Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2026

SỰ THẬT VỀ “MẠCH NGẦM LỊCH SỬ” LỜI GIẢI ĐÁP CHO NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC “THẾ KỶ MỚI MEDIA”!

     Bài viết trên blog “Thế kỷ mới Media” với tiêu đề “Đảng Cộng sản Việt Nam so với 40 năm trước: Đại hội XIV và Đại hội VI - Tương đồng, dị biệt và mạch ngầm lịch sử bất biến” là một sản phẩm mang nặng dụng ý chính trị thù địch, xuyên tạc bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và phủ nhận những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới gần 40 năm qua. Nội dung bài viết cố tình gieo rắc tâm lý hoài nghi, bi quan, kích động luận điệu “khủng hoảng hệ thống”, phủ bóng đen lên bối cảnh chuẩn bị và tổ chức Đại hội XIV của Đảng, từ đó cổ vũ đòi hỏi “từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa”, “đa nguyên, đa đảng”, “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang”, đi ngược lợi ích dân tộc, trái với Hiến pháp và pháp luật hiện hành.

Trước hết, cần vạch rõ thủ đoạn cơ bản của tác giả bài viết là trộn lẫn một số hiện tượng, khó khan còn tồn tại trong đời sống với những suy diễn chủ quan, ác ý để tạo bức tranh u ám, bế tắc. Từ việc viện dẫn tình trạng suy giảm niềm tin xã hội, những vụ việc tiêu cực, tham nhũng, cũng như các tranh luận trong chuẩn bị nhân sự, văn kiện Đại hội XIV, tác giả đã thổi phồng thành “sự sụp đổ uy tín hệ thống”, “đấu đá phe phái” trong Đảng, từ đó quy kết Đảng “mất khả năng tự đổi mới”, “lặp lại vòng xoáy khủng hoảng như trước Đại hội VI”. Lối lập luận này cố tình bỏ qua toàn bộ tiến trình hơn ba thập niên Đảng kiên trì xây dựng, chỉnh đốn, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; cố tình không nhìn nhận sự công khai, minh bạch và tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật” mà Đảng đã thể hiện trong nhiều nhiệm kỳ gần đây. Việc Đảng chỉ ra những hạn chế, yếu kém của chính mình, đề ra các nhiệm vụ, giải pháp chỉnh đốn trong các văn kiện không thể bị suy diễn thành “tự thú bế tắc”, trái lại là minh chứng sinh động cho năng lực tự hoàn thiện, tự đổi mới của một đảng cách mạng chân chính.

Trên bình diện lý luận, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định giai cấp công nhân, nhân dân lao động muốn giải phóng mình khỏi áp bức, bóc lột tư bản chủ nghĩa phải có chính đảng cách mạng, được trang bị lý luận khoa học, có tổ chức chặt chẽ, gắn bó mật thiết với quần chúng. Ở Việt Nam, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và những thắng lợi to lớn của cách mạng đã chứng minh tính đúng đắn của luận điểm đó: Từ cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh, Cách mạng Tháng Tám 1945, kháng chiến chống thực dân, đế quốc, đến đại thắng mùa Xuân 1975, thống nhất đất nước, là cả một chặng đường dài lịch sử đều gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng. Tính chính danh của Đảng bắt nguồn từ lợi ích mà Đảng đại biểu đó là: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân, chứ không dựa trên bất cứ sự ban phát, thừa nhận nào từ bên ngoài hoặc các lực lượng đối lập. Những luận điệu phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi “đa nguyên, đa đảng” thực chất là nhằm tước bỏ sự lãnh đạo chính trị thống nhất, mở đường cho sự thao túng của các thế lực phản động, cơ hội, đi ngược lợi ích căn bản của nhân dân lao động và chủ quyền quốc gia.

Đặt trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội XIV, cần nhấn mạnh rằng Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời luôn vận dụng, phát triển sáng tạo phù hợp với điều kiện thực tiễn đất nước và xu thế thời đại. Các dự thảo văn kiện Đại hội XIV xác định rõ mục tiêu “phát triển nhanh và bền vững đất nước trên nền tảng ổn định chính trị - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”, tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là sự kế thừa và phát triển đường lối đổi mới được khởi xướng từ Đại hội VI, trên cơ sở tổng kết sâu sắc 40 năm đổi mới và cục diện quốc tế mới, hoàn toàn trái ngược với luận điệu cho rằng Đảng “mất phương hướng”, “không đưa ra được tầm nhìn mới”.

Thực tiễn gần 40 năm đổi mới là câu trả lời hùng hồn nhất đối với mọi sự xuyên tạc. Năm 1986, Việt Nam lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội nặng nề, lạm phát có năm lên tới hơn 700%, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh lại phải đối mặt bao vây, cấm vận. Trên nền tảng tư duy đổi mới toàn diện, đồng bộ, Đảng đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, từng bước chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa phát triển kinh tế nhiều thành phần, chủ động hội nhập quốc tế, vừa giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhờ đó, nền kinh tế đã thoát khỏi khủng hoảng, tăng trưởng liên tục trong thời gian dài, Việt Nam từ nước thiếu đói trở thành quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã có bước tiến vượt bậc: Từ một trong những nước nghèo nhất thế giới, mức thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đã vươn lên gấp nhiều lần so với thời kỳ trước đổi mới; tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh theo chuẩn nghèo đa chiều; Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là điểm sáng về thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ và phát triển bền vững. Cùng với đó, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được cải thiện rõ rệt; diện mạo nông thôn, đô thị đổi thay; các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học - công nghệ có nhiều thành tựu mới; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng cao. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam liên tục tăng lên, tuổi thọ trung bình cao hơn nhiều so với giai đoạn trước đổi mới; vị thế, uy tín quốc tế của đất nước được khẳng định thông qua việc đảm nhiệm nhiều trọng trách tại các tổ chức, diễn đàn khu vực và toàn cầu.

Tất nhiên, trong quá trình phát triển, Việt Nam không tránh khỏi những hạn chế, yếu kém, thậm chí sai lầm, khuyết điểm, đặc biệt là tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên; cơ cấu kinh tế còn nhiều bất cập; chênh lệch giàu, nghèo, chất lượng tăng trưởng, ô nhiễm môi trường, các vấn đề an ninh phi truyền thống đặt ra không ít thách thức. Tuy nhiên, chính Đảng là lực lượng đi đầu nhận diện, chỉ ra và kiên quyết đấu tranh khắc phục những hạn chế đó, với quyết tâm xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực những năm qua với phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” là minh chứng rõ ràng cho bản lĩnh chính trị, cho ý chí tự đổi mới, tự chỉnh đốn của Đảng; điều mà các thế lực thù địch cố tình bóp méo thành “thanh trừng phe phái” trong những luận điệu xuyên tạc.

Bài viết trên blog “Thế kỷ mới Media” còn cố gắng khoét sâu tâm lý so sánh Đại hội XIV với Đại hội VI để phủ nhận thành tựu đổi mới, cho rằng “mạch ngầm lịch sử bất biến” là “khủng hoảng lặp lại”. Đây là phép so sánh khiên cưỡng, phi lịch sử. Đại hội VI diễn ra trong bối cảnh đất nước vừa thống nhất, lại bị bao vây cấm vận, nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bộc lộ nhiều yếu kém; còn Đại hội XIV được chuẩn bị trong bối cảnh Việt Nam đã có gần 40 năm đổi mới, đạt được những thành tựu to lớn, vị thế quốc tế được nâng cao, đồng thời đứng trước những thời cơ và thách thức của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số, cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc. Tính “tương đồng” nếu có chỉ là ở chỗ Đảng vẫn giữ vững bản lĩnh nhìn thẳng vào sự thật, đổi mới tư duy, đề ra đường lối phát triển phù hợp với tình hình mới trên nền tảng kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Từ những phân tích trên, có thể khẳng định: mọi luận điệu phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, dù được nguỵ trang dưới hình thức “trao đổi học thuật”, “nhận định khách quan”, thực chất vẫn là sự công kích chính trị, nhằm làm suy yếu lòng tin của nhân dân, tạo điều kiện cho các thế lực cơ hội, phản động lợi dụng. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan bảo vệ pháp luật, của lực lượng chuyên trách bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, mà còn là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân yêu nước. Mỗi người cần nêu cao cảnh giác, tỉnh táo trước những thông tin lệch lạc trên không gian mạng; chủ động trang bị tri thức lý luận chính trị, nắm vững những thành tựu đổi mới của đất nước, tin tưởng vào đường lối đúng đắn của Đảng, đồng thời tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, góp phần đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới./.
Môi trường ST.

VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHỦ TRƯƠNG CHUYỂN ĐỔI SỐ QUỐC GIA, ĐỀ ÁN 06 VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÔNG DÂN SỐ Ở VIỆT NAM!

     Ngày 27/12/2025, trên trang blog Tiếng Dân, đối tượng Nguyễn Mậu Chính đã tán phát bài viết với tiêu đề “Chiến thuật biến luật rừng thành quy định hợp pháp, Bộ Công an và tham vọng chấm điểm công dân qua VNeID”. Nội dung bài viết thể hiện rõ bản chất xuyên tạc, bóp méo chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta về chuyển đổi số quốc gia, Đề án số 06 và Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về phát triển công dân số. Trong bài viết, Nguyễn Mậu Chính đã đưa ra luận điệu cho rằng việc đề xuất các nội dung liên quan đến công dân số, dữ liệu số, định danh điện tử là nhằm “chấm điểm công dân”, biến quyền công dân thành “đặc ân có điều kiện”, làm “mất nền tảng tự do”, thậm chí quy kết đây là công cụ để “cai trị”, “tiêu tốn ngân sách” và “mở toang cánh cửa cho ngoại bang nắm thóp cả dân tộc, từ dữ liệu hành vi đến mã gen”. Từ đó, đối tượng kêu gọi người dân phản đối chuyển đổi số nếu không muốn “tiện ích trở thành xiềng xích vô hình”.

Có thể thấy, đây là sự gán ghép, xuyên tạc có chủ ý, mang tính hệ thống, sử dụng lối lập luận suy diễn, đánh tráo khái niệm, cố tình đồng nhất chuyển đổi số với “kiểm soát xã hội”, “xâm phạm tự do cá nhân” để gieo rắc tâm lý lo sợ, nghi ngờ trong nhân dân. Từ đó kích động tâm lý hoài nghi, đối lập giữa Nhà nước và nhân dân, kêu gọi người dân “chống lại” chuyển đổi số, gây ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức xã hội và tiến trình phát triển đất nước.

Thực chất, luận điệu của Nguyễn Mậu Chính không nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người dân, mà là một thủ đoạn trong chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - chính trị. Việc cố tình gán ghép Đề án 06 và phát triển công dân số với “luật rừng”, “cai trị”, “đặc ân có điều kiện” là sự phủ nhận trắng trợn bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Đáng chú ý, đối tượng còn lợi dụng tâm lý lo ngại về an toàn thông tin, dữ liệu cá nhân để thổi phồng nguy cơ “ngoại bang nắm thóp dân tộc”, từ đó phủ nhận hoàn toàn nỗ lực của Đảng, Nhà nước trong xây dựng thể chế bảo vệ dữ liệu, bảo đảm an ninh mạng. Đây là chiêu bài quen thuộc của các thế lực thù địch: Lấy một số vấn đề kỹ thuật, thách thức trong quá trình phát triển để xuyên tạc bản chất, mục tiêu của chính sách, làm lu mờ những thành tựu và lợi ích thiết thực mà chuyển đổi số mang lại cho người dân và xã hội.

Trái ngược với những luận điệu xuyên tạc nêu trên, chủ trương chuyển đổi số quốc gia, Đề án 06 và định hướng phát triển công dân số của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, khoa học và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Mục tiêu xuyên suốt mà Đảng và Nhà nước ta xác định là lấy người dân làm trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu và động lực của chuyển đổi số.

Đảng ta luôn nhất quán quan điểm: Quyền con người, quyền công dân được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm; mọi hoạt động quản lý đều đặt trong khuôn khổ pháp luật, vì lợi ích chung của xã hội. Việc chuyển đổi số, quản lý dữ liệu số, an ninh thông tin, xây dựng hệ thống định danh điện tử không phải để hạn chế tự do, mà để góp phần mở rộng dân chủ, bảo đảm tốt hơn quyền được tiếp cận thông tin, quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy nhà nước; đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo điều kiện để người dân tiếp cận dịch vụ công nhanh hơn, thuận lợi hơn, minh bạch hơn và đồng thời bảo vệ chính người dân trước các nguy cơ tội phạm công nghệ cao, xâm phạm đời sống riêng tư và chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.

Nếu không có bản lĩnh, sự hiểu biết và niềm tin vào chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước để kịp thời vạch trần và đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc như bài viết của Nguyễn Mậu Chính sẽ dễ bị nhiễu loạn thông tin, làm suy giảm niềm tin xã hội, cản trở tiến trình chuyển đổi số - một nhiệm vụ chiến lược có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay.

Do đó, các cấp, các ngành cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, làm rõ bản chất, mục tiêu, lợi ích của chuyển đổi số quốc gia, Đề án 06 và định hướng phát triển công dân số ở Việt Nam; chủ động cung cấp thông tin chính xác, minh bạch để người dân hiểu đúng, tin tưởng và đồng hành. Đồng thời, nâng cao vai trò của báo chí chính thống, đội ngũ cán bộ, đảng viên trong việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững niềm tin của nhân dân vào con đường chuyển đổi số gắn với định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã lựa chọn./.
Yêu nước ST!

KIÊN QUYẾT BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, GIỮ VỮNG NIỀM TIN VÀO SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI XIV.

     Trong thời gian gần đây, lợi dụng bối cảnh chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, một số đối tượng và trang mạng phản động đã tung ra những bài viết mang danh “phân tích lịch sử”, “so sánh học thuật” giữa Đại hội VI và Đại hội XIV nhằm bóp méo sự thật, gieo rắc hoài nghi, từng bước làm xói mòn niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng. Những luận điệu này không mới, nhưng được ngụy trang tinh vi hơn, đòi hỏi phải được nhận diện, phản bác một cách kiên quyết, trực diện và không khoan nhượng.

Trước hết, cần khẳng định rõ rằng việc so sánh Đại hội VI - thời điểm đất nước đứng trước yêu cầu đổi mới mô hình phát triển do khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng - với Đại hội XIV trong bối cảnh Việt Nam đang ổn định chính trị, phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế sâu rộng, là sự so sánh khiên cưỡng, phi lịch sử và phản khoa học. Đại hội VI diễn ra khi đất nước vừa ra khỏi chiến tranh, nền kinh tế bao cấp bộc lộ những hạn chế mang tính hệ thống, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, đất nước bị bao vây, cấm vận kéo dài. Trong khi đó, sau gần 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã vươn lên trở thành quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và độc lập, chủ quyền quốc gia.

Việc cố tình gán ghép rằng Đại hội XIV sẽ là một “Đại hội VI mới”, hàm ý đất nước đang rơi vào khủng hoảng toàn diện, thực chất là thủ đoạn chính trị nhằm phủ nhận những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc Đổi mới và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là cách tiếp cận không mới nhưng hết sức thâm độc nhằm phục vụ ý đồ chống phá lâu dài.

Nguy hiểm hơn, các thế lực thù địch còn bóp méo bản chất của đổi mới, xuyên tạc rằng Đảng chỉ “tự thay đổi khi bị dồn vào chân tường”. Luận điệu này cố tình phủ nhận một thực tế hiển nhiên: Đảng Cộng sản Việt Nam là một Đảng cách mạng, luôn biết tự đổi mới, tự chỉnh đốn, lấy lợi ích của dân tộc và nhân dân làm mục tiêu tối thượng. Đổi mới không phải là sự từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mà là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Chính sự kiên định về mục tiêu, linh hoạt về phương pháp đã tạo nên sức sống bền bỉ của Đảng và của chế độ.

Một thủ đoạn khác cũng cần được vạch trần là việc lợi dụng công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để xuyên tạc thành “đấu đá nội bộ”, “thanh trừng phe phái”. Đây là sự vu cáo trắng trợn, cố tình đảo lộn bản chất của vấn đề. Thực tế cho thấy, công cuộc phòng, chống tham nhũng thời gian qua được triển khai với quyết tâm chính trị rất cao, đồng bộ, bài bản, không có “vùng cấm”, không có ngoại lệ, được đông đảo nhân dân đồng tình, ủng hộ. Việc xử lý nghiêm minh cán bộ sai phạm, kể cả cán bộ cấp cao, không làm suy yếu Đảng, mà ngược lại, khẳng định bản lĩnh cầm quyền, củng cố kỷ luật, kỷ cương, làm trong sạch đội ngũ và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Đáng chú ý, chúng cho rằng “xã hội Việt Nam đói pháp quyền, doanh nghiệp đói tự do kinh doanh”. Đây là sự đánh tráo khái niệm có chủ ý. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, gắn pháp quyền với ổn định chính trị và công bằng xã hội. Quyền tự do kinh doanh được Hiến pháp bảo đảm, nhưng không đồng nghĩa với tự do vô giới hạn, đứng ngoài pháp luật. Việc tăng cường kỷ cương, xử lý các hành vi vi phạm trong kinh doanh là để bảo vệ môi trường đầu tư lành mạnh, bảo vệ doanh nghiệp làm ăn chân chính và lợi ích chung của xã hội.

Đặc biệt, cần hết sức cảnh giác với những khái niệm mơ hồ, ngụy biện như “mạch ngầm lịch sử bất biến” mà bài viết phản động đưa ra. Đây không phải là khái niệm khoa học, mà là một cách diễn đạt có chủ ý nhằm hợp thức hóa vai trò của các thế lực chống đối, coi chúng như một lực lượng “tất yếu” trong tiến trình lịch sử. Mục đích sâu xa của cách lập luận này là từng bước phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cổ súy cho mô hình đa nguyên, đa đảng - con đường đã được thực tiễn nhiều quốc gia chứng minh là dẫn đến bất ổn chính trị, chia rẽ xã hội và lệ thuộc từ bên ngoài.

Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, mọi thắng lợi của dân tộc – từ giành độc lập, thống nhất đất nước đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay – đều gắn liền với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngược lại, mọi âm mưu phủ nhận, hạ thấp hoặc xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đều đi ngược lại lợi ích căn bản của dân tộc và nhất định sẽ thất bại.

Trước những luận điệu xuyên tạc ngày càng tinh vi, nhiệm vụ đặt ra đối với cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân là hết sức rõ ràng. Trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên cần không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, kiên định lập trường tư tưởng, chủ động nghiên cứu, nắm vững các quan điểm, đường lối của Đảng, đặc biệt là những nội dung cốt lõi liên quan đến Đại hội XIV. Không dao động, không mơ hồ trước những thông tin sai trái; đồng thời, phải dám lên tiếng đấu tranh, phản bác kịp thời, có lý, có tình đối với các quan điểm thù địch, sai trái.

Đối với quần chúng nhân dân, cần tăng cường tuyên truyền, giúp người dân hiểu đúng bản chất của các vấn đề, không chia sẻ, lan truyền thông tin chưa được kiểm chứng, nhất là trên không gian mạng. Mỗi người dân cần trở thành một “lá chắn” trước thông tin xấu độc, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng bằng chính nhận thức và hành động đúng đắn của mình.

Các cấp ủy, tổ chức đảng cần chủ động hơn nữa trong công tác định hướng dư luận, kịp thời cung cấp thông tin chính xác, khách quan, đồng thời kiên quyết vạch trần bản chất phản động, chống phá của các luận điệu sai trái. Đấu tranh tư tưởng trong giai đoạn hiện nay không phải là việc làm hình thức, mà là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đại hội XIV của Đảng là sự kiện chính trị trọng đại, mở ra chặng đường phát triển mới của đất nước. Giữ vững niềm tin, tăng cường đoàn kết, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với mọi âm mưu xuyên tạc, chống phá, chính là trách nhiệm chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân yêu nước. Đó cũng là cách thiết thực nhất để góp phần bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và bảo vệ tương lai của dân tộc Việt Nam./.
Yêu nước ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: NỮ TÌNH BÁO ĐỂ TANG BÁC HỒ GIỮA LÒNG ĐỊCH!

     Đầu tháng 9/1969, khi đang ngồi trong nhiệm sở của địch, tiểu thư Mỹ Nhung được một viên thiếu tá Mỹ báo: “Ông Hồ mất rồi ”!

Dù đã quá quen với các kiểu tin sốc bất ngờ, nhưng chính trong khoảnh khắc đó, Tám Thảo vẫn cảm thấy tim mình đứng sững lại.
 
Nhưng chỉ trong tích tắc sau, bản năng mách bảo cô phải giữ ngay lại bình tĩnh, bởi lúc xúc động dễ sơ hở lộ. Quay mặt ngó lơ, cô đáp lại rất hờ hững: “Vậy hả?” rồi tiếp tục làm việc. Viên thiếu tá nhìn cô dò xét một lúc rồi cũng quay đi.

“Khi trở về nhà tôi chỉ biết ôm ba tôi khóc nức nở như một đứa trẻ. Ba dỗ dành tôi “con khóc sưng mắt thế này ngày mai sao đi làm được” nhưng rồi ông ấy cũng òa lên khóc vì quá đau lòng trước sự ra đi của Bác”, bà Thảo xúc động nhớ lại.

Bà Tám Thảo kể, thời điểm biết tin Bác mất, thành phố Sài Gòn chìm trong tang tóc. Cả tháng trời, dù địch theo dõi ngăn cản gắt gao nhưng trên khắp đường phố, đồng bào vẫn tổ chức lễ truy điệu cho Bác dưới hình thức công khai lẫn bí mật.

Anh em công nhân, các tầng lớp sinh viên, học sinh ngày ngày kính cẩn mặc niệm Bác trong tiếng hát trang nghiêm của bài “Hồn tử sĩ”. Ở nhà lao Chí Hoà, 600 anh chị em tù chính trị sáng nào cũng hát Quốc ca và làm lễ tưởng niệm Người.

Chứng kiến tình cảm thiêng liêng đồng bào dành cho Bác, cảnh sát Cộng hòa cũng chỉ biết làm lơ.

“Hôm đó, báo chí đưa tin Bác mất nhiều, đồng bào ai cũng mua để đọc. Tôi đến nhờ bác xích lô chở đến chỗ làm nhưng bác ấy từ chối vì đang tưởng niệm Bác.Tôi ra chợ mua hoa quả cũng không ai bán vì họ quá buồn trước sự ra đi của Bác”, bà Thảo tâm sự.

Dù đau lòng, nhưng với vị trí của Tám Thảo,dù có thương Bác đến mấy, bà cũng không được phép biểu lộ ra bên ngoài.Tuy nhiên, bằng trí thông minh của mình, Tám Thảo cũng qua mặt được viên sĩ quan tình báo Mỹ đầy kinh nghiệm để hiên ngang chịu tang Người ngay trong lòng địch.

Nhiều tháng liền cô Tám Thảo chỉ mặc chiếc áo trắng để tưởng niệm Bác. Sinh nghi, viên thiếu tá Mỹ hỏi: “Sao cô dạo này toàn mặc áo trắng vậy?”.

“Từ bé tôi đã là tiểu thư, gia đình may cho tôi hàng trăm bộ quần áo. Mấy hôm nay trời nóng quá, tôi muốn thay đổi thời trang một chút nên mặc đồ trắng cho dễ chịu thôi”, nữ tình báo khôn khéo đáp lại. Tên thiếu tá nghe vậy tin ngay.

Bồi hồi nhớ lại chuyện này, bà Tám Thảo nói: “Thực ra làm tình báo đâu có được liều lĩnh làm như vậy, nhưng lúc đó mình đau lòng quá. Kẻ thù nó phải sợ người Việt mình vì mình có những người như Bác chứ? Lúc đó, tụi lính chỗ cô cũng không dám chống lại đồng bào để tang. Tụi nó cũng buồn,nhưng không dám lộ ra vì sợ Tây nghi là Việt Cộng. Cứ nghĩ xem, người như ông Cụ mất, ai mà không khóc thương?”.

Nhìn bề ngoài ai cũng nghĩ Tám Thảo dửng dưng, vô cảm trước sự ra đi của Bác, thế nhưng sau mỗi buổi làm việc về nhà là cô lại chạy vào phòng khóc một mình.

Nữ chiến sĩ tình báo đã hơn 10 năm cận kề giữa sự sống và cái chết vẫn không thể tin rằng, trong đời mình bà lại từng khóc nhiều như những ngày tháng trắng màu tang năm 1969 đó./.
Yêu nước ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: LỰC LƯỢNG VỆ SỸ CẬN VỆ CUBA TRONG BẢO VỆ TỔNG THỐNG VENEZUELA!

     Sự kiện tại Caracas rạng sáng 3/1/2026 có tổng số người thiệt mạng trong vụ việc này là 80 người, thì 32 người là số lượng vệ sĩ cận vệ Cuba thiệt mạng trực tiếp tại dinh tổng thống Miraflores khi cố gắng ngăn chặn toán đặc nhiệm bắt giữ ông Maduro.

Xem con số này, nhiều người phải giật mình đặt câu hỏi tại sao số lượng nhân sự an ninh của Cuba đông vậy. Đó là bởi vì Venezuela sử dụng vệ sĩ và nhân viên an ninh Cuba để bảo vệ các nguyên thủ quốc gia, đặc biệt là dưới thời Hugo Chávez và ông Maduro. Đây một chiến lược kết hợp giữa lòng tin chính trị, nhu cầu chống đảo chính và các thỏa thuận chiến lược giữa hai nước này. Cuba vốn nổi tiếng với G2, cơ quan tình báo có mạng lưới tình báo tinh nhuệ, và khả năng tình báo phản gián dày dạn kinh nghiệm bậc nhất khu vực Mỹ Latin. Các nhân viên an ninh Cuba không chỉ đóng vai trò là "lá chắn sống", mà còn là các chuyên gia phản gián lão làng. Bằng chứng đã chứng minh rằng họ đã làm thất bại hàng trăm cuộc ám sát chủ tịch Fidel Castro do CIA chủ mưu. Còn ở Venezuela, họ chịu trách nhiệm giám sát chính các sĩ quan quân đội Venezuela để phát hiện sớm các mầm mống bất mãn. Theo các báo cáo tình báo quốc tế, đội ngũ này thiết lập một hệ thống an ninh đa lớp, nơi các vệ sĩ Cuba kiểm soát vòng trong cùng sát nhất với nguyên thủ, đảm bảo rằng ngay cả các tướng lĩnh cấp cao của Venezuela cũng khó có thể dễ dàng tiếp cận tổng thống nếu không được phép.

Xuất phát từ lý do thiếu tin tưởng tuyệt đối của các nhà lãnh đạo Venezuela đối với lực lượng quân đội và cảnh sát trong nước. Sau cuộc đảo chính hụt năm 2002 nhằm lật đổ ông Hugo Chavez, chính quyền Venezuela trở nên cực kỳ nhạy cảm với khả năng bị phản bội từ nội bộ. Các nhân viên an ninh Cuba được xem là "người ngoại tộc", không có mối liên hệ với các phe phái chính trị hay gia đình tại Venezuela, do đó họ ít có khả năng bị mua chuộc hoặc tham gia vào các âm mưu lật đổ tại địa phương. Đối với Maduro, sự trung thành của lực lượng này không dựa trên quốc tịch, mà dựa trên sự sống còn của ý thức hệ chung. Mối quan hệ hai nước này còn dựa trên một sự trao đổi chiến lược về kinh tế và chính trị. Venezuela là quốc gia có trữ lượng dầu mỏ cực kỳ khổng lồ, họ cung cấp dầu giá rẻ và viện trợ tài chính cho Cuba trong nhiều thập kỷ. Đổi lại, Cuba xuất khẩu "nguồn lực con người", bao gồm các bác sĩ, giáo viên, và đặc biệt là các cố vấn quân sự, an ninh. Đây là một liên minh sinh tồn: Nếu chính quyền xã hội chủ nghĩa ở Venezuela sụp đổ, thì nền kinh tế Cuba sẽ phải chịu tổn thất rất nặng nề. Do đó, bảo vệ nguyên thủ Venezuela cũng chính là bảo vệ lợi ích quốc gia và sự ổn định của chính chính quyền Cuba. Vậy nên đối với các nhân sự an ninh Cuba, việc bảo vệ nguyên thủ Venezuela không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn mà còn là nhiệm vụ sống còn của chính thể Cuba. Họ hiểu rằng nếu chính quyền ông Maduro sụp đổ, nguồn viện trợ năng lượng, và liên minh chiến lược giữa hai nước sẽ chấm dứt, gây ra thảm họa kinh tế cho quê hương. Sự ràng buộc này tạo ra sự quyết tâm và tinh thần sẵn sàng hy sinh cao hơn nhiều so với các đơn vị bản địa, những người có thể lựa chọn đầu hàng hoặc đào ngũ để bảo toàn mạng sống khi tình thế thay đổi.

Và đó là những lý do rõ ràng nhất để hiểu tỷ lệ thương vong rất cao của các nhân viên an ninh Cuba trong các tình huống xung đột trực tiếp, với vai trò "lá chắn cuối cùng" của nguyên thủ Venezuela. Điều này không phải là ngẫu nhiên mà là kết quả của một cấu trúc an ninh đã được tính toán kỹ lưỡng./.
Ảnh: Người dân Cuba tham gia cuộc biểu tình ở Havana để thể hiện sự đoàn kết với Venezuela sau khi Tổng thống Maduro bị Mỹ bắt giữ.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CÔNG AN CẢNH BÁO NÓNG “NGƯỜI DÂN GỠ NGAY ỨNG DỤNG SAU TRƯỚC KHI BỊ MẤT SẠCH TIỀN”!

     Đừng vì tò mò mà tải app “theo dõi người yêu” trên TikTok, Facebook: Coi chừng bị chiếm quyền điện thoại, mất sạch tiền trong phút mốt.

Gần đây, Công an tỉnh Hưng Yên đã liên tiếp phát đi cảnh báo nóng về sự xuất hiện của hàng loạt ứng dụng nấp bóng dưới tên gọi “quản lý gia đình” hay “định vị người thân”. Được quảng cáo rầm rộ trên các nền tảng mạng xã hội, thực chất đây là những cái bẫy chứa mã độc nguy hiểm, có khả năng âm thầm chiếm đoạt dữ liệu và tài sản của người dùng chỉ sau một cú chạm.

Cụ thể, trên các nền tảng phổ biến như Facebook hay TikTok, người dùng dễ dàng bắt gặp những lời mời chào hấp dẫn về các ứng dụng có tên gọi kích thích sự tò mò như “Phần mềm quản lý gia đình”, “App định vị người thân” hay táo bạo hơn là “Đọc trộm tin nhắn vợ chồng”. Kèm theo đó là những hình ảnh và video minh họa tính năng giám sát tường tận, đánh trúng vào tâm lý muốn kiểm soát các mối quan hệ của nhiều người dùng nhẹ dạ.

Tuy nhiên, đằng sau lớp vỏ bọc tiện ích đó là các phần mềm gián điệp tinh vi. Ngay khi người dùng tải về cài đặt, thiết bị sẽ lập tức bị mã độc xâm nhập. Chúng âm thầm thu thập toàn bộ dữ liệu cá nhân từ danh bạ, tin nhắn, lịch sử cuộc gọi cho đến thông tin đăng nhập mạng xã hội và nguy hiểm nhất là tài khoản ngân hàng. Từ những dữ liệu này, kẻ gian có thể dễ dàng định vị, nghe lén, quay lén nạn nhân hoặc chiếm quyền điều khiển điện thoại để thực hiện các hành vi tống tiền, lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc phát tán thông tin nhạy cảm.

Cơ quan chức năng cũng nhấn mạnh, việc người dân tự ý tìm kiếm, sử dụng hay phát tán các phần mềm nghe lén, xâm nhập trái phép thiết bị của người khác không chỉ mang lại rủi ro cho bản thân mà còn là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Những hành động này có thể bị xử lý hình sự theo quy định tại Điều 289 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

Để tránh rơi vào cảnh “tiền mất tật mang”, Công an tỉnh Hưng Yên khuyến cáo người dân cần tuyệt đối cảnh giác, tránh xa việc tải hoặc cài đặt các ứng dụng không rõ nguồn gốc, đặc biệt là những phần mềm được quảng cáo có tính năng “theo dõi” hay “đọc trộm”. Người dùng cần tuân thủ nguyên tắc không cung cấp thông tin cá nhân, tài khoản ngân hàng hay mã OTP vào các đường link lạ; thường xuyên cập nhật bảo mật và chỉ tải ứng dụng từ các kho chính thống như Google Play hoặc App Store. Nếu phát hiện các tài khoản mạng xã hội quảng cáo ứng dụng có dấu hiệu lừa đảo, người dân cần báo ngay cho cơ quan công an để được hướng dẫn và xử lý kịp thời./.

Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 100% CỬ TRI NHẤT TRÍ GIỚI THIỆU ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG THAM GIA ỨNG CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA XVI

     Chiều 8-1, Văn phòng Bộ Quốc phòng tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác đối với Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại biểu Quốc hội Khóa XV, người được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội Khóa XVI, nhiệm kỳ 2026-2031.

Tại hội nghị, các đại biểu nghe Trung tướng Nguyễn Viết Tuyên, Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng, quán triệt mục đích, yêu cầu; giới thiệu danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội gồm 1 đồng chí là Đại tướng Phan Văn Giang; thông báo tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội. Tiếp đó, thư ký hội nghị đọc tiểu sử tóm tắt của Đại tướng Phan Văn Giang để các cử tri tham gia đóng góp ý kiến.

Các ý kiến phát biểu tại hội nghị đều biểu thị sự đồng thuận và nhất trí khẳng định, Đại tướng Phan Văn Giang có lý lịch trong sạch, rõ ràng; lập trường tư tưởng chính trị kiên định, vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống trung thực, khiêm tốn, giản dị; tác phong công tác dân chủ, công bằng, thẳng thắn, chính trực, liêm chính, nói đi đôi với làm, không cơ hội, vụ lợi. Đồng chí luôn tôn trọng, lắng nghe ý kiến tập thể; gần gũi, quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ và hậu phương Quân đội; luôn xây dựng và tăng cường mối đoàn kết nội bộ, giải quyết tốt mối quan hệ công tác với các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương, có uy tín cao đối với Đảng, Nhà nước, nhân dân và toàn quân.

Đại tướng Phan Văn Giang có sức khỏe tốt, tư duy nhạy bén, tầm nhìn chiến lược, kiến thức toàn diện về quân sự, quốc phòng, văn hóa, xã hội; có lý luận và kinh nghiệm thực tiễn phong phú trong công tác quản lý, chỉ huy, điều hành Quân đội. 

Là cán bộ được đào tạo cơ bản, trưởng thành trong thực tiễn chiến đấu, học tập và công tác; được Đảng, Nhà nước, Quân đội giao đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng, trên các cương vị công tác luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, có nhiều đóng góp quan trọng trong sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng-an ninh và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trên cương vị là đại biểu Quốc hội khóa XV, Đại tướng Phan Văn Giang luôn chấp hành nghiêm chương trình, kế hoạch công tác, chế độ sinh hoạt; nêu cao trách nhiệm, tích cực tham mưu xây dựng chủ trương, đường lối phát triển đất nước; chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện thể chế về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong tình hình mới.

Trên cương vị là Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang chủ động đề xuất với Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương, Quân ủy Trung ương triển khai thực hiện các nghị quyết, kết luận, đề án, luật về quân sự, quốc phòng bảo đảm chất lượng với nhiều chính sách vượt trội, phù hợp với đặc thù quân sự và yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Chỉ đạo các cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về quốc phòng đúng chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tiến hành đồng bộ các giải pháp xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân. Chỉ đạo triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp nâng cao sức mạnh, trình độ và khả năng SSCĐ của Quân đội; các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Quân ủy Trung ương về tiếp tục điều chỉnh tổ chức Quân đội tinh, gọn, mạnh; tổ chức quân sự địa phương phù hợp với điều chỉnh tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp…

Phát biểu tại hội nghị, Đại tướng Phan Văn Giang trân trọng cảm ơn tình cảm và những ý kiến đóng góp chân thành của các cử tri.

Đại tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh sẽ luôn phát huy hết tinh thần trách nhiệm, thực hiện tốt vai trò của người đại biểu dân cử; dành nhiều thời gian để gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri; luôn lắng nghe và tổng hợp các ý kiến phản ánh, kiến nghị, những tâm tư, nguyện vọng của cử tri để đề xuất với cơ quan có thẩm quyền về những yêu cầu mà cử tri mong đợi. Kịp thời đôn đốc, theo dõi, giám sát việc giải quyết các kiến nghị của cử tri theo trách nhiệm giám sát của người đại biểu Quốc hội.

Đồng thời, tiếp tục nỗ lực làm việc với tinh thần trách nhiệm cao nhất; thường xuyên đổi mới, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm; nói đi đôi với làm; thực hiện tốt việc nêu gương; không ngừng nghiên cứu học tập để nâng cao trình độ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Tại hội nghị, 100% cử tri đã biểu quyết nhất trí giới thiệu Đại tướng Phan Văn Giang tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TOÀN VĂN PHÁT BIỂU CHỈ ĐẠO CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM TẠI HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC CHÍNH PHỦ VÀ CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG!

     Sáng 8/1, Tổng Bí thư Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai công tác năm 2026 của Chính phủ và chính quyền địa phương. Hội nghị được tổ chức trực tiếp tại Trụ sở Chính phủ kết hợp trực tuyến với điểm cầu 34 tỉnh, thành phố trong cả nước. Xin trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm.

Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương,

Thưa các đồng chí lãnh đạo các tỉnh, thành phố tại các điểm cầu,

Thưa toàn thể các đồng chí.

Trong không khí phấn khởi của những ngày đầu năm mới 2026, hướng tới Đại hội lần thứ XIV của Đảng và chuẩn bị đón Tết cổ truyền Bính Ngọ, tôi rất vui mừng dự Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương. Đây là hội nghị vừa tổng kết đánh giá kết quả năm 2025, vừa nhìn lại chặng đường 5 năm 2021-2025 - giai đoạn khó khăn, thách thức nhưng đất nước ta đạt nhiều thành tựu và dấu ấn quan trọng. Trên cơ sở đó, chúng ta cùng khơi dậy quyết tâm, tự tin bước vào kỷ nguyên xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi xin gửi tới các đồng chí lãnh đạo, các quý vị đại biểu cùng toàn thể đồng bào, đồng chí cả nước lời chào thân ái, lời thăm hỏi chân tình và những lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Chúng ta đã xem những thước phim về tình hình kinh tế - xã hội năm 2025 và giai đoạn 2021-2025 của đất nước, nghe những phát biểu thẳng thắn, tâm huyết, trách nhiệm của đồng chí Thủ tướng, các đồng chí lãnh đạo Chính phủ, lãnh đạo ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương. Tại hội nghị này, tôi xin nêu một số vấn đề có tính khái quát, định hướng để các đồng chí cùng nghiên cứu.

I. NHÌN LẠI NĂM 2025 VÀ 5 NĂM 2021-2025

Bối cảnh giai đoạn 2021-2025 có rất nhiều đặc biệt, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư; sự đồng hành của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; sự tham gia tích cực của người dân, doanh nghiệp, sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo, điều hành quyết liệt, linh hoạt, hiệu quả trên các lĩnh vực. Nhiều quyết sách mang tính "xoay chuyển tình thế, chuyển đổi trạng thái, thích ứng với hoàn cảnh" đã góp phần "biến nguy thành cơ", nhiều nghị quyết chiến lược về các lĩnh vực then chốt như khoa học - công nghệ, thể chế - pháp luật, hội nhập quốc tế, kinh tế tư nhân, kinh tế Nhà nước, văn hóa, thu hút FDI, tạo tiền đề cho phát triển nhanh và bền vững cả trước mắt và lâu dài. Nhờ đó, năm 2025, chúng ta đã hoàn thành thắng lợi, đạt và vượt 15/15 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu; giai đoạn 2021-2025, ước đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu, xấp xỉ đạt 2/26 chỉ tiêu, còn 2 chỉ tiêu nữa cần tiếp tục phấn đấu. Tôi ghi nhận 8 kết quả nổi bật sau:

Thứ nhất, kinh tế vĩ mô được giữ ổn định trong bối cảnh thế giới nhiều biến động, thể hiện rõ sức chống chịu của nền kinh tế. Giai đoạn 2021-2025, lạm phát duy trì dưới 3,6% (riêng năm 2025 khoảng 3,3%); các cân đối lớn được bảo đảm; nợ công và bội chi ngân sách duy trì trong ngưỡng an toàn, củng cố ổn định trung hạn. Tăng trưởng GDP năm 2025 đạt 8,02%, bình quân giai đoạn đạt 6,3%, thuộc nhóm cao của khu vực và trên thế giới. Quy mô nền kinh tế tăng từ 346 tỷ USD (2020) lên 514 tỷ USD (2025), xếp thứ 32 thế giới; GDP bình quân đầu người đạt hơn 5.000 USD, đưa Việt Nam vào nhóm các nước thu nhập trung bình cao (hoàn thành một trong những cột mốc lớn mà Đại hội XIII của Đảng đã đặt ra). Duy trì 10 năm xuất siêu liên tiếp (năm 2025 xuất siêu trên 21 tỷ USD). Bội chi, nợ công trong giới hạn an toàn (nợ công năm 2025 giảm còn khoảng 36% GDP, giới hạn cho phép là 60% GDP). Du lịch phục hồi mạnh, năm 2025 đón trên 21,5 triệu lượt khách quốc tế. Khu vực doanh nghiệp Nhà nước tiếp tục giữ vai trò then chốt; kinh tế tư nhân vươn lên rõ nét, là "một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia" như tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị. FDI tiếp tục là điểm sáng, với 185 tỷ USD đăng ký giai đoạn 2021–2025, giải ngân năm 2025 đạt 27,62 tỷ USD, cao nhất trong 5 năm, phản ánh niềm tin của nhà đầu tư quốc tế, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả lan tỏa của sự tăng trưởng. (Tuy nhiên, các kết quả trên chủ yếu phản ánh ổn định và mở rộng quy mô; thách thức lớn của giai đoạn tới là chuyển sang tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất, chất lượng và hiệu quả phân bổ nguồn lực).

Thứ hai, các đột phá chiến lược được triển khai đồng thời trên ba trụ cột: Thể chế và tổ chức bộ máy, kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, tạo chuyển biến nền tảng đối với mô hình phát triển. Tư duy từ "quản lý" sang "kiến tạo phát triển" từng bước được cụ thể hóa, nhất là sau khi Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị được ban hành, góp phần tháo gỡ nhiều điểm nghẽn kéo dài, khơi thông nguồn lực và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Cải cách tổ chức bộ máy và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp gắn với phân cấp, phân quyền được đẩy mạnh, tạo chuyển dịch quan trọng trong phương thức quản trị theo hướng trao quyền đi đôi với trách nhiệm, phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, giúp bộ máy tinh gọn hơn, điều hành ở địa phương chủ động hơn, chi phí tuân thủ giảm dần.

Trong lĩnh vực hạ tầng, đã tập trung hơn vào tính đồng bộ, liên kết các công trình chiến lược mở rộng không gian phát triển và nâng cao giá trị sử dụng đất (như hạ tầng đường cao tốc, sân bay, bến cảng, đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do…) cho thấy tư duy phát triển đã hướng tới tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn, với sự tham gia ngày càng lớn của khu vực kinh tế tư nhân. Cùng với đó, hạ tầng xã hội và hạ tầng số được đầu tư đồng bộ hơn, thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao chất lượng dịch vụ công. Về dài hạn, nguồn nhân lực được đặt vào vị trí trung tâm, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ then chốt và ngành nghề mới; năng suất lao động có cải thiện bước đầu, (song thách thức vẫn là gắn chặt hơn đào tạo với nhu cầu thực tế của nền kinh tế và yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng).

Thứ ba, các lĩnh vực văn hóa, xã hội và môi trường có chuyển biến rõ rệt cả về nhận thức và hành động, trực tiếp nâng cao chất lượng sống của nhân dân và củng cố nền tảng cho phát triển bền vững. Công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, di sản được tiếp cận theo hướng chủ động, sáng tạo hơn, gắn với phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo. Nhiều di sản, tư liệu được UNESCO vinh danh; các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao quy mô lớn, chuyên nghiệp góp phần hình thành các sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao và sức lan tỏa xã hội rộng, đồng thời tăng cường sức mạnh mềm quốc gia. Các sự kiện chính trị - lịch sử trọng đại được tổ chức trang trọng, hiệu quả, không chỉ mang ý nghĩa kỷ niệm mà còn khơi dậy tinh thần yêu nước, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và đặc biệt là niềm tin của toàn xã hội. Theo đánh giá quốc tế, chỉ số phát triển con người tiếp tục cải thiện, chỉ số hạnh phúc tăng mạnh (37 bậc, từ xếp hạng 83 năm 2000 lên 46 năm 2025), phản ánh tiến bộ thực chất về chất lượng cuộc sống chứ không chỉ về thu nhập.

Chính sách an sinh xã hội được triển khai toàn diện, nhất quán với mức chi cao (17% tổng chi ngân sách) để "không để ai bị bỏ lại phía sau"; hoàn thành sớm mục tiêu xóa nhà tạm, phát triển mạnh nhà ở xã hội (334 nghìn căn nhà, nhà ở xã hội, hơn 100 nghìn căn hộ trong năm 2025), tỷ lệ nghèo đa chiều giảm nhanh (chỉ còn 1,3%), khẳng định ưu tiên xuyên suốt của Nhà nước đối với con người, đặc biệt là người yếu thế và công bằng xã hội. Trong giáo dục và y tế, nhiều chủ trương có ý nghĩa lâu dài được triển khai, từ miễn, hỗ trợ học phí phổ thông, xây dựng thêm nhiều trường học, tăng đầu tư cho giáo dục vùng khó khăn, biên giới, đến việc củng cố hệ thống y tế, vừa giải quyết các tồn đọng kéo dài, vừa chuẩn bị nền tảng cho nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân toàn diện. Bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu được coi trọng hơn trong quản lý, điều hành. Trước thiên tai ngày càng cực đoan, sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến cơ sở và huy động cả ngân sách Nhà nước và nguồn lực xã hội đã giúp giảm thiểu thiệt hại, sớm ổn định đời sống và khôi phục sản xuất, thể hiện rõ vai trò kiến tạo, trách nhiệm và tính nhân văn của Nhà nước, của Chính phủ.

Thứ tư, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được triển khai quyết liệt, từng bước trở thành trụ cột mới của mô hình phát triển của đất nước. Các chính sách hỗ trợ cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được triển khai đồng bộ, bài bản hơn. Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia và hệ sinh thái khởi nghiệp được định hình rõ hơn, với sự gắn kết chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các cơ sở nghiên cứu. Việc Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia và Trung tâm Dữ liệu quốc gia đi vào hoạt động thể hiện cách tiếp cận mới trong tổ chức, huy động, điều phối nguồn lực đổi mới sáng tạo ở tầm quốc gia; đồng thời hình thành một số tổ chức khoa học công nghệ đạt chuẩn quốc tế và thúc đẩy các dự án, hợp tác trong lĩnh vực công nghệ mới, công nghệ lõi.

Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2025 xếp hạng 44/139. Chuyển đổi số gắn với cải cách hành chính được đẩy mạnh theo hướng lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm; xây dựng Chính phủ số, công dân số, xã hội số từng bước đi vào thực chất. Đề án 06 tạo thay đổi mang tính căn bản trong cung cấp dịch vụ công, giúp tiết kiệm khoảng 3.000 tỷ đồng chi phí xã hội mỗi năm; chỉ số Chính phủ điện tử tăng 15 bậc so với năm 2020, xếp 71/193, cho thấy tiến bộ rõ rệt về quản trị số. (Tuy vậy, kết quả mới ở giai đoạn đầu; chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo chưa lan tỏa đồng đều. Thách thức thời gian tới là chuyển từ triển khai rộng sang nâng cao hiệu quả và chiều sâu, để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực chủ yếu nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng).

Thứ năm, tiềm lực quốc phòng, an ninh tiếp tục được củng cố toàn diện, tạo nền tảng vững chắc cho ổn định chính trị và phát triển đất nước trong bối cảnh môi trường an ninh khu vực, quốc tế có rất nhiều biến động. An ninh chính trị được giữ vững; thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và "thế trận lòng dân" được tăng cường, thể hiện sự gắn kết chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và củng cố niềm tin xã hội. Việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại được triển khai có trọng tâm; nguồn lực đầu tư cho quốc phòng, an ninh được tăng cường, ưu tiên các lĩnh vực chiến lược, lâu dài, cho thấy sự chủ động chuẩn bị từ sớm, từ xa. Trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm; năm 2025, tội phạm về trật tự xã hội giảm trên 24%. Công tác bảo đảm an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ được triển khai đồng bộ, góp phần tạo môi trường sống và kinh doanh an toàn. Đối ngoại quốc phòng, an ninh được đẩy mạnh theo hướng chủ động, thực chất, phục vụ mục tiêu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ vững môi trường hòa bình cho phát triển. Lực lượng vũ trang tiếp tục phát huy vai trò xung kích trong phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn và thực hiện tốt nhiệm vụ gìn giữ hòa bình quốc tế, qua đó nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam.

Thứ sáu, công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục là điểm sáng, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và mở rộng không gian phát triển cho đất nước. Quan hệ với các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện được mở rộng và đi vào chiều sâu, gắn kết chặt chẽ giữa chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh và giao lưu văn hóa. Ngoại giao kinh tế được triển khai chủ động, thực chất, trực tiếp phục vụ phát triển; riêng năm 2025, ký kết gần 350 thỏa thuận và cam kết hợp tác, qua đó thu hút nguồn lực, mở rộng thị trường và nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế. Vai trò, vị thế và trách nhiệm quốc tế của Việt Nam tiếp tục được khẳng định trong các cơ chế đa phương khu vực và toàn cầu, góp phần nâng cao uy tín và khả năng tham gia định hình luật chơi. Mạng lưới đối ngoại ngày càng rộng mở và cân bằng, quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia, trong đó có 42 đối tác toàn diện và chiến lược, phản ánh rõ đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh mới.

Thứ bảy, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị tiếp tục được đẩy mạnh theo hướng kiên định, kế thừa và đổi mới, trực tiếp nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu lực vận hành của Nhà nước. Việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy năm 2025 không chỉ giảm đầu mối, khắc phục chồng chéo, mà quan trọng hơn là nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả quản trị, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tiếp tục là điểm sáng, được triển khai quyết liệt, đồng bộ, với tinh thần "không có vùng cấm, không có ngoại lệ", qua đó củng cố kỷ cương, kỷ luật và niềm tin xã hội. Đáng chú ý, phòng, chống tham nhũng ngày càng gắn với xử lý các điểm nghẽn cơ cấu của nền kinh tế, khắc phục những bất cập trong công tác quản lý, nhất là trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, tài nguyên và các dự án đầu tư lớn. Việc xử lý 5 ngân hàng yếu kém, tháo gỡ các dự án thua lỗ kéo dài và nhiều dự án năng lượng trọng điểm cho thấy cách tiếp cận chuyển từ xử lý vi phạm đơn lẻ sang khơi thông nguồn lực cho phát triển. Kết quả cụ thể là gần 1.200 dự án với tổng giá trị khoảng 675 nghìn tỷ đồng đã được tháo gỡ, đưa trở lại hoạt động; gần 3.000 dự án tồn đọng đang được rà soát, phân loại để xử lý căn cơ, tránh thất thoát, lãng phí và kéo dài tình trạng nguồn lực bị đóng băng.

Thứ tám, chủ trì, phối hợp với các cơ quan xây dựng các chủ trương, quyết sách lớn của Trung ương, Bộ Chính trị, Quốc hội như các báo cáo, đề xuất Trung ương, Quốc hội về phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và 5 năm; các Nghị quyết chiến lược, trụ cột của Bộ Chính trị và các Nghị quyết của Quốc hội về các cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị; các quyết sách lớn về xây dựng đường sắt cao tốc Bắc - Nam, đường sắt kết nối với Trung Quốc, đường sắt đô thị tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh...

Trên cơ sở những nhận định khách quan và các số liệu cụ thể, có thể kiểm chứng, có thể khẳng định rằng giữa những bất định trên toàn cầu, trong bối cảnh khó khăn, thách thức nhiều hơn thời cơ, thuận lợi, nhưng chúng ta không những giữ được ổn định, trong đó có ổn định kinh tế vĩ mô, mà đã đạt được thành tựu khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, góp phần củng cố, tăng cường niềm tin, đời sống tinh thần, vật chất của nhân dân và nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo đà, tạo lực, tạo thế, tạo nền tảng cho những năm tiếp theo, trong đó có mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 2 con số trong giai đoạn tới.

Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi nhiệt liệt hoan nghênh, ghi nhận, chúc mừng, biểu dương Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, cộng đồng doanh nghiệp, cán bộ, đảng viên, đồng bào, chiến sĩ cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài về những nỗ lực phấn đấu và những kết quả, thành tích đã đạt được trong năm 2025 và đặc biệt là trong giai đoạn 2021-2025.

Thưa toàn thể các đồng chí!

Bên cạnh những kết quả đạt được, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, cần nghiêm túc nhìn nhận rằng những tồn tại, hạn chế và thách thức còn nhiều, có mặt kéo dài, có mặt mới phát sinh, phản ánh các nút thắt cơ cấu trong mô hình phát triển và hệ thống quản trị quốc gia. Tôi xin nêu 8 hạn chế cơ bản như sau:

Thứ nhất, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định nhưng rủi ro vẫn tiềm ẩn trong bối cảnh dư địa chính sách tài khóa - tiền tệ thu hẹp. Một số thị trường then chốt như bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp, thị trường tài sản còn vận hành thiếu thông suốt, còn tâm lý phòng thủ, đầu cơ.

Thứ hai, tăng trưởng vẫn dựa nhiều vào mở rộng đầu vào, đặc biệt là đầu tư và khai thác đất đai, trong khi năng suất lao động, năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) và hàm lượng công nghệ cải thiện chậm. Liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước còn yếu; công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm; đổi mới sáng tạo chưa lan tỏa đồng đều. Vì vậy, một số địa phương đạt tăng trưởng cao nhưng thiếu bền vững, vẫn phụ thuộc vào những dự án đơn lẻ và nguồn lực ngắn hạn, thậm chí một số địa phương vẫn còn lúng túng trong mục tiêu tăng trưởng.

Thứ ba, giải ngân vốn đầu tư công chậm, hiệu quả chưa cao (thể hiện hệ số ICOR cao lên đến gần 6, trong khi các nước công nghiệp hóa thành công chỉ khoảng 3); tình trạng lãng phí trong quản lý đất đai, tài nguyên và tài sản công còn lớn. Nhiều dự án kéo dài, đội vốn, hiệu quả thấp, phản ánh hạn chế trong chuẩn bị dự án, lựa chọn ưu tiên và cơ chế chịu trách nhiệm. Nhiều dự án có vốn nhưng không triển khai được do vướng mặt bằng, điều chỉnh quy hoạch, thay đổi thiết kế. Việc huy động nguồn lực tư nhân còn gặp rào cản do môi trường pháp lý còn rủi ro và chi phí tuân thủ cao.

Thứ tư, hệ thống pháp luật còn chồng chéo, thiếu đồng bộ, mặc dù chúng ta đã rất nỗ lực. Thủ tục hành chính, nhất là trong các lĩnh vực đất đai, đầu tư, xây dựng, môi trường, còn rườm rà, kéo dài, làm tăng chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp. Có những dự án mất nhiều năm mới xong các khâu thủ tục, trong khi mỗi khâu do một cơ quan phụ trách và không có cơ chế chịu trách nhiệm tổng thể. Đáng chú ý, một số quy định chưa theo kịp thực tiễn, làm méo mó tín hiệu giá và gia tăng rủi ro cho doanh nghiệp (đơn cử cơ chế công bố giá vật liệu xây dựng chậm và không sát thị trường khiến nhà thầu dễ thua lỗ hoặc vướng quyết toán và thanh tra. Điều này phản ánh sự bị động trong thiết kế thể chế, quản lý nhà nước, vận hành thị trường chưa phù hợp với nguyên tắc thị trường). Năng lực tổ chức thực thi chính sách chưa đồng đều, vẫn còn tình trạng né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm ở một bộ phận cán bộ. Việc chậm tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế và vận hành thị trường có nguy cơ làm suy giảm động lực đầu tư dài hạn và kìm hãm sự phục hồi bền vững của nền kinh tế.

Thứ năm, việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp ở một số nơi còn lúng túng, thiếu đồng bộ, phát sinh độ trễ trong điều hành, gây khó khăn cho người dân, doanh nghiệp. Phân cấp, phân quyền chưa đi đôi với phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực cán bộ, tạo khoảng cách giữa thẩm quyền được giao và khả năng thực thi trên thực tế.

Thứ sáu, còn thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong các ngành mũi nhọn như công nghệ cao, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, hạ tầng chiến lược. Chất lượng đào tạo và sự gắn kết giữa đào tạo với nhu cầu thị trường lao động còn khoảng cách đáng kể, làm gia tăng tình trạng vừa thiếu vừa thừa lao động.

Thứ bảy, ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông và quá tải hạ tầng tại các đô thị lớn chưa được xử lý căn cơ. Thích ứng với biến đổi khí hậu còn bị động ở một số địa bàn, công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường chưa theo kịp tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa, làm gia tăng rủi ro phát triển thiếu bền vững.

Thứ tám, an ninh trật tự ở một số địa bàn còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp; tội phạm công nghệ cao, lừa đảo xuyên biên giới và an ninh mạng gia tăng, đặt ra thách thức mới cho công tác quản lý nhà nước và bảo vệ xã hội trong môi trường số.

Những tồn tại, hạn chế nêu trên cho thấy thách thức cốt lõi của giai đoạn tới không phải là thiếu nguồn lực hay bất ổn bên ngoài, mà chủ yếu ở chất lượng thể chế, năng lực thực thi và sức sống của mô hình phát triển. Đây vừa là sức ép, vừa là động lực cải cách, nếu được nhận diện đúng và hành động quyết liệt. Giai đoạn mới đòi hỏi chuyển mạnh từ tạo nền tảng sang tăng tốc về chất lượng và quy mô, từ xử lý tình huống sang cải cách căn cơ, từ điều hành ngắn hạn sang kiến tạo động lực dài hạn; chỉ như vậy mới có thể khơi thông niềm tin thị trường, giải phóng nguồn lực xã hội và đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển nhanh, bền vững và cạnh tranh cao hơn, gay gắt hơn.

II. VỀ PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ NĂM 2026

Năm 2026 đánh dấu khởi đầu một giai đoạn phát triển mới, gắn với triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2026-2030. Đây là năm rất quan trọng định hình mô hình phát triển và quỹ đạo tăng trưởng dài hạn của đất nước. Mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên là rất thách thức. Trong bối cảnh các động lực tăng trưởng truyền thống suy giảm, những hạn chế về năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh bộc lộ rõ, cách làm cũ không còn đáp ứng yêu cầu mới. Vì vậy, giai đoạn tới đòi hỏi đổi mới căn bản tư duy phát triển, phương thức quản trị và phân bổ nguồn lực, phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, với cải cách đủ sâu, đủ mạnh, đủ quyết liệt.

Trên tinh thần đó, chúng ta vừa phải giải quyết hiệu quả các vấn đề trước mắt để tạo đà tăng trưởng, vừa thực hiện các cải cách chiến lược, dài hạn để chuyển đổi mô hình phát triển. Tôi nhấn mạnh 7 phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm thời gian tới, như sau:

Thứ nhất, tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn, bất cập của thể chế để khơi thông nguồn lực đang bị ách tắc. Cần chuyển mạnh và thực chất từ tư duy "quản lý" sang "kiến tạo phát triển", bảo đảm mỗi việc có một đầu mối chịu trách nhiệm, chấm dứt đùn đẩy, né tránh; nếu chậm tháo gỡ sẽ kìm hãm tăng trưởng ngay từ đầu nhiệm kỳ. Song song với đó, là quyết tâm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; điều hành tài khóa-tiền tệ phối hợp chặt chẽ, linh hoạt, kỹ trị dựa trên nguyên tắc thị trường, tránh lạm dụng biện pháp hành chính. Điều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp; tái cơ cấu tín dụng vào sản xuất kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên, hạn chế đầu cơ và hoạt động phi sản xuất.

Tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh; mở rộng phân cấp, phân quyền, rà soát để cắt giảm các thủ tục, tạo không gian quyết định và chịu trách nhiệm lớn hơn cho cán bộ, công chức, đồng thời giảm thời gian và chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp. Dứt khoát từ bỏ tư duy "không quản được thì cấm", bảo vệ nghiêm ngặt quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, tuyệt đối không được lợi dụng thanh tra, kiểm tra, điều tra để sách nhiễu người dân, doanh nghiệp. Cần đặc biệt bảo đảm tính ổn định, nhất quán và khả năng dự báo của chính sách, hạn chế tối đa thay đổi đột ngột, hồi tố hoặc thiếu thống nhất trong thực thi. Khuyến khích thử nghiệm cơ chế, mô hình mới (như thị trường dữ liệu, tài sản mã hóa); cắt giảm thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu số, không yêu cầu người dân, doanh nghiệp cung cấp lại giấy tờ đã được số hóa. Cùng với đó, chủ động, đổi mới công tác thông tin, tuyên truyền và dân vận, phát huy các phong trào thi đua yêu nước, tăng cường đồng thuận xã hội.

Ổn định và làm lành mạnh các thị trường trọng yếu của nền kinh tế, tôn trọng đầy đủ các quy luật của kinh tế thị trường cạnh tranh, quy luật cung - cầu, quy luật giá cả… Đặc biệt chú trọng ổn định các thị trường có tác động hệ thống như bất động sản (trọng tâm là quy hoạch và pháp lý), trái phiếu doanh nghiệp, thị trường tín dụng, thị trường vốn, thị trường tài sản (vàng, ngoại tệ…), bảo đảm thị trường hoạt động thông suốt, minh bạch, an toàn, qua đó phòng ngừa rủi ro lan truyền và củng cố niềm tin của nhà đầu tư, doanh nghiệp và người dân. Đồng thời, phát triển thị trường vốn trung và dài hạn có chiều sâu, song song với cơ cấu lại thị trường tín dụng theo hướng bền vững, xử lý tận gốc các yếu kém của tổ chức tín dụng, tình trạng sở hữu chéo, sở hữu ngầm, cho vay quan hệ. Nghiên cứu cơ chế giải thể có kiểm soát đối với ngân hàng yếu kém, cho phép thành lập ngân hàng mới, tổ chức tài chính vi mô, nhằm nâng cao tính cạnh tranh, an toàn và đa dạng của hệ thống tài chính.

Thứ hai, chuyển đổi căn bản mô hình tăng trưởng dựa vào năng suất và đổi mới sáng tạo. Giai đoạn tới phải đặt nâng cao năng suất, chất lượng nguồn nhân lực, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo vào trung tâm chiến lược phát triển, coi đây là điều kiện then chốt để vượt bẫy thu nhập trung bình và duy trì tăng trưởng cao, bền vững. Cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng xanh, số, tuần hoàn; lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực tăng trưởng mới, và là nhân tố để làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống. Cơ chế khuyến khích ứng dụng công nghệ phải dựa vào kết quả, không hỗ trợ dàn đều. Tập trung phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp mũi nhọn, nội hàm hóa chiến lược "Make in Vietnam", khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới như kinh tế biển, kinh tế đại dương xanh, kinh tế không gian (trên không và dưới lòng đất), kinh tế chia sẻ…; thu hút FDI có chọn lọc, gắn với chuyển giao, học hỏi và tiếp thu công nghệ, nâng cao năng lực nội sinh về công nghệ. Đẩy mạnh xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia "đúng, đủ, sạch, sống", phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số. Đồng thời, tạo môi trường thuận lợi hơn nữa để kinh tế tư nhân bứt phá, hình thành các tập đoàn tư nhân lớn, đủ năng lực tham gia hạ tầng trọng điểm, công nghệ cao và các lĩnh vực chiến lược.

Thứ ba, xây dựng hệ thống hạ tầng chiến lược hiện đại, đồng bộ, tạo nền tảng cho năng lực cạnh tranh quốc gia. Giai đoạn tới, cần tập trung nguồn lực cho các dự án hạ tầng chiến lược, mang tính đột phá, đặc biệt là giao thông trục quốc gia, đường sắt, cảng hàng không, cảng biển, năng lượng và hạ tầng số. Năm 2026 phải tạo chuyển biến rõ rệt về tiến độ, trong đó khởi công các hạng mục then chốt của đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, đẩy nhanh tuyến Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, đường sắt đô thị Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, các cao tốc liên kết vùng, liên kết các địa phương sau hợp nhất, bảo đảm tiến độ Cảng hàng không quốc tế Long Thành và Gia Bình. Cùng với đó, bảo đảm an ninh năng lượng, nhất là năng lượng sạch, tuyệt đối không để thiếu điện; khẩn trương triển khai các dự án năng lượng quan trọng, trong đó có Nhà máy điện hạt nhân. Đồng thời, đẩy mạnh hạ tầng số thế hệ mới, phủ rộng 5G, nghiên cứu 6G, phát triển trung tâm dữ liệu và từng bước tham gia sâu vào chuỗi giá trị công nghệ cao, phấn đấu khởi công dự án sản xuất chíp bán dẫn. Cần xác định lộ trình để Việt Nam gia nhập nhóm quốc gia dẫn đầu về chất lượng hạ tầng viễn thông và độ phủ sóng 5G, 6G.

Đổi mới mạnh mẽ cách thức triển khai đầu tư công theo hướng dẫn dắt phát triển, lan tỏa và kích hoạt kéo theo nguồn lực tư nhân, qua đó phấn đấu giảm ICOR xuống 4 trong giai đoạn tới.

Thứ tư, nâng cao năng lực thực thi của bộ máy trong điều kiện phân cấp, phân quyền mạnh mẽ. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng mặt bằng kỹ năng của toàn xã hội.

Cần gắn chặt thẩm quyền với nguồn lực và trách nhiệm giải trình, bảo đảm sự thông suốt trong điều hành từ Trung ương đến cơ sở. Tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, siết chặt kỷ cương, kỷ luật hành chính, chấm dứt tình trạng né tránh, sợ trách nhiệm; hoàn thiện cơ chế đánh giá cán bộ, thay thế cán bộ, trọng dụng cán bộ có năng lực tốt. Thực hiện nghiêm Kết luận 226 của Ban Bí thư về việc chấn chỉnh lề lối làm việc, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị; đồng thời tháo gỡ các vướng mắc trong vận hành chính quyền địa phương hai cấp, tập trung nâng cao năng lực cán bộ, đảng viên cấp cơ sở, đặc biệt là xã, phường, đặc khu; nên lấy năm 2026 là "năm nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở". Có giải pháp khai thác tài sản công đang bị lãng phí, và xử lý trụ sở công dôi dư sau sắp xếp, qua đó nâng cao tính chủ động, tự chủ và hiệu quả quản trị của bộ máy nhà nước.

Cần triển khai chiến lược giáo dục - đào tạo gắn chặt với nhu cầu thị trường lao động và các ngành công nghệ, công nghiệp mũi nhọn; đồng thời nâng cao kỹ năng nền tảng, đặc biệt là kỹ năng số, cho lực lượng lao động. Tập trung nâng cao năng suất lao động theo tinh thần Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động, tăng tỷ lệ lao động phi nông nghiệp; đẩy mạnh đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, từng bước đưa trí tuệ nhân tạo và rô-bốt vào giáo dục phổ thông; đồng thời có cơ chế đột phá phát triển các đại học quốc gia, cơ sở giáo dục đại học xuất sắc và các chương trình nghiên cứu công nghệ chiến lược, tạo nền tảng nhân lực cho phát triển dài hạn.

Thứ năm, chú trọng phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và bảo đảm an sinh xã hội. Tiếp tục bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc; đồng thời phát triển công nghiệp văn hóa với trọng tâm là điện ảnh, du lịch văn hóa và nghệ thuật biểu diễn, coi đây là một mũi nhọn kinh tế mới. Triển khai hiệu quả các giải pháp đột phá về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân theo tinh thần Nghị quyết 72 của Bộ Chính trị. Phấn đấu hoàn thành trên 110 nghìn căn nhà ở xã hội trong năm 2026, về đích sớm mục tiêu 1 triệu căn vào năm 2028; hoàn thành 248 trường liên cấp tại các xã biên giới.

Thứ sáu, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Tập trung nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo và ứng phó thiên tai, nhất là lũ ống, lũ quét, sạt lở đất và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Đẩy nhanh xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, bất động sản, góp phần quản lý hiệu quả tài nguyên và phát triển thị trường minh bạch. Xử lý căn cơ ô nhiễm môi trường, nhất là tại các đô thị lớn; triển khai hiệu quả các chương trình thích ứng biến đổi khí hậu vùng Đồng bằng sông Cửu Long và phòng, chống lũ lụt, sạt lở, khô hạn tại miền Trung, Tây Nguyên và miền Bắc. Đồng thời, khai thác hiệu quả tài nguyên đất hiếm, phục vụ phát triển các ngành công nghiệp mới gắn với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Thứ bảy, củng cố vững chắc quốc phòng, an ninh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, tạo môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước. Tiếp tục xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, thế trận phòng thủ quân khu, khu vực vững chắc; phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, lưỡng dụng, hiện đại, nâng cao sức mạnh tổng hợp của lực lượng vũ trang. Bảo đảm an ninh, an toàn tuyệt đối các sự kiện chính trị trọng đại, nhất là Đại hội lần thứ XIV của Đảng và bầu cử Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031; tăng cường bảo vệ bí mật nhà nước, đặc biệt trên không gian mạng và trong chuyển đổi số. Đồng thời, đẩy mạnh ngoại giao kinh tế, ngoại giao công nghệ, kết hợp chặt chẽ quốc phòng - an ninh với phát triển kinh tế; chuẩn bị tốt để tổ chức thành công Hội nghị APEC 2027. Tiếp tục làm tốt công tác bảo hộ công dân, thúc đẩy ngoại giao văn hóa, ngoại giao nhân dân, ngoại giao khoa học và công nghệ, qua đó nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam.

Thưa toàn thể các đồng chí!

Những năm qua, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã đoàn kết, nỗ lực vượt qua khó khăn, thách thức và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Thực tiễn chứng minh, càng khó khăn, ý chí, bản lĩnh và tinh thần đoàn kết của dân tộc ta càng được tôi luyện và phát huy. Có thể khẳng định, đến thời điểm này, đất nước đã hội tụ đủ thế và lực, đủ ý chí và quyết tâm để bước vào kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc.

Vận hội mới đang mở ra, nhưng thời cơ chỉ trở thành hiện thực bằng nỗ lực và hành động. Tôi tin tưởng rằng Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương sẽ cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục đoàn kết, đồng lòng, hành động quyết liệt với trách nhiệm cao nhất, hoàn thành thắng lợi các mục tiêu và nhiệm vụ năm 2026 và những năm tiếp theo.

Nhân dịp năm mới 2026 và chuẩn bị đón Xuân Bính Ngọ, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi chúc các đồng chí lãnh đạo, quý vị đại biểu cùng toàn thể đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước năm mới dồi dào sức khỏe, hạnh phúc, an khang, thịnh vượng và giành được nhiều thắng lợi mới.

Xin trân trọng cảm ơn!
Yêu nước ST.

Thứ Năm, 8 tháng 1, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM GỬI THƯ MỪNG TỔNG BÍ THƯ BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG NHÂN DÂN CÁCH MẠNG LÀO KHÓA XII

     Nhân dịp đồng chí Thongloun Sisoulith được bầu lại làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào khóa XII, ngày 8/1/2026, đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã gửi thư chúc mừng đồng chí Thongloun Sisoulith.

Nội dung thư mừng viết:

“Đồng chí Thongloun Sisoulith thân mến,

Nhân dịp Đồng chí được tín nhiệm bầu lại làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào khoá XII, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, tôi thân ái gửi tới Đồng chí lời chúc mừng nồng nhiệt nhất. Đây là sự ghi nhận xứng đáng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Lào đối với những đóng góp to lớn, trí tuệ và tâm huyết của Đồng chí trong suốt thời gian qua. Sự tín nhiệm cao của toàn Đảng, toàn dân đối với Đồng chí thể hiện niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Nhân dân cách mạng Lào trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tôi hết sức vui mừng và chân thành chúc mừng thành công của Đại hội đại biểu lần thứ XII của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, nhất là sự sáng tạo trong việc đề ra những tầm nhìn chiến lược và mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng mà Đại hội đề ra cho sự phát triển dài hạn của Lào trong thời gian tới. Tôi hoàn toàn tin tưởng, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào và vai trò quan trọng của Đồng chí, toàn Đảng và toàn dân Lào nhất định sẽ hoàn thành các mục tiêu mà Đại hội XII đề ra, xây dựng đất nước Lào hoà bình, độc lập, dân chủ, thống nhất và thịnh vượng.

Mối quan hệ truyền thống tốt đẹp, sự gắn bó thuỷ chung, trong sáng giữa Nhân dân hai nước Việt Nam - Lào do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Kaysone Phomvihane và Chủ tịch Souphanouvong đặt nền móng, dày công vun đắp, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Nhân dân cách mạng Lào trong tiến trình lịch sử đã trở thành tài sản chung vô giá của hai dân tộc và là quy luật phát triển chung của hai nước trên con đường phát triển đất nước phồn vinh, nhân dân ấm no, hạnh phúc. Tôi tin tưởng rằng, trên cương vị cao cả của mình, Đồng chí sẽ tiếp tục có những đóng góp quan trọng, góp phần tăng cường và phát triển mạnh mẽ hơn nữa mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, vì lợi ích và nguyện vọng của Nhân dân hai nước.

Nhân dịp này, tôi trân trọng chúc Đồng chí tiếp tục đạt được nhiều thành công trên cương vị cao cả của mình, tiếp tục có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Lào, cùng với các đồng chí lãnh đạo và Nhân dân hai nước Lào - Việt Nam tiếp tục vun đắp, làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện, gắn kết chiến lược Việt Nam - Lào.

Tôi mong sớm được đón Đồng chí sang thăm Việt Nam để chúng ta cùng đi sâu trao đổi những vấn đề chiến lược và đề ra những định hướng lớn cho tương lai phát triển tốt đẹp của quan hệ gắn kết chiến lược giữa hai nước.

Nhân dịp năm mới 2026, kính chúc Đồng chí luôn dồi dào sức khoẻ, hạnh phúc và thành công trên cương vị cao cả của mình”.

Cùng ngày, đồng chí Lê Hoài Trung, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng Ngoại giao đã gửi thư chúc mừng đến đồng chí Bounlea Phandanouvong, Ủy viên Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào và đồng chí Thongsavan Phomvihane, Ủy viên Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Bộ trưởng Ngoại giao nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào khoá XII./.
Yêu nước ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: QUÂN ĐỘI VENEZUELA ĐÃ "CHỌN PHE"?

     Trong những diễn biến được cho là chỉ kéo dài khoảng hai tiếng, việc một nguyên thủ bị đưa ra khỏi lãnh thổ trong khi quân đội Venezuela gần như không phản ứng đáng kể đã khiến tôi đặt câu hỏi liệu đây có phải là sự bất lực quân sự, hay là một điều gì khác sâu hơn?

Nếu nhìn kỹ, đặc biệt vào chi tiết quân đội Venezuela có phản ứng phòng không nhưng bắn hụt, để lộ vị trí rồi nhanh chóng bị Mỹ vô hiệu hóa - câu chuyện dường như mang một logic hoàn toàn khác.

Điểm quan trọng cần nhấn mạnh là quân đội Venezuela không hoàn toàn đứng yên. Có những loạt bắn nhắm vào trực thăng nhưng không trúng mục tiêu, không có chuỗi phản kích tiếp theo đáng kể, và nhanh chóng bị chấm dứt. Nhưng chính điều đó lại làm lộ ra nghịch lý lớn nhất.

Venezuela không phải một quốc gia thiếu rada, họ cũng không thiếu các tên lửa phòng không tầm thấp – tầm trung...Quân đội Venezuela lại đang được đặt trong bối cảnh sẵn sàng chiến đấu và cảnh giác 24/24. Căng thẳng quân sự kéo dài với Mỹ nên kịch bản xâm nhập đường không đã được tính đến suốt nhiều năm.

Vậy mà phản ứng phòng không chỉ ở mức bắn hụt cho có là điều khó chấp nhận nếu xét thuần túy quân sự. Một giả thuyết hợp logic hơn nhiều là: Quân đội Venezuela đã chủ động phản ứng ở mức tối thiểu để tạo dấu vết đã chống trả, nhưng không nhằm thay đổi kết cục.

Xét theo giả thuyết đó ta lại phải hỏi: vì sao cần làm vậy, có phải họ đã có một thỏa thuận ngầm với Mỹ? 

Nếu không phản ứng gì cả thì dễ bị xem là phản bội. Nếu phản ứng quyết liệt thì là phá vỡ thỏa thuận ngầm, leo thang thành chiến tranh...họ không đủ khả năng để thắng quân đội Mỹ. Vậy phản ứng vừa đủ để ghi nhận nghĩa vụ, nhưng không đủ để cản trở quá trình đã được định sẵn. 

Đây không phải điều mới trong lịch sử chuyển giao quyền lực nhạy cảm. Nó là kỹ thuật “phản ứng trình diễn” giúp quân đội Venezuela rửa trách nhiệm, và quan trọng nhất: giữ câu chuyện ở mức ‘đã có giao tranh’, tránh nghi vấn thông đồng lộ liễu.

Trình diễn không phải để che mắt bên ngoài. Mà để che mắt bên trong. Trong mọi quân đội không phải ai cũng biết trước kịch bản, không phải mọi đơn vị đều cùng mức độ đồng thuận, luôn tồn tại nhóm trung thành cá nhân - Một phản ứng tượng trưng nhằm trấn an các nhóm này, tránh nổ ra chia rẽ tức thì, giữ kỷ luật và trật tự chỉ huy. 

Nói cách khác đó là phản ứng để hệ thống không vỡ trong khoảnh khắc cá nhân nguyên thủ bị loại khỏi cuộc chơi.

120 phút , đó không phải là thời gian Mỹ thắng quân đội Venezuela, cũng không phải là khoảnh khắc phòng không Venezuela sụp đổ. Mà là khoảng thời gian hệ thống sở tại chủ động không cản trở, và chỉ diễn đúng phần việc cần thiết để câu chuyện khép lại hợp lý.

Khi một quân đội đã sẵn sàng kiểm soát mức độ phản ứng, giới hạn xung đột và chấp nhận vai người đứng ngoài có trách nhiệm thì kết cục đã được khóa từ trước. Nó cho thấy sự lựa chọn có tính toán của quân đội Venezuela .Hai tiếng đó không phải là lúc Venezuela mất kiểm soát, mà là lúc quyền lực được "tháo" ra khỏi một cá nhân nhưng không làm vỡ cả hệ thống. 

Venezuela là nước đa đảng, có lẽ nào quân đội đã chọn "bàn giao" Maduro để đổi lấy hòa bình, và nếu vậy thật thì bằng cách nào đó sẽ sớm có 1 cuộc bầu cử tổng thống mới.

Giả thuyết này cũng lý giải cho việc tại sao ông Trump lại nói trong họp báo rằng "Mỹ sẽ tiếp quản quá trình chuyển giao quyền lực tại Venezuela, và nếu cần thiết sẽ triển khai lực lượng để đảm bảo quá trình đó diễn ra suôn sẻ ".

Giả thuyết này cũng lý giải cho việc tại sao ông Maduro lại sử dụng đặc nhiệm Cuba để đảm bảo an ninh cá nhân mà không phải là đặc nhiệm Venezuela - 32 đặc nhiệm và tình báo Cuba đã tử vong trong chiến dịch bắt Maduro./.
Ảnh: Xung quanh dinh tổng thống Venezuela bố trí dày đặc các chốt tên lửa phòng không vác vai. Trực thăng của đặc nhiệm Mỹ là mồi ngon của mấy em này ==> vậy mà không hề có em nào khai hỏa trong suốt 2 tiếng đồng hồ đó?
Môi trường ST.

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: VIỆT NAM CHỦ TRÌ HỘI NGHỊ KHÔNG PHỔ BIẾN VŨ KHÍ HỦY DIỆT HẠT NHÂN!

     Từ ngày 7 - 8/1, tại thành phố Amman (Jordan), Việt Nam đã chủ trì Hội thảo tham vấn dành cho các nước khu vực Trung Đông - Bắc Phi trong khuôn khổ Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT). Hội thảo được tổ chức phối hợp với Văn phòng LHQ về các vấn đề giải trừ quân bị (UNODA) và Liên minh châu Âu (EU), với sự tham dự của đại diện 30 quốc gia, tổ chức quốc tế và viện nghiên cứu.

Đây là hội thảo khu vực thứ ba trong chuỗi tham vấn do Việt Nam tổ chức, nhằm chuẩn bị cho Hội nghị kiểm điểm NPT năm 2026, sau các cuộc họp tại Hà Nội và Addis Ababa. Sự kiện tạo diễn đàn để các nước trao đổi lập trường, ưu tiên và đề xuất, hỗ trợ Việt Nam chuẩn bị nội dung và điều hành Hội nghị kiểm điểm trên cương vị Chủ tịch được chỉ định./.
Môi trường ST.

Thứ Tư, 7 tháng 1, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: Ý NGHĨA CỦA CUỘC TỔNG TUYỂN CỬ ĐẦU TIÊN BẦU QUỐC HỘI VIỆT NAM (06/01/1946)!

     Cách đây tròn 80 năm, ngày 06/01/1946, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, mở đầu thời kỳ độc lập, tự do của dân tộc. Ngày 03/9/1945, Chính phủ lâm thời tổ chức phiên họp đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ “tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu, nghèo, tôn giáo, dòng giống…”.

Ngày 08/9/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ban hành Sắc lệnh số 14-SL quy định mở cuộc Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội; ban hành Sắc lệnh số 39-SL ngày 26/9/1945 về thành lập Uỷ ban dự thảo thể lệ cuộc Tổng tuyển cử; ban hành Sắc lệnh số 51-SL ngày 17/10/1945 quy định thể lệ cuộc Tổng tuyển cử phải thực hiện theo lối phổ thông đầu phiếu, bầu cử trực tiếp và bỏ phiếu kín; Sắc lệnh số 71-SL ngày 02/12/1945 bổ khuyết Điều 11 chương V của Sắc lệnh số 51-SL nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người ứng cử. Công tác chuẩn bị cho Tổng tuyển cử diễn ra rất khẩn trương trong bối cảnh thù trong, giặc ngoài; nền kinh tế - xã hội đang hết sức khó khăn. Cuộc Tổng tuyển cử lúc đầu dự kiến là ngày 23/12/1945 nhưng để thực hiện chủ trương thống nhất và hoà giải, có thêm thời gian cho công tác chuẩn bị và các ứng cử viên có điều kiện nộp đơn, đi vận động tranh cử; ngày 18/12/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh hoãn cuộc Tổng tuyển cử đến ngày 06/01/1946.

Ngày 05/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu. Đáp lại lời kêu gọi thiêng liêng của Tổ quốc, bằng ý chí sắt đá của một dân tộc quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do vừa giành được, toàn thể Nhân dân Việt Nam từ miền xuôi đến miền ngược, từ miền Bắc đến miền Nam, từ nông thôn đến thành thị, không phân biệt gái trai, già trẻ đã dành trọn ngày lịch sử - ngày 06/01/1946: Toàn dân đi bỏ phiếu bầu cử Quốc hội.

Ngày 06/01/1946, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên đã diễn ra trên cả nước, kể cả các vùng đang có chiến sự ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Ở Hà Nội đã có 91,95% cử tri của 74 khu nội thành và 118 làng ngoại thành đi bỏ phiếu trong không khí tràn đầy phấn khởi của ngày hội dân chủ. Kết quả, có 6 trong số 74 ứng cử viên đã trúng cử đại biểu Quốc hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh trúng cử với số phiếu cao nhất (98,4%).

Ở các địa phương khác trong cả nước, cuộc Tổng tuyển cử cũng được tiến hành sôi nổi. Riêng các tỉnh phía Bắc, mặc dù phải đối phó với âm mưu phá hoại hết sức tinh vi và trắng trợn của kẻ thù, nhưng cuộc Tổng tuyển cử diễn ra an toàn. Ở các tỉnh phía Nam, nhất là ở Nam Bộ, cuộc bầu cử diễn ra dưới bom đạn rất ác liệt của giặc Pháp.

Tổng số cử tri đi bỏ phiếu đạt tỷ lệ 89%, trừ một số nơi phải bầu bổ sung còn tuyệt đại đa số các địa phương chỉ bầu một lần. Cuộc Tổng tuyển cử đã bầu được 333 đại biểu, trong đó có 57% số đại biểu thuộc các đảng phái khác nhau; 43% số đại biểu không đảng phái; 87% số đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sỹ cách mạng; 10 đại biểu nữ và 34 đại biểu dân tộc thiểu số. Trong thành phần của Quốc hội có đại biểu đại diện cho cả ba miền Bắc - Trung - Nam, các giới từ những nhà cách mạng lão thành, thương gia, nhân sĩ trí thức và các nhà hoạt động văn hóa, đến đại biểu các thành phần tôn giáo, những người không đảng phái và các đảng phái chính trị.

Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của Việt Nam năm 1946 được tiến hành theo những nguyên tắc dân chủ, tiến bộ nhất, đó là: Phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín đã hoàn toàn thắng lợi. Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam) ra đời, thắng lợi đó là một mốc son đánh dấu bước phát triển nhảy vọt đầu tiên về thể chế dân chủ của nước Việt Nam.

Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam đánh dấu bước trưởng thành của Nhà nước cách mạng Việt Nam, mở ra một thời kỳ mới của đất nước ta có một Quốc hội, một Chính phủ thống nhất, một bản Hiến pháp tiến bộ và một hệ thống chính quyền hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho Nhân dân Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Cuộc bầu cử là căn cứ để khẳng định Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có tính chất hợp pháp, dân chủ - Nhà nước của dân, do dân và vì dân, được quốc dân giao phó trọng trách điều hành đất nước, tổ chức toàn dân kháng chiến, kiến quốc, giải quyết mọi quan hệ của Việt Nam trên trường quốc tế.

Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đã khẳng định chủ trương, đường lối của Đảng ta đúng đắn, sáng tạo, sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; thể hiện khát vọng được độc lập, tự do của Nhân dân Việt Nam.

Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử cũng đã khẳng định niềm tin tuyệt đối của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tinh thần yêu nước của Nhân dân ta; đồng thời, đó cũng là sự biểu thị khát vọng dân chủ của Nhân dân và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trải qua 80 năm xây dựng và phát triển, Quốc hội Việt Nam luôn là biểu tượng cao đẹp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là hiện thân của ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân. Quốc hội đã ban hành nhiều quyết sách quan trọng, đồng hành cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đưa đất nước ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (06/01/1946 - 06/01/2026) là dịp để chúng ta ôn lại truyền thống lịch sử hào hùng, khẳng định bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta – Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Đây cũng là dịp để mỗi cán bộ, đảng viên và người dân nâng cao nhận thức, lòng tự hào, củng cố niềm tin, đồng thời phát huy tinh thần trách nhiệm, chung sức đồng lòng xây dựng Quốc hội ngày càng vững mạnh, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững./.


Yêu nước ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: NHÂN DÂN BURKINA FASO BẢO VỆ LÃNH ĐẠO KHỎI ÂM MƯU ĐẢO CHÍNH DO PHÁP GIẬT DÂY!

     Âm mưu đảo chính do Pháp giật dây nhằm lật đổ Tổng thống Ibrahim Traoré tại Burkina Faso vào lúc 1 giờ sáng đã thất bại hoàn toàn.

Khi tin tức lan ra, hàng ngàn người dân thủ đô Ouagadougou đã tự nguyện đổ về Phủ Tổng thống, tạo thành một "lá chắn sống" bảo vệ vị lãnh đạo của họ.

Song song đó, lực lượng tình báo dưới sự chỉ huy của Chỉ huy Oumarou Yabré đã phản ứng thần tốc, chủ động ngăn chặn và vô hiệu hóa các phần tử nội gián cùng sự can thiệp từ bên ngoài. 

Sự kiện này một lần nữa khẳng định sức mạnh vĩ đại của lòng dân và ý chí độc lập dân tộc. Khi người dân đồng lòng đứng về phía chính nghĩa và bảo vệ chủ quyền, mọi âm mưu thâm độc từ các thế lực ngoại bang đều sẽ bị đánh bại./.
Môi trường ST.