Tấn công trực diện
vào những vấn đề cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Đảng ta, nhất là xuyên tạc
về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là âm mưu, thủ đoạn thâm
độc, nham hiểm của các thế lực thù địch. Do đó, việc xây dựng những luận chứng
khoa học để kịp thời phản bác, bẻ gãy những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù
địch và bảo vệ tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận của Đảng ta
hiện nay.
Các đối tượng tung thông tin xuyên tạc, sai
trái, thù địch về hình ảnh và tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm các tổ chức phản
động lưu vong, nhất là những phần tử trong chế độ cũ; một số chính phủ, tổ chức
phi chính phủ phương Tây, chính trị gia, nhà tài phiệt có tư tưởng cực hữu chính
trị, chống cộng, đi đầu trong âm mưu xóa bỏ chủ nghĩa xã hội; những phần tử cơ
hội, cực đoan, bất mãn chính trị trong nước; những đối tượng “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa”, suy thoái, biến chất, “trở cờ”,… Phương thức và thủ đoạn chống
phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nhất là khoác áo
“khách quan khoa học”, đội lốt “phản biện xã hội” để ngụy tuyên truyền, đánh
tráo học thuật, xảo biện các vấn đề cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh; triệt
để lợi dụng những đặc tính vốn là ưu thế nổi trội của các phương tiện truyền
thông xã hội biến thành công cụ đắc lực chống phá con đường và sự nghiệp cách
mạng Việt Nam… Việc nhận diện bản chất, bóc trần các thủ đoạn, từ đó xây dựng
hệ luận cứ căn bản để phản bác những luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc về
tư tưởng Hồ Chí Minh, qua đó góp phần giữ vững trận địa tư tưởng, củng cố địa
vị chủ đạo hệ tư tưởng của Đảng ta trong đời sống tinh thần xã hội, có vai trò
đặc biệt quan trọng.
Thứ nhất, phản bác luận điệu liên quan đến việc phủ nhận Hồ Chí Minh
là nhà tư tưởng.
Để thực hiện âm mưu xóa bỏ nền tảng tư tưởng
của Đảng, “hạ bệ thần tượng”, các thế lực thù địch và các phần tử phản động, cơ
hội chính trị dùng nhiều chiêu trò, cách thức khác nhau. Họ xuất phát từ quan
niệm học thuật phương Tây, cường điệu hóa, tán dương những nhà tư tưởng, triết
học tư sản, từ đó cho rằng “Hồ Chí Minh không phải là nhà tư tưởng” (?!).
Khi định nghĩa về nhà tư tưởng, V.I. Lê-nin
lưu ý: “Một người xứng đáng là nhà tư tưởng khi nào biết giải quyết trước người
khác tất cả những vấn đề chính trị - sách lược, các vấn đề về tổ chức, về những
yếu tố vật chất của phong trào không phải một cách tự phát”(1). Từ
chỉ dẫn của V.I. Lê-nin, để nhận thức Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng, phải hiểu
thấu cả trước tác, hoạt động thực tiễn, phẩm chất cá nhân và sự nghiệp mà Người
để lại cho dân tộc và nhân loại.
Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng thiên tài, nhà
lý luận kiệt xuất. Tư tưởng của Người không chỉ ở những câu chữ hoặc trước tác
mà nằm ở chiều sâu nội dung và ý nghĩa cao cả của nó, vừa kế thừa và phát triển
các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa
nhân loại, chứa đựng khát vọng cháy bỏng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,
thấm đẫm triết lý nhân sinh, thân dân... Ở Hồ Chí Minh thể hiện sự thống nhất,
hòa quyện giữa tư tưởng, đạo đức và phong cách; giữa lý luận và thực tiễn; giữa
tri và hành; giữa lời nói và việc làm. Dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lê-nin,
xuất phát từ thực tiễn và nguyện vọng của quần chúng bị áp bức, Hồ Chí Minh đã
thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc mình và góp phần giải phóng các dân tộc
thuộc địa. Do đó, có thể hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh với ý nghĩa là “học thuyết”,
là một hệ thống những luận điểm, quan điểm về những vấn đề cơ bản của cách mạng
Việt Nam được xây dựng trên một nền tảng thế giới quan và phương pháp luận duy
vật biện chứng nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, được
hình thành theo đúng quy luật phát triển và trở lại chỉ đạo hoạt động thực
tiễn, cải tạo hiện thực.
Các thế lực thù địch công kích, xuyên tạc tư
tưởng Hồ Chí Minh, coi tư tưởng của Người chỉ là sự sao chép nguyên bản, áp
dụng khiên cưỡng chủ nghĩa Mác - Lê-nin hoặc “đi trên cỗ xe Nho giáo đến với
chủ nghĩa Mác - Lê-nin” (?!). Luận điệu này không hiểu hoặc cố tình xuyên tạc
sự thật về tính thống nhất, vận dụng sáng tạo và bổ sung phát triển của tư
tưởng Hồ Chí Minh đối với kho tàng lý luận kinh điển. Mác - Ăng-ghen bàn nhiều
về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, Lê-nin bàn nhiều về cuộc đấu tranh
chống chủ nghĩa đế quốc. Xuất phát từ yêu cầu và đòi hỏi của thực tiễn cách
mạng châu Âu, các nhà lý luận Mác - Lê-nin tập trung vào giải quyết vấn đề giai
cấp. Còn tư tưởng Hồ Chí Minh dành sự quan tâm đặc biệt đến cuộc đấu tranh
chống chủ nghĩa thực dân ở thuộc địa, giải quyết mâu thuẫn dân tộc, làm cách
mạng dân tộc giải phóng. Hồ Chí Minh là một trong số ít các tác giả trong lịch
sử có được một công trình đồ sộ nghiên cứu về chủ nghĩa thực dân. Trong tác
phẩm: “Hồ Chủ tịch - Nhà lý luận xuất sắc về chủ nghĩa thực dân và phong trào
giải phóng dân tộc”, ông Handache Gilbert viết: “Sự phân tích về chủ nghĩa thực
dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến lúc đó vượt hẳn tất cả những gì mà những nhà
lý luận mác-xít đề cập đến. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng nên một tổng hợp
những lý thuyết về sự giải phóng khỏi sự áp bức thực dân, có sức mạnh không thể
chối cãi được”(2). Giáo sư Nhật Bản Shingo Shibata khẳng định Hồ Chí Minh đã
góp phần đào sâu và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin đối với các
vấn đề dân tộc thuộc địa và “cống hiến nổi tiếng của cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ
Người đã phát triển quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc. Như
vậy tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết định lấy vận mệnh của mình”(3).
Vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo thắng lợi cuộc cách mạng ở Việt Nam, mở
đường cho các dân tộc và thuộc địa vùng lên thực hiện sự nghiệp giải phóng.
Những học giả chân chính trên thế giới đều
khẳng định “Hồ Chí Minh - nhà tư tưởng”(4) và nhấn mạnh: “Những
quan điểm lý luận của Hồ Chí Minh và khả năng của Người trong việc sử dụng sáng
tạo phương pháp lịch sử và duy vật để giải quyết các hiện tượng xã hội là nguồn
gốc của những tư tưởng lỗi lạc của Người. Những tư tưởng của Người đã được kiểm
nghiệm trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, mở ra những tiềm năng chưa từng có
cho các phong trào giải phóng dân tộc”(5).
Thứ hai, phản bác luận điệu khẳng định không có tư tưởng Hồ Chí
Minh về chủ nghĩa xã hội.
Các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc rằng, Hồ
Chí Minh có quan điểm sâu sắc về giải phóng dân tộc, nhưng hoàn toàn không có
tư tưởng về chủ nghĩa xã hội (?!). Họ xảo biện rằng, toàn bộ sự nghiệp cách
mạng do Hồ Chí Minh lãnh đạo tập trung cho giải phóng dân tộc, thống nhất đất
nước... Những luận điệu xuyên tạc trên không chỉ bài bác tư tưởng Hồ Chí Minh,
mà còn nham hiểm tách biệt tư tưởng Hồ Chí Minh với bản chất khoa học, cách
mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin.
Sự thật là, Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn giải
phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, để đấu tranh chống ách áp bức,
bóc lột tàn bạo, vô nhân đạo, đấu tranh xóa bỏ nghèo nàn, “giặc dốt” và lạc
hậu, nhằm tạo ra một xã hội mới theo mục tiêu, lý tưởng tốt đẹp của chủ nghĩa
xã hội. Đây là vấn đề hiện hữu trên thế giới, có ý nghĩa thời đại cấp bách cần
phải giải quyết. Cống hiến lớn của Hồ Chí Minh cho cách mạng Việt Nam là tư
tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là sự lựa chọn duy nhất
đúng, một đột phá lý luận rất cơ bản về con đường, mục tiêu và phương thức phát
triển của cách mạng. Từ cách mạng giải phóng dân tộc phải đi tới cách mạng xã
hội chủ nghĩa và trong khi tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa vẫn tiến hành
giải phóng dân tộc theo phương thức thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược
cách mạng. Theo Người, trong hoàn cảnh một nước thuộc địa thì trước hết phải
giành cho kỳ được độc lập dân tộc. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng
hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. Muốn có độc lập, tự do
thực sự thì phải xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người chỉ rõ: “Từng bước một, trong
cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lê-nin, vừa làm công tác thực tế,
dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải
phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách
nô lệ”(6). Về lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội trong di sản Hồ Chí
Minh, Giáo sư Shingo Shibata viết: “Một trong những cống hiến quan trọng của Cụ
Hồ Chí Minh và của Đảng Lao động Việt Nam là đã đề ra lý luận về chủ nghĩa xã
hội trong khi vẫn tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân. Theo tôi được biết, Đảng
Lao động Việt Nam là đảng đầu tiên trong các đảng mác xít trên thế giới áp dụng
lý luận này”(7).
Chỉ riêng trong bản Di chúc của
Người có tới ba lần viết về cụm từ “chủ nghĩa xã hội”: Đảng cần chăm lo đào tạo
thanh niên “thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa
“chuyên”; Đảng và Chính phủ chọn một số chiến sĩ trẻ tuổi trong lực lượng vũ
trang và thanh niên xung phong ưu tú nhất cho đi học thêm các ngành, các nghề,
để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập
trường cách mạng vững chắc, “là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng
lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta”; Người có ý định “thay mặt nhân dân đi thăm và
cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa và các nước bầu bạn khắp năm
châu”... Điều quan trọng hơn, toàn bộ Di chúc chứa đựng tinh
thần, tầm nhìn đổi mới, hội nhập, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ
nghĩa. Và, cái đích của chủ nghĩa xã hội được khẳng định trong Di chúc là
“Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và
văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”(8).
Người mong muốn xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, dân chủ, giàu
mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu; nói đến “thắng giặc Mỹ, ta
sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”. Khát vọng của Người là xây dựng, phát triển
đất nước Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội.
Thứ ba, phản bác luận điệu cho rằng không có nghị quyết của UNESCO
tôn vinh Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất.
Luận điệu xuyên tạc trên không chỉ nhằm bôi
nhọ, hạ thấp hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh, mà còn tấn công vào những giá trị
của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên cơ sở hệ giá trị tư tưởng
cách mạng của giai cấp công nhân, kế thừa, phát triển tinh hoa văn hóa dân tộc
và nhân loại, mà ở Người chính là sự hội tụ và phát huy đến mức cao nhất những
tinh hoa văn hóa đó.
Sự thực là, Quyển 1 của Nghị quyết trong “Tập
biên bản của Đại hội đồng UNESCO Khóa họp 24 tại Pari, ngày 20-10 - 20-11-1987”
có đầy đủ nội dung liên quan đến việc tổ chức kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ
tịch Hồ Chí Minh và tôn vinh Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa
kiệt xuất Việt Nam”. Quyển 1 Nghị quyết được xuất bản bằng 6 thứ tiếng, có kích
thước khổ giấy A4 (20cm x 30cm), bìa màu xanh lá cây đậm, dày 220 trang. Ngoài
trang mở đầu và mục lục (từ trang I đến trang IX), tập Nghị quyết gồm 13 mục và
phần Phụ lục(9). Trong mục III: Chương trình hành động giai đoạn
1988 - 1989 có ghi: A: Các chương trình hành động lớn; và B: Các hoạt động tổng
thể của chương trình, trong đó có hoạt động các ngày kỷ niệm (mục 18.6). Mục
18.6.5. Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nghị quyết
24C/18.65 về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là Anh
hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam là một văn kiện
quan trọng của UNESCO ghi nhận những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh
trong cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân
chủ và tiến bộ xã hội.
Năm 2010, liên quan đến sự kiện Nghị quyết của
UNESCO, ông Hans D’Orville, Phó Tổng Giám đốc UNESCO đã phát biểu tại lễ
mít-tinh tại Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp: “Năm 2010 là dịp kỷ niệm lần thứ
120 Ngày sinh của Người, và đây cũng là dịp để chúng ta ôn lại sự kiện cách đây
hơn 20 năm, vào năm 1987, tổ chức UNESCO đã quyết định kỷ niệm 100 năm Ngày
sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (năm 1990) như một trong những nhân vật quan trọng và
kiệt xuất của lịch sử”(10). Cũng nhân dịp kỷ niệm 120 năm Ngày sinh
Chủ tịch Hồ Chí Minh, phát biểu tại Hội thảo khoa học quốc tế “Di sản
Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay”, bà Katherine Muller Marin, Trưởng Đại
diện Văn phòng UNESCO tại Hà Nội nhấn mạnh: “Tôi có mặt tại đây hôm nay để hoàn
thành sứ mệnh của Nghị quyết được Đại hội đồng UNESCO thông qua tại khóa họp
lần thứ 24 của cơ quan này tại Pari năm 1987, về việc kỷ niệm Ngày sinh của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, vị Anh hùng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất”(11).
Thứ tư, phản bác luận điệu cho rằng tư tưởng, đạo đức của Hồ Chí
Minh đã “lỗi thời”, không còn phù hợp.
Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, hiện nay
là thời đại của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, khoa học - công nghệ hiện
đại..., nên những tư tưởng hay những quan niệm về đạo đức của Hồ Chí Minh đã
bộc lộ những “sự lỗi thời”, “lạc hậu”, “khắc kỷ”, “không còn phù hợp” với thời
đại (?!)...
Sự thật là, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ
Chí Minh vẫn giữ nguyên sức sống và giá trị thời đại, bởi bản chất cách mạng,
khoa học và nhân văn của chính những tư tưởng, đạo đức đó và bởi sự vận dụng
sáng tạo những tư tưởng vượt trước thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào thực
tiễn Việt Nam, của Đảng Cộng sản Việt Nam, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa
chiến lược và sách lược cách mạng trong toàn bộ tiến trình cách mạng xã hội chủ
nghĩa. Trải qua hơn 91 năm từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn “kiên định
và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh;... là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả
nghiêng, dao động”(12).
Tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh thể hiện tấm
gương ngời sáng của người cộng sản mẫu mực, người chiến sĩ suốt đời đấu tranh,
dâng hiến cả cuộc đời và sự nghiệp của mình cho lý tưởng và mục tiêu giải phóng
dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Người
đã thâu thái những giá trị văn hóa đạo đức của nhân loại để làm giàu trí tuệ
của mình, định hướng giá trị đạo đức trong thời đại mới về tinh thần quốc tế
trong sáng, chống chia rẽ, bất bình đẳng, phân biệt chủng tộc. Bạn bè năm châu
khâm phục và coi Người là biểu tượng cao đẹp của những giá trị về tư tưởng, lương
tri và phẩm giá làm người, hướng con người tới chân, thiện, mỹ. Giá trị thời
đại trong tư tưởng, đạo đức của Người còn được đánh giá cao bởi sự kết hợp hài
hòa giữa lợi ích dân tộc và lợi ích cộng đồng quốc tế, giữa chủ nghĩa yêu nước
chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, phù hợp với xu thế vận động, phát
triển của quan hệ quốc tế hiện đại. Đạo đức và tinh thần quốc tế trong sáng,
thủy chung, trước sau như một của Hồ Chí Minh là tài sản vô giá của dân tộc
Việt Nam và nhân loại.
Sinh thời, Người từng nói: “Học thuyết của
Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêxu
có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm
là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu
điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta. Khổng
Tử, Giêxu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những điểm chung đó sao? Họ
đều muốn “mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm
nay, họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất
định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi
cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”(13). Đúng như nhà
nghiên cứu Hélène Tourmaire đã khẳng định: “Hình ảnh của Hồ Chí Minh đã hoàn
chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học
Mác, thiên tài cách mạng của Lê-nin và tình cảm của người chủ gia tộc, tất cả
bao bọc trong một dáng dấp rất tự nhiên”(14). Giá trị đạo đức Hồ Chí
Minh không phải là con số cộng cơ học của những giá trị trên, mà là sự tổng
hòa, hội tụ, hòa hợp tự nhiên tất cả lại để làm giàu trí tuệ và phẩm chất của
mình. Đó là một giá trị đạo đức phổ quát mà nhân loại đang nỗ lực xây dựng,
phát huy, tôn vinh và học hỏi để nâng tầm thời đại và tiến bộ trong xã hội văn
minh hiện đại ngày nay.
Những chuẩn mực “trung, hiếu, cần, kiệm, liêm,
chính”... là những khái niệm thuộc hệ đạo đức Nho giáo, chứa đựng nội dung hạn
hẹp, nhưng được Người đưa vào nội dung mới, có ý nghĩa khoa học, cách mạng và
nhân văn. “Trung với nước, hiếu với dân” là mối quan hệ thể hiện trách nhiệm
hành động, quyết tâm, suốt đời, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân
dân; Người đấu tranh với mọi cái ác, cái xấu, tham ô, lãng phí, quan liêu, để
hướng đến xây dựng “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”, “thanh khiết từ to đến
nhỏ”(15). Vì vậy, Tổng thống Chile đã trả lời nhà báo về ba phẩm
chất của nhà hoạt động chính trị mà ông muốn có là “Nhất quán, nhân đạo, khiêm
tốn cao cả của Hồ Chí Minh”(16).
Người luôn căn dặn mỗi cán bộ, đảng viên, nhân
dân, đặc biệt là thế hệ trẻ cần phải rèn luyện đạo đức hằng ngày, tu dưỡng suốt
đời, để tránh sa vào chủ nghĩa cá nhân. Dù với cuộc đời nào và sống như thế
nào, đạo đức và lối sống của Người vẫn giữ đúng nguyên tắc: lấy khiêm tốn giản
dị làm nền, lấy chừng mực điều độ làm chuẩn, lấy trong sạch, thanh cao làm vui,
lấy yêu thương con người làm trọng, lấy gắn bó giữa con người với thiên nhiên
làm niềm say mê vô tận. Đúng như một nhận xét sâu sắc, tinh tế về Người “là một
cuộc đời thanh tao, không gợn chút riêng tư, luôn tôn trọng nguyên tắc, có niềm
tin vào sự thật và chính nghĩa”(17).
Đảng ta khẳng định, tư tưởng, đạo đức, phong
cách Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi
soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đi đến thắng lợi; hơn thế còn
dẫn đường cho nhân loại đi đến hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã
hội. Trên cương vị Chủ tịch Hội đồng hòa bình thế giới, ông Romesh Chandra
viết: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn
cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có
Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu, nhân dân chiến đấu
cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ
Chí Minh bay cao”(18).
Để đưa dân tộc ta vững bước tới tương lai, một
nhiệm vụ quan trọng đặt ra là phải đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo
đức, phong cách Hồ Chí Minh; đồng thời kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan
điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh
bằng tất cả sức mạnh của vũ khí phê phán, làm cho học thuyết khoa học và cách
mạng của chúng ta luôn tỏa sáng./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét