Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn cho phép
chúng ta khẳng định dứt khoát rằng, ở nước ta không cần và không thể chấp nhận
thứ “dân chủ” mà các thế lực thù địch đang muốn áp đặt vào Việt Nam.
Trên phương diện lý luận, chúng ta đều biết, dân chủ là phạm trù
lịch sử, xuất hiện khi có nhà nước và mỗi nền dân chủ phải gắn với một nhà nước
nhất định, được pháp luật quy định. Lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng
minh rằng, dân chủ xuất hiện và phát triển với tính chất là sản phẩm trực tiếp
của đấu tranh giai cấp, đấu tranh xã hội, giải phóng loài người. Trong xã hội
có giai cấp, tuyệt đối không thể có thứ dân chủ chung chung, phi giai cấp. Dân
chủ tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và trình độ dân trí trong
từng giai đoạn lịch sử nhất định. Về điều này, C. Mác đã chỉ rõ: “Quyền không
bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã
hội do chế độ kinh tế đó quyết định”(1). Theo V.I. Lê-nin, điều cốt
tử nhất khi bàn đến vấn đề dân chủ là phải trả lời được câu hỏi, dân chủ của
ai, cho ai và vì ai? Tự do cho ai và vì ai? Bởi vì, trong xã hội có giai cấp,
dân chủ, tự do đối với bọn bóc lột có nghĩa là để áp bức những người bị bóc
lột.
Từ lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy,
nền dân chủ tư sản là một nấc thang đánh dấu sự phát triển đáng kể của dân chủ,
nhưng toàn bộ thiết chế của nền dân chủ tư sản, từ việc tổ chức nhà nước đến
các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện đều chỉ nhằm mục đích cao
nhất là bảo vệ sự thống trị của giai cấp tư sản, bảo vệ quyền sở hữu, lợi ích
của giai cấp tư sản, truyền bá tư tưởng tư sản chống lại tư tưởng tự do, dân
chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Theo V.I. Lê-nin, nền dân chủ
tư sản là nền dân chủ của một thiểu số những kẻ giàu có, dân chủ của giai cấp
tư sản, do giai cấp tư sản, vì giai cấp tư sản chứ không phải dân chủ cho đa số
nhân dân lao động. Còn dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự thay thế dân chủ tư sản
trong nấc thang phát triển cao hơn của xã hội loài người tuân theo quy luật
khách quan. Đó là nền dân chủ “gấp triệu lần” dân chủ tư sản. Bản chất của dân
chủ xã hội chủ nghĩa thể hiện trên các phương diện chủ yếu: 1- Là nền dân chủ
của nhân dân lao động, vì nhân dân lao động, thể hiện ở việc bảo vệ quyền sống,
quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của nhân dân lao động; 2- Dân chủ xã hội
chủ nghĩa thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do được bảo đảm về mặt pháp lý
để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân; 3- Dân chủ xã hội chủ nghĩa có nội
dung toàn diện, thể hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội, ý thức - tư tưởng, trong đó nổi bật là sự tham gia một cách bình đẳng
và ngày càng rộng rãi của những người lao động vào công việc quản lý nhà nước
và xã hội thông qua hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Tiêu chí
cơ bản của dân chủ xã hội chủ nghĩa là nhân dân là chủ và làm chủ.
Xét từ bản chất của dân chủ tư sản - thứ “dân
chủ” mà các thế lực thù địch đang muốn áp đặt vào Việt Nam và tính ưu việt của
dân chủ xã hội chủ nghĩa, thì việc lựa chọn tất yếu ở Việt Nam là nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa. Việt Nam hiện nay không cần và không chấp nhận dân chủ tư
sản.
Trên phương diện thực tiễn, dân chủ là bản chất của chế độ ta, vừa là mục
tiêu, vừa là động lực phát triển đất nước. Chúng ta đã và đang hoàn thiện nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
Quan điểm cho rằng, phải có đa đảng mới “có dân chủ và phát triển” là hoàn toàn
sai lầm. Trên thực tế, thể chế nhất nguyên một đảng lãnh đạo hoàn toàn không đồng
nghĩa với mất dân chủ, kém phát triển và kém dân chủ; dân chủ không đồng nghĩa
với đa nguyên, đa đảng. Trên thế giới hiện nay, có không ít nước đa đảng nhưng
vẫn mất dân chủ, vẫn là những nước nghèo, kém phát triển nhất; ngược lại, có
những nước chỉ có một đảng lãnh đạo, nhưng dân chủ được bảo đảm, kinh tế - xã
hội phát triển, đời sống nhân dân sung túc. Điều đó minh chứng rằng, đa nguyên,
đa đảng không phải là cứu cánh cho dân chủ và sự phát triển. Đúng như đồng chí
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Không phải có nhiều đảng thì dân
chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn”(2).
Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy,
Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng của giai cấp công nhân, đồng thời của nhân dân
lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân,
nhân dân lao động và toàn dân tộc ra sức hy sinh, phấn đấu cho nền dân chủ cao
đẹp nhất mà loài người từ xưa đến nay khát khao vươn tới - nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa. Chín mươi năm qua, với tư cách một đảng mác-xít chân chính, Đảng
Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp đấu tranh
giải phóng dân tộc, đưa nhân dân từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất
nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Cũng từ lịch sử nhân loại cho thấy một thực tế
đau xót đối với cách mạng thế giới, đó là sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở
Liên Xô và Đông Âu vào những năm 1989 - 1991. Đặc biệt, ở Liên Xô, dưới tác
động của âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, trong
đó có chiêu bài “dân chủ”, cùng sự phản bội của một số lãnh đạo cao cấp của
Đảng, Nhà nước đã dẫn tới hậu quả: Đại hội bất thường của các đại biểu nhân
dân, ngày 15-3-1990 quyết định xóa bỏ Điều 6 Hiến pháp Liên Xô về vai trò lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Bắt đầu từ điểm mốc này đã hình thành chế độ đa
đảng ở Liên Xô với vô số tổ chức, đảng phái chính trị “mọc lên như nấm”, trở
thành các lực lượng chính trị đối lập, cạnh tranh với Đảng Cộng sản Liên Xô, để
rồi dẫn tới một kết cục bi thảm: Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo đất
nước.
Các lập luận cổ vũ cho chế độ đa đảng ở Việt Nam
thường lấy khuôn mẫu các nước tư bản phương Tây làm ví dụ minh chứng mà không
hề quan tâm đến đặc điểm lịch sử - văn hóa, trình độ phát triển, tương quan lực
lượng chính trị trong xã hội. Một số người do thiếu hiểu biết nên ít nhiều đã
bị tiêm nhiễm bởi những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, lầm tưởng
cứ có nhiều đảng cạnh tranh thì sẽ dân chủ hơn, xã hội phát triển hơn. Hãy nhìn
sang một số nước tư bản hiện nay, nhất là nước Mỹ với sự tồn tại của 112 đảng,
nhưng chỉ có hai đảng (Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa) thay nhau cầm quyền. Tuy
bề ngoài là chế độ đa đảng đối lập, nhưng xét về bản chất chỉ là một đảng -
đảng của giai cấp tư sản. Vì thế, dù Đảng Dân chủ hay Đảng Cộng hòa nắm quyền
thì cũng đều là đảng của giai cấp tư sản, đại diện cho lợi ích của giai cấp tư
sản; dân chủ ở Mỹ không phải thứ gì khác ngoài nền dân chủ tư sản, nền dân chủ
chỉ dành cho thiểu số người giàu có trong xã hội. Điều này cũng dễ hiểu, tại
sao ở Mỹ, bên cạnh một xã hội với thiểu số những người có cuộc sống xa hoa, hào
nhoáng thì vẫn còn tồn tại một xã hội hoàn toàn đối lập, gồm hàng chục triệu
người đang phải sống trong sự bất công, thất nghiệp, đói nghèo, bệnh tật và
không được là chủ, làm chủ,... Chính người Mỹ - Giáo sư Trường Đại học
In-đi-a-na, Pôn Mi-slơ (Paul Mishler) đã chỉ rõ nguyên nhân của tình trạng này:
Mọi đói nghèo, thất nghiệp, thất học,... đều do lỗi của hệ thống, lỗi từ chủ
nghĩa tư bản Mỹ gây ra; nước Mỹ tự xưng là đa đảng, nhưng thực chất chỉ là một
đảng, đó là đảng của chủ nghĩa tư bản(3), cho dù là Đảng Cộng hòa
hay Đảng Dân chủ.
Như vậy, thực chất luận điệu cốt yếu nhất “đa
nguyên chính trị, đa đảng đối lập” để chuyển từ chế độ “toàn trị” sang “dân
chủ”, để có “dân chủ và phát triển” là mang tính chất mị dân, phản động, hết
sức nguy hiểm, bởi rất dễ gây nên sự ngộ nhận, nhất là đối với những người có
nhận thức hạn chế; từ đó, có thể gây nên sự mơ hồ, lẫn lộn, dẫn tới sự dao động
về tư tưởng, hoài nghi, phân tâm trong xã hội; làm suy giảm niềm tin của nhân
dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những luận điệu này hướng vào
xóa bỏ, gây nên những khó khăn nhất định trong quá trình xây dựng nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa, đe dọa mất ổn định chính trị - xã hội gây mầm cho mâu thuẫn
và xung đột xã hội chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc...
Mục tiêu của các thế lực thù địch khi cổ xúy cho
cái gọi là “dân chủ” là nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ thành
quả cách mạng, hướng lái đất nước theo nền dân chủ tư sản, tước đi quyền làm
chủ của nhân dân đã giành được bằng xương máu của nhiều thế hệ. Để không xảy ra
những hậu quả tai hại đó, thì ở Việt Nam hiện nay nhất thiết không cần và không
thể chấp nhận cái gọi là “dân chủ” mà các thế lực thù địch thường
xuyên rêu rao, kích động!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét