Quán triệt và triển khai
thực hiện chủ trương của Đảng, việc học tập, nghiên cứu và vận dụng Chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền nếp trong tổ chức thực hiện và
đạt nhiều kết quả quan trọng, là cơ sở để thực hiện có hiệu quả công tác tổng
kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong
tình hình mới.
Tuy nhiên, trong quá
trình học tập, nghiên cứu và vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
vẫn còn một số biểu hiện nhận thức lệch lạc, thiếu đúng đắn về vấn đề có tầm
quan trọng đặc biệt này. Nguyên nhân là do một bộ phận cán bộ, đảng viên ngại
học, lười học, lười nghiên cứu; trong nghiên cứu không có phương pháp khoa học,
hoặc không nghiên cứu thấu đáo, nghiên cứu lý luận thiếu tính thực tiễn, minh
họa đường lối, quan điểm nhưng chưa cắt nghĩa đủ độ sâu sắc với vấn đề thực
tiễn đặt ra, dẫn tới hiểu và vận dụng không đúng tư tưởng Hồ Chí Minh. Loại ý
kiến này-hoặc vô tình hay hữu ý-đều có thể tiếp tay cho các quan điểm thù địch,
sai trái, cơ hội chính trị lợi dụng nhằm chống phá Đảng.
Để học tập, nghiên cứu,
vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn cách mạng, thích ứng với
tình hình mới và đạt hiệu quả thiết thực, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư
tưởng của Đảng, cần khắc phục những sai lệch sau:
Thứ nhất, khắc phục tình trạng
ngại học, lười học lý luận chính trị nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng;
xem nhẹ lý luận, tuyệt đối hóa vai trò của kinh nghiệm.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã chỉ ra những biểu hiện của bệnh ngại học, lười học lý luận chính
trị của cán bộ, đảng viên, đó là: “Chỉ biết vùi đầu suốt ngày vào công tác sự
vụ, không nhận thấy sự quan trọng của lý luận, cho nên còn có hiện tượng xem
thường học tập hoặc là không kiên quyết tìm biện pháp để điều hòa công tác và
học tập. Hoặc là sau một thời kỳ học tập tại chức có cán bộ phàn nàn trước
những khó khăn của việc đọc tài liệu, khó khăn đào sâu suy nghĩ”.
Nhận thấy những nguy hại
của căn bệnh lười học, ngại học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên, Đảng
ta cũng đã chỉ rõ, lười học tập, lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận
những thông tin mới cũng là biểu hiện của sự suy thoái. Nghị quyết Trung ương 4
(khóa XII) của Đảng đã chỉ ra một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính
trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay, đó là: “Nhận thức sai lệch về ý
nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập
Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Vì vậy, Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh, phải “khắc phục tình trạng lười học, ngại
học lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên”.
Thứ hai, khắc phục biểu hiện
tách rời lý luận với thực tiễn; không thấy sự thống nhất giữa tư tưởng Hồ Chí
Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Nghiên cứu lịch sử hình
thành tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thấy rõ tư tưởng của Người có nguồn gốc lý
luận chủ yếu từ Chủ nghĩa Mác-Lênin. Ngày 12-7-1946, trả lời phóng viên trong
cuộc họp báo tại biệt thự Roayan Môngxô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Tất cả
mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu
chủ nghĩa Các Mác”. Hồ Chí Minh không bao giờ đối lập hoặc “tách mình” ra khỏi
quan điểm, lập trường tư tưởng C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin để đưa ra các
quan điểm riêng, đúng như Người đã nói: “Cố gắng vận dụng những nguyên lý phổ
biến của Chủ nghĩa Mác-Lênin trong hoàn cảnh cụ thể của nước mình”.
Chủ nghĩa Mác-Lênin là
nguồn gốc lý luận chủ yếu của sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh,
bởi vì Chủ nghĩa Mác-Lênin đã cung cấp cho Hồ Chí Minh thế giới quan, nhân sinh
quan, phương pháp luận khoa học, cách mạng, đặc biệt là những nguyên lý cơ bản
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời, đặt
nền tảng vững chắc cho những vấn đề có tính nguyên tắc về lập trường quan điểm
và phương pháp chỉ đạo cách mạng. Những phạm trù cơ bản của tư tưởng Hồ Chí
Minh nằm trong những phạm trù cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Trên cơ sở nắm
vững và quán triệt sâu sắc lập trường, quan điểm và phương pháp biện chứng duy
vật của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã tiếp thu những giá trị truyền thống
tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây để hình thành
tư tưởng của mình.
Bản chất của Chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học và cách mạng, “tuy hai mà một,
tuy một mà hai”. Vì thế, những quan điểm tách rời Chủ nghĩa Mác-Lênin với tư
tưởng Hồ Chí Minh, không nhận thức được sự thống nhất giữa tư tưởng Hồ Chí Minh
với Chủ nghĩa Mác-Lênin, hoặc đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh mà phủ nhận Chủ nghĩa
Mác-Lênin đều sai trái, có dụng ý xấu.
Thứ ba, khắc phục khuynh hướng
cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh “không phải là một hệ thống” mà chỉ là những quan
điểm chỉ đạo thực tiễn của Người.
Cần phải khẳng định rằng
“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những
vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”, nghĩa là bao quát nhiều lĩnh vực,
nhưng không phải tất cả mọi vấn đề đều gắn với tư tưởng Hồ Chí Minh. Ở đây cần
hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh như là những tư tưởng chính trị theo nghĩa rộng, gồm
tư tưởng về mục tiêu cách mạng: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; về mục
đích cách mạng: Giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người;
về lực lượng cách mạng: Toàn dân tộc lấy công-nông làm gốc; về tổ chức cách
mạng: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận đoàn kết toàn dân; về phương
pháp cách mạng: Động viên toàn dân, tổ chức toàn dân... Do đó, yêu cầu phương
pháp luận khi nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trên bình diện tổng thể
hay từng bộ phận là phải luôn luôn quán triệt mối liên hệ chặt chẽ giữa các yếu
tố, các bộ phận khác nhau trong sự gắn kết tất yếu của hệ thống tư tưởng đó
quanh hạt nhân cốt lõi là tư tưởng độc lập, tự do.
Nhận thức như vậy trong
nghiên cứu và vận dụng sẽ tránh được các khuynh hướng sai lầm và xuyên tạc cho
rằng không có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh mà chỉ một vài phát biểu ngắn gọn
hoặc quan điểm chỉ đạo thực tiễn của Người; hoặc cái gì cũng quy về tư tưởng Hồ
Chí Minh mà không hiểu tư tưởng của Người chỉ gắn với những vấn đề cơ bản của
cách mạng Việt Nam.
Thứ tư, khắc phục khuynh hướng
đơn giản hóa, tầm thường hóa hoặc đi sâu vào tầm chương trích cú, xa rời thực
tiễn cách mạng.
Hồ Chí Minh là một nhà
văn hóa lớn đạt đến sự hòa quyện nhuần nhuyễn lý trí với tình cảm, sự gắn kết
rất tự nhiên giữa tâm hồn nhạy cảm của một nhà thơ, với bản lĩnh tinh nhạy của
một chính khách và sự khoan hòa nhân ái của một lãnh tụ nhân dân. Trong ứng xử
cũng như trong cách viết, cách trả lời nhà báo nước ngoài, cách diễn đạt những
mệnh đề lý luận của Hồ Chí Minh có sự tinh tế nhuần nhuyễn của những đường nét
triết lý phương Đông và văn hóa phương Tây, vừa dân tộc, vừa quốc tế. Đặc điểm
nổi bật ấy tạo ra phong thái rất độc đáo của Hồ Chí Minh không trộn lẫn vào đâu
được. Nhờ vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đến với mọi tầng lớp nhân dân một cách dễ
dàng vì nó gần gũi với cách cảm, cách nghĩ của họ, vừa rất truyền thống, vừa
rất hiện đại.
Khi nghiên cứu, vận dụng
tư tưởng Hồ Chí Minh thì vấn đề quan trọng là ở chỗ nhận ra đâu là nét đích
thực của tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện qua việc làm, qua cách sống, qua lời
nói, qua bài viết, qua sự nghiệp cách mạng của Người. Đừng cố tìm và không nên
tìm ở Hồ Chí Minh cái gì cũng đều có sẵn, vì như vậy cũng vô hình trung là
xuyên tạc, hạ thấp tư tưởng Hồ Chí Minh.
Thứ năm, đấu tranh chống mọi
biểu hiện của chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa giáo điều; đồng thời bảo vệ, phát
triển và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt
Nam.
Sức sống mãnh liệt của
Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng như tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ ở những nguyên lý,
những quan điểm do các lãnh tụ nêu lên mà còn ở sự vận dụng sáng tạo, bảo vệ và
phát triển của các thế hệ tiếp theo. Chính sự vận dụng sáng tạo, bảo vệ và phát
triển đó làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trường tồn và ngày
càng có sức mạnh to lớn.
Có thể thấy rằng, Hồ Chí
Minh là một nhà lý luận-thực tiễn. Người xây dựng lý luận, vạch cương lĩnh,
đường lối, chủ trương cách mạng và trực tiếp tổ chức, lãnh đạo cách mạng Việt
Nam. Và từ thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Người tổng kết, bổ sung để hoàn chỉnh
và phát triển, cho nên tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh luôn sáng tạo, không lạc
hậu, giáo điều. Nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ căn cứ vào
các tác phẩm, bài viết mà cần coi trọng hoạt động thực tiễn của Người, thực
tiễn cách mạng dưới sự tổ chức và lãnh đạo của Đảng do Người đứng đầu.
Hơn nữa, Hồ Chí Minh có
một phong cách nói và viết rất ngắn gọn không theo lối viết kiểu hàn lâm. Vì
vậy, chỉ căn cứ vào bài viết, bài nói, tác phẩm của Người là chưa đầy đủ, mà
phải thông qua quá trình hoạt động thực tiễn của Người. Vấn đề đặt ra là để phù
hợp với chính những lời nói và việc làm của C.Mác, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh,
trong nghiên cứu khoa học cũng như vận dụng vào hoạt động thực tiễn, chúng ta
cần chú trọng giải quyết đúng đắn các mối quan hệ: Tuyệt đối trung thành, vận
dụng sáng tạo, bảo vệ, phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh;
kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội và xét lại, chủ nghĩa giáo điều.
Tư tưởng Hồ Chí Minh đã
và đang soi đường cho Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trên con đường xây
dựng đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vì
vậy, học tập, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao trình độ tư duy lý
luận, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao đạo đức cách mạng, năng lực công
tác, thực hiện tốt các nhiệm vụ cách mạng của Đảng và Nhà nước ta trên con
đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng. Điều đó
đặt ra yêu cầu mới là tăng cường nghiên cứu, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí
Minh nhất thiết phải nắm vững bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí
Minh, làm cho tư tưởng đó phù hợp, gắn bó sống động với công cuộc xây dựng, bảo
vệ và phát triển đất nước trong tình hình mới./.
Theo qdnd.vn
Cần tăng cường nghiên cứu, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh nhất thiết phải nắm vững bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho tư tưởng đó phù hợp, gắn bó sống động với công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước
Trả lờiXóa