Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2024

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ NỀN DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, một chính thể dân chủ ở Việt Nam đã đời - chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên được tiến hành (tháng 1-1946), một phương thức thực hiện dân chủ phổ biến trên thế giới để bầu ra một chính phủ dân chủ. Cuộc Tổng tuyển cử thành công và bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức được Quốc hội thông qua, đánh dấu sự khởi đầu cho một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

 Trải qua quá trình xây dựng và đổi mới đất nước, nền dân chủ XHCN từng bước được Đảng ta nhận thức, hoàn thiện và phát triển. Dân chủ trở thành một giá trị, một nhu cầu bức thiết của con người, là mục tiêu, động lực của phát triển. Tuy vậy, với âm mưu thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch, phản động và cả những kẻ cơ hội chính trị đã sử dụng vấn đề dân chủ để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và con đường đi lên CNXH ở nước ta. Vì vậy, cần nhận diện các quan điểm sai trái, từ đó đấu tranh phản bác các thủ đoạn này.

 Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp, các thế lực thù địch ngày càng ráo riết đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình” hòng chống phá cách mạng nước ta. Các phần tử cơ hội chính trị trong nước liên kết với các phần tử phản động, thù địch bên ngoài để đưa ra các luận điệu vu khống, bịa đặt, xuyên tạc về tình hình dân chủ ở Việt Nam, hòng làm lung lay, xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với Nhà nước. Các tổ chức dân chủ phương Tây ra sức tìm mọi cách áp đặt các “tiêu chuẩn dân chủ, nhân quyền” kiểu phương Tây vào Việt Nam. Họ không đặt vấn đề dân chủ đứng riêng mà thường đan cài, lồng ghép với các vấn đề khác như nhân quyền, tôn giáo, dân tộc… hòng tạo hợp lực để chống phá.

 Các thủ đoạn thường dùng là bóp méo, xuyên tạc những biểu hiện dân chủ trong đời sống; bịa đặt về tình trạng “không có dân chủ”; lợi dụng những thiếu sót, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo, điều hành đất nước của cấp ủy, chính quyền và khai thác các thông tin quốc tế liên quan để xuyên tạc. Các luận điệu họ đưa ra đều khoác vẻ bề ngoài khách quan, khoa học, vì nhân dân, nhưng thực chất đây là những chiêu bài thâm hiểm, với đích cuối cùng là âm mưu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, tiến tới “đa nguyên, đa đảng” và cuối cùng là xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta.

 Để vu cáo Việt Nam không có dân chủ, các thế lực thù địch, phản động thường nêu ra luận điệu: Việt Nam “thực hiện chế độ độc Đảng”. Các phần tử cơ hội chính trị hung hăng đòi bỏ Điều 4, Hiến pháp quy định sự lãnh đạo của Đảng với Nhà nước và xã hội. Họ lặp đi lặp lại luận điệu vu khống: Một Đảng lãnh đạo đã dẫn tới chế độ “Đảng trị”, gây tai họa cho xã hội. Mô tả Đảng ta có “một bộ máy độc đoán, độc tài, toàn trị”, “đầy rẫy tham nhũng, phản dân chủ”… Những luận điệu trên còn được các nghị sĩ của Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ liên tục đưa ra trong nhiều năm. “Dự thảo đạo luật nhân quyền Việt Nam” do Hạ viện Mỹ thông qua vào tháng 9 năm 2001 và năm 2004 ghi tại điều 1: “Việt Nam là một quốc gia độc đảng, do Đảng Cộng sản Việt Nam cai trị và kiểm soát”.

 Trên một trang website có tên gọi “Dân chủ”, họ trắng trợn vu cáo: “Do sự hiện hữu của độc quyền chuyên chế đảng trị, dân tộc Việt Nam không chỉ khó thực hiện lý tưởng dân chủ mà còn khó tận hưởng các quyền tự do căn bản”. Các phần tử cơ hội chính trị ra sức chứng minh rằng một đảng lãnh đạo là mẫu thuẫn với triết học mácxít, bởi theo C.Mác, thượng tầng kiến trúc phản ánh cơ sở hạ tầng. Họ cho rằng, khi Việt Nam đã phát triển nền kinh tế nhiều thành phần thì đương nhiên thượng tầng kiến trúc phải chuyển sang chế độ đa đảng. Thậm chí “chỉ có chế độ đa đảng thì người lãnh đạo mới chính đáng”. Theo họ, nền dân chủ tư sản phương Tây mới là nền dân chủ lý tưởng. Họ nhấn mạnh: “Thật rõ ràng là có một bộ phận người nắm quyền lực thực hành chuyên chính với toàn xã hội… Trong khi ấy, mọi người chỉ cần được dân chủ bằng một nửa dân chủ tư sản”.

Theo học thuyết của C.Mác về hình thái kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng - các quan hệ kinh tế - phản ánh vào thượng tầng kiến trúc và quyết định thượng tầng kiến trúc. Song, đó chắc chắn không phải là sự phản ánh máy móc, có bao nhiêu thành phần kinh tế thì có bấy nhiêu đảng phái và chính quyền tương ứng. Đối với nhà nước, cơ sở hạ tầng chỉ phản ánh vào thượng tầng kiến trúc các quan hệ thống trị, chi phối. Ở các nước tư bản, thành phần kinh tế tư nhân giữ vai trò chi phối thì thượng tầng kiến trúc phản ánh các quan hệ ấy bằng việc ra đời các đảng của giai cấp tư sản thống trị.

 Dưới chế độ XHCN, do kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, tất nhiên, cơ sở hạ tầng ấy quyết định, phản ánh vào thượng tầng kiến trúc thông qua Đảng Cộng sản giữ vai trò lãnh đạo. Đó là điểm cơ bản trong lý luận hình thái kinh tế - xã hội.

 Chế độ một đảng hay đa đảng là do các quan hệ kinh tế, chính trị và tương quan giữa các giai cấp của xã hội đó quy định, tuyệt đối không quyết định việc có dân chủ trong xã hội hay không. Dân chủ là nấc thang văn hóa của nhân loại. Dân chủ là thành quả đấu tranh của nhân dân lao động; đạt được nhiều hay ít phụ thuộc vào giai cấp thống trị trong xã hội đó có đại diện cho lợi ích của sự phát triển tiến bộ hay không. Một giai cấp đã lỗi thời, lạc hậu, lợi ích không phù hợp với lợi ích của nhân dân thì dù có nhiều đảng hay một đảng vẫn không thể thực hiện được nền dân chủ thực sự. Lịch sử nhân loại chứng minh, phát xít Hítle đã cầm quyền thông qua một cuộc bầu cử dân chủ, nhưng không vì thế mà có dân chủ. Hoặc, các nước như Malaixia, Xinhgapo… là những nước có một đảng cầm quyền duy nhất và là những nước có nền dân chủ phát triển.

 Nền dân chủ tư sản là một bước tiến lớn của nhân loại so với chế độ phong kiến. Ở nhiều nước tư bản hiện nay, do thành quả đấu tranh của nhân dân, giai cấp tư sản buộc phải điều chỉnh theo hướng cải cách dân chủ nhất định. Giai cấp tư sản phải công nhận các lực lượng đối lập, kể cả các đảng cộng sản trong đời sống chính trị. Song, bản chất của chế độ dân chủ đó vẫn là nền dân chủ của giai cấp tư sản, bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản. Mặc dù đa đảng, nhưng quyền thống trị vẫn là đảng của giai cấp tư sản. “Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức “dân chủ tự do” mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân - yếu tố bản chất nhất của dân chủ. Hệ thống quyền lực đó vẫn chủ yếu thuộc về thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội”.

 Như vậy, vấn đề dân chủ không phải ở chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng hay một đảng; vì đa đảng ở các nước tư bản hiện nay thực chất không phải dân chủ đối với nhân dân mà chỉ là loại hình dân chủ tư sản mà thôi. Bởi lẽ, “Trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át. Vì vậy mà tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do”, “dân chủ”, dù có thể thay đổi chính phủ, nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản”. Trong khi đó, ở Việt Nam, nhân dân ta khẳng định: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội…, chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”. 

Cần khẳng định dứt khoát, trong khi phấn đấu để có dân chủ thực sự đối với nhân dân, Việt Nam không chấp nhận cái gọi là “dân chủ đa nguyên”, dân chủ với cả những thế lực chống lại nhân dân. Không thể để những cá nhân và tổ chức chống đối, phản cách mạng, có hành vi chống Đảng, Nhà nước, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân lại đòi hỏi được quyền dân chủ như những công dân, tổ chức sống và làm việc thượng tôn pháp luật. Không một quốc gia nào dung túng cho những hành vi vi phạm pháp luật, chống lại lợi ích quốc gia, dân tộc. Dân chủ phải đi cùng với kỷ cương, kỷ luật, điều mà những kẻ chống phá xuyên tạc là “kiềm chế dân chủ”. Bởi, dân chủ muốn được thực thi nhất thiết phải có pháp luật bảo đảm vì pháp luật là công cụ để quản lý xã hội và thực thi quyền làm chủ của người dân. Pháp luật không cho phép bất cứ người nào lợi dụng quyền dân chủ để vi phạm luật pháp và vi phạm quyền làm chủ của người khác. Về bản chất, những người phê phán “Việt Nam không có dân chủ”, núp dưới khẩu hiệu đòi đa nguyên chính trị, đa đảng lãnh đạo thực chất muốn hợp pháp hóa vai trò của các lực lượng chính trị phản động.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét