Trong
bối cảnh hiện nay, việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ
Chí Minh trong công tác đối ngoại của Đảng càng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
sâu sắc. Trong đó, giữ vững các quyền
dân tộc cơ bản gắn với độc lập tự chủ, tự lực, tự cường. Bác đã dặn:
“Muốn người ta giúp cho, thì trước hết mình phải tự giúp lấy mình đã”; “Muốn
làm gì cũng cần vì lợi ích của dân tộc mà làm”; “Ta có mạnh thì họ mới chịu đếm
xỉa đến. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dẫu kẻ ấy có
thể là bạn đồng minh của ta vậy”(2). Người cũng đã đúc kết thành
chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Và chân lý ấy, đến ngày nay vẫn
là một yêu cầu thiết yếu trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế.
Hiện
nay, Việt Nam đang thực hiện tốt trách nhiệm Ủy viên không thường trực Hội đồng
Bảo an Liên hợp quốc và Chủ tịch ASEAN, đề cao vai trò của Liên hợp quốc trong
việc bảo đảm các quyền dân tộc cơ bản gắn với độc lập tự chủ của các nước, nâng
cao vai trò trung tâm của ASEAN trong khu vực, đóng góp tích cực vào công việc
chung của thế giới, trong đó có tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên
hợp quốc… Việt Nam cũng đã chủ động, tích cực thúc đẩy đàm phán, hợp tác giải
quyết những tồn tại trong phân định biên giới trên bộ và trên biển, vừa bảo vệ
được chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của ta theo phương châm đã được
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nêu rõ là “phải luôn kiên trì, bình
tĩnh, sáng suốt xử lý đúng đắn mọi vấn đề phức tạp, trong đó có vấn đề chủ
quyền, lãnh thổ”, “thực hiện phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”, nhất là
giữ “trái tim nóng, cái đầu lạnh” và “kiên quyết, kiên trì” để xử lý các thách
thức đối ngoại”(3). Việt Nam đang thể hiện lập trường chủ động, mạnh
mẽ, tích cực hơn về các vấn đề lợi ích cốt lõi của mình nhằm dẫn dắt dư luận,
tạo sự ủng hộ rộng rãi của quốc tế.
Tiếp đó, tư tưởng kết hợp sức mạnh dân tộc và sức
mạnh thời đại. Trong đó, tư tưởng chủ đạo là độc lập tự chủ, tự lực, tự cường
gắn với đoàn kết và hợp tác quốc tế. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “cái gốc, cái
điểm mấu chốt về chính trị, quân sự, kinh tế, nội chính, ngoại giao của ta là
tự lực cánh sinh”. Người nhấn mạnh: “Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi.
Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to, tiếng mới lớn”(4).
Bác Hồ cũng đã chú trọng xây dựng và phát huy sức mạnh của công tác đối ngoại
nhân dân, nhờ đó đã vận động được nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống thực
dân Pháp và đế quốc Mỹ. Bác đã dặn rằng: Sức mạnh, sự vĩ đại và sự bền bỉ của
nhân dân Việt Nam cơ bản là ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam và sự ủng hộ
của nhân dân thế giới....
Hiện nay, chúng ta đang tiếp tục tăng cường thế và lực, phát huy
sức mạnh của dân tộc theo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, bao gồm cả sức mạnh
vật chất và tinh thần; cả vị trí chiến lược quan trọng ở khu vực và các giá trị
lịch sử, truyền thống, văn hóa, lòng yêu nước, tinh thần cần cù lao động và ý
chí quật cường của dân tộc Việt Nam... Đồng thời, Đảng ta chủ trương kết hợp
sức mạnh đó với sức mạnh thời đại là các trào lưu tiến bộ chính trên thế giới,
cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và nền kinh tế tri thức, quá trình toàn cầu hóa
và hội nhập quốc tế, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển, đổi mới mô hình
tăng trưởng... Sau đại dịch SARS-CoV-2, Đảng và Chính phủ đang tận dụng tối đa
khả năng các nước và tập đoàn kinh tế lớn chuyển hướng tới thị trường Việt Nam;
đồng thời, tiếp tục thu hút nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
cho sự phát triển đất nước.
Tư tưởng yêu chuộng hoà bình, chống chiến tranh xâm
lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên định thực hiện mục tiêu cao
cả nhất của cách mạng là hòa bình, độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, chống
chiến tranh xâm lược với tinh thần: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định
không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Trong khi kiên quyết giữ
vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự xâm lược, đô hộ của
ngoại bang, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên trì đường lối hòa bình, hữu nghị,
hợp tác với các nước, trước hết là các nước lớn và các nước láng giềng, qua đó
đã thu hút được sự đoàn kết và ủng hộ của đông đảo nhân dân trên thế giới, ngay
cả nhân dân của các nước xâm lược từ bản xứ.
Trong
bối cảnh hiện nay, xu hướng chung của thế giới và khu vực vẫn là hòa bình, ổn
định, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển. Tuy nhiên, tình hình thế
giới có những thay đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường với những bất ổn như
xung đột ở Trung Đông, châu Phi, chủ nghĩa khủng bố, cạnh tranh chiến lược giữa
các nước, chủ nghĩa đơn phương, chính trị cường quyền, thiếu tôn trọng luật
pháp quốc tế, khiến thế giới đang phải đối mặt với nhiều vấn đề an ninh phi
truyền thống, đòi hỏi Đảng và Chính phủ ta phải vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ
Chí Minh trong các đối sách ngoại giao và hợp tác quốc tế.
Tư tưởng hòa hiếu, thêm bạn bớt thù. Từ
hoàn cảnh cách mạng, có lúc phải đối phó với nhiều đối thủ, Người có phương
châm“... làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiều bạn đồng minh hơn hết”.
Bác Hồ và Đảng ta phân biệt rõ bạn, thù, bạn gần, bạn xa, bạn lâu dài, bạn nhất
thời, tìm cách giảm bớt kẻ thù, để tập trung đấu tranh với kẻ thù chính. Ngay
khi còn trong nhà tù ở Trung Quốc (1942-1943), Bác Hồ đã bày tỏ đoàn kết với
phong trào chống thực dân của Ấn Độ. Năm 1944, Người đích thân đưa Trung úy phi
công W. Shaw đi Côn Minh trao trả cho Mỹ, qua đó để Mỹ hiểu cuộc chiến đấu của
Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh. Người cũng giáo
dục nhân dân ta phân biệt rõ bạn, thù, phân biệt thực dân Pháp và đế quốc Mỹ
với nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ để tranh thủ sự đoàn kết và ủng hộ của họ, cô
lập và chĩa mũi nhọn đấu tranh vào thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Đề
cao tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta chủ trương tiếp tục kiên trì nguyên tắc giữ
vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, đồng thời nêu cao tinh thần hòa hiếu
với tất cả các nước, đặc biệt các nước lớn và láng giềng; vận dụng phương châm
mà Bác Hồ đã chỉ đạo là “biến đại sự thành tiểu sự, tiểu sự thành vô sự”, cố
gắng không để bùng phát những vấn đề gây cấn, bất lợi trong quan hệ, ảnh hưởng
đến hòa bình, ổn định, an ninh, hợp tác và phát triển của ta.
Do
quan hệ quốc tế phức tạp, đa chiều, lợi ích các quốc gia, dân tộc nhiều khi đan
xen hoặc đối lập, Đảng ta đã có cách nhìn nhận biện chứng với phương châm “gác
lại quá khứ, hướng tới tương lai”; xác định đồng minh, đối thủ là bộ phận quan
trọng trong sách lược cách mạng, giúp xử lý hiệu quả các mâu thuẫn, thu hút sự
ủng hộ của bạn bè và cô lập kẻ thù. Tính biện chứng còn được thể hiện ở chỗ xác
định rõ các khái niệm “đối tác”, “đối tượng” nhằm phân biệt rõ “đối tác” cần
hợp tác và “đối tượng” cần đấu tranh trong từng trường hợp cụ thể. Đảng và Nhà
nước ta cũng đã thực hiện tốt các chủ trương từ “thêm bạn, bớt thù” trước đây
đến “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng
đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập, hợp tác và phát triển”. Tư tưởng
đó đã phát huy hiệu quả, đưa vai trò và vị thế quốc tế của Việt Nam lên một tầm
cao mới.
Tư tưởng mở cửa và hợp tác quốc tế. Chủ
tịch Hồ Chí Minh luôn thấu hiểu tầm quan trọng của việc mở cửa và hợp tác quốc
tế, ngay đầu tháng 12-1946, trong Lời kêu gọi gửi Liên hợp quốc, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã khẳng định: “Đối với các nước dân chủ, Việt Nam sẵn sàng thực thi
chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực”; đón nhận đầu tư của các nhà
tư bản và công nghệ nước ngoài; mở rộng các hải cảng, sân bay và đường sá giao
thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp
tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc...
Thấm
nhuần tư tưởng của Người, Đảng ta đã đề ra và kiên trì thực hiện chủ
trương mở cửa và hợp tác quốc tế. Nghị quyết số 22- NQ/TW
(10-4-2013) của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, “Chiến lược tổng thể về hội
nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” và Nghị quyết số 06-NQ/TW
(5-11-2016) của Ban Chấp hành TƯ khóa XII về thực hiện có hiệu quả tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh
Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng, tham gia hàng chục hiệp định kinh tế và
FTA thế hệ mới cả song phương, khu vực và đa phương thể hiện rõ chủ trương lớn
của Đảng về công tác đối ngoại.
Quá
trình mở cửa, hội nhập quốc tế của Việt Nam được đẩy mạnh cả về tư duy và thực
tiễn, đã chuyển mạnh từ phạm vi “hội nhập kinh tế” sang “hội nhập toàn diện”
với các nội dung chủ yếu là: hội nhập về kinh tế, chính trị, quốc phòng-an
ninh, văn hóa - xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và các lĩnh
vực khác như lao động, y tế, thể thao... Trong hợp tác chính trị và quốc phòng
- an ninh, Việt Nam đã tích cực tham gia các cơ chế như Cộng đồng Chính trị -
An ninh ASEAN (APSC), Hiệp ước thân thiện và hợp tác ASEAN (TAC, 1976), Hiệp
ước Khu vực phi vũ khí hạt nhân Đông Nam Á (SEANWFZ, 1995) cũng như các cơ chế
Đối thoại về an ninh như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc
phòng ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), Hội
nghị Cấp cao Đông Á (EAS).
Sáu là, tư tưởng “Ngoại giao là
một mặt trận”. Lịch sử đấu tranh của dân tộc ta chống các kẻ thù xâm lược
mạnh hơn gấp nhiều lần đã hình thành nên nghệ thuật kết hợp giữa ba hình thức
đấu tranh: chính trị, quân sự và ngoại giao. Trong đó, ngoại giao là một mặt
trận, là một trong những nội dung cốt lõi. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Dùng
binh giỏi nhất là đánh bằng mưu. Thứ hai đánh bằng ngoại giao. Thứ ba mới là
đánh bằng binh”, và cũng theo quan điểm của Người: Sau vấn đề phòng thủ, ngoại
giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập. Trên thực tế, đấu tranh
ngoại giao khôn khéo có thể tránh được xung đột hay chiến tranh hoặc có thể
“lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh
“ngoại giao ai thuận lợi hơn, thì thắng” và “có thể thắng trước kẻ thù xâm lược
mạnh hơn ta nhiều lần”.
Trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, nước ta đã duy trì được hòa
bình, ổn định, nguy cơ chiến tranh bị đẩy lùi nhưng công tác đối ngoại vẫn có
vai trò to lớn trong xử lý các vấn đề quốc tế. Đảng và Nhà nước ta tiếp tục đề
cao tầm quan trọng của mặt trận đối ngoại, kết hợp chặt với mặt trận chính trị
và bảo vệ quốc phòng - an ninh, tạo sức mạnh tổng hợp, giữ gìn hòa bình, ổn
định và thúc đẩy hợp tác phát triển. Mặt trận đối ngoại luôn được triển khai
chủ động, tích cực và toàn diện gồm ngoại giao chính trị, ngoại giao quốc phòng
- an ninh, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa. Trong đó, ngoại giao cùng
với quốc phòng, an ninh tạo thành thế chân kiềng vững chắc, tiếp tục đóng góp
chủ động, tích cực vào việc bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước
còn chưa nguy, phục vụ thiết thực các lợi ích an ninh, phát triển, nâng cao vị
thế đất nước.
Tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến” như một phương
pháp, phong cách và nghệ thuật đối ngoại của Hồ Chí Minh. Truyền
thống đấu tranh ngoại giao của cha ông ta đã hình thành một phương cách ứng xử
kiên trì về nguyên tắc nhưng linh hoạt, mềm mỏng, khéo léo về sách lược. Chủ
tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Mục đích bất di bất dịch của chúng ta vẫn là hoà
bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng
sách lược của ta thì linh hoạt”. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên trì giữ vững
mục tiêu cách mạng, đồng thời ứng phó linh hoạt, phù hợp với mọi sự biến chuyển
nhanh chóng và khó lường của tình hình, tương quan và tập hợp lực lượng, ý đồ
của các nước lớn… Trong bối cảnh mới, việc vận dụng tư tưởng “dĩ bất biến
ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn là một yêu cầu quan trọng. Cái “bất
biến” vẫn là lợi ích quốc gia, dân tộc, mà cốt lõi là độc lập dân tộc, chủ
quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và biển đảo của Tổ quốc, chế độ XHCN, vai
trò và quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cái “vạn biến” là sự biến
chuyển nhanh chóng, khó lường của tình hình, sự điều chỉnh chiến lược và chính
sách của các nước, của tương quan và tập hợp lực lượng, sự chuyển hóa của “đối
tác”, “đối tượng”… Đảng và Nhà nước ta đã và đang kiên trì nguyên tắc bất biến
là thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác
và phát triển, đồng thời tiếp tục thực hiện đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ
đối ngoại, xác định đúng đắn một cách biện chứng về “đối tác” và “đối tượng”
trong từng vấn đề thuộc lợi ích quốc gia, dân tộc để kịp thời đề ra những chính
sách, biện pháp hợp tác và đấu tranh phù hợp và hiệu quả.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã đạt được những
thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp giành độc lập dân tộc, giải phóng và thống
nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những thành tựu vĩ đại của dân tộc
có phần đóng góp hết sức quan trọng của công tác ngoại giao. Ngoại giao Việt
Nam đã luôn đồng hành cùng dân tộc trong mọi giai đoạn cách mạng. Ngày nay,
trong bối cảnh tình hình mới, ngoại giao Việt Nam tiếp tục vận dụng sáng tạo tư
tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại, đi tiên phong kiến tạo môi trường hòa bình, an
ninh, ổn định, hợp tác và kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời
đại nhằm phục vụ hiệu quả nhất cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng
cao uy tín và vị thế quốc tế của Việt Nam.
Bài viết rất hay
Trả lờiXóa