đoàn cấp cao Australia thăm cấp nhà nước đến Việt Nam, Chủ tịch nước Lương Cường nhấn mạnh, Việt Nam và Australia dù cách xa nhau về địa lý, nhưng lại có nhiều điểm tương đồng; hai nước chia sẻ nhiều lợi ích chiến lược, tầm nhìn về các vấn đề của khu vực và quốc tế, cùng chung khát vọng xây dựng khu vực châu Á-Thái Bình Dương hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển.

Chủ tịch nước khẳng định, vượt lên trên những thăng trầm của lịch sử, hợp tác nhiều mặt giữa hai nước đang ở giai đoạn phát triển rực rỡ nhất sau hơn nửa thế kỷ thiết lập quan hệ ngoại giao. Đối với Việt Nam, Australia là bạn, là đối tác và người đồng hành tin cậy trong chặng đường phát triển và hội nhập quốc tế nhiều thập kỷ qua. Người dân Việt Nam ai cũng biết những công trình biểu tượng cho tình hữu nghị Việt Nam - Australia như cầu Mỹ Thuận, cầu Cao Lãnh...

Mặt khác, Chủ tịch nước nhấn mạnh cộng đồng hơn 350.000 người Việt Nam tại Australia đã trở thành một phần của đại gia đình hơn 300 sắc tộc của đất nước Australia, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội sở tại và quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và Australia.

Tự hào về chặng đường đã đi qua trong lịch sử quan hệ hai nước, Chủ tịch nước bày tỏ vui mừng khi đón Toàn quyền Sam Mostyn với tư cách lãnh đạo cấp cao Australia đầu tiên thăm Việt Nam từ sau khi hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện năm 2024. Với những thành tựu nổi bật trong hơn nửa thế kỷ qua và kết quả tốt đẹp của chuyến thăm Việt Nam lần này, Chủ tịch nước Lương Cường tin tưởng, quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Australia sẽ tiếp tục phát triển lên tầm cao mới, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và thế giới.

Trong phát biểu đáp từ, Toàn quyền Sam Mostyn trân trọng cảm ơn sự hiếu khách và tiếp đón nồng ấm của Chính phủ và nhân dân Việt Nam; đồng thời gửi lời chúc mừng nhân kỷ niệm 80 năm Quốc khánh Việt Nam.

Bà Sam Mostyn cho biết đây là chuyến thăm chính thức đầu tiên đến Việt Nam trên cương vị Toàn quyền Australia song bà đã từng tới Việt Nam cách đây hơn 30 năm trước và đã đến thăm nhiều nơi trên mảnh đất Việt Nam mến khách. Toàn quyền Sam Mostyn khẳng định ngày nay, sự ổn định, thịnh vượng và an ninh của Australia gắn kết sâu sắc với các quốc gia trong khu vực và Việt Nam là quốc gia đứng đầu trong những mối liên kết này.

Trên nền tảng của sự hiểu biết và tin tưởng chiến lược, cũng như thông qua hợp tác khu vực, trong đó có ASEAN, bà Sam Mostyn nhấn mạnh Australia là đối tác kiên định, đáng tin cậy trong hành trình của Việt Nam hướng đến mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045. Toàn quyền Australia cho rằng việc hai nước nâng cấp quan hệ ngoại giao lên Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện vào tháng 3-2024 là một cột mốc lịch sử, phản ánh niềm tin chiến lược sâu sắc và tham vọng chung của hai quốc gia. Từ đó, thương mại hai chiều giữa hai nước đang ngày càng phát triển, đồng thời hai bên cũng cam kết hợp tác chống biến đổi khí hậu, hướng đến đạt được các cam kết phát thải ròng bằng 0 và đảm bảo phát triển kinh tế bền vững.

Nêu rõ giáo dục cũng là trọng tâm hợp tác của hai quốc gia, bà Sam Mostyn khẳng định, giáo dục là con đường vững chắc để hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn và chỉ là một trong rất nhiều con đường mà Australia và Việt Nam đang cùng hợp tác để xây dựng một tương lai tươi đẹp hơn cho cả hai quốc gia./.
Ảnh 1: Chủ tịch nước Lương Cường phát biểu tại chiêu đãi.

Ảnh 2: Toàn quyền Sam Mostyn phát biểu tại chiêu đãi.


Ảnh 3, 4, 5: Chủ tịch nước Lương Cường và phu nhân cùng Toàn quyền Sam Mostyn và phu quân cùng các đại biểu tại chiêu đãi.
 Môi trường ST.

BI KỊCH CỦA MỘT QUỐC GIA.

     Khách sạn Hilton ở Kathmandu bị nhóm biểu tình Thế hệ GenZ đốt cháy. Ngọn lửa nhen nhóm ở khu tầng trung, rồi bùng lên các tầng ở phía trên cao. Một số thông tin trên mạng xã hội X cho biết các sinh viên, học sinh đã ùa vào tấn công khách sạn, lùa khách ra bên ngoài và tiến hành thiêu khách sạn từ bên trong. Phía cảnh sát hoàn toàn không có biện pháp bảo vệ tài sản do đã bị các nhóm sinh viên khống chế, cứu hoả cũng đến chậm trễ do các tuyến đường bị rào chắn bởi người biểu tình.

Thế hệ GenZ cho biết họ đốt cháy khách sạn Hilton vì Jaybir Deuba - con trai của lãnh đạo Sher Bahadur Deuba là nhà đầu tư trực tiếp tại nơi này. Phía khách sạn đã nhiều lần bác bỏ điều này, bắc loa kêu gọi nhưng người biểu tình không hề nghe. 

Khách sạn Hilton tại Kathmandu có chi phí xây dựng khoảng gần 100 triệu đô, tạo ra công việc trực tiếp cho hơn 800 nhân viên và gián tiếp tạo ra việc làm cho hơn 2500 người khác. Theo dự toán, Chính phủ Nepal sau này sẽ phải đền bù hơn 250 triệu đô cho phía Hilton, bao gồm tổn thất vật chất, nợ vay, đền bù chi phí kinh doanh... Và tiền đó lấy từ thuế của biết bao nhiêu người dân Nepal. 

Và ngay trong vụ đốt khách sạn Nepal, người biểu tình là khối sinh viên, học sinh cũng mâu thuẫn trực tiếp với người đi làm, trung niên, những người duy trì công việc, muốn đấu tranh ôn hoà thay vì tàn phá như hiện tại. Hàng ngàn người mất đi công việc, kéo theo biết bao nhiêu gia đình khốn khổ... 

Dù sao thì thời gian cũng không quay trở lại được và đây chính là những bi kịch của một quốc gia./.
Môi trường ST.