BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI GẮNVỚI QUỐC PHÒNG, AN NINH CỦA CHA ÔNG TA TRONG LỊCH SỬ DỰNG
NƯỚC VÀ GIỮ NƯỚC
Ngày nay, Thế giới loài người tiếp tục chứng kiến
nhiều biến đổi phức tạp và khó lường. Toàn cầu hoá và Hội nhập quốc tế tiếp tục
phát triển sâu rộng và tác động tới tất cả các nước. Các quốc gia lớn, nhỏ đang
tham gia ngày càng tích cực vào quá trình hội nhập quốc tế. Hoà bình, hợp tác
và phát triển vẫn là xu thế lớn, phản ánh đòi hỏi bức xúc của các quốc gia, dân
tộc trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, các cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột
vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp
lật đổ, khủng bố vẫn xẩy ra ở nhiều nơi với tính chất và hình thức ngày càng đa
dạng và phức tạp. Do vậy nhận thức đầy đủ về Hoạt động đối ngoại gắn với quốc
phòng , an ninh trong thực tiễn lịch sử dân tộc Việt Nam là quan trọng và cần
thiết:
Trong lịch sử
mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã đúc kết nên bài học kinh
nghiệm quý báu về kết hợp đối ngoại với quốc phòng, an ninh tạo nên sức mạnh tổng
hợp để giải phóng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Bài học quốc
phú - binh cường - nội yên - ngoại tĩnh được thực hiện trong nhiều triều đại phong kiến. Đây được coi là bốn trụ cột
của “Quốc thái dân an”, “Thái bình thịnh trị” của các triều đại phong kiến thịnh
trị ở Việt Nam trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước.
Lý Thường Kiệt
đã khẳng định rằng: Vừa đánh địch, vừa dùng “biện sĩ bàn hòa, không nhọc tướng
ta, khỏi tốn máu mủ mà bảo an được tông miếu”.
Trần Quốc Tuấn đã đúc kết: Hòa mục là một đạo rất hay cho việc trị nước,
dùng binh; hoà ở trong nước thì ít dụng binh, hòa ở biên cương thì không sợ báo
động.
Nguyễn Trãi
luôn coi trọng kết hợp giữa tác chiến với ngoại giao tâm công để đánh vào lòng địch
là “vũ khí mạnh như vũ bão, sắc như gươm đao”, “có sức mạnh của 10 vạn quân”.
Các triều đại phong kiến Việt Nam luôn chủ trương
xây dựng binh cường với kết tình “giao hảo” khôn khéo, mềm dẻo để gìn giữ hoà
bình, bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước, ngăn ngừa chiến
tranh.
Kế thừa,
phát triển truyền thống của dân tộc, vận dụng, phát triển lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa ngoại giao các lĩnh vực của đời sống
xã hội vào điều kiện cụ thể cách mạng nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:
“Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng”. Quan điểm về “Thực lực là
cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng”[1]
của Hồ Chí Minh thể hiện tính sáng tạo, tầm nhìn chiến lược trong việc vận dụng
thế giới quan, phương pháp luận cách mạng, khoa học vào nhận thức và giải quyết
mối quan hệ biện chứng giữa đối ngoại, ngoại giao với kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội, khoa học, quốc phòng, an ninh... tạo nên sức mạnh tổng hợp đánh thắng
kẻ thù giải phóng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong sự nghiệp tái thiết đất nước sau chiến tranh để vừa góp phần giữ vững thành quả cách mạng đã đạt được, đưa đất nước phát triển Đảng ta xác định: Sau vẫn để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội để diệt giặc đói, mở mang giáo dục để diệt giặc dốt cho nhân dân và đẩy mạnh phòng thủ để diệt giặc ngoại xâm, thì ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập. Ngoại giao, đối ngoại gắn kết chặt chẽ với các lĩnh vực của đời sống xã hội để tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn để bảo vệ và phát triển thành quả cách mạng...
[1]
Hồ Chí Minh, Toàn tập,
tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.147.
bài rất ý ghĩa
Trả lờiXóa