Chủ Nhật, 7 tháng 12, 2025

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG KHÔNG TRỰC TIẾP VIẾT SGK, NHƯNG PHẢI BẢO VỆ LINH HỒN TƯ TƯỞNG CỦA QUỐC GIA

     Khi dư luận phẫn nộ vì việc đưa “Nỗi Buồn Chiến Tranh” vào sách giáo khoa Ngữ Văn, nhiều người đặt câu hỏi: “Vai trò của Ban Tuyên Giáo Trung Ương ở đâu?”

Câu hỏi này hoàn toàn chính đáng.
Bởi vì Ban Tuyên Giáo không cầm bút viết từng bài học, nhưng cơ quan này giữ vai trò cốt lõi trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của quốc gia.

Nếu trong SGK xuất hiện nội dung lệch lạc, mơ hồ, gây tổn thương tinh thần dân tộc - thì đó không còn là sự cố chuyên môn của hội đồng thẩm định, mà là vấn đề an ninh tư tưởng.

📌Thứ nhất, Ban Tuyên Giáo có trách nhiệm định hướng tư tưởng cho toàn bộ hệ thống giáo dục

SGK là “bản đồ tinh thần” của thế hệ trẻ.
Mọi nội dung về lịch sử, chính trị, chiến tranh, chủ quyền… đều phải đứng vững trên nền tảng Chính Nghĩa dân tộc.

Khi một tác phẩm chứa đầy bi lụy, u ám, có nguy cơ pha loãng ý chí quật cường của dân tộc được đưa vào giảng dạy, thì Ban Tuyên Giáo không thể đứng ngoài.
Đó chính là lúc vai trò bảo vệ đường lối tư tưởng phải được kích hoạt.

📌Thứ hai, Ban Tuyên Giáo phải nắm tình hình, giám sát và cảnh báo

Ban Tuyên Giáo không ngồi viết SGK, nhưng có quyền - và trách nhiệm:
• Theo dõi nội dung giáo dục
• Nhận diện rủi ro tư tưởng
• Gửi khuyến cáo kịp thời
• Đề nghị điều chỉnh nội dung sai lệch.

Một tác phẩm gây tranh cãi nhiều năm như “Nỗi Buồn Chiến Tranh” lẽ ra phải nằm trong danh mục theo dõi đặc biệt về tư tưởng, chứ không thể “lọt khe” vào chương trình rồi mới để xã hội giật mình.

📌Thứ ba, Ban Tuyên Giáo không thể để hội đồng chuyên môn tự quyết những vấn đề vượt ra ngoài chuyên môn

Một nhóm người, dù có chuyên môn văn chương đến đâu, cũng không thể tự quyết số phận tư tưởng của cả dân tộc.

Họ đánh giá văn học bằng kỹ thuật, bằng hình thức, bằng cảm giác cá nhân.

Nhưng SGK thì phải đánh giá bằng:
 • Lợi ích quốc gia
 • Tầm nhìn tư tưởng
 • Ý thức lịch sử
 • Trách nhiệm với thế hệ trẻ

Nếu một hội đồng thiên lệch, hoặc chịu ảnh hưởng của các trào lưu “phi chính trị hóa lịch sử”, thì Ban Tuyên Giáo phải can thiệp định hướng.

📌Thứ tư, khi Nhân Dân lên tiếng, Ban Tuyên Giáo phải là nơi đứng ra làm rõ

Nhân Dân có quyền đặt câu hỏi:
“Ai chịu trách nhiệm khi lịch sử bị kể bằng nỗi buồn?”

Nhà trường không trả lời.
Hội đồng thẩm định im lặng.
Tác giả thì nói đó chỉ là nghệ thuật.

Vậy cơ quan nào giải trình với Nhân Dân?

Chỉ có Ban Tuyên Giáo Trung Ương - cơ quan bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong mọi lĩnh vực - mới đủ thẩm quyền yêu cầu:

 • Rà soát nội dung
 • Giải trình quy trình
 • Chấn chỉnh sai lệch
 • Ngăn chặn tái diễn

Đây không phải chuyện của một tác phẩm. Đây là chuyện của quốc gia.

Tư tưởng dân tộc phải được bảo vệ như bảo vệ biên giới.

Lịch sử dân tộc phải được giữ gìn như giữ gìn danh dự của Tổ quốc.

Tinh thần dân tộc phải được truyền lại như truyền lửa.

Nếu Ban Tuyên Giáo làm tốt vai trò định hướng, thì những nội dung lệch chuẩn sẽ không bao giờ xuất hiện trong sách giáo khoa.

Và nếu có ai đó cố tình “lách”, cố tình gài gắm, cố tình đưa vào những hệ quy chiếu mơ hồ, bi quan, gây hại cho nhận thức giới trẻ - thì càng cần tiếng nói mạnh mẽ từ Ban Tuyên Giáo Trung Ương để bảo vệ đường lối tư tưởng của đất nước./.

Khuyết danh ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: PHỤNG SỰ TỔ QUỐC PHẢI LÀ SỨ MỆNH CỦA VĂN CHƯƠNG!

     Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vừa công bố, trao thưởng 50 tác phẩm văn học, nghệ thuật biểu diễn Việt Nam tiêu biểu, xuất sắc sau ngày đất nước thống nhất (1975-2025). Được biết, từ gần 200 tác phẩm thuộc các lĩnh vực văn học, sân khấu, âm nhạc và múa, trải qua thẩm định của các hội đồng bình chọn đã tuyển lựa được 50 tác phẩm (trong đó có 14 tác phẩm văn học) phản ánh sinh động những đổi thay của đất nước, những khát vọng hòa bình, hòa hợp dân tộc, những thành tựu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

Khi phát động, ban tổ chức khẳng định sẽ chú trọng lựa chọn, tôn vinh các tác phẩm được bình chọn có tính nhân văn sâu sắc; ảnh hưởng rộng lớn và lâu dài trong đời sống xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Trong đó, ưu tiên các tác phẩm văn học nghệ thuật ca ngợi truyền thống lịch sử vẻ vang của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại; thắng lợi và thành tựu to lớn của Việt Nam sau ngày đất nước thống nhất.

Với mong muốn tôn vinh lao động sáng tạo, những nỗ lực bền bỉ của các văn nghệ sĩ trong việc xây dựng nền văn chương, nghệ thuật cách mạng tốt đẹp, cuộc bình chọn mang tính chuẩn mực sẽ trở thành căn cứ để nghiên cứu, đưa vào nhà trường giảng dạy, góp phần khuyến khích thế hệ trẻ tiếp tục sáng tạo, định hướng thẩm mỹ đối với công chúng.

Mục đích là vậy, nhưng điều băn khoăn là trong lĩnh vực văn học, nhìn sâu vào 14 tác phẩm thuộc lĩnh vực văn học được chọn, nhìn rộng ra bức tranh văn học nửa thế kỷ, dễ thấy điều đáng tiếc.

Từ trước tới nay, tác phẩm văn học có giá trị vẫn được ví như con chim đại bàng bay tới chân trời cái đẹp bằng hai cánh sáng tạo và tiếp nhận. Chim không thể bay một cánh. Nghệ thuật không chỉ là sáng tạo. Nghệ thuật tồn tại được là nhờ có tiếp nhận. Nhưng dường như người thẩm định và người có trách nhiệm chưa chú ý đầy đủ, tinh tế đến tâm lý tiếp nhận của bạn đọc, nhất là với những người từng trực tiếp cầm súng.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và những người như họ, tất cả nhân dân, cả dân tộc phải được vinh danh, phải được ca ngợi, khẳng định, nhưng lại tôn vinh một tiểu thuyết “có vấn đề” từng gây tranh luận, bởi cái nhìn có phần vô cảm về cuộc kháng chiến chính nghĩa, không phân biệt địch-ta, đánh đồng chiến sĩ cách mạng với “lính ngụy”. Điều đó dẫn đến phản ứng của một số cựu chiến binh-những bạn đọc dễ bị tổn thương trước sự “viết lại” lịch sử. Có thể đưa ra một biện giải rằng, đó là yêu cầu “hòa hợp dân tộc” trong bối cảnh mới. Nhưng có nhất thiết phải lấy sự “mờ hóa lịch sử” làm cầu nối “hàn gắn” vết thương chiến tranh?

Dù không quá hẹp hòi, phiến diện khi nhận định, đánh giá về một tác phẩm văn học được nhiều người quan tâm, nhưng việc một tác phẩm được vinh danh mà ít nhiều gây chia rẽ trong cả giới văn nghệ và công chúng, cũng là điều đáng phải suy nghĩ một cách nghiêm túc.

Một chân lý chung luôn cần được tôn trọng, khẳng định, đó là sáng tác văn học nghệ thuật phải vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì cách mạng, vì giá trị chân-thiện-mỹ. Nếu tác phẩm văn học nghệ thuật nào mà không thấm nhuần quan điểm, mục đích sáng tạo là tôn vinh lịch sử, tôn nền hiện tại, định hướng tương lai, thì tác phẩm đó khó hoàn thành sứ mệnh cao cả của mình./.


Theo  QĐND
Khuyết danh ST.

BẠN CÓ BIẾT: HÀNH TRÌNH CỦA MỘT BÁC SĨ QUÂN GIẢI PHÓNG - CHIẾN ĐẤU ĐẾN PHÚT CUỐI

     Những ngày cuối cùng trên giường bệnh vì chứng viêm tụy, Giáo sư Lê Cao Đài vẫn không rời chiếc máy tính. Ông nói: "Tôi làm việc đến khi chết thì thôi, không nằm sẵn trong quan tài chờ đợi cái chết".
Ngày 15/4/2002, Giáo sư, bác sĩ Lê Cao Đài trút hơi thở cuối cùng...

Những vũ khí sát thương cả thế hệ

Trong suốt 8 năm ở chiến trường Tây Nguyên, cũng như hầu hết các chiến sĩ Quân Giải phóng khác, bác sĩ Lê Cao Đài đã từng trải qua những trận ném bom hủy diệt của "pháo đài bay" B-52. Ông nói: "Những năm 1967, 1968 và 1969, các đợt oanh kích bằng B-52 diễn ra liên tục, cả ngày lẫn đêm và khoảng thời gian "nghỉ ngơi" giữa hai đợt gần như bằng nhau. Vì vậy, đợt bom thứ nhất vừa dứt, chúng tôi đếm thời gian để biết lúc nào sẽ có đợt thứ hai - thường là 30 phút hoặc 45 phút nhưng cũng có khi là 1 tiếng đồng hồ.

B-52 bay rất cao. Nhiều lúc chúng tôi không nghe thấy tiếng động cơ của nó. Chỉ biết là nó khi những quả bom bắt đầu nổ thành từng chuỗi liên tục. Khi ấy, tư thế để giảm bớt thương vong do sóng xung kích là ngồi xổm, không dựa người vào vách hầm vì những quả bom tuy có thể nổ cách xa hầm hàng chục mét nhưng sóng xung kích vẫn làm vách hầm rung lên, cơ thể sẽ hấp thu sóng ấy và gây ra những chấn thương cho gan, phổi, thận…".

Có hai việc luôn phải chuẩn bị để đối phó với bom B-52. Một là phải làm hầm chữ A, có ống thông hơi và hai là trong hầm phải có xẻng xúc đất. Đợt ném bom vừa dứt, người ở hầm này lập tức liên lạc với hầm kia để xem có ai thương tích gì không. Thường thì ít khi bom rơi trúng ngay hầm mà phần lớn sóng xung kích của những quả bom 500 hoặc 750 pounds làm sập hầm. Nếu liên lạc mà không ai đáp lại, những người ở hầm này sẽ dùng xẻng đào bới, vừa đào vừa nhìn đồng hồ để kịp thời quay lại hầm của mình trước khi đợt ném bom kế tiếp diễn ra.

Để tiêu diệt Quân Giải phóng, rất nhiều những vũ khí được người Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam và nhiều loại gây ra những vết thương rất kinh hoàng. Bom bi chẳng hạn, khi quả bom mẹ nổ, nó tung ra vài trăm quả bom con rải rác trong bán kính hàng trăm mét. Nếu vô tình đá phải hoặc dẫm phải quả bom con, nó tiếp tục nổ, bắn ra hàng chục mũi tên bằng thép, nhỏ như ruột bút bi. Có loại bom lân tinh (phosphorus) nếu văng trúng người, nó cháy âm ỉ, cháy vào đến tận xương, có dìm cả vết cháy xuống nước thì nó vẫn cháy, cùng vô số các loại mìn khác nhau.

Bác sĩ Đài nói: "Có loại mìn - bộ đội quen gọi là mìn cóc - khi đạp phải, nó nhảy lên cao ngang tầm đầu gối rồi mới nổ". Tuy không gây chết ngay lập tức nhưng nó xé nát các cơ bắp ở chân y như người ta róc cây mía. Khi đó, sẽ phải có 2 người khiêng thương binh về trạm phẫu thuật và như vậy, vô hình trung kẻ địch đã tạm thời loại ra khỏi vòng chiến đấu 3 người, chưa kể sau này, gia đình, xã hội phải gánh thêm một gánh nặng từ những người cụt chân.

Ngoài mìn cóc, còn có mìn lá, hình dáng và kích thước y như chiếc lá cây nên rất khó phát hiện. Bên cạnh đó là mìn dây. Được thả từ máy bay mỗi lần vài trăm quả, khuếch tán trong phạm vi từ 1 đến 1,5km, lúc chạm đất nó bắn ra các hướng 6 hoặc 8 sợi dây bẫy rất mảnh, trùng với màu lá cây, chỗ xanh chỗ úa. Thường khi nhìn thấy mìn và nếu không có thời gian để vô hiệu hóa, bộ đội bẻ một cành cây cắm xuống làm dấu báo hiệu cho những người đi sau rồi đi tiếp. Nhưng những bước đi tiếp ấy hoàn toàn có thể vướng vào một trong số những dây bẫy khiến mìn phát nổ.

Công lao không kể hết của những y tá, hộ lý

Trong quá trình phẫu thuật để cứu sống thương binh, nhiễm khuẩn sau mổ là một thách thức rất lớn đối với đội ngũ y, bác sĩ của Viện Quân y 211. Vì vậy, Viện đã thành lập một nhóm chuyên nghiên cứu về vấn đề này. Theo bác sĩ Đài, nếu như trước kia, sau khi xử lý vết thương xong, phẫu thuật viên sẽ khâu đóng nó lại nhưng trong điều kiện của bệnh viện chiến trường, vết thương dễ bị nhiễm trùng. Còn nếu xử lý rồi mà để hở thì tỉ lệ nhiễm trùng thấp hơn.

Trong nhật ký của mình, bác sĩ Đài viết: "Hôm qua mổ một thương binh bị vết thương xuyên qua ngực từ sau ra trước. Cả lỗ vết thương sau lưng cũng như phía trước phì phò như cái bễ. Mỗi khi ho mủ phụt ra tung tóe. Tình trạng chung rất yếu. Không dám mổ lớn, chỉ khâu bịt, đặt ống dẫn lưu và hút liên tục.

Mấy ca mổ vừa qua tiến triển tốt. Chăm sóc sau mổ khá vất vả. Thương binh nằm dưới hầm bằng, bốn bề đều là đất, che ni lông. Máy để hút liên tục không có. Chỉ có máy hút đạp chân. Phải giao nhiệm vụ cho một hộ lý thỉnh thoảng đi qua đạp vài nhát để tạo sức hút.

Gay go nhất là việc bảo đảm vô trùng. Nằm trong hầm bốn vách tường đều là đất. Trần hầm cũng đất. Trời mưa, nước mưa thấm qua nóc, rỉ qua các rễ cây, rỏ ròng ròng vào trong hầm đọng lại thành từng vũng nước trên nền nhưng anh chị em y tá đã có nhiều cố gắng dùng đủ mọi cách có thể làm được trong hoàn cảnh dã ngoại để bảo đảm sạch sẽ, vô trùng. Căng che ni lông bốn phía và trên nóc hầm. Hấp toàn bộ quần áo, chăn màn, vải bạt, lau rửa vệ sinh giường nằm. Trước khi mổ, tắm rửa, làm vệ sinh toàn thân và cọ rửa xà phòng quanh chỗ mổ, thay quần áo hấp. Nhờ vậy số trường hợp mổ nặng đều bảo đảm vô trùng. Những vết mổ ngực, bụng, mổ mạch máu đã không bị nhiễm mủ và liền sẹo kỳ đầu.

Anh chị em y tá, hộ lý có rất nhiều cố gắng. Cô Đức, nữ y tá, một mình phụ trách 7 hầm thương binh nặng. Suốt ngày cô đi lại như con thoi, giặt quần áo, thay băng, cho ăn uống, giúp họ vệ sinh. Có thương binh như anh Toàn, bị vết thương bụng, phân chảy dầm dề suốt ngày. Một ngày thay 3- 4 bộ quần áo, ba lần thay băng mà vẫn ướt. Hội chẩn có ý kiến đề nghị mổ. Nhưng rõ ràng là yếu quá không thể mổ được. Phải nuôi dưỡng, nâng đỡ sức khỏe cho khá lên. Tôi kết luận cuộc hội chẩn: "Cứu được đồng chí Toàn bây giờ không phải là tôi hay bác sĩ Thuyên, mà là cô Đức, cô Sa. Phải nuôi dưỡng hộ lý cho tốt".

Những ngày đầu Toàn rất bi quan, thỉnh thoảng lại hét vang rừng: "Đồng chí y tá ơi, đồng chí y tá ơi!...". Nhưng có lúc lại tươi tỉnh hát, đọc truyện "Hồi tưởng và suy nghĩ". Đồng chí quê Thanh Hóa, huyện Hoằng Hóa, quê hương của các "cụ già bắn rơi máy bay". Chúng tôi cứ nêu chuyện các cụ già bắn rơi máy bay để động viên anh Toàn. Mấy hôm nay anh đã khá, đã đi ra khỏi hầm, lúc tạnh mưa, tự động lên buồng băng. Ăn uống cũng khá hơn.

Các bác sĩ cũng làm đủ mọi việc: khi xây dựng thì cũng hì hục đào hầm, vác tre nứa hoặc vắt vẻo trên nóc nhà để lợp mái. Khi có thương binh thì mổ xẻ, mổ xong, nếu không có cáng thương, thì ghé vai cáng thương binh về hầm. Nếu bệnh nhân cần soi X-quang mà không tự đi được, thì bác sĩ tìm một cây đòn, cùng với anh y sĩ khiêng thương binh lên hầm X-quang để soi. Soi xong lại khiêng về".

Giữ được tỉ lệ sống khá cao đối với thương bệnh binh nhưng số tử vong ở Viện Quân y 211 cũng xấp xỉ 10 người/tháng. Vì lý do an ninh cũng như không để kẻ địch biết về sự tổn thất của Quân Giải phóng, sau khi ghi vào hồ sơ lưu trữ, người chết được chôn cất sơ sài bằng cách bọc nylon vào thi thể, trong miệng đặt một cái lọ thủy tinh vốn dùng đựng thuốc kháng sinh penicilline, có một mảnh giấy ghi họ tên, quê quán, năm sinh, ngày mất.

Miếng giấy được bôi mỡ - loại mỡ chùi súng để bảo đảm cho nó không bị ướt, mục rồi đặt vào quan tài làm bằng tre. Không một tấm bia hoặc dấu vết nào trên những ngôi mộ ngoại trừ vài nhát khắc vào một thân cây mọc gần đó. Tuy nhiên, theo thời gian, cây lớn lên, hình dạng địa thế ban đầu thay đổi, hoặc do bom đạn, thiên tai, cây ngã đổ, cháy, còn những người trực tiếp tham gia việc chôn cất thì hoặc chết, hoặc do tuổi tác, chẳng còn nhớ chính xác vị trí nên việc quy tập về sau rất khó khăn.

Nhiễm dioxin, vẫn nóng bầu nhiệt huyết

Ngày 22/5/1973, bác sĩ Lê Cao Đài được lệnh quay ra Bắc và ngày 27/6, ông đặt chân lên phố phường Hà Nội. Khi ấy, vợ ông là bà Vũ Giáng Hương đã ngoài 40 tuổi nên ông bà biết rằng khó mà có thể có con được. Hơn nữa, qua kiểm tra sức khỏe, bác sĩ Đài biết mình đã nhiễm chất dioxin với nồng độ 215 PPT, cao gấp 100 lần người bình thường, hệ quả của 8 năm ở chiến trường trong đó nhiều năm Viện Quân y 211 nằm trong vùng trọng điểm của chiến dịch rải thuốc khai quang của quân đội Mỹ. Trong nhật ký, ông viết: "Đêm nào cũng có năm đến sáu đồng đội của tôi ra đi... Ngày ấy do không hiểu chất độc da cam gây ra suy giảm miễn dịch nên tôi cứ nghĩ các đồng chí ấy ra đi vì ăn uống kham khổ nên suy kiệt. Tôi đã lầm".

Dù vậy, bác sĩ Lê Cao Đài vẫn lạc quan và tích cực làm việc trong các lĩnh vực liên quan đến chiến tranh, chẳng hạn như tình trạng ô nhiễm chất dioxin ở Biên Hòa, Đà Nẵng, Quảng Trị, Pleiku, Kon Tum. Năm 1980, ông được phong hàm Phó giáo sư và năm 1984, là Giáo sư. Ông cũng là người đặt những viên gạch đầu tiên cho sự hợp tác quốc tế trong vấn đề nghiên cứu chất dioxin.

Mỗi khi di chuyển đến địa điểm mới, hầm mổ, hầm cho thương binh và các khoa, phòng đều phải làm lại từ đầu.
Trong cuốn sách của mình, James G. Zumwalt cho biết, Giáo sư Lê Cao Đài đã nhiều lần đến Mỹ để thuyết trình về chất độc da cam và nỗi đau mà hàng triệu người Việt Nam đang phải gánh chịu. Là Giám đốc Quỹ Hỗ trợ nạn nhân da cam, giáo sư Lê Cao Đài cũng là người đầu tiên nêu vấn đề khởi kiện các công ty sản xuất chất dioxin đã rải xuống miền Nam Việt Nam.

Để thu thập chứng cứ, ông có mặt ở A Shau, A Lưới, các tỉnh Tây Nguyên, lặn lội quan sát, phát hiện, thu thập mẫu vật từ đất, nước và hàng nghìn nạn nhân nhiễm độc rồi đưa về phòng thí nghiệm để phân tích. Qua những chuyến đi nghiên cứu ấy, ông đã "điểm đích danh" chất dioxin là tác nhân chính gây ra ung thư, dị dạng thai nhi, suy giảm miễn dịch, một số bệnh về thần kinh, vận động. Những chứng cứ ấy đã khiến cả thế giới kinh hoàng về những gì mà người Mỹ đã gây ra ở Việt Nam.

Ông cũng là người đã dịch cuốn "My father, my son" ra tiếng Việt với tựa đề "Cha con tôi" mà tác giả là cựu Đô đốc Elmo Zumwalt, Jr., Tư lệnh Hải quân Mỹ, người đã từng trực tiếp chỉ huy rải chất độc dioxin xuống Việt Nam trong chiến tranh để rồi sau đó phải đau đớn hứng chịu quả báo nhãn tiền: Một người con trai là lính viễn chinh Mỹ, chết vì ung thư do đóng quân trong vùng mình đã ra lệnh rải chất độc, cháu nội bị dị tật bẩm sinh. Bị dằn vặt bởi tội lỗi do mình gây ra, cựu Đô đốc Elmo Zumwalt, Jr. đã cùng con trai là cựu trung tá lính thủy đánh bộ James G. Zumwalt, cộng tác với Giáo sư Lê Cao Đài, đấu tranh đòi lại sự công bằng cho những nạn nhân chất độc da cam.

Những ngày cuối cùng trên giường bệnh vì chứng viêm tụy, Giáo sư Lê Cao Đài vẫn không rời chiếc máy tính. Ông nói: "Tôi làm việc đến khi chết thì thôi, không nằm sẵn trong quan tài chờ đợi cái chết".

Ngày 15/4/2002, Giáo sư, bác sĩ Lê Cao Đài trút hơi thở cuối cùng. Trên Tạp chí Times nhà báo Elaine viết: "Một nhà khoa học lớn của Việt Nam đã ra đi, một nhà khoa học lớn nhất cho đến nay về chất độc da cam và những di hại của nó"…
---------
Ảnh 1. Bác sĩ Lê Cao Đài tại chiến trường Tây Nguyên.
Ảnh 2. Bác sĩ Lê Cao Đài (đeo kính, thứ hai, từ phải sang) cùng một số cán bộ, nhân viên Viện Quân y 211, Mặt trận Tây Nguyên, tháng 10-1967.
Ảnh 3. Chỉ được gây tê, nhưng người chiến sĩ Quân Giải phóng này vẫn can đảm chịu đựng cuộc phẫu thuật.
Ảnh 4. Nhiều thứ trong số những dụng cụ phẫu thuật được làm từ mảnh kim loại máy bay.



Yêu nước ST.

Thứ Bảy, 6 tháng 12, 2025

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: SO GĂNG KINH TẾ TRUNG QUỐC VÀ NGA, TRUNG QUỐC ÁP ĐẢO NGA MỌI MẶT NHƯNG NGA MỚI LÀ LÁ CHẮN SỐNG CỦA TRUNG QUỐC!

     Mối quan hệ giữa Trung Quốc (TQ) và Nga luôn phức tạp. Một bên là siêu cường kinh tế, một bên là cựu siêu cường quân sự. Trên giấy tờ, TQ vượt trội gần như mọi mặt, nhưng thực tế họ lại “cần” Nga như một lá chắn chiến lược không thể thiếu!

SO SÁNH SỨC MẠNH THỰC TẾ: TRUNG QUỐC  - SIÊU CƯỜNG KINH TẾ

Trung Quốc đang áp đảo toàn diện Nga về kinh tế lẫn công nghệ.

Sức mạnh kinh tế vượt trội: TQ có GDP 18.3 nghìn tỷ USD, gấp 8.7 lần so với 2.1 nghìn tỷ USD của Nga. Kinh tế Trung Quốc chiếm đến 89.7% tổng GDP cộng lại của hai nước. Nga đứng thứ 11, trong khi Trung Quốc là số 2 toàn cầu.

Khoảng cách công nghiệp cực lớn: Năm 2023, TQ sản xuất 30.16 triệu ô tô, còn Nga chỉ 0.73 triệu, tương đương 2.4%. Con số này phản ánh sự tụt hậu rõ rệt trong năng lực công nghiệp của Nga.

Lợi thế đổi mới và công nghệ: TQ đứng hạng 11/145 về Chỉ số Đổi mới Sáng tạo, còn Nga đứng thứ 59. Trung Quốc đang dẫn đầu trong các lĩnh vực tương lai như AI, 5G, xe điện và công nghệ xanh.

BỐN LÝ DO TRUNG QUỐC VẪN “CẦN” NGA: TÍNH TOÁN ĐỊA CHÍNH TRỊ

Dù mạnh hơn rất nhiều, Trung Quốc vẫn duy trì quan hệ thân cận với Nga vì những lợi ích chiến lược lớn.

Lá chắn chiến lược chống phương Tây:
+ Nga, với hơn 6.000 đầu đạn hạt nhân và quyền phủ quyết tại Hội đồng Bảo an LHQ, là đối tác giúp TQ tạo ra đối trọng với Mỹ-NATO.
- Nga còn là “bức tường phía Bắc” với biên giới dài 11.000 km, giúp TQ rảnh tay tập trung vào Đài Loan, Biển Đông hay Eo biển Malacca. Một nước Nga hỗn loạn là ác mộng với Bắc Kinh.

An ninh năng lượng sống còn:
+ Nga là “trạm xăng khổng lồ” của Trung Quốc, cung cấp 108 triệu tấn dầu thô (2024) và khoảng 38 tỷ m³ khí đốt (2025).
+ Trung Quốc mua tới 47% dầu thô Nga xuất khẩu, lại được giá rẻ nhờ các lệnh trừng phạt.

Kiểm soát ảnh hưởng ở Trung Á:
+ Trung Quốc thống trị kinh tế tại khu vực này, còn Nga nắm thế quân sự.
+ Hai bên duy trì mô hình “phân chia quyền lực có kiểm soát” để phục vụ chiến lược Vành đai - Con đường của TQ mà không giẫm chân nhau.

Tiếp cận công nghệ quân sự độc đáo:
+ Nga vẫn vượt trội trong các lĩnh vực như vũ khí hạt nhân (6.000+ đầu đạn so với ~500 của TQ), tên lửa tầm xa như Sarmat, động cơ phản lực, hay hệ thống phòng không S-400/S-500.
+ Đây là những mảnh ghép mà Trung Quốc rất cần để nâng cấp quân đội.

PARADOX QUYỀN LỰC & TÂM LÝ CHIẾN LƯỢC CỦA BẮC KINH

Trung Quốc điều khiển mối quan hệ với Nga bằng một chiến lược tâm lý rất tinh vi.

“Không thể để Nga sụp đổ”: Nếu Nga yếu hoặc hỗn loạn, TQ sẽ phải một mình đối mặt toàn bộ sức ép từ phương Tây. Nga là “lá chắn chiến lược” giúp TQ có thời gian tiếp tục phát triển.

“Thử nghiệm giới hạn” của phương Tây: Cuộc chiến Ukraine giúp TQ quan sát phản ứng của Mỹ-EU để rút kinh nghiệm cho kịch bản Đài Loan.

Lợi dụng thị trường và năng lượng: Khi các công ty phương Tây rút khỏi Nga, TQ nhảy vào chiếm lĩnh thị trường, mua năng lượng giá rẻ và không cần chịu trách nhiệm chính trị.

Cân bằng tâm lý cựu cường quốc: Nga vẫn muốn được đối xử như một siêu cường ngang hàng, dù GDP chỉ bằng Italy. TQ khôn ngoan giữ “thể diện” cho Nga để quan hệ bề ngoài luôn là đối tác bình đẳng.

AI CẦN AI HƠN? DỰ ĐOÁN TƯƠNG LAI

Thực tế cho thấy Nga phụ thuộc vào Trung Quốc nhiều hơn.

Phụ thuộc kinh tế nghiêm trọng: Nga xuất khẩu sang TQ 129.32 tỷ USD nhưng nhập khẩu chỉ 115.49 tỷ USD. Nền kinh tế Nga lệ thuộc nặng vào dầu khí và ngày càng gắn chặt với thị trường TQ.

Tương lai 70% nghiêng về kịch bản Trung Quốc thống trị: Khoảng cách GDP mở rộng khiến quan hệ chuyển từ đối tác sang dạng “cấp trên - cấp dưới”. Trung Quốc tiếp tục “nuôi” Nga bằng dòng tiền năng lượng để đổi lấy ổn định chiến lược và công nghệ.

Sức mạnh thực sự nằm ở công nghiệp hóa và đổi mới sáng tạo, chứ không phải hào quang quá khứ hay số lượng vũ khí hạt nhân. Trong trận đấu quyền lực này, người đang thắng là Trung Quốc./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BINH ĐOÀN 12 ĐÓN NHẬN DANH HIỆU ANH HÙNG LAO ĐỘNG!

     Ngày 6-12, tại Hà Nội, Binh đoàn 12 - Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn (Bộ Quốc phòng) tổ chức Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng Lao động.

*Tổng Bí thư Tô Lâm; Chủ tịch nước Lương Cường; Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính gửi lẵng hoa chúc mừng

Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tham dự và phát biểu tại buổi lễ.

Tham dự buổi lễ có Đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương), nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Ngô Xuân Lịch, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó bí thư Quân ủy Trung ương; nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Tham dự buổi lễ có các đồng chí: Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương; Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; Trần Quang Phương, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ tịch Quốc hội; Đại tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Cùng dự buổi lễ có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương và cán bộ, chiến sĩ, người lao động Binh đoàn 12.

Trình bày diễn văn tại buổi lễ, Thiếu tướng Nguyễn Hữu Ngọc, Tư lệnh Binh đoàn 12 cho biết, trong 5 năm qua, Binh đoàn đã trực tiếp và quản lý điều hành thi công gần 700km đường cao tốc từ Lạng Sơn đến Cà Mau, góp phần quan trọng hoàn thành 3.000km đường bộ cao tốc vào cuối năm 2025. Trong đó, có những dự án vượt tiến độ gần 1 năm và chi viện, hỗ trợ các nhà thầu khác, khẳng định vai trò quan trọng, sự lớn mạnh và tinh thần trách nhiệm cao của doanh nghiệp Quân đội trên các công trình trọng điểm. Các dự án cao tốc do Binh đoàn thi công đã tiết kiệm cho ngân sách nhà nước 5% với tổng giá trị gần 1.000 tỷ đồng.

Uy tín, thương hiệu của Trường Sơn cũng vươn xa trong những lĩnh vực đòi hỏi kỹ thuật phức tạp và công nghệ cao như sân bay, cảng đường thủy, cầu lớn… Tại các dự án sân bay, Binh đoàn 12 là một trong những đơn vị chủ lực thi công, chiếm 50% thị phần như: Đường cất, hạ cánh sân bay Nội Bài; Nhà ga T3 sân bay Tân Sơn Nhất; sân bay Đồng Hới, sân bay Cát Bi, sân bay Vinh, sân bay Cà Mau, sân bay Phù Cát, đặc biệt là siêu dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành...

Các dự án Cảng hành khách quốc tế Phú Quốc, Đê biển Nam Đình Vũ (Hải Phòng), Cảng Liên Chiểu (Đà Nẵng)… là những công trình định vị năng lực của Binh đoàn 12 trong lĩnh vực công trình biển đảo. Hiện nay, Binh đoàn cũng đã làm chủ các công nghệ thi công cầu khẩu độ lớn như: Đúc hẫng cân bằng, dây văng, vòm thép, hoàn toàn tự chủ về công nghệ, nguồn lực và giải pháp thi công.

Binh đoàn 12 được giao trọng trách thi công Nhà máy Thủy điện Hòa Bình mở rộng, Thủy điện tích năng Bác Ái. Binh đoàn đã đầu tư trang thiết bị hiện đại để thay thế con người ở những địa hình phức tạp, nguy hiểm, làm chủ khoa học công nghệ trong tổ chức thi công và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên từng công trình.

Binh đoàn 12 luôn thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ là Binh đoàn công binh cầu đường dự bị chiến lược của Bộ Quốc phòng; tiên phong trong thực hiện các công trình theo lệnh khẩn cấp, tham gia cứu hộ, cứu nạn, giúp dân, khắc phục hậu quả thiên tai, phát huy tốt vai trò, chức năng “đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”. Đặc biệt, thể hiện dấu ấn rõ nét qua kỳ tích ở công trình tái thiết khu dân cư Làng Nủ, thôn Nậm Tông, tỉnh Lào Cai và cầu Phong Châu mới, tỉnh Phú Thọ.

Quy mô sản xuất kinh doanh của Binh đoàn 12 trong 5 năm bằng cả 3 nhiệm kỳ trước cộng lại. Các chỉ số giá trị sản xuất, doanh thu, giá trị thanh toán tăng trưởng hơn 150% so với quy mô của 5 năm gần đây. Giá trị việc làm mới đạt hơn 66.000 tỷ đồng. Đầu tư trang thiết bị hiện đại với tổng mức gần 1.200 tỷ đồng.

Trong 5 năm qua, Binh đoàn đã trích hơn 100 tỷ đồng cho công tác chính sách xã hội. Trong đó, xây tặng 163 nhà tình nghĩa, nhà đồng đội, nhà đại đoàn kết, ngoài ra còn xây tặng công trình cấp nước sạch, nhà văn hóa cộng đồng, xóa nhà tạm, nhà dột nát…

Đảng ủy, Bộ tư lệnh Binh đoàn 12 đã xây dựng Chiến lược phát triển của Binh đoàn giai đoạn 2025-2030 và tầm nhìn đến năm 2035 với phương châm: Tầm nhìn - Khát vọng - Chuyên nghiệp - Phát triển. Quyết tâm xây dựng Binh đoàn 12-Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn trở thành tập đoàn xây dựng hạ tầng thuộc tốp đầu của đất nước, phấn đấu nhiệm kỳ 5 năm tới sẽ tăng trưởng với quy mô gấp gần 3 lần nhiệm kỳ trước.

Đặc biệt, Binh đoàn đảm nhận thực hiện 3 dự án có quy mô rất lớn là: Dự án đường bộ cao tốc Cà Mau - Cái Nước, Cái Nước - Đất Mũi và tuyến giao thông ra đảo Hòn Khoai, công trình chiến lược quan trọng ở cực Nam Tổ quốc. Cầu vượt biển ra đảo Hòn Khoai với độ dài và độ phức tạp chưa từng có ở Việt Nam, là cây cầu vượt biển dài thứ 3 Đông Nam Á.

Tại buổi lễ, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Đại tướng Phan Văn Giang đã trao danh hiệu Anh hùng Lao động tặng Binh đoàn 12.

Phát biểu tại buổi lễ, Đại tướng Phan Văn Giang nêu rõ, Binh đoàn 12 được thành lập trên cơ sở lực lượng của Bộ đội Trường Sơn, được giao đảm nhiệm sứ mệnh mới: Xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng. Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn 12 đã phát huy truyền thống “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” nhanh chóng tiếp cận thị trường, tích cực đầu tư đổi mới thiết bị hiện đại; tiếp thu, áp dụng khoa học, công nghệ tiên tiến, tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, coi trọng chữ tín, chủ động thực hiện tốt chức năng “đội quân lao động sản xuất” ghi dấu ấn đậm nét với hàng nghìn công trình trọng điểm trên khắp mọi miền Tổ quốc và nước bạn Lào, Campuchia.

Cùng với nhiệm vụ phát triển kinh tế kết hợp với quốc phòng, Binh đoàn luôn hoàn thành tốt các chương trình, nội dung giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự, duy trì nghiêm kỷ luật, kỷ cương. Thường xuyên chăm lo xây dựng đảng bộ trong sạch vững mạnh gắn với đơn vị vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”, thực hiện tốt chức năng “đội quân công tác”, chủ động tham gia cứu hộ, cứu nạn…

Thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang biểu dương, chúc mừng những thành tích đặc biệt xuất sắc mà các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, nhân viên, người lao động Binh đoàn 12 - Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn đã đạt được trong những năm qua.

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ thời gian tới, Đại tướng Phan Văn Giang đề nghị Binh đoàn 12 cần tiếp tục quán triệt, thực hiện các nghị quyết của Đảng, Quân ủy Trung ương, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII. Thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, phát huy truyền thống, xây dựng Binh đoàn vững mạnh. Thực hiện tốt chức năng đội quân lao động sản xuất, duy trì và tổ chức sản xuất, kinh doanh đạt hiệu quả cao, an toàn, đúng pháp luật.

Cùng với đó, xây dựng Binh đoàn vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”, chủ động rà soát, sắp xếp lại tổ chức tinh, gọn, mạnh, có tính chuyên môn hóa cao. Xây dựng tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức…

Đại tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tin tưởng, trong thời gian tới, với vinh dự và trách nhiệm của đơn vị Anh hùng Lao động, Binh đoàn 12 sẽ tiếp tục nỗ lực phấn đấu, lập thêm nhiều chiến công, thành tích mới, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, xứng đáng là doanh nghiệp hàng đầu của Quân đội trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, xây dựng cơ bản./.




Yêu nước ST.

KIÊN ĐỊNH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẬP TAN MỌI ÂM MƯU “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”!

     Trong không khí khẩn trương chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng, cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng trở nên cam go hơn bao giờ hết. Lợi dụng thời điểm này, các thế lực thù địch gia tăng chống phá, tập trung công kích nền tảng tư tưởng và xuyên tạc công tác nhân sự, hòng làm lệch hướng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực tế đó đòi hỏi chúng ta phải chủ động nhận diện, nêu cao cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu thâm độc để giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng.

Nhận diện những biến ảo khôn lường của âm mưu “diễn biến hòa bình” trước thềm Đại hội

Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng, mặt trận tư tưởng - chính trị luôn là mục tiêu tấn công hàng đầu của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá chế độ ta.

Chúng xác định đây là khâu đột phá, là "mắt xích" quan trọng nhất để gieo rắc sự hoài nghi và gây rối loạn từ bên trong nhận thức của xã hội. Mục tiêu tối thượng của chúng không có gì khác ngoài việc tìm mọi cách làm suy giảm, tiến tới xóa bỏ vai trò chủ đạo của hệ tư tưởng Đảng trong đời sống tinh thần xã hội, tạo ra những "khoảng trống" nguy hiểm về lý luận chính trị. Từ những khoảng trống này, chúng hướng tới việc làm lung lay niềm tin sắt son của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đối với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, cũng như tính đúng đắn của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Điểm đáng chú ý trong giai đoạn hiện nay là phương thức chống phá của các thế lực thù địch đã có sự thay đổi đáng kể về chất. Nếu như trước đây, chúng thường sử dụng những luận điệu công kích thô bạo, trắng trợn, thì nay, chúng chuyển sang những hình thức ngụy trang tinh vi hơn. Chúng không chỉ đơn thuần phủ nhận tính khoa học, tính cách mạng của Chủ nghĩa Mác - Lênin bằng các luận điểm cũ rích, mà còn cố tình “khoác áo mới” cho những lập luận sai trái ấy, nhằm tạo ra một vẻ ngoài có vẻ khách quan, hợp lý, dễ tiếp nhận đối với những người thiếu thông tin hoặc hạn chế về bản lĩnh chính trị.

Một trong những thủ đoạn phổ biến là chúng vin vào sự phát triển như vũ bão của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để rêu rao rằng Chủ nghĩa Mác - Lênin đã trở nên “lỗi thời”, “lạc hậu”, và hoàn toàn “không còn phù hợp với bối cảnh thời đại 4.0”. Từ tiền đề sai lệch đó, chúng đưa ra quan điểm xuyên tạc hết sức nguy hiểm rằng Việt Nam cần phải “từ bỏ nền tảng tư tưởng này” mới có thể hội nhập sâu rộng và phát triển cùng thế giới. Thực chất, đây là một sự bóp méo trắng trợn, phản khoa học và đi ngược lại hoàn toàn với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà đất nước ta đã đạt được qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới.

Không dừng lại ở việc phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lênin, các thế lực thù địch còn thực hiện âm mưu tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi Chủ nghĩa Mác - Lênin, đối lập hai thành tố này với nhau. Chúng xuyên tạc rằng tư tưởng Hồ Chí Minh mang tính dân tộc, còn Chủ nghĩa Mác - Lênin là yếu tố ngoại lai, từ đó dựng chuyện rằng tư tưởng của Người “mâu thuẫn”, “đối lập” với nền tảng lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học. Những luận điệu này thực chất là sự xuyên tạc có chủ ý thâm độc, nhằm cắt đứt mối liên hệ máu thịt, biện chứng giữa Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, qua đó làm rạn nứt niềm tin, gây hoang mang dao động trong nhận thức của quần chúng nhân dân, dẫn tới nguy cơ chệch hướng về tư tưởng và chính trị.

Bên cạnh các đòn tấn công vào nền tảng lý luận, các thế lực thù địch còn tập trung mũi nhọn vào công tác tổ chức và cán bộ - vấn đề then chốt của công tác xây dựng Đảng, đặc biệt là trong giai đoạn chuẩn bị nhân sự cho Đại hội XIV. Chúng đẩy mạnh các hoạt động xuyên tạc, bịa đặt, bôi nhọ đời tư và uy tín của đội ngũ lãnh đạo cấp chiến lược, phá hoại công tác chuẩn bị nhân sự của Đảng.

Với sự hỗ trợ của mạng xã hội và các phương tiện truyền thông thiếu kiểm soát, chúng tung ra vô số tin đồn thất thiệt, dựng chuyện, tạo ra các “kịch bản chính trị giả” về phe phái, đấu đá nội bộ, hòng gây chia rẽ sự đoàn kết trong Đảng, kích động dư luận xã hội hiếu kỳ. Nguy hiểm hơn, chúng còn ngụy tạo các văn bản giả mạo cơ quan nhà nước, bịa đặt danh sách quy hoạch lãnh đạo cấp cao, lồng ghép thông tin sai sự thật vào các câu chuyện ly kỳ, giật gân, nhằm thu hút sự chú ý của người dân, gieo rắc tâm lý hoài nghi trong xã hội.

Việc lợi dụng triệt để các vụ án tham nhũng, tiêu cực đang được Đảng và Nhà nước ta xử lý nghiêm minh để quay ngược lại công kích công tác cán bộ, quy chụp bản chất chế độ là những thủ đoạn tuy cũ nhưng vẫn vô cùng nguy hiểm, nhất là trong môi trường không gian mạng - nơi thông tin lan truyền với tốc độ chóng mặt. Tất cả những diễn biến đó cho thấy, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đang ngày càng quyết liệt, phức tạp và đi vào chiều sâu, đòi hỏi sự tỉnh táo, bản lĩnh chính trị vững vàng và sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị.

Khẳng định giá trị bền vững của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, chúng ta cần khẳng định một cách đanh thép và khoa học về giá trị trường tồn của nền tảng tư tưởng Đảng. Chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ là một học thuyết khoa học phản ánh đúng đắn quy luật phát triển khách quan của xã hội loài người, mà còn là kim chỉ nam hành động, được Đảng ta vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Chính nhờ ánh sáng của học thuyết này, dân tộc ta đã xác định đúng con đường phát triển, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, từ đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngày nay. Những thành tựu to lớn của đất nước chính là minh chứng sống động nhất bác bỏ mọi luận điệu cho rằng Chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời.

Về mối quan hệ giữa Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta cần nhận thức rõ rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Do đó, hai hệ giá trị này không hề tách rời, biệt lập hay mâu thuẫn nhau, mà ngược lại, chúng hòa quyện, thống nhất hữu cơ, bổ sung cho nhau, tạo thành một chỉnh thể nền tảng tư tưởng vững chắc dẫn đường cho Đảng và nhân dân ta. Mọi luận điệu cố tình tách rời, chia cắt, đối lập hai hệ tư tưởng này đều là sự xuyên tạc thô bạo, nhằm mục đích sâu xa là phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, tước bỏ vũ khí lý luận sắc bén của cách mạng Việt Nam.

Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng trong bối cảnh hiện nay, nhiệm vụ tiên quyết là phải nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng. Cần quán triệt và thực hiện tốt việc nâng cao chất lượng tuyên truyền, giáo dục Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong toàn bộ xã hội. Công tác giáo dục lý luận chính trị không thể dừng lại ở việc học tập nghị quyết một cách hình thức, mà phải đi vào thực chất, giúp mỗi cán bộ, đảng viên và người dân hiểu sâu sắc giá trị khoa học và cách mạng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chỉ khi nắm vững bản chất khoa học, chúng ta mới có đủ cơ sở lý luận để bác bỏ các quan điểm sai trái.

Đồng thời, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng phải gắn liền mật thiết với việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức Đảng. Cấp ủy các cấp cần quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, kết luận, chỉ thị của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Các tổ chức đảng phải thực sự là những hạt nhân chính trị gương mẫu, trong sạch, vững mạnh; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình một cách thực chất. Công tác quản lý đảng viên phải được thực hiện thường xuyên, chặt chẽ, nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Chúng ta phải kiên quyết đấu tranh phòng, chống chủ nghĩa cá nhân, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Thực tế đã chứng minh, khi tổ chức đảng mạnh, khi cán bộ thực sự gương mẫu và liêm chính, thì niềm tin của nhân dân được củng cố, và mọi sự xuyên tạc, vu cáo của thế lực thù địch sẽ tự động bị đẩy lùi vì không còn “mảnh đất” để gieo mầm độc hại.

Xây dựng "pháo đài" tư tưởng và làm chủ không gian mạng

Cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, nhưng trước hết đòi hỏi sự tiên phong của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, tích cực, tự giác trong học tập lý luận chính trị, coi đây là nhu cầu tự thân, là trách nhiệm chính trị bắt buộc.

Phải nêu cao tinh thần tự học, tự rèn, thường xuyên trau dồi, trang bị tri thức lý luận để nâng cao khả năng "miễn dịch", tạo sức đề kháng tự nhiên trước các luồng thông tin độc hại. Khi bản lĩnh chính trị được củng cố vững vàng, mỗi cán bộ, đảng viên sẽ thực sự trở thành một “lá chắn tư tưởng” kiên cố, không bị dao động hay tác động bởi những luận điệu sai trái, xuyên tạc, đồng thời có đủ năng lực và dũng khí để đấu tranh phản bác một cách hiệu quả.

Đặc biệt, đối với lực lượng vũ trang, trong môi trường Quân đội - lực lượng nòng cốt bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ - nhiệm vụ này càng đặt ra những yêu cầu khắt khe hơn, đòi hỏi sự kiên định, kỷ luật sắt và quyết tâm chính trị cao độ. Mỗi quân nhân không chỉ đơn thuần là người chiến sĩ cầm súng trên mặt trận quân sự, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, mà còn phải là người chiến sĩ xung kích, vững vàng, sắc bén trên mặt trận tư tưởng - văn hóa. Sự trung thành tuyệt đối của lực lượng vũ trang với Đảng là nhân tố then chốt để bảo đảm sự ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Bên cạnh yếu tố con người, chúng ta cần đặc biệt chú trọng đến trận địa thông tin truyền thông. Cần thực hiện nghiêm việc định hướng chính trị đúng đắn trong các sinh hoạt văn hóa và hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng; tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác lãnh đạo, quản lý nhà nước đối với báo chí, xuất bản, văn hóa, văn học, nghệ thuật.

Trong kỷ nguyên số, cuộc đấu tranh trên không gian mạng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, mang tính sống còn và cần được tiến hành một cách chủ động, sắc bén, linh hoạt. Không gian mạng hiện nay đang trở thành môi trường "mở", nơi mà thông tin xấu độc, bịa đặt có thể lan truyền với tốc độ chóng mặt theo cấp số nhân, tác động mạnh mẽ và trực tiếp tới tâm lý, tư tưởng xã hội.

Vì vậy, các lực lượng chức năng cần tăng cường các biện pháp kỹ thuật và nghiệp vụ để giám sát chặt chẽ, chủ động nắm bắt tình hình, phát hiện sớm các mầm mống thông tin sai trái để kịp thời ngăn chặn, xử lý và phản bác. Tuy nhiên, "xây" phải đi đôi với "chống", trong đó "xây" là cơ bản.

Việc xây dựng và lan tỏa các sản phẩm truyền thông chất lượng cao, đa dạng về hình thức từ bài viết chuyên sâu, video, infographic đến các chương trình tương tác số hiện đại, sẽ giúp cung cấp dòng thông tin chính thống chủ lưu, phủ xanh không gian mạng bằng những giá trị tích cực. Chúng ta cần thực hiện mạnh mẽ, đồng bộ và thường xuyên tinh thần “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”, “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”, dùng những tấm gương người tốt, việc tốt, những thành tựu đổi mới của đất nước để phản bác lại những bức tranh xám xịt mà các thế lực thù địch cố tình vẽ ra.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc không phải là nhiệm vụ mang tính thời điểm, nhất thời, mà là yêu cầu mang tính chiến lược, lâu dài, sống còn đối với sự tồn vong của chế độ. Để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử đó, cần có sự kết hợp đồng bộ, nhịp nhàng giữa nhiều giải pháp: Nâng cao bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên; tăng cường giáo dục lý luận chính trị sâu rộng; siết chặt kỷ luật, kỷ cương của Đảng; chủ động chiếm lĩnh và làm chủ không gian mạng; và phát huy tối đa vai trò dẫn dắt của báo chí, truyền thông cách mạng. Đồng thời, phải luôn giữ vững tinh thần cảnh giác cách mạng trong mỗi cán bộ, đảng viên và từng người dân.

Chân lý thuộc về sự thật và lẽ phải. Khi niềm tin của nhân dân với Đảng được củng cố vững chắc bằng những kết quả phát triển kinh tế - xã hội rực rỡ của đất nước; khi mỗi cán bộ, đảng viên thực sự nêu gương sáng về đạo đức cách mạng, về tinh thần trách nhiệm phụng sự Tổ quốc; khi dòng thông tin tích cực, chính thống được lan tỏa mạnh mẽ lấn át những luồng tin xấu độc, thì mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá dù tinh vi đến đâu cũng sẽ bị vạch trần và làm thất bại.

Giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng chính là giữ vững ngọn đuốc soi đường, giữ vững tương lai tươi sáng của dân tộc. Kiên định con đường xã hội chủ nghĩa đã chọn, tỉnh táo trước mọi luận điệu xuyên tạc và chủ động tấn công trên mặt trận tư tưởng là nhiệm vụ thiêng liêng, mệnh lệnh từ trái tim của mỗi người Việt Nam yêu nước trong giai đoạn hiện nay. Đây chính là nhân tố quyết định, then chốt để Đảng ta tiếp tục vững tay chèo lái, dẫn dắt con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua mọi sóng gió, đưa đất nước phát triển bền vững, vươn mình mạnh mẽ, sánh vai với các cường quốc năm châu trong kỷ nguyên mới./.
---------
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, II, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
2. Bộ Chính trị (2018), Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
3. Nguyễn Viết Thảo (2020), “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới”, Tạp chí Lý luận Chính trị số 5.
4. Lê Hải Bình - Nguyễn Thành Lợi (2021), Nhận diện và đấu tranh với thông tin xấu độc trên không gian mạng, NXB Lý luận Chính trị, Hà Nội./.
Yêu nước ST.

NHẬN DIỆN VÀ HÓA GIẢI NHỮNG “ĐIỂM NGHẼN” TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG!

     Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội XIV của Đảng đã đánh giá: “Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được triển khai quyết liệt, đồng bộ, có hiệu quả”, nhưng để công tác này đạt hiệu quả cao như kỳ vọng, cần dũng cảm nhìn thẳng vào những “điểm nghẽn” đang tồn tại để hóa giải, nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch trong kỷ nguyên phát triển mới.

Đâu là những “điểm nghẽn”?

Từ thực tiễn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chúng tôi chỉ ra một số điểm nghẽn cơ bản sau:

“Điểm nghẽn” đầu tiên: Nhận thức, trách nhiệm chưa ngang tầm

Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả người làm công tác lãnh đạo, quản lý, nhà báo, nhà khoa học vẫn chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Có người cho rằng đây là công việc riêng của cơ quan tuyên giáo hay Ban chỉ đạo 35, dẫn đến tình trạng “khoán trắng”, thiếu sự vào cuộc đồng bộ, quyết tâm.

Bên cạnh đó, có nơi còn tách rời giữa nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng với nhiệm vụ phản bác quan điểm sai trái, thù địch, khiến công tác triển khai thiếu tính hệ thống, hiệu quả không cao, kiến nhận thức chưa đầy đủ và hành động thiếu quyết liệt.

“Điểm nghẽn” thứ hai: Cuộc chiến “không cân sức” trên không gian mạng

Các thế lực thù địch sở hữu tiềm lực công nghệ vượt trội, có mạng lưới truyền thông chuyên nghiệp, được tài trợ mạnh mẽ từ các chính phủ, từ lực lượng trá hình núp trong các tổ chức thao túng không gian mạng, thông qua nền tảng mạng xã hội, phát tán thông tin sai trái với tốc độ cực nhanh, đa chiều. Trong khi đó, lực lượng ta, đặc biệt ở cấp cơ sở, chủ yếu là kiêm nhiệm, thiếu điều kiện tiếp cận thông tin, thiếu kỹ năng, phương tiện hiện đại để nhận diện và đấu tranh hiệu quả ngay từ ban đầu.

Không ít trường hợp, thông tin vì trải qua quy trình biên tập nhiều tầng, khiến phản ứng của lực lượng đấu tranh bị động, “chạy theo sự kiện”, có lúc chưa thật sự tạo được “thế chủ động”.

“Điểm nghẽn” thứ ba: Nguồn lực và cơ chế bảo đảm còn bất cập

Nhiệm vụ nặng nề, nhưng điều kiện vật chất, chính sách hỗ trợ cho lực lượng đấu tranh vẫn còn rất hạn chế. Nhiều cán bộ, đảng viên làm nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng vẫn “tay không bắt giặc”, tự trang bị thiết bị, mạng Internet, dữ liệu di động để làm việc. Cơ chế, chính sách động viên, khích lệ, khen thưởng chưa tương xứng với tính chất đặc thù, nguy hiểm của công tác này.

“Điểm nghẽn” thứ tư: Thiếu cơ chế bảo vệ người đấu tranh

Đây là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”. Một thực tế đáng quan tâm là những người trực diện phản bác thường bị đe dọa, bôi nhọ, thậm chí bị cô lập trong môi trường công tác. Khi bị vu khống hoặc kiện cáo, họ chưa nhận được sự bảo vệ kịp thời từ tổ chức, rất dễ rơi vào trạng thái tâm lý bất an, khi được “minh oan” lại rơi vào hoàn cảnh “được vạ thì má đã sưng”. Điều đó làm suy giảm tinh thần đấu tranh, chỉ dám “múa gậy trong bị”, bảo vệ và đấu tranh cầm chừng.

Phá “điểm nghẽn” như thế nào?

Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội XIV của Đảng tiếp tục chủ trương: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị”. Vì vậy, một trong những vấn đề đặt ra cấp bách là phải phá vỡ các điểm nghẽn nêu trên, để công tác này thực sự đạt hiệu quả cao nhất, với những giải pháp cụ thể sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của chủ thể, lực lượng đấu tranh

Cấp ủy, tổ chức đảng, Ban chỉ đạo 35 các cấp phải quán triệt sâu sắc cần nâng cao nhận thức về ý nghĩa sống còn của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch và thấy rõ những điểm nghẽn để kịp thời hóa giải.

Tạo sự thống nhất giữa nhận thức và hành động của các chủ thể, lực lượng trong nhận diện và đấu tranh; trong đó, lực lượng nòng cốt, chuyên sâu phải chủ động phối hợp với cơ quan báo chí, đơn vị chức năng, tổ chức chính trị - xã hội, để hình thành “thế trận tư tưởng thống nhất”.

Cần kết hợp giữa lực lượng chuyên trách và bán chuyên trách; giữa nhà lý luận với người làm truyền thông; giữa “chiến sĩ tư tưởng” và “chiến sĩ công nghệ”. Khi toàn hệ thống chính trị cùng chung tiếng nói, sức lan tỏa của công tác đấu tranh sẽ mạnh hơn gấp bội.

Mỗi cá nhân, cơ quan, đơn vị cần có kế hoạch đấu tranh cụ thể, xác định trọng tâm, trọng điểm, phân công trách nhiệm rõ ràng; khơi dậy tinh thần trách nhiệm, lòng tự hào, ý chí xung kích trong mỗi cán bộ, đảng viên - những người đang ngày đêm giữ vững “trận địa tư tưởng” của Đảng.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách bảo đảm và bảo vệ người đấu tranh

Phải có cơ chế đãi ngộ, khen thưởng, hỗ trợ vật chất và tinh thần xứng đáng với nhiệm vụ đặc biệt này. “Cuộc chiến” này không chỉ đòi hỏi tri thức, mà còn là sự dũng cảm, bền bỉ và chấp nhận rủi ro. Vì vậy, cần có quy định pháp lý rõ ràng bảo vệ người trực tiếp đấu tranh; tuyệt đối không để các lực lượng tiên phong này “đơn thương, độc mã” trên mặt trận tư tưởng - văn hóa.

Cùng với đó, Đảng và Nhà nước cần nghiên cứu, bổ sung chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao tham gia lĩnh vực bảo vệ nền tảng tư tưởng, nhất là các chuyên gia công nghệ, chuyên viên an ninh mạng, nhà báo, nhà khoa học trẻ, chuyên gia lý luận hàng đầu. Các cơ quan báo chí, nền tảng truyền thông số cần tăng cường sản xuất nội dung tích cực, sáng tạo, hấp dẫn, có tính lan tỏa cao. Khi thông tin chính thống chiếm lĩnh không gian mạng, thì luận điệu sai trái tự khắc bị đẩy lùi.

Không công nghệ nào thay thế được trí tuệ con người. Lực lượng làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng cần được đào tạo toàn diện về lý luận chính trị, truyền thông, công nghệ và tâm lý xã hội. Đặc biệt, cần quan tâm thế hệ trẻ - những người am hiểu công nghệ, năng động, sáng tạo - để họ trở thành lực lượng xung kích trên không gian mạng. Đồng thời, xây dựng cơ chế tôn vinh, bảo vệ, khích lệ người tham gia đấu tranh, giúp họ yên tâm, tự tin, giữ vững khí tiết và bản lĩnh.

Ba là, đầu tư nguồn lực, phương tiện hiện đại

Trong thời đại số, nếu không có công cụ mạnh, không thể đấu tranh hiệu quả. Cần đầu tư hệ thống hạ tầng kỹ thuật, trung tâm dữ liệu, công cụ, phần mềm phân tích nhận diện thông tin xấu độc, công cụ quản lý nội dung số; khắc phục tình trạng “tay không bắt giặc” trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Đồng thời, đẩy mạnh truyền thông tích cực, lan tỏa giá trị nhân văn, tôn vinh tập thể, cá nhân có thành tích trong công tác này.

Bên cạnh đó, cần tổ chức đào tạo chuyên sâu về kỹ năng phản bác, khai thác thông tin, viết bài lý luận, phản biện xã hội; kết hợp huấn luyện tác chiến trên không gian mạng cho các lực lượng 35 toàn quốc.

Phá “điểm nghẽn”, cởi “nút thắt” chính là hành động tự đổi mới của Đảng trên mặt trận tư tưởng. Khi cơ chế, chính sách thông thoáng; khi người đấu tranh được bảo vệ và khích lệ; khi mỗi cán bộ, đảng viên đều ý thức được vai trò của mình - thì công tác đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch chắc chắn sẽ đạt được hiệu quả cao hơn, bền vững hơn.

Ứng dụng công nghệ hiện đại, chủ động tấn công địch trên không gian mạng. Đấu tranh tư tưởng trong kỷ nguyên số không thể “đánh tay không”. Cần chủ động ứng dụng công nghệ (AI, Big Data) để giám sát, phân tích, dự báo, nhận diện sớm các chiến dịch truyền thông chống phá. Bên cạnh đó, hình thành các trung tâm dữ liệu chiến lược, nhóm phản ứng nhanh, đội ngũ chuyên gia công nghệ, phối hợp với nhà lý luận, báo chí, an ninh mạng để xử lý, phản bác kịp thời.

Kinh nghiệm từ thực tế cho thấy, nếu chủ động nắm bắt, dự báo đúng xu hướng, phản ứng nhanh bằng lý lẽ sắc bén, chúng ta có thể chuyển từ “phòng thủ” sang “tấn công”, chiếm lĩnh trận địa tư tưởng.

Bốn là, củng cố “thế trận tư tưởng” trong kỷ nguyên số

Không gian mạng hôm nay không chỉ là môi trường giao tiếp, mà đã trở thành “mặt trận tư tưởng” sôi động và phức tạp nhất. Ở đó, từng dòng trạng thái, từng video, từng bình luận đều có thể là “viên đạn bọc đường” tác động vào nhận thức từng người và toàn xã hội. Cuộc chiến này không tiếng súng, nhưng nóng bỏng từng giờ. Nó đòi hỏi sự tỉnh táo, kiên định và bản lĩnh của mỗi người - nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Vì vậy, cần xây dựng "thế trận nhân dân" trên không gian mạng. Không thể chỉ trông chờ vào lực lượng chuyên trách, mà mỗi đảng viên, mỗi công dân yêu nước đều có thể là “chiến sĩ”, biến sức mạnh của toàn dân thành lá chắn vững chắc trước mọi thông tin xấu độc, tạo “bức tường thành” vững chắc trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thực chất là một nội dung của cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng; một nội dung quan trọng của bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới, đòi hỏi phải có giải pháp tổng thể; trong đó, nhất thiết nhận diện và hóa giải những “điểm nghẽn” nêu trên như là một giải pháp có tính đột phá./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HỎI DÂN ĐỂ HIỂU CÁN BỘ!


     Tư tưởng Hồ Chí Minh về dựa vào dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, dựa vào dân để hiểu cán bộ, để làm công tác cán bộ đến nay còn nguyên giá trị. Theo đó, “hỏi dân để hiểu cán bộ” không chỉ là phương châm mà còn là biện pháp hiệu quả để xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam!

Tầm quan trọng đặc biệt của gần dân, sát dân, hiểu dân

60 năm trước, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú Kim Ngọc-“cha đẻ của khoán hộ”, “khoán 10”-luôn đau đáu với miếng ăn, hạnh phúc của người dân. Ông luôn quan niệm “phải để nông dân làm chủ mảnh đất của mình”. Những suy nghĩ, quan niệm của ông không tự nhiên hình thành mà nó bắt nguồn từ rất nhiều chuyến thực tế khảo sát, nắm bắt thực tiễn đời sống, hoạt động sản xuất của người dân. Từ năm 1965, Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc cho triển khai thí điểm “khoán hộ” ở một số huyện như Vĩnh Tường, Yên Lạc...

Hẳn nhiên, khi hành động vì dân, phù hợp với chân lý đời sống, “khoán hộ” của Bí thư Kim Ngọc được tập thể Ban Thường vụ Tỉnh ủy ủng hộ. Như luồng gió mới, “khoán 10” tạo ra hướng đi mới trong cách thức quản lý, gắn lợi ích với kết quả lao động, người dân phấn khởi, tâm huyết, chăm chỉ, phát huy kinh nghiệm đã có từ ngàn đời, tạo nên những cánh đồng lúa trĩu hạt báo hiệu sự ấm no. Rõ ràng, phải thật sự vì dân, gần dân, sát dân, thấu hiểu thực tế, thấu cảm lòng dân, trăn trở với câu hỏi “làm thế nào để mang lại cuộc sống tốt đẹp cho dân?”, Bí thư Kim Ngọc mới có những quyết định táo bạo để người dân có bữa ăn no, đời sống được cải thiện, có thêm thóc gạo gửi vào chiến trường.

Trong thời gian là cán bộ cấp cao đứng đầu tỉnh Nghệ An (2000-2002)-địa phương có địa giới hành chính rộng nhất cả nước, “tư dinh” của Bí thư Tỉnh ủy Trương Đình Tuyển chỉ là căn phòng tập thể nằm trên tầng 2, trong khuôn viên trụ sở Tỉnh ủy. Thời gian này, người dân TP Vinh và đặc biệt là bà con tiểu thương tại chợ Quán Lau (gần cơ quan Tỉnh ủy Nghệ An) rất quen thuộc với hình ảnh một vị Bí thư quần xắn ngang bắp, chân đi dép tông, đạp chiếc xe đạp Thống Nhất cũ kỹ đi chợ, vừa mua thực phẩm về nấu ăn, vừa tranh thủ gần dân để hỏi chuyện. Bởi ông nắm được thông tin, có những việc dân biết hết nhưng họ không nói, không bày tỏ. Trong đầu Bí thư Tỉnh ủy Trương Đình Tuyển luôn trăn trở “làm thế nào để dân nói, dân chia sẻ, đồng hành với cán bộ, đảng viên?”.

Chính nhờ đi sâu vào thực tiễn đời sống người dân, nắm bắt nguyện vọng của nhân dân, trên cương vị Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An, ông làm cuộc “cải tổ” có một không hai trong lịch sử phát triển của Đảng bộ tỉnh này. Gần 3 năm, ông cương quyết thay 9 bí thư huyện ủy, trong đó có cả cán bộ vốn là chỗ thân tình, nhưng vì việc chung, ông vẫn kiên quyết không có ngoại lệ. Chỉ cần những lãnh đạo cũ yếu kém, làm sai trái hoặc thiếu bản lĩnh là ông đề xuất tập thể thay ngay.

Thời gian qua, từ khi chính quyền địa phương hai cấp đi vào hoạt động càng khẳng định vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của việc gần dân, sát dân và hiểu dân. Điển hình như tại xã Hải Hậu, tỉnh Ninh Bình, sau hơn 3 tháng vận hành mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, đại đa số người dân được lấy ý kiến đều đánh giá cao hiệu quả xử lý công việc của chính quyền và tinh thần, trách nhiệm phục vụ của đội ngũ cán bộ, công chức. Trong đó, Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Hải Hậu được nâng cấp, sửa chữa khang trang, đáp ứng nhu cầu phục vụ người dân, doanh nghiệp. Xã ưu tiên nguồn lực đầu tư đồng bộ trang thiết bị với hệ thống máy lấy số xếp hàng tự động, máy cảm ứng tra cứu thông tin, hệ thống kết nối mạng trực tuyến, mạng nội bộ... để phục vụ người dân đến giao dịch, không để nhân dân phải chờ đợi lâu.

Với tinh thần “lấy người dân làm trung tâm phục vụ”, Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Hải Hậu đã tiếp nhận và giải quyết cơ bản hồ sơ thủ tục hành chính. Đây là minh chứng rõ ràng khi cán bộ, công chức cấp xã, phường gần với người dân hơn thì cơ chế tiếp nhận ý kiến, xử lý phản ánh cũng nhanh hơn, hiệu quả hơn và niềm tin của người dân với Đảng, Nhà nước, chính quyền được củng cố vững chắc hơn.

Biểu hiện và hệ lụy của bệnh xa dân

Vài năm trước, với những vi phạm rất nghiêm trọng, cựu Bí thư Tỉnh ủy Lào Cai Nguyễn Văn Vịnh bị Hội đồng xét xử sơ thẩm Tòa án Nhân dân tỉnh Lào Cai tuyên mức án 5 năm 6 tháng tù về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Khi cơ quan chức năng thực hiện lệnh bắt tạm giam và khám xét nhà riêng của ông Nguyễn Văn Vịnh, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều bình luận thể hiện tâm lý hả hê. Từ lâu, căn biệt thự của gia đình ông Vịnh nằm ở vị trí được xem là đẹp nhất TP Lào Cai (cũ) đã trở nên xa cách với đời sống của phần đông người dân. Hình ảnh người cán bộ như vậy khiến người dân bức xúc.

Cũng từ khi chính quyền địa phương hai cấp đi vào hoạt động, tại nhiều địa phương, cán bộ chưa nắm được thực tiễn, không nắm được địa bàn, chưa sâu sát và xắn tay hành động cùng nhân dân. Điển hình nhất là những đợt thiên tai gây nhiều thiệt hại ở các địa phương vừa qua cho thấy, không phải địa phương nào cán bộ, chính quyền cơ sở cũng sâu sát, nắm được thực tế để chỉ đạo xử lý các công việc phù hợp, kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Đặc biệt, nhiều thủ tục hành chính gây phiền hà, nhũng nhiễu ở các địa phương vẫn chưa được loại bỏ, trong khi người dân luôn có cái nhìn không tốt về thực trạng này.

Tìm hiểu những câu chuyện thực tế ở nhiều địa phương cho thấy, tình trạng cán bộ mắc bệnh xa dân, quan liêu, thích nghe báo cáo, không chịu nắm cơ sở diễn ra khá phổ biến. Cán bộ ít đến với dân, ít nghe tâm tư, nguyện vọng của người dân; cán bộ tránh, trốn tiếp dân bằng nhiều lý do, nhất là khi có “tình huống điểm nóng”. Người dân không dễ gặp được cán bộ dù ý kiến, nguyện vọng muốn trình bày với người có trách nhiệm giải quyết là chính đáng và cần thiết.

Bệnh xa dân của một số cán bộ, đảng viên được biểu hiện ở cả suy nghĩ, thái độ, hành vi và việc làm cụ thể như: Thiếu kiểm tra, đôn đốc, không sâu sát, không nắm chắc tình hình cơ sở, xa quần chúng, bàn giấy; làm việc quan cách, cửa quyền, hách dịch, thiếu dân chủ, vòi vĩnh, thờ ơ, vô cảm, tắc trách, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi quyền lợi chính đáng của nhân dân...

Bệnh xa dân dẫn tới hậu quả, hệ lụy vô cùng nguy hiểm, một trong những nguyên nhân đe dọa sự tồn vong của chế độ: Quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách của Nhà nước không đến được với người dân; khi tổ chức thực hiện không hiệu quả vì áp dụng không sát với thực tiễn ở từng địa phương, cơ sở, không hợp lòng dân, không làm cho dân tin, dân hiểu, dân theo, gây bức xúc.

Nguy hại hơn, bệnh xa dân dẫn đến tệ nạn tham nhũng, lãng phí tiền của, sức lao động của nhân dân trong quản lý, xây dựng các công trình công cộng..., trở thành “mắt xích yếu nhất” để các thế lực thù địch lợi dụng lôi kéo, mua chuộc, khiến cán bộ, đảng viên sa ngã, làm suy yếu chính quyền, làm mất uy tín của Đảng, Nhà nước đối với nhân dân; kích động nhân dân chống lại chính quyền, gây xung đột, tạo “điểm nóng” dẫn đến hậu quả “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng, trong dân.

Trên hết và trước hết của người “công bộc”

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Nhân dân ta có hàng chục triệu người, có hàng mấy chục triệu tai mắt, tay, chân. Nếu biết dựa vào nhân dân thì việc gì cũng xong”. Người còn nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức”.

Chính vì vậy, trong mọi hành động và việc làm, cán bộ, đảng viên phải luôn gần dân, sát dân, dựa vào dân, nắm bắt nguyện vọng của nhân dân; phát huy vai trò của nhân dân, làm lợi cho nhân dân; phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến, kinh nghiệm của dân, giải thích cho dân hiểu, cổ động dân, giúp dân đặt kế hoạch, khuyến khích, đôn đốc, theo dõi, giúp đỡ dân giải quyết những khó khăn. Với công việc, phải đặt việc công lên trên, lên trước; phải tận tâm, tận lực, không sợ khó, sợ khổ.

Bất luận hoàn cảnh nào, mỗi cán bộ, đảng viên phải là những người tiền phong, gương mẫu, có tính dẫn dắt, truyền cảm hứng cho nhân dân nên phải luôn khẳng định tính đứng đắn, trong sáng trong ứng xử, tính chăm chỉ, cần cù trong công tác, tính kỷ luật, khuôn phép trong sinh hoạt. Theo đó, từng cán bộ, đảng viên phải xây dựng hình ảnh đẹp trong đội ngũ, trong công sở cả về tư cách cá nhân lẫn cách phục vụ nhân dân, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả trong các hoạt động, ngày càng thuyết phục được nhân dân.

Cùng với đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để trở thành những công chức chuyên nghiệp miệng nói, tay làm, thống nhất lời nói và hành động, thực hiện lý luận gắn với thực tiễn; chống thói tùy tiện, ba hoa, chủ quan; chống bệnh hình thức, sáo rỗng, quan liêu, coi thường nhân dân... Có như vậy, cán bộ, đảng viên mới được dân mến, dân tin, dân phục, sẵn sàng chia sẻ tâm tư, nguyện vọng; gắn bó mật thiết được với nhân dân.

Bài học “hỏi dân để hiểu cán bộ”, dựa vào dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, dựa vào dân để làm công tác cán bộ của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh càng ngẫm càng thấy thấm thía và giá trị, nhất là trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang ra sức thi đua, lập thành tích hướng về Đại hội XIV của Đảng./.
Môi trường ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: VÌ SAO PHƯƠNG TÂY TỪNG TIN ZELENSKY NHƯNG GIỜ KHÔNG CÒN ĐẶT CƯỢC VÀO ÔNG?

     Chiến sự Ukraine vs Nga đang ở pha cuối cùng, quân Nga tiến lên ổn định hàng ngày đẩy quân Ukraine vào thế bị tan rã và đầu hàng.

Dưới đây là phân tích ngắn 3 lớp nguyên nhân giải thích vì sao Mỹ, phương Tây từng đặt cược lớn vào Zelensky nhưng nay không còn coi là lựa chọn tối ưu.

Phân tích này dựa trên bối cảnh thực tế: chính trị nội bộ Ukraine rối ren, chiến trường bất lợi, và Mỹ, phương Tây đang mệt mỏi vì chiến tranh.

1) BAN ĐẦU MỸ, PHƯƠNG TÂY TIN ZELENSKY VÌ 3 LÝ DO RẤT MẠNH

(A) Hình ảnh “Người mới mẻ, chống tham nhũng” rất phù hợp kỳ vọng của châu Âu

Ukraine trước 2019 nổi tiếng là quốc gia tham nhũng cao nhất châu Âu.

Phương Tây muốn một lãnh đạo có hình ảnh sạch, dễ thúc đẩy cải cách.
Zelensky lúc đó là “tấm gương trống”: không dính phe phái, không tai tiếng, dễ hợp tác.

Vì vậy là người phương Tây tin có thể “reset” Ukraine. 

(B) Zelensky là người duy nhất dám hứa “đàm phán - hòa bình” với Nga lúc đó
Điều mà Poroshenko không thể làm.

Phương Tây ban đầu muốn: Tránh leo thang với Putin. Hòa bình thông qua Minsk II hoặc một phiên bản mới. Zelensky trúng vào đúng “mẫu lãnh đạo” mà EU mong muốn:
xoa dịu - cải cách - giảm căng thẳng Nga-Ukraine.

(C) Trong giai đoạn 2022 giúp phương Tây xây dựng liên minh chống Nga khi Nga tấn công toàn diện:
Zelensky trở thành biểu tượng truyền thông.
Phát biểu hàng ngày, xuất hiện trước quốc hội các nước.
Tạo áp lực "đạo lý" thúc ép NATO - EU phải viện trợ
Do đó Zelensky là “Biểu tượng” rất có giá trị với phương Tây trong năm đầu chiến tranh.

2) VÌ SAO PHƯƠNG TÂY BẮT ĐẦU KHÔNG CÒN ĐẶT CƯỢC VÀO ÔNG

Có 5 nhóm lý do lớn - sâu sắc hơn truyền thông công khai rất nhiều.

(1) Kỳ vọng phương Tây đặt vào Zelensky đã sụp đổ

Họ kỳ vọng: Ukraine sẽ chống tham nhũng tốt, kết quả không thành công.

Cải cách nhà nước, kết quả chậm hoặc không có dấu hiệu.

Tổ chức chiến tranh hiệu quả, kết quả không như kỳ vọng.

Cuộc phản công 2023 sẽ tạo đột phá, kết quả thất bại chiến lược.

Trong khi cuộc phản công 2023 được Mỹ, phương Tây đánh cược và đầu tư rất mạnh bằng những khí tài tối tân:
Xe tăng Leopard, M1ABram, Bradley, tên lửa Storm Shadow, HIMARS…

Nhưng kết quả lại cực thấp, thiệt hại lớn dưới tay quân đội Nga.

Cũng vì đó mà phương Tây âm thầm đánh giá:
Zelensky không thể biến viện trợ thành chiến thắng.

(2) Zelensky bị xem là duy tình - cảm xúc - quá lệ thuộc PR (Tự quảng cáo bản thân và bộ máy của mình).

Phương Tây đánh giá: Ông làm truyền thông tốt, nhưng
Không có tư duy tầm chiến lược, không kiểm soát tốt quân đội.

Quyết định dựa trên áp lực hình ảnh hơn là tính toán dài hạn.

Ví dụ:
“Phản công lớn” là quyết định chịu sức ép chính trị hơn là quân sự.

Các tướng có lập trường khác (Zaluzhny) thì bị gạt sang bên.

Điều này đưa tới Phương Tây không tin Zelensky đưa ra được quyết định chiến lược quyết đoán, lạnh lùng cần thiết để thắng Nga - hoặc để ký thỏa thuận có lợi.
(3) Quan hệ giữa Zelensky và giới quân sự rạn nứt  - đây là tín hiệu xấu với NATO
Khi tổng thống: Sa thải Zaluzhny, xích mích với Budanov, thay đổi nhân sự liên tục.

Những điều này khiến phương Tây lo ngại về ổn định quyền lực của Kiev.
Hơn nữa, NATO cần một đối tác:
Có sự đoàn kết quân sự - chính trị. Có khả năng kiểm soát thông tin. Có uy tín nội bộ.

Kết quả Zelensky đang mất hai thứ: sự tin tưởng của tướng lĩnh quân đội và năng lực kiểm soát nội bộ của mình.

(4) Phương Tây muốn ĐÀM PHÁN - nhưng Zelensky phản đối mạnh nhất
Sau 2023, EU - Mỹ dần chuyển hướng khi:
Chiến tranh kéo dài dẫn tới nguy cơ kinh tế - chính trị sụp đổ.
Nga đứng vững → không thể bị “đánh gục”.
Ukraine kiệt quệ → không thắng được bằng quân sự
Phương Tây nghĩ đến một thỏa thuận “đóng băng chiến tuyến”.

Nhưng Zelensky: Phản đối mọi nhượng bộ, đưa ra “công thức hòa bình 10 điểm” (không thực tế), cấm đàm phán với Putin bằng luật.
Xu hướng không nhân nhượng các điều khoản của Nga (cốt lõi) kể cả của Mỹ để ngừng bắn, đàm phán và ký kết hoà bình.

Kết cục không mong muốn, khi Kiev và Washington có khác biệt chiến lược, Zelensky không còn là người mà Mỹ, phương Tây muốn đặt cược nữa.

(5) Zelensky không còn là “biểu tượng toàn cầu" - hình ảnh phai nhạt diễn biến từ 2022 đến cuối 2025: Niềm cảm thông giảm, sự mệt mỏi chiến tranh tăng, xuất hiện scandal tham nhũng, tiêu cực, nhiều quan chức thân tín bị bắt hoặc từ chức, một số vụ lãng phí viện trợ khiến Quốc hội Mỹ tức giận.

Từ đó Zelensky mất giá trị truyền thông và đạo lý - thứ mà phương Tây từng coi là tài sản lớn trong ván cược đánh bại chiến lược Nga.

KẾT LUẬN: PHƯƠNG TÂY ĐANG CHUẨN BỊ CHO “THỜI HẬU ZELENSKY”.

Gói lại trong một câu:
Zelensky từng là biểu tượng cần thiết cho phương Tây, nhưng không phải là lãnh đạo phù hợp cho giai đoạn đàm phán hoặc chiến lược dài hạn.

Do đó:
Mỹ (đặc biệt phe Trump) muốn một lãnh đạo thực dụng hơn.
EU muốn một người ổn định hơn.
NATO muốn một người thống nhất được quân đội.
Ứng cử viên sáng nhất hiện tại: Valeriy Zaluzhny./.
Môi trường ST.