Những năm gần đây, ở Việt Nam, cũng như trên thế giới, có ý
kiến cho rằng, “toàn cầu hóa” đang chững lại; thậm chí có ý kiến đề cập đến
“phi toàn cầu hóa”. Luồng ý kiến này nhấn mạnh đến xu hướng gia tăng hoạt động
bảo hộ ở nhiều nước trên thế giới, đến cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung Quốc và
những tranh chấp về thương mại giữa các trung tâm kinh tế lớn của thế giới, đến
việc Mỹ đe dọa rút và đã rút khỏi một vài định chế quốc tế... Do vậy, câu hỏi
đặt ra hiện nay là phải chăng toàn cầu hóa đang chững lại? Việc trả lời câu hỏi
này là một trong những cơ sở căn bản để Đại hội XIII của Đảng hoạch định đường
lối phát triển đất nước trong những năm tiếp theo.
Xét về bản chất, “toàn cầu hóa” là quá trình hình thành nên
“cái toàn cầu”, phân biệt với “cái khu vực” (chỉ liên quan đến những khu vực
địa - kinh tế - chính trị nhất định trên thế giới), “cái phe, khối” (chỉ liên
quan đến các tập hợp lực lượng trên thế giới), “cái quốc gia - dân tộc” (chỉ
liên quan đến từng đất nước). Xã hội loài người ngày nay, với nền kinh tế thế
giới, nền chính trị thế giới và nền văn minh nhân loại, cho thấy toàn cầu hóa
đã tiến rất xa và sâu rộng; đồng thời, khẳng định “toàn cầu hóa” thực sự là một
xu thế khách quan, không thể đảo ngược. Điều rõ ràng là, dù còn rất nhiều hạn
chế, khiếm khuyết hay khuyết tật... trong cả ba hệ thống lớn nói trên, nhưng
nhu cầu phát triển nội tại, tự thân của xã hội loài người chính là gốc rễ quy
định xu thế toàn cầu hóa. Điều đáng chú ý là tiến trình toàn cầu hóa không diễn
ra một cách tuyến tính, mà có những bước nhảy vọt, gắn với các cuộc cách mạng
trong lực lượng sản xuất xã hội loài người. Có thể khẳng định rằng, trong thời
gian tới, khi cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng công nghiệp 4.0)
bùng nổ, nhất định sẽ có bước nhảy vọt mới trong tiến trình toàn cầu hóa, toàn
cầu hóa hoàn toàn không chững lại.
Sự gia tăng các hoạt động bảo hộ trong những năm gần đây
không đồng nghĩa với việc chia cắt thị trường thế giới thành những thị trường
quốc gia hay phe, khối biệt lập, không làm đứt đoạn các dòng đầu tư xuyên quốc
gia, không làm mất đi các vấn đề toàn cầu nảy sinh trong quá trình phát triển
kinh tế thế giới mà việc giải quyết chúng đòi hỏi phải tăng cường hợp tác và
những nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế. Có chăng, chủ nghĩa bảo hộ chỉ đặt ra
những “trở ngại” mới về thuế quan và phi thuế quan cho lưu thông hàng hóa, dịch
vụ và đầu tư, mà những trở ngại này luôn tồn tại trong tiến trình toàn cầu hóa.
Những số liệu thống kê của thế giới về thương mại và đầu tư cho thấy rất rõ
rằng, bất chấp sự gia tăng của các hoạt động bảo hộ trong những năm gần đây,
thương mại thế giới và đầu tư quốc tế vẫn tăng lên.
Việc hình thành “cái toàn cầu” trong quá trình toàn cầu hóa
kéo theo việc ra đời các định chế toàn cầu, như Liên hợp quốc và các tổ chức
thuộc Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Ngân hàng Thế giới
(WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF)... Các định chế này không phải là “nhất thành,
bất biến”, cơ chế hoạt động của chúng phải luôn cần đổi mới, cập nhật cho phù
hợp với từng giai đoạn phát triển của “cái toàn cầu”. Đây là sự thích nghi, bảo
đảm sức sống, nâng cao tính hiệu quả của các định chế quốc tế, chứ không phải
và càng không thể ngăn cản tiến trình toàn cầu hóa. Bước phát triển mới của
toàn cầu hóa gắn với sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 tất yếu kéo
theo những đổi mới, cải tổ, cải cách các định chế toàn cầu hiện có và có thể ra
đời những định chế quản trị toàn cầu mới./.
TBQL 17
Sự gia tăng các hoạt động bảo hộ trong những năm gần đây không đồng nghĩa với việc chia cắt thị trường thế giới thành những thị trường quốc gia hay phe, khối biệt lập, không làm đứt đoạn các dòng đầu tư xuyên quốc gia, không làm mất đi các vấn đề toàn cầu nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế thế giới mà việc giải quyết chúng đòi hỏi phải tăng cường hợp tác và những nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế.
Trả lờiXóa