Thực tế cho thấy, chủ thể của sự tha hoá quyền
lực là một bộ phận những người có chức, có quyền, nên không phải ngẫu nhiên trong
di sản để lại, Hồ Chí Minh đã không ít lần cảnh báo những biểu hiện tha hóa
quyền lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên có chức quyền trong các tác phẩm: Chính phủ là công bộc của dân (19/9/1945); Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà (17/9/1945); Sao cho được lòng dân (12/10/1945); Bỏ cách làm tiền ấy đi (17/10/1945); Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh,
huyện và làng (17/10/1945); Tự phê bình (28/1/1946); Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ (1/3/1947); Thư gửi các đồng chí Trung bộ (1947); Sửa đổi lối làm việc (10/1947); Chủ nghĩa cá nhân (15/10/1948); Bệnh tự kiêu, tự ái (15/11/1948); Tự phê bình (20/5/1951); Tự phê bình và phê bình (14/2/1952); Chống quan liêu, tham ô, lãng
phí (31/7/1952); Bài
nói chuyện trong buổi khai mạc lớp chỉnh huấn cán bộ đảng, dân, chính ở các cơ
quan Trung ương (6/2/1953); Bài nói chuyện ở lớp chỉnh Đảng Trung ương khóa 3 (10/4/1953); Thật thà tự phê bình (9/2/1955); Người cán bộ cách mạng (3/3/1955); Đạo đức cách mạng (6/6/1955); Phải xem trọng ý kiến của quần chúng (21/8/1956); Đạo đức cách mạng (12/1958); Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch
chủ nghĩa cá nhân (3/2/1969); Di chúc (1965-1969),v.v..
Trong đó, Hồ Chí Minh chỉ rõ sự lộng quyền,
tùy tiện sử dụng quyền, tiếm quyền, lạm dụng quyền, trục lợi từ quyền, độc
đoán, chuyên quyền… của những cán bộ, đảng viên được trao quyền/cán bộ
lãnh đạo, quản lý đảm nhiệm các vị trí "có quyền" tại các cơ quan
công quyền. Cụ thể những biểu hiện đó là trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng,
chia rẽ, kiêu ngạo, địa phương chủ nghĩa, óc bè phái, óc quan phiệt quan liêu,
óc hẹp hòi, vô kỷ luật, kỷ luật không nghiêm, tham lam, hiếu danh, thiếu kỷ
luật, óc lãnh tụ, kéo bè kéo cánh, bệnh “cá nhân”, hưởng lạc, lãng phí của
công, tự tư tự lợi… Những biểu hiện này, ở những nơi khác nhau, những thời điểm
khác nhau có mức độ biểu hiện khác nhau, song tựu trung lại thì đó chính là sự
tha hóa quyền lực. Sự tha hóa này chính là "căn bệnh" không chỉ làm
mất đi tính tiền phong, gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên mà còn làm cho quần
chúng nhân dân bức xúc, không tin, không phục, không yêu, dẫn đến rạn nứt mối
quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân. Bởi vậy, Người từng cảnh báo: “Những
người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng
Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”;
“Những người ở các công sở, từ làng cho đến Chính phủ trung ương, đều dễ tìm
dịp phát tài, hoặc xoay tiền của Chính phủ, hoặc đục khoét nhân dân…Vì vậy,
những người trong công sở phải lấy chữ Liêm làm
đầu… Mình là người làm việc công, phải có công tâm, công đức. Chớ đem của công
dùng vào việc tư. Chớ đem người tư làm việc công. Việc gì cũng phải công bình,
chính trực, không nên vì tư ân, tư huệ, hoặc tư thù, tư oán. Mình có quyền dùng
người thì phải dùng những người tài năng, làm được việc… Chớ lên mặt làm quan
cách mệnh”.
Hồ Chí Minh đã khẳng định tư cách của một Đảng
chân chính cách mạng gồm 12 điều; trong đó có: “Đảng không phải là một tổ chức
để làm quan phát tài”; “vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ
phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên
tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính Đảng” và “Đảng không che giấu khuyết điểm
của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa
chữa, để tiến bộ và để dạy bảo cán bộ và đảng viên”; “Đảng phải luôn luôn tẩy bỏ
những phần tử hủ hóa ra ngoài”; “phải giữ kỷ luật rất nghiêm từ trên xuống
dưới”,v.v.. Đồng thời, Người cũng khẳng định: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết
điểm của mình là một đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình,
vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra
khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế mới
là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Ở đây, theo Hồ Chí Minh
sự “giấu giếm khuyết điểm của mình” cũng chính là một trong những biểu hiện sự
tha hóa quyền lực của tổ chức Đảng và những người có chức quyền trong Đảng và
muốn Đảng trong sạch, vững mạnh thì phải biết chỉ ra khuyết điểm và tìm cách
sửa chữa.
Để phòng và chống tha hóa quyền lực, làm cho
Đảng mạnh khỏe, chắc chắn, Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi tổ chức Đảng, mỗi cán bộ,
đảng viên phải thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng: Tập trung dân
chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; tự phê bình và phê bình; kỷ luật
nghiêm minh, tự giác; đoàn kết thống nhất trong Đảng; gắn bó mật thiết với nhân
dân,v.v.. Trong bài viết “Cách
làm việc tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách”, đăng trên báo Sự
Thật, số 100 (23/9/1948), Hồ Chí Minh nêu rõ: “Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ
trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau” và đây là một trong những nguyên tắc
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ở nhiều bài viết, bài nói khác, người cũng
nhấn mạnh yêu cầu phải thường xuyên, nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê
bình gắn với công tác kiểm tra và giám sát, để “huy động được tinh thần
tích cực và lực lượng to tát của nhân dân, mới biết rõ năng lực và
khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời”.
Theo Người, mỗi cán bộ, đảng viên nói chung,
người lãnh đạo, quản lý, đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị nói riêng
phải công tâm, kỷ luật, tự giác, thẳng thắn, triệt để trong thực thi quyền lực,
trong tự phê bình và phê bình theo đúng chức năng, nhiệm vụ của mình; “hằng
ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt.
Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ mạnh khỏe vô cùng”.
Trên tinh thần, đối với mình thì phải “cả quyết sửa lỗi”, đối với người thì “có
lòng bày vẽ”, trong tự phê bình và phê bình, mỗi cán bộ, đảng viên “phải xem trọng những phê bình và những
đề nghị của quần chúng. Những cán bộ (hoặc cơ quan, đoàn thể) được
phê bình cần phải thật
thà và công khai tự phê bình, ra sức sửa chữa… cần luôn luôn hoan nghênh quần chúng phê bình”,
để một mặt phát huy ưu điểm, mặt khác khắc phục những sai lầm, khuyết điểm để
giúp nhau cùng tiến bộ.
Đồng thời, phải hết sức chú trọng công tác
kiểm tra, giám sát; phải coi kiểm tra và giám sát là điểm xuất phát, là khâu
trung tâm trong phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội.
Thực tế cho thấy, “chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng
ta là vì thiếu sự kiểm tra”, nên càng phải thông qua công tác này để một
mặt, kiểm tra tính đúng đắn, phù hợp của chủ trương, đường lối của Đảng so với
thực tiễn, phát huy ưu điểm, phát hiện cái mới, cái tốt hơn nhằm điều chỉnh, đề
ra phương thức lãnh đạo sát hợp hơn; mặt khác, ngăn ngừa, khắc phục những biểu
hiện tha hóa quyền lực của tổ chức Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên có chức vụ
như lạm quyền, lộng quyền, trục lợi từ chức quyền, vô hiệu hóa quyền, độc đoán,
chuyên quyền,v.v..
Vì tự phê bình và phê bình và phê bình cùng
với công tác kiểm tra, giám sát có vai trò quan trọng và là mấu chốt để việc
thực thi quyền lực được đúng và trúng, cho nên, mỗi cán bộ, đảng viên nói
chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu nói riêng phải làm gương trong
tự phê bình và phê bình; phải thường xuyên kiểm tra và giám sát mọi lĩnh vực
công tác của tổ chức, đơn vị mình. Trong đó, phải học tập và thấm nhuần đường
lối, quan điểm của Đảng, phải luôn luôn chú ý nâng cao khả năng chuyên môn,
phải cố gắng công tác, phải trau dồi đạo đức cách mạng; “đặc biệt là phải nâng
cao ý thức tổ chức và kỷ luật, phải thật thà phê bình và tự phê bình để làm
gương mẫu trong việc chấp hành kỷ luật. Phải chí công vô tư, không thiên vị,
không thành kiến. Như thế thì mới làm tốt được công tác kiểm tra”. Thông qua tự
phê bình và phê bình, công tác kiểm tra và giám sát để từng bước ngăn ngừa
những tên “quan quyền”, “cường quyền” hách dịch, cửa quyền, lạm quyền, lộng quyền,
tiếm quyền, quan liêu, tham ô, tham nhũng, tiêu cực, lấn át chính quyền,v.v..
đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ.
Trong phòng và chống sự tha hóa quyền lực, Hồ
Chí Minh nhấn mạnh vai trò quan trọng của nhân dân đối với việc giám sát và
kiểm tra, tự phê bình và phê bình các tổ chức Đảng, cơ quan quan công quyền và
cán bộ, đảng viên đảm nhiệm vị trí lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu. Vì thế,
Người yêu cầu phải có sự phối hợp, kết hợp trong kiểm tra và giám sát giữa các
tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã
hội, để “kịp thời thấy rõ những khuyết điểm và những khó khăn, để sửa đổi các
khuyết điểm và tìm cách giúp đỡ để vượt qua mọi sự khó khăn”. Điều này không
chỉ thể hiện đầy đủ, sâu sắc tính dân chủ, khách quan, nhân văn trong công tác
kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng mà còn cho thấy vai trò và trách nhiệm của
cả hệ thống chính trị trong quyền soát quyền lực.
NQR
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét