Thứ Hai, 11 tháng 12, 2023

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM!

         Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã chứng minh, đồng bào miền núi đã sát cánh cùng các dân tộc khác trên đất nước Việt Nam chiến đấu chống kẻ thù chung, đưa cách mạng Việt Nam và kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Ngày nay trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đồng bào các dân tộc thiểu số càng cố gắng góp phần xứng đáng của mình và sự nghiệp chung của toàn dân tộc. 
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành tình cảm và sự quan tâm chăm sóc của mình đối với đồng bào các dân tộc thiểu số Việt Nam. Ba tháng sau ngày nước nhà độc lập, tại Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam, mùng 3 tháng 12 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến sự thành công của cách mạng Việt Nam, đó là nhờ sức đoàn kết tranh đấu chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam được độc lập. Các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam. Tất cả đều như anh chị em trong một nhà, không còn có sự phân chia nòi giống, tiếng nói gì nữa. Trước kia để giành độc lập các dân tộc phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lập càng cần phải đoàn kết hơn nữa. Người cũng nêu lên những nhiệm vụ mà đồng bào miền núi cần phải thực hiện. Đó là: 
“1- Đoàn kết hơn nữa để chống xâm lăng. 
2 - Hết sức tăng gia sinh sản. 
3- Ra sức cứu giúp đồng bào dưới xuôi về nạn đói và ủng hộ Chính phủ để kháng chiến và cứu đói”... 
Bác cũng chỉ ra những quyền lợi mà đồng bào các dân tộc thiểu số sẽ được hưởng. Trước hết là: 
“1 - Dân tộc bình đẳng: Chính phủ sẽ bãi bỏ hết những điều hủ tệ cũ, bao nhiêu bất bình trước sẽ sửa chữa đi. 
2- Chính phủ sẽ gắng sức giúp cho các dân tộc thiểu số về mọi mặt: 
a) Về kinh tế, sẽ mở mang nông nghiệp cho các dân tộc được hưởng. 
b) Về văn hoá, Chính phủ sẽ chú ý trình độ học thức cho dân tộc”. 
Bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc là vấn đề mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm. Có đoàn kết và bình đẳng giữa các dân tộc thì chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội của miền núi mới phát triển. Đời sống của nhân dân miền núi được nâng lên thì mới xoá bỏ dần những khoảng cách giữa các vùng, miền, miền núi mới có thể từng bước tiến kịp miền xuôi. Ngày 19 tháng 4 năm 1946, trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plây-ku, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của đoàn kết các dân tộc, Người khẳng định: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”. Đồng thời Người khẳng định trách nhiệm của các dân tộc trong việc giữ gìn sự toàn vẹn, thống nhất toàn lãnh thổ: “Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả các dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta”. 
Miền núi nước ta tài nguyên rất phong phú, có nhiều khả năng để mở mang các ngành nông nghiệp và công nghiệp. Những điều đó cho thấy rằng miền núi có một vị trí cực kỳ quan trọng về kinh tế, chính trị và quốc phòng của cả nước. Đảng và Chính phủ ta đã có chính sách rất đúng đắn đối với miền núi, trong đó có hai điều quan trọng nhất là: Đoàn kết dân tộc và nâng cao đời sống của đồng bào. Đó cũng là những điều mà khi gặp gỡ và nói chuyện với đại biểu người dân tộc hay về thăm cán bộ và nhân dân các tỉnh miền núi Bác thường nhắc nhở và căn dặn. 
Tình cảm và sự quan tâm của Bác dành cho đồng bào miền núi càng được thể hiện cụ thể qua những lần Bác về thăm các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Cao Bằng, Hà Giang, Lai Cai, Quảng Ninh, v.v... Bác gặp gỡ đại biểu các dân tộc thiểu số về dự lễ ở Thủ đô; Bác tiếp đồng bào các dân tộc thiểu số miền Nam tập kết, các anh hùng lực lượng vũ trang người dân tộc ; Bác chụp ảnh lưu niệm với phụ nữ và thiếu nhi các dân tộc; Bác nghe giới thiệu về đời sống sinh hoạt của đồng bào các dân tộc thiểu số trong cuộc kháng chiến chống Pháp tại triển lãm “Hình ảnh đoàn kết đấu tranh của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam” v.v.. 
Tình cảm và sự quan tâm, chăm sóc của Bác với đồng bào miền núi còn được thể hiện qua những bài viết, bài nói chuyện, những bức thư, như: Bài nói chuyện với Đoàn đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang; Lời phát biểu tại Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam; Thư gửi học sinh các trường Sư phạm miền núi Trung ương nhân dịp khai giảng; Bài nói chuyện tại Hội nghị Tuyên giáo miền núi; Bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ phụ nữ các dân tộc miền núi toàn miền Bắc; Thư gửi Đại hội hợp tác xã và đội sản xuất nông nghiệp tiên tiến miền núi và trung du; Bài nói tại Hội nghị cán bộ miền núi; Chính sách dân tộc, v.v. Đó là những lời căn dặn vô cùng qúi giá của Bác, vị Chủ tịch nước dành cho đồng bào các dân tộc thiểu số Việt Nam. Trong các bài nói, bài viết đó, Bác chỉ ra những mặt còn tồn tại, những khuyết điểm cần phải khắc phục trong công tác lãnh đạo, công tác đoàn thể, tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, trong việc xây dựng đời sống văn hoá mới. Những thành tích mà đồng bào miền núi đã đạt được trong sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt, trong xây dựng hợp tác xã và phát triển văn hoá, nâng cao dân trí… đã được Bác khen ngợi và động viên kịp thời. Bác khen miền núi đã tiến bộ khá và có những kiểu mẫu tốt, như: "Hải Ninh vừa chú trọng trồng lúa, vừa trồng hoa màu. Các huyện Quỳ Châu và Nghĩa Đàn (Nghệ An) làm nghề rừng khá. Thái Nguyên đã có 30 cơ sở công nghiệp địa phương và 67 hợp tác xã thủ công, phần nhiều để phục vụ nông nghiệp...
 Ở Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn quốc lầ thức 2 năm 1958, Bác nói: “Ở Đại hội lần thứ nhất có 7 anh hùng, trong đó có 4 anh hùng quân đội… Đại hội lần này, chúng ta có 26 anh hùng Lao động và 69 Anh hùng Quân đội… có anh hùng và chiến sĩ lao động chân tay và trí óc, đủ các ngành và các dân tộc anh em…, có 5 anh hùng là phụ nữ… có 6 anh hùng là đồng bào miền Nam tập kết…”. Bác khen tỉnh Hoà Bình, tỉnh miền núi đầu tiên xoá xong nạn mù chữ và đồng bào xã Bản Phố, Lào Cai, xã dân tộc Mèo đầu tiên xoá xong nạn mù chữ. 
Những lời nói của Bác lúc sinh thời về bình đẳng dân tộc, về sự giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc để đồng bào các dân tộc thiểu số có đời sống vật chất và tinh thần ngày càng cao hơn có giá trị lịch sử và thời đại, đã và đang được Đảng Nhà nước, Quân đội ta tiếp tục phát huy. 
Trong những năm qua, cụ thể hóa chủ trương của Đảng, là một địa phương miền núi, nằm ở khu vực Nam Tây Nguyên, có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh; để xây dựng “thế trận lòng dân vững chắc”, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, tỉnh Lâm Đồng đã có những chủ trương, biện pháp thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc gắn với địa bàn tỉnh, như thành lập Ban chỉ đạo 502 về chỉ đạo thực hiện công tác dân vận trên địa bàn tỉnh, các chương trình: “Chung tay xây dựng nông thôn mới”, “Cả nước chung tay vì người nghèo, không để ai bị bỏ lại phía sau”, “Quân đội chung tay xây dựng nôi thôn mới”, thành lập quỹ “Xoá đói, giảm nghèo”, xây dựng thêm nhiều trường học, trong đó có các trường dân tộc nội trú, chế độ cử tuyển ưu tiên dành cho học sinh các dân tộc thiểu số vào các trường đại học, đào tạo những cán bộ tương lai cho tỉnh nhà… Những mô hình, chủ trương, cách làm của Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các ban, ngành, địa phương đã và đang đem lại hiệu quả thiết thực, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng niềm tin sắc son, tuyệt đối của Nhân dân đối với cấp ủy, chính quyền địa phương. Đó chính là thực hiện mong muốn của Bác Hồ “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của Nhân dân”, bởi vì “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Lai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các DTTS khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau… Chúng ta phải thương yêu nhau, kính trọng nhau, phải giúp nhau để mưu cầu hạnh phúc. Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt” và đó chính là lời khẳng định đanh thép “Trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, 54 dân tộc anh em như “cây một cội, như con một nhà”, luôn tương thân, tương ái giúp nhau cùng phát triển, xây dựng một quốc gia vững mạnh”./.


Môi trường ST.

1 nhận xét: