Hiện nay, các thế lực thù địch đưa ra nhiều ý kiến mang tính phiến diện, cực đoan, thể hiện cái nhìn thiếu khách quan, thậm chí luận điệu xuyên tạc về tình hình tôn giáo và chính sách tôn giáo của Việt Nam được diễn giải theo mưu đồ chính trị nhằm phủ nhận sự đổi mới chính sách về tôn giáo để chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Bài viết góp phần nhận diện những luận điệu xuyên tạc về tự do tôn giáo ở Việt Nam và luận cứ bác bỏ những luận điệu này.
1. Nhận
diện những luận điệu sai sự thật về tự do tôn giáo ở Việt Nam
Với cái
nhìn thiếu thiện chí, một số quốc gia phương Tây vu cáo Việt Nam đàn áp, kiểm
soát, giới hạn tự do tôn giáo thông qua các điều khoản luật “mơ hồ”.
Trong các
báo cáo thường niên của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ và Báo cáo tự do
tôn giáo quốc tế của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, từ góc nhìn thiên lệch và thiếu
khách quan, thường đưa ra nhiều nhận định chủ quan rằng “chủ nghĩa vô thần
chống tôn giáo”, quyền tự do tôn giáo bị vi phạm nghiêm trọng. Trong Báo cáo
thường niên mới nhất của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế vẫn cho rằng tình trạng
vi phạm tự do đức tin và thực hành tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam chưa được
cải thiện, rằng việc thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là trái với các tiêu
chuẩn nhân quyền quốc tế và vi phạm có hệ thống tự do tôn giáo(1).
Trên cơ sở
Báo cáo thường niên của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế năm 2021, Bộ Ngoại giao
Hoa Kỳ trong Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế năm 2021 nhận định, luật pháp Việt
Nam quy định sự kiểm soát đáng kể của Chính phủ đối với các hoạt động tôn giáo,
trong đó bao gồm nhiều điều khoản “mơ hồ” để hạn chế quyền tự do tôn giáo vì
lợi ích của an ninh quốc gia và đoàn kết xã hội(2). Nhiều tổ chức ở Hoa Kỳ liên
tục chỉ trích Việt Nam trong vấn đề pháp nhân tôn giáo. Họ cho rằng, Luật Tín
ngưỡng, tôn giáo duy trì một quy trình đăng ký và công nhận với nhiều giai đoạn
áp dụng cho các nhóm tôn giáo(3), đặc biệt là với các nhóm tôn giáo ở vùng sâu,
vùng xa, vùng các dân tộc thiểu số và nhóm tôn giáo mới.
Mặc dù Báo
cáo Tự do tôn giáo quốc tế năm 2021 cũng ghi nhận một số cải thiện về tự do tôn
giáo ở Việt Nam, song nhìn chung, vẫn cáo buộc Việt Nam hạn chế quyền tự do tôn
giáo, cho rằng chính quyền đóng cửa khu vực màu xám (tức các nhóm tôn giáo chưa
đăng ký hoạt động) và cáo buộc Việt Nam hình sự hóa hoạt động tôn giáo.
Như vậy,
trong cách nhìn nhận của các tổ chức này, việc Chính phủ Việt Nam ban hành Luật
Tín ngưỡng, tôn giáo thực chất là nhằm “quản chế” và “trừng phạt” các hoạt động
tôn giáo, khiến cho các hoạt động tôn giáo trở nên khó khăn hơn. Họ lập luận
rằng, Việt Nam chưa thực sự xem tổ chức tôn giáo như một nguồn lực xã hội mà
vẫn xem đây là một thực thể chính trị, điều này dẫn tới việc cản trở đức tin và
thực hiện đức tin tôn giáo vẫn tiếp diễn.
Mỹ cũng
thường xuyên phối hợp với các nước trong Liên minh châu Âu (EU) gây sức ép với
Việt Nam trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền và tôn giáo. Điển hình nhất là Nghị
quyết về tình hình nhân quyền và tự do tôn giáo tại Việt Nam do Nghị viện châu
Âu thông qua ngày 26-11-2009. Sau khi Nghị quyết ra đời, Ủy ban và Hội đồng
châu Âu đã tạo sức ép đối với Việt Nam về các vấn đề liên quan đến tôn giáo,
nhân quyền trong các tiêu chuẩn để thương lượng về hiệp định thương mại tự do
FTA.
Tổ chức
theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch - HRW) có trụ sở tại New York, Hoa Kỳ
trong các tờ trình gửi tới EU thường xuyên bày tỏ mong muốn EU gây sức ép để
Việt Nam ngừng can thiệp vào các công việc tôn giáo và có các biện pháp cụ thể
để ngăn chặn “nạn công an bạo hành”. Gần đây, trong Báo cáo thế giới năm 2021,
tổ chức này đã xếp Việt Nam vào nhóm các nước vi phạm nhân quyền, vi phạm quyền
tự do tôn giáo. Báo cáo này cáo buộc Việt Nam “sách nhiễu và dùng vũ lực đàn áp
các nhóm tôn giáo” hoạt động bên ngoài các định chế tôn giáo chính thức do Nhà
nước kiểm soát(4).
Bên cạnh
đó, các nước như Anh, Ôxtrâylia, Đức cũng thường xuyên đưa ra các Báo cáo nhân
quyền liên quan đến Việt Nam, yêu cầu Việt Nam sửa đổi Hiến pháp và các quy
định của pháp luật mà theo họ là không tương thích với luật pháp quốc tế. Họ
lớn tiếng kêu gọi thả các “tù nhân lương tâm”, “tù nhân tôn giáo” mà thực chất
là những đối tượng mượn danh tôn giáo vi phạm pháp luật Việt Nam.
Một số cá
nhân, tổ chức cực đoan ở nước ngoài có tư tưởng thù địch với chế độ có quan
điểm lệch lạc cho rằng, Việt Nam có “hai chính sách tôn giáo”: chính sách bảo
đảm trên hình thức và “chính sách” không bảo vệ, thông qua “cơ chế xin - cho”
và tạo lập các “tôn giáo quốc doanh”.
Một số
nhóm người Việt sống lưu vong ở nước ngoài có tư tưởng thù địch, chống đối chế
độ liên kết trực tiếp hoặc gián tiếp với các tổ chức phản động quốc tế để lên
án tất cả các vấn đề của Việt Nam, trong đó có vấn đề tôn giáo. Họ thông qua
nhiều hình thức như tổ chức các cuộc hội luận, họp báo, phát tán tài liệu, đăng
đàn nhiều quan điểm trên không gian mạng... để tuyên truyền xuyên tạc Đảng và
Nhà nước Việt Nam “kiểm soát tôn giáo”, khiến cho các tôn giáo ở Việt Nam bị
buộc phải im tiếng hay biến thành công cụ của Nhà nước. Mục đích của những luận
điệu này là tập trung gây chia rẽ, khoét sâu mâu thuẫn giữa tôn giáo với chính
quyền.
Quan điểm
sai trái của một số cá nhân, tổ chức bất mãn trong nước, Việt Nam thực hiện
chính sách “độc tài cai trị”, “đàn áp tôn giáo”, khống chế không gian phát
triển của tôn giáo.
Một số tổ
chức, cá nhân trong nước tận dụng những kẽ hở của luật pháp và những bất cập,
sơ hở trong quản lý, tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo để gây bất ổn về an
ninh trật tự tại địa phương. Chúng triệt để lợi dụng các vụ tranh chấp, khiếu
kiện liên quan đến đất đai, cơ sở thờ tự của tôn giáo nhằm chính trị hóa sự
việc, kích động hoạt động chống đối, gây tâm lý bức xúc, nghi ngờ trong xã hội.
Một số tu
sĩ, chức sắc có mưu đồ xấu và nhận thức lệch lạc nêu vấn đề, muốn có tự do tôn
giáo phải thành lập khu tôn giáo tự trị hòng gây chia rẽ đoàn kết tôn giáo.
Một bộ
phận tu sĩ, chức sắc tôn giáo nhận được sự hậu thuẫn từ các tổ chức cực đoan
trong và ngoài nước cố tình xuyên tạc vấn đề dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam, kích
động tín đồ đòi “tự do tôn giáo” và “quyền tự trị dân tộc”. Tại Tây Bắc và Tây
Nghệ An, họ lập đạo Vàng Chứ để thành lập “Vương quốc Mông tự trị”. Tại Tây
Nguyên, họ yêu sách với chính quyền đòi thành lập “Nhà nước Đề Ga độc lập” với
quốc giáo là Tin lành Đề Ga. Tại Tây Nam Bộ, họ đòi thành lập “Nhà nước Khơ me
Crôm” với “Phật giáo riêng của người Khơ me”. Đây thực chất là mưu đồ “tôn giáo
hóa vùng dân tộc thiểu số”, kích động lòng thù hận dân tộc, làm xuất hiện chủ
nghĩa dân tộc cực đoan, gây nguy hại đến an ninh quốc gia.
2. Luận cứ
bác bỏ những luận điệu sai lệch về tự do tôn giáo ở Việt Nam
Về căn cứ
pháp lý
Tôn trọng
quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng là chính sách nhất quán, thể hiện xuyên suốt
từ cương lĩnh chính trị đến nghị quyết, văn kiện, báo cáo chính trị của Đảng
Cộng sản Việt Nam và thể hiện rất rõ trong Hiến pháp.
Ngay sau
khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bản Hiến pháp đầu tiên - Hiến
pháp năm 1946 đã quy định quyền tự do tín ngưỡng là một quyền hiến định của
nhân dân. Quyền tự do tín ngưỡng của công dân tiếp tục được mở rộng nội hàm
trong các Hiến pháp năm 1959 và năm 1980. Đặc biệt, Hiến pháp năm 1992 nhấn
mạnh quyền bình đẳng trước pháp luật của các tôn giáo, Nhà nước phải có nghĩa
vụ bảo hộ cho các cơ sở thờ tự của các tổ chức tôn giáo. Điều 24 Hiến pháp năm
2013 tiếp tục khẳng định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo
hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà
nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”(5).
Cụ thể hóa
Hiến pháp, quyền tự do tôn giáo còn được bảo đảm xuyên suốt trong các luật cơ
bản. Luật Hình sự, Luật Tố tụng hình sự, Luật Giáo dục, Luật Tổ chức Chính phủ
đều có điều khoản quy định về bảo vệ quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng.
Trong suốt
hơn 35 năm đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nỗ lực bảo đảm quyền
tự do tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên CNXH của Đảng khẳng định: “Thực hiện nhất quán chính sách tôn
trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng”(6). Trong Báo cáo chính trị tại Đại
hội VII, Đảng ta khẳng định: “Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín
ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện bình đẳng, đoàn kết lương
giáo và giữa các tôn giáo”(7). Nghị quyết số 25-NQ/TW và Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) làm sâu
sắc thêm những nguyên tắc của Đảng về vấn đề tự do tôn giáo, tín ngưỡng.
Đặc biệt,
văn kiện của các kỳ đại hội Đảng đều nhất quán quan điểm tôn trọng quyền tự do
tôn giáo, tín ngưỡng. Trong đó, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nhìn nhận tổ
chức tôn giáo như một nguồn lực xã hội và chủ trương: “Phát huy những giá trị
văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát
triển đất nước”(8).
Nhằm cụ
thể hóa các quan điểm của Đảng và thể chế hóa Hiến pháp năm 2013, Luật Tín
ngưỡng, tôn giáo đã được Quốc hội thông qua ngày 18-11-2016, đã tạo hành lang
pháp lý quan trọng để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tín đồ, chức sắc,
các tổ chức tôn giáo và người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam.
Có thể
thấy, quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam đã được hiến định và thể chế
hóa bằng pháp luật, thể hiện nhất quán hòng chỉ đạo công tác lập pháp tôn giáo.
Từ lý
thuyết đến thực tiễn sinh động
Bức tranh
khởi sắc về đời sống tôn giáo ở Việt Nam là minh chứng sống động nhất cho quyền
tự do tôn giáo, tín ngưỡng. Với chính sách tôn giáo ngày càng cởi mở, đến nay,
Nhà nước đã công nhận 41 tổ chức thuộc 16 tôn giáo với khoảng hơn 26 triệu tín
đồ, chiếm khoảng 27% dân số cả nước(9). Năm 1990, Nhà nước chỉ công nhận 6 tôn
giáo thì đến nay số tôn giáo được thừa nhận đã tăng 2,5 lần và con số này sẽ
còn tiếp tục tăng.
Cùng với
đó là sự gia tăng đáng kể số lượng tín đồ, chức sắc, chức việc, cơ sở thờ tự,
cơ sở đào tạo tôn giáo và kinh sách xuất bản hằng năm(10). Điều này cho thấy sự
quan tâm và quyết tâm cao của Đảng và Nhà nước ta trong việc hiện thực hóa
chính sách tự do tôn giáo, tín ngưỡng vào thực tiễn đời sống.
Trên thực
tế, xuất phát từ quan điểm đổi mới, tôn giáo ở Việt Nam được nhìn nhận là “một
bộ phận của khối đại đoàn kết dân tộc”, được tạo điều kiện để thực sự trở thành
nguồn lực xã hội quan trọng, đóng góp không chỉ trên phương diện văn hóa, đạo
đức mà còn trên các phương diện kinh tế, chính trị, an sinh xã hội, giáo dục, y
tế, từ thiện nhân đạo.
Việt Nam
đã tích cực đăng cai tổ chức nhiều diễn đàn, hội nghị tôn giáo quốc tế và khu
vực, tham gia ký kết nhiều điều ước quốc tế về tôn giáo, thực hiện các cuộc đàm
phán ngoại giao với các tổ chức quốc tế về tình hình tôn giáo và chính sách tôn
giáo ở Việt Nam.
Trong bối
cảnh mở cửa, hội nhập quốc tế, chính sách tôn giáo của Việt Nam ngày càng thông
thoáng theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tôn giáo trong nước
có mối quan hệ giao lưu, hợp tác với các tổ chức tôn giáo quốc tế(11). Nhiều
hoạt động nghi lễ tôn giáo mang tầm khu vực và quốc tế được Nhà nước tạo điều
kiện tổ chức như Đại lễ Phật đản Vesak của Phật giáo năm 2008, 2014 và 2019; Lễ
Năm thánh 2010 và Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á châu năm 2012 của Công
giáo; Lễ kỷ niệm 500 năm Tin lành cải chính năm 2017 của Tin lành... cho thấy
không gian phát triển ngày càng rộng mở của các tôn giáo ở Việt Nam.
Sự thật
không thể phủ nhận
Cùng với
quá trình đổi mới chính sách tôn giáo, thành tựu của việc tôn trọng, bảo đảm
quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam là hết sức rõ ràng. Dù có vu cáo,
áp đặt đến đâu thì sự thật mà cộng đồng quốc tế không thể phủ nhận đó là - Việt
Nam là nhà nước pháp quyền XHCN về tôn giáo với những đặc điểm của nhà nước thế
tục, được xây dựng dựa trên hai chân đế là tự do tôn giáo và chính giáo phân
ly. Do đó, luận điệu vu cáo Việt Nam đàn áp, kiểm soát, giới hạn tự do tôn giáo
thông qua các điều khoản luật “mơ hồ” là vô căn cứ và thiếu tính khách quan.
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo gồm 09 chương, 68 điều, trong đó đưa ra những quy
định cụ thể về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Dựa trên cơ sở pháp lý đó,
trong thực tiễn, tín đồ các tôn giáo đều được bảo đảm quyền sinh hoạt tôn giáo
theo nghi lễ truyền thống; người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được
tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tôn giáo; tổ chức tôn giáo được Nhà nước công
nhận được đối xử bình đẳng trước pháp luật; chức sắc tôn giáo được tự do truyền
đạo và được phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm theo quy định của pháp luật.
Về vấn đề
đăng ký và công nhận tổ chức tôn giáo, đây là mô hình mà một số nước trên thế
giới lựa chọn và áp dụng, quy định cụ thể trong luật pháp của từng nước chứ
không chỉ riêng Việt Nam. Thí dụ, Luật Pháp nhân tôn giáo của Nhật Bản, Luật Tự
do lương tâm và các hiệp hội tôn giáo của Liên bang Nga... Việc các nước phương
Tây lớn tiếng chỉ trích Việt Nam gây khó khăn cho các nhóm tôn giáo với quy
trình nhiều bước, nhất là các nhóm tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, vùng các dân
tộc thiểu số và nhóm tôn giáo mới hoàn toàn là cách nhìn thiên lệch, thiếu
thiện chí.
Quy trình
và thủ tục để được công nhận tổ chức tôn giáo ở Việt Nam từ Pháp lệnh tín
ngưỡng, tôn giáo năm 2004 đến Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã có nhiều
bước tiến đáng kể theo hướng giảm bớt thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận
lợi hơn cho các tổ chức tôn giáo khi có nhu cầu đăng ký. Điển hình là việc giảm
bớt thời lượng từ 23 năm xuống còn tối thiểu là 5 năm để tổ chức tôn giáo được
công nhận trước pháp luật.
Đối với
các nhóm tôn giáo vùng dân tộc thiểu số, Nhà nước Việt Nam đã cấp đăng ký hoạt
động và công nhận cho 311 chi hội, 1.742 điểm nhóm của đạo Tin lành ở Tây
Nguyên, 14 chi hội và 797 điểm nhóm Tin lành ở khu vực miền núi phía Bắc. Chính
trong Báo cáo thường niên năm 2020 của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ đã
ghi nhận điều này như một nỗ lực tích cực của Việt Nam(12). Đối với các nhóm
phái của Phật giáo, Công giáo, Hồi giáo, Bà la môn... hoạt động tại các vùng
dân tộc thiểu số cũng được Nhà nước Việt Nam thừa nhận và cho phép tự do hoạt
động. Một số nhóm tôn giáo phát triển trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và
nhóm tôn giáo mới chưa được thừa nhận mà một số luận điệu đánh giá là “bị chính
quyền Việt Nam sách nhiễu” thực chất là các hoạt động lợi dụng tôn giáo để
chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chẳng hạn, tại Tây Nguyên, các nhóm “Hà
Mòn”, “Giáo hội Tin lành Đấng Christ Việt Nam”, “Cây Thập giá Chúa Jêsu Krits”
đều muốn tạo lập tôn giáo mới của dân tộc thiểu số với tên gọi “Tin lành Đề ga”
hay “Công giáo Đề ga”, tiến tới phát triển thành quốc giáo của “Nhà nước Đề ga
tự trị” nhằm thực hiện ý đồ kích động đòi ly khai dân tộc.
Đối với
các cá nhân được nhắc tên trong Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế của Hoa Kỳ mà
được cho là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân tôn giáo” nêu trong các bản báo cáo
nhân quyền của một số nước phương Tây và trên một số diễn đàn xã hội thực chất
là những công dân Việt Nam nhân danh tôn giáo để có các hoạt động vi phạm pháp
luật, chống đối Nhà nước, làm tổn hại đến an ninh quốc gia.
Việc Nhà
nước Việt Nam truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các cá nhân đó theo quy định
của pháp luật là hết sức bình thường bởi quyền lợi luôn đi liền với trách
nhiệm, nghĩa vụ. Quyền lực tư pháp không can dự vào khía cạnh tinh thần, nhưng
sẽ có những can thiệp cần thiết đối với hành vi lợi dụng giá trị tinh thần để
kích động cộng đồng. Do đó, bảo vệ quyền tự do tôn giáo đồng thời phải có sự
giới hạn cần thiết đối với quyền tự do tôn giáo nếu quyền này xâm phạm quyền tự
do của người khác hoặc gây tổn hại đến phúc lợi công cộng. Điều này là hoàn
toàn tương thích với quy định trong khoản 3 điều 18 Công ước Quốc tế về các
quyền dân sự và chính trị: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có
thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an
ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền
và tự do cơ bản của người khác”(13).
Về luận
điệu cho rằng, các tôn giáo ở Việt Nam bị nhìn nhận dưới lăng kính chính trị
cũng là hoàn toàn sai lầm, không có cơ sở hiện thực. Các tôn giáo ở Việt Nam
tham gia tích cực vào các hoạt động hướng đích xã hội với tư cách là thực thể
xã hội, là nguồn lực xã hội. Tôn giáo tham gia phát triển kinh tế thông qua tổ
chức sản xuất nông nghiệp, làm đồ thủ công mỹ nghệ, kinh doanh văn hóa phẩm, đồ
dùng việc đạo; cung ứng các dịch vụ tâm linh, hướng dẫn tín đồ chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, áp dụng thành tựu khoa học - công nghệ vào sản xuất; phát triển du
lịch tâm linh... Nhiều chức sắc, tín đồ tôn giáo tham gia vào các tổ chức chính
trị - xã hội và các cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các cấp). Các
tôn giáo tích cực tham gia ký kết chương trình hành động nhằm bảo vệ môi
trường, nhiều mô hình điểm được triển khai hiệu quả. Trên lĩnh vực giáo dục,
các tôn giáo đóng góp chủ yếu vào hệ thống giáo dục mầm non và dạy nghề. Về y
tế, từ thiện nhân đạo, các tôn giáo đóng góp sôi nổi và đạt được nhiều kết quả
đáng ghi nhận(14).
Theo đó,
các luận điệu cho rằng, Việt Nam thực hiện hai chính sách, Việt Nam thực hiện
“độc tài cai trị”, “đàn áp tôn giáo” hay “tự do tôn giáo chỉ có được khi thành
lập khu tự trị tôn giáo” cũng là sự bịa đặt, vu khống, phải kiên quyết bác bỏ.
Đó là những mưu đồ xấu nhằm kích động tư tưởng cực đoan, những nhận thức sai
lầm, lệch lạc trong bộ phận người dân có nhận thức mơ hồ về quan điểm tôn giáo,
dân tộc và thiếu kiên định lập trường tư tưởng.
Như vậy,
tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng cho mọi người dân là
chính sách nhất quán, luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam nỗ lực thực hiện
trong thực tiễn bằng ý chí và quyết tâm cao. Các luận điệu cố tình xuyên tạc,
bóp méo sự thật về tự do tôn giáo ở Việt Nam là cái cớ để các lực lượng cực
đoan can thiệp vào nội bộ chính sách của Việt Nam, tạo sức ép cho Việt Nam trên
các diễn đàn quốc tế nhằm “cải cách” Việt Nam theo hướng tự do, dân chủ phương
Tây, từ đó chuyển hóa chế độ chính trị của Việt Nam. Tuy nhiên, với những thành
quả đã đạt được từ lý luận cho đến thực tiễn trong suốt quá trình đổi mới, sự
thật về quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam là không thể phủ nhận. Chúng ta sẵn
sàng nhận diện và đấu tranh không khoan nhượng với mọi mưu đồ lợi dụng tôn giáo
để chia rẽ, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, quyết tâm phấn đấu thực hiện
thắng lợi mục tiêu, lý tưởng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam
đã lựa chọn là “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” ở Việt Nam.
_________________
(1) Xem
United States Commission on International Religious freedom: 2021 annual
report, https://www.uscirf.gov.
(2), (3)
United States Department of State: 2021 Report on International Religious
Freedom, https://www.state.gov.
(4) Xem:
Human Rights Watch: World Report 2021, https://www.hrw.org.
(5) Hiến
pháp năm 2013, https://thuvienphapluat.vn.
(6) ĐCSVN:
Văn kiện Đảng toàn tập, t.51, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.146.
(7) ĐCSVN:
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr
78.
(8) ĐCSVN:
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia
sự thật, Hà Nội, 2021, tr.171.
(9) Bộ Nội
vụ: Danh mục các tổ chức tôn giáo được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn
giáo tính đến tháng 12-2020; Ban Tôn giáo Chính phủ, Báo cáo tổng kết tình hình
công tác tôn giáo năm 2019 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2020 (tháng
01-2020).
(10) Năm
1990, nước ta chỉ có khoảng 38.000 chức sắc, nhà tu hành, đến nay tăng lên
61.200 chức sắc, 147.000 chức việc, trong đó tăng nhiều nhất là chức sắc của
Phật giáo và của đạo Tin lành. Tín đồ gia tăng khắp nơi trong cả nước. Cơ sở
thờ tự của tôn giáo được xây dựng ngày càng nhiều về số lượng và mở rộng về quy
mô. Tổng số cơ sở thờ tự trong cả nước là 29.854 cơ sở. Cơ sở đào tạo của tôn
giáo so với năm 1990 đã tăng gấp 3 lần, lên đến hơn 60 cơ sở với 17 trường đào
tạo trình độ đại học. Hằng năm, hàng trăm ấn phẩm tôn giáo được xuất bản với
hàng triệu bản in trên các ngôn ngữ khác nhau như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng
dân tộc thiểu số.
(11) Xem
Nguyễn Thị Bạch Tuyết: Quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam, Hội
thảo quốc tế Tôn giáo và pháp quyền ở Đông Nam Á, Hà Nội, tháng 9-2006.
(12) Xem:
United States Department of State: 2020 Report on International Religious
Freedom, https://www.state.gov.
(13)
International Covenant on Civil and Political Rights, https://www.ohchr.org.
(14) Xem:
Viện Tôn giáo và tín ngưỡng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Nguồn lực
tôn giáo: Kinh nghiệm trên thế giới và ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2020,
tr 370-379.
TS PHẠM THANH HẰNG - lyluanchinhtri.vn - 20.04.2023
Mọi người dân hãy tỉnh táo, cảnh giác trước những luận điệu sai trái và đấu tranh vạch trần âm mưu của các thế lực thù địch.
Trả lờiXóa