Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, miền Bắc được hoàn toàn được giải phóng, song sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vẫn còn tiếp tục. Song khi đó, những biểu hiện cá nhân chủ nghĩa, sự suy thoái về đạo đức, lối sống, tâm trạng “hưởng thụ thời bình” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã trở thành nguy cơ đe dọa uy tín, vị thế của một Đảng cầm quyền. Nhận thức rõ những gian nan, trắc trở, những khó khăn phức tạp của tiến trình cách mạng và sớm tiên liệu được tình hình, với bút danh Trần Lực, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm “Ðạo đức cách mạng”. Trong đó, Người khẳng định vai trò quan trọng của đạo đức cách mạng; chỉ rõ kẻ thù của đạo đức cách mạng là chủ nghĩa cá nhân; nêu những nguy cơ rời xa đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời, nêu rõ những biện pháp để ngăn ngừa và sửa chữa căn bệnh đó.
Phần đầu tác phẩm, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nói về lịch sử cuộc đấu tranh của con người với giới tự nhiên; quá trình lao động sản xuất để sinh tồn; vai trò sức mạnh của số đông, của tập thể, của xã hội và nhấn mạnh rằng trong thời đại văn minh, mọi việc càng phải dựa vào lực lượng của tập thể, của xã hội, mà còn khẳng định: “Chủ nghĩa cá nhân là trái ngược với chủ nghĩa tập thể và chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa xã hội nhất định thắng, chủ nghĩa cá nhân nhất định phải tiêu diệt”[2]. Đồng thời, Người cũng khẳng định, sự phát triển của các phương thức sản xuất, và sự tiến bộ của xã hội loài người, từ công xã nguyên thuỷ đến cộng sản chủ nghĩa là một tất yếu khách quan, không thể đảo ngược. Và trong hành trình phát triển đó, cùng với sự phát triển của lịch sử, xã hội, giai cấp đã xuất hiện. Cũng là một tất yếu khách quan, cuộc đấu tranh giai cấp giữa những người bị bóc lột và những kẻ bóc lột, giữa “bọn phong kiến địa chủ, bọn tư bản và đế quốc” và “những tầng lớp người khác, nhất là công nhân và nông dân” ngày càng quyết liệt. Vì vậy, để giành lấy thắng lợi trong cuộc đấu tranh đó, cách mạng nhất định phải do Đảng Cộng sản - đội tiền phong của “giai cấp công nhân lãnh đạo”, vì đó là “giai cấp tiên tiến nhất, giác ngộ nhất, kiên quyết nhất, có kỷ luật nhất và tổ chức chặt chẽ nhất”. Điều này đã được lịch sử chứng minh và đó là xu thế của thời đại.
Tiếp đó, không chỉ nhận thức rõ tính chất quyết liệt, cam go của cuộc đấu tranh giai cấp, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh rằng: Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới “là một sự nghiệp rất vẻ vang”, nhưng cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, phức tạp, lâu dài và gian khổ. Vì thế, muốn giành thắng lợi thì “người cách mạng cần phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng”, để khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước, vì lợi ích chung mà không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình, thậm chí sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình và “đó là biểu hiện rất rõ rệt, rất cao quý của đạo đức cách mạng”. Đồng thời, khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, không lo kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hoá, v,v.. Thực tế, đã có rất nhiều những người con ưu tú của Đảng như Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai… là tấm gương mẫu mực của đạo đức cách mạng; đã vì Dân, vì Đảng “mà oanh liệt hy sinh, nêu gương chói lọi của đạo đức cách mạng chí công vô tư cho tất cả chúng ta học tập”.
Cũng theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì dù là một Đảng Mácxít - Lêninnít, song được xây dựng và phát triển ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, nên trong mỗi người cán bộ, đảng viên cũng vẫn còn hoặc nhiều, hoặc ít vết tích xấu xa của chế độ xã hội cũ - đó chính là chủ nghĩa cá nhân - kẻ thù của đạo đức cách mạng. Nếu chỉ cần còn lại trong mình, “dù là ít thôi, thì nó sẽ chờ dịp để phát triển, để che lấp đạo đức cách mạng, để ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng”. Trong khi đó, chủ nghĩa cá nhân không chỉ thường ẩn nấp trong mỗi con người, luôn chờ dịp “để ngóc đầu dậy”, mà còn là một thứ “vi trùng” rất gian giảo, xảo quyệt, khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc, “mà ai cũng biết rằng xuống dốc thì dễ hơn lên dốc. Vì thế mà càng nguy hiểm”. Cho nên, mỗi người cách mạng phải hiểu sâu sắc rằng, Đảng phải không chỉ là một đội ngũ tiên tiến nhất, tổ chức chặt chẽ nhất của giai cấp công nhân và dân tộc, mà còn là lực lượng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng; đội ngũ cán bộ, đảng viên không chỉ có sứ mệnh lịch sử cải tạo thế giới, mà còn phải nỗ lực tự cải tạo bản thân mình, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, coi đó là nhu cầu tự thân để phòng và chống chủ nghĩa cá nhân.
Cũng trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nêu rõ vai trò của đạo đức cách mạng, chỉ rõ chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù của đạo đức cách mạng và người cách mạng, mà Người còn chỉ rõ rằng, ngoài những người vẫn thường ngày rèn luyện đạo đức cách mạng thì trong Đảng đã có không ít người thoái hoá, biến chất, chỉ lo hưởng thụ, nghỉ ngơi, lựa chọn công tác theo ý thích của cá nhân mình, muốn địa vị cao, nhưng lại sợ trách nhiệm nặng… nên chí khí anh dũng và phẩm chất tốt đẹp của người cách mạng cũng kém sút và vai trò tiền phong gương mẫu của họ vì thế cũng không còn. Do đó, muốn xứng đáng với vai trò tiền phong thì một trong những biện pháp để gột rửa những vết tích xấu xa của xã hội cũ, chống lại chủ nghĩa cá nhân và những biểu hiện tiêu cực hằng ngày… thì mỗi người đều phải chuyên tâm rèn luyện đạo đức cách mạng, ra sức học tập, tu dưỡng, tự cải tạo mình để tiến bộ. Đặc biệt, dù hoạt động bí mật hay khi đã trở thành Đảng cầm quyền; là thời kỳ chiến tranh hay hòa bình thì thực tiễn đó cũng đều là “những trường học rất tốt” để cán bộ, đảng viên rèn luyện đạo đức cách mạng.
Từ năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra hiện tượng một số cán bộ, đảng viên vì chưa rửa gột sạch chủ nghĩa cá nhân, nên đã kể công, đòi ưu đãi với Đảng, muốn Đảng “cảm ơn” vì cho rằng họ “không có tiền đồ”, “bị hy sinh”… rồi dần dần xa Đảng, “thậm chí phá hoại chính sách và kỷ luật của Đảng”. Một số ít người thì trở nên kiêu ngạo, công thần, tự cao tự đại, chỉ “phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình họ; không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh. Họ sợ tự phê bình thì sẽ mất thể diện, mất uy tín. Họ không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Họ xem khinh những cán bộ ngoài Đảng”[3]. Một số người tự cho mình cái gì cũng giỏi, xa rời quần chúng, “không muốn học hỏi quần chúng mà chỉ muốn làm thầy quần chúng”; mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh và “kết quả là quần chúng không tin, không phục, càng không yêu họ. Chung quy là họ không làm nên trò trống gì”… Thực chất, đó đều là những người đã bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc, đã mang nặng chủ nghĩa cá nhân và không “thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình đồng chí khác để cùng nhau tiến bộ”, nên đã trở thành có tội với cách mạng; đều là những người “làm giảm sút uy tín và ngăn trở sự nghiệp của Đảng, ngăn trở bước tiến của cách mạng”.
Chủ nghĩa cá nhân là căn bệnh rất nguy hiểm cần phải điều trị triệt để
Trả lờiXóa